Giang Hồ Hết Cứu: Một Kiếm, Ba Cú LừaCh.7 / 30
Chapter 7

Bảng Hạng Biết Chọn Người Thắng

Tiếng khánh đồng treo dưới góc mái cong của Danh Kiếm Lâu ngân lên một hồi thanh tao, buông dài từng nhịp chuông lạnh lẽo xuống khắp đại sảnh bát giác. Thanh âm ấy không mang vẻ trầm mặc của chốn thiền môn, mà lanh lảnh, kiêu kỳ, tựa như tiếng những nén bạc trắng va vào nhau giòn giã. Mỗi lần chiếc khánh chuyển động, đám đông kiếm khách tề tựu bên dưới lại xao động, từng đôi mắt ngửa lên nhìn tấm hoàng bảng dựng sừng sững giữa sảnh, nơi sơn son thếp vàng còn chưa ráo hẳn mùi dầu bóng.

Trong bầu không khí quánh đặc của sảnh chính, mùi trầm hương ngoại phủ đắt giá xông lên từ chín chiếc lư đồng lớn đặt quanh các cột gỗ lim, tạo thành những dải khói mỏng uốn lượn lờ lững dưới xà nhà. Mùi hương ngạt ngào ấy cố công xua đi mùi tanh nồng của mồ hôi, mùi da thuộc ẩm mốc và bụi đường vương trên vạt áo của những lữ khách vừa lội bộ từ quan lộ vào thành. Dưới vòm trần chạm khắc nổi hình rồng cuộn phượng múa thếp bạc, từng tốp giang hồ vận cẩm bào rực rỡ, bên hông lủng lẳng ngọc bội cùng những dải lụa thêu tinh xảo, túm năm tụm ba chỉ trỏ lên bảng vàng.

Ở vị trí cao nhất, nơi ánh sáng từ giếng trời rọi thẳng xuống như một vệt lụa bạc, ba chữ “Vệ Thiên Kiêu” được khảm bằng vàng lá nổi cộm, phát ra ánh hào quang chói lọi át cả những dòng tên bên dưới. Ngay sát nách danh xưng ấy là một hàng lạc khoản nắn nót bằng lối chữ khải đoan trang: *“Đài Bách Thắng tam thập liên thắng, kiếm xuất vô song”*.

“Nhìn xem, ba mươi trận toàn thắng!” Một thiếu niên kiếm khách mặc áo lụa xanh biếc của phái Hành Sơn cất giọng trầm trồ, ngón tay run rẩy trỏ lên vách bảng. “Từ bờ bắc sông Hoài đến dải Vọng Giang này, suốt ba tháng qua chưa từng có ai đỡ nổi quá ba chiêu Tứ Phương Kiếm của Vệ sư huynh. Người như thế mới xứng đáng là rồng phượng trong cõi võ lâm, danh chấn cửu châu!”

“Đúng là bậc kỳ tài trăm năm khó gặp,” một đệ tử khác vội phụ họa, đuôi mắt liếc sang mấy vị tài phán đang ngồi thẩm tra hồ sơ gần đó với vẻ ngưỡng mộ ra mặt. “Kiếm pháp của Vệ thiếu hiệp thanh thoát như rồng bay, mỗi đường kiếm vung ra đều hợp quy thức võ học của sáu đại môn phái, chẳng vấy chút sát khí thô lậu nào của phường thảo dã. Danh Kiếm Hội xếp ngài ở bậc tột đỉnh quả là công tâm như nước!”

Những tràng tán tụng râm ran lan khắp sảnh tiền, nối nhau bằng những tiếng cười ròn rã và những cái gật gù ra chiều am hiểu sự đời. Thế nhưng, chỉ cách tấm hoàng bảng lộng lẫy kia chừng mươi bước chân, qua khỏi một bức bình phong bằng gỗ tử đàn khảm xà cừ, một bầu không khí hoàn toàn trái ngược đang đông cứng lại trước chiếc quầy sự vụ bằng gỗ lim đen bóng loáng.

“Các người... các người rõ ràng là khinh người quá đáng, ức hiếp kẻ thế cô!”

Tiếng thét khàn đặc, vỡ vụn vì phẫn uất vang lên từ một bóng người gầy guộc đứng trước quầy. Đó là một võ sư ngoài ngũ tuần, vóc dáng quắt queo như một thân cây khô cằn trên núi đá, hai bàn tay thô kệch vươn ra khỏi ống tay áo chằng chịt những vết sẹo rách và lớp chai sần dày cộp — dấu tích không thể chối cãi của mấy mươi năm vùi mình vào ngạnh công khổ luyện.

Ông tên là Bàng Chấn, chưởng môn kiêm đệ tử duy nhất còn sót lại của Thiết Chưởng Môn — một môn phái nhỏ bé đã lụi tàn từ lâu bên bờ sông Vọng Giang. Nay môn phái chẳng còn ai, ông phải nộp đơn gia nhập Hội quán Võ Sư Tự Do, ngày ngày đứng trên các võ đài mạt hạng ở ngoại ô để kiếm từng bát cơm, ngụm cháo qua ngày. Chiếc áo vải thô màu xám trên người ông đã bạc phếch đến mức trơ cả sợi chỉ, hai bên khuỷu tay chắp vá hai miếng vải xanh khác màu, trông thảm hại và lạc lõng đến cùng cực giữa một rừng gấm vóc lụa là thơm nức chung quanh.

Bàng Chấn run rẩy đập mạnh một tờ công văn nhàu nát, mép giấy đã sờn rách vì bị nắm chặt quá lâu, lên mặt bàn lim vang lên một tiếng “chát” khô khốc:

“Mười lăm ngày trước, tại lôi đài Đông Thị, ta đã đường đường chính chính giao đấu ba mươi hiệp, đánh văng đại đao, đấm ngã Triệu Tam Đao của Kim Đao Môn xuống đất! Ba vị tài phán áo đen của chính hội quán các người đứng trên đài ký tên điểm chỉ, có biên bản giao chiến mộc đỏ đàng hoàng, hơn một trăm người dân bến đò tận mắt chứng kiến! Vì cớ gì? Vì cớ gì bảng điểm công bố đầu tháng này tên ta lại bị một nét son gạch bỏ không thương tiếc? Ngược lại, Triệu Tam Đao kẻ đã bại trận dưới tay ta, ngực áo còn in rõ vết chưởng của ta, lại được tăng liền ba bậc trên bảng xếp hạng?”

Sau chiếc bàn lim rộng thênh thang ngăn cách người ngoài với nội bộ hội quán, gã thư ký trẻ tuổi ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế bọc da hươu. Gã trạc ngoài hai mươi, đầu đội khăn xếp bằng the đen phẳng phiu, thân khoác áo dài vải mịn không một nếp nhăn. Ngón tay thon thả, trắng trẻo không hề có một vết chai của kẻ luyện võ khẽ mân mê chiếc nghiên mực Đoan Khê chạm khắc tinh xảo đặt góc bàn. Gã thậm chí chẳng thèm ngước mắt nhìn lên khuôn mặt xám ngoét vì uất ức của lão võ sư già, chỉ hờ hững cầm cây bút lông đóm mực son, gạt nhẹ một giọt mực thừa vào miệng nghiên.

“Bàng võ sư, nơi đây là Danh Kiếm Lâu, chốn trang nghiêm ghi nhận công đức võ lâm, không phải cái sạp bán cá ngoài bến sông mà ngài lớn tiếng quát tháo,” gã thư ký cất giọng the thé, âm lượng không cao nhưng đầy vẻ trịch thượng của kẻ nắm giữ quyền mực thước. “Quy chế hội quán ban hành rành rành từ đầu năm, treo ngay cửa lớn, ngài không biết chữ hay giả vờ không thấy? Thắng bại trên võ đài chỉ là điều kiện cần ban đầu. Bảng Danh Kiếm là bảng vàng quy tụ uy tín, đạo hạnh và mức độ cống hiến cho an ninh giang hồ, đâu phải cái trò tỉ thí đấm đá đầu đường xó chợ mà cứ hễ đấm ngã người ta xuống đất là được khắc tên lên gỗ quý?”

“Ngươi... ngươi nói cái gì?” Lão Bàng nghẹn ứ nơi cổ họng, hai gò má nhăn nheo đỏ bừng lên như muốn nứt ra, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau lớp áo vá. “Đánh võ đài mà không tính chuyện đấm ngã đối thủ, vậy tính cái gì? Ta đổ mồ hôi sôi nước mắt, gãy cả hai ngón tay mới hất văng được thanh đao của hắn, các người nói một câu nhẹ hẫng là không tính?”

Đứng ngay sau lưng lão võ sư khốn khổ, cách chừng ba bước chân, là bộ ba vừa từ nha môn Vọng Giang bước sang: Tạ Vô Danh, Đỗ Thanh và Bùi Bát Quái.

Tạ Vô Danh vẫn khoác trên mình bộ y phục bằng vải thô màu tro tàn quen thuộc, vạt áo bên dưới đã hơi tưa chỉ vì cọ xát nhiều với sương gió đường trường. Tay trái chàng ôm hờ thanh kiếm cùn bọc trong lớp vải bố xơ xác, đầu ngón tay cái khẽ tì lên gờ miệng bao kiếm. Cổ tay phải của chàng hơi nép sát vào mạn sườn, bất động một cách cẩn trọng — một thói quen cố hữu để giữ cho những thớ gân bị tổn thương sau biến cố năm xưa không phải chịu bất kỳ phản lực đột ngột nào. Ánh mắt chàng lãnh đạm lướt qua ba chữ “Vệ Thiên Kiêu” dát vàng chói lọi đằng xa, hàng chân mày khẽ cau lại trong một khoảnh khắc rất ngắn rồi lập tức giãn ra, trở về vẻ tĩnh lặng, dửng dưng như mặt giếng cổ không gợn sóng.

Bùi Bát Quái đứng nép bên cạnh Tạ Vô Danh, tay phe phẩy chiếc quạt nan rách tươm mấy nan tre, phát ra những tiếng phành phạch khô khốc. Gã bĩu môi dài thượt, liếc nhìn gã thư ký bằng nửa con mắt, ghé sát tai Tạ Vô Danh thì thào:

“Đấy, thấy chưa? Ta đã bảo cái giang hồ này hết thuốc chữa từ lâu rồi mà Tạ huynh đệ không tin. Cái thời vác đao kiếm ra nói chuyện bằng máu và mồ hôi đã qua rồi. Bây giờ là thời buổi của giấy mực và con dấu. Đánh thắng thì bị trừ điểm vì tội vô danh tiểu tốt, đánh thua thì được thăng hạng vì sau lưng có cả một môn phái bạc vạn bảo kê. Cái trò khoe mẽ danh xưng này đúng là đỉnh cao của sự phông bạt. Một trận thắng cật lực của một gã võ sư tự do không có môn bài thế gia bảo lãnh, đặt trên bàn sự vụ của Danh Kiếm Hội thì giá trị chẳng bằng một mảnh lá chuối gói xôi ngoài chợ trời.”

Tạ Vô Danh không đáp, chỉ khẽ thở dài một hơi rất nhẹ.

Nhưng Đỗ Thanh thì không giữ được sự im lặng ấy. Nàng bước lên một bước dứt khoát, tà áo chẽn màu xanh sẫm của ngỗ tác Tĩnh Thi Phòng khẽ lay động theo từng nhịp chân cứng cỏi. Ngón tay thon dài, sạch sẽ và lạnh lẽo của nàng đặt nhẹ lên mặt bàn gỗ lim, ngay cạnh mép chiếc nghiên mực Đoan Khê. Đôi mắt sắc lẹm như lưỡi dao mổ tử thi của nàng nhìn thẳng vào gã thư ký, không hề chớp lấy một cái:

“Theo điều lệ phân định tranh chấp và ghi nhận công trạng giang hồ do Tổng đốc Kinh lộ ban hành vào mùa xuân năm Cảnh Đức thứ sáu, mọi kết quả giao đấu công khai tại các lôi đài hợp pháp, có sự hiện diện và ký nhận của tối thiểu hai tài phán mang bài hiệu của nha môn hoặc liên minh hội quán, đều bắt buộc phải được ghi nhận vào sổ bộ chính thức trong vòng mười ngày làm việc. Bất kỳ sự trì hoãn, sửa đổi hoặc hủy bỏ nào cũng phải kèm theo văn bản giải trình lý do có chữ ký của Thống lĩnh quân vụ hoặc Tri phủ sở tại.”

Nàng nghiêng đầu, giọng nói lạnh như băng tuyết rỉ ra từ kẽ đá: “Bản khai của Bàng võ sư có đủ ba chữ ký tài phán, mộc đỏ của lôi đài Đông Thị còn nguyên vẹn. Danh Kiếm Lâu các người chỉ là một hội quán bình xét tư nhân, lấy quyền hạn luật pháp nào của triều đình để tùy tiện dùng một nét bút son gạch bỏ kết quả hợp thức của người ta?”

Gã thư ký trẻ tuổi thoáng sững sờ. Đôi mắt sắc sảo cùng những điều khoản luật lệ chuẩn xác từng chữ của Đỗ Thanh làm gã chột dạ. Bàn tay đang cầm bút lông của gã run nhẹ một cái, giọt mực son rớt xuống mặt giấy trắng tinh thành một đốm đỏ quạch. Gã há miệng toan gắt gỏng lấy lại uy thế, nhưng ánh nhìn buốt giá của Đỗ Thanh dường như có khả năng lột trần mọi trò gian lận giấy tờ, khiến lời lẽ chống chế của gã nghẹn lại nơi cuống họng.

Đúng lúc ấy, từ phía sau bức rèm trúc buông rủ ngăn cách đại sảnh với khu nội viện, một tràng vỗ tay khe khẽ, thong thả vang lên.

“Hảo công lý! Lời lẽ đanh thép, dẫn chứng điển lệ rành mạch, chuẩn mực phong phạm của bậc lại dịch chốn công môn, quả không hổ danh là Đỗ ngỗ tác lừng danh của Tĩnh Thi Phòng phủ Vọng Giang.”

Tấm rèm kết bằng những hạt ngọc bích khẽ lay động, phát ra những tiếng va chạm lách cách êm tai. Một bóng người từ tốn bước ra, lập tức khiến bầu không khí ồn ào chung quanh quầy sự vụ chùng xuống.

Người vừa xuất hiện trạc ngoài tứ tuần, vóc người cao ráo, đẫm vẻ phong nhã. Gương mặt chữ điền trắng trẻo, hàng râu mép và râu cằm được cắt tỉa vô cùng cẩn thận, không vướng một sợi thừa. Hắn khoác trên mình bộ cẩm bào dệt bằng lụa màu thiên thanh hảo hạng, dưới ánh nắng ban chiều rọi qua khung cửa, những đường chỉ bạc dệt chìm hình tường vân trên vạt áo khẽ lấp lánh một cách kín đáo mà xa xỉ. Trên môi hắn luôn thường trực một nụ cười ấm áp, ôn hòa, nhưng đôi mắt sâu thẳm lại phẳng lặng đến rợn người — đôi mắt của một kẻ đã quá quen với việc ngồi sau màn trướng, dùng vài nét mực để định đoạt số phận của hàng trăm võ phu bạt mạng nơi đầu đường xó chợ.

Đó chính là Lục Trọng Tín — Đại chấp sự quyền lực bậc nhất của Danh Kiếm Hội tại đất Vọng Giang, người nắm trọn quyền sinh sát đối với mọi bảng vàng, thứ hạng và hồ sơ chiến tích của giới võ lâm toàn vùng.

“Chấp sự Lục!”

Gã thư ký trẻ vội vàng buông bút đứng bật dậy, khom lưng cúi chào. Mấy tên võ sĩ canh gác mặc giáp nhẹ đứng quanh sảnh cũng đồng loạt chắp tay hành lễ, thần sắc đầy vẻ kính cẩn xen lẫn kiêng dè.

Lục Trọng Tín khẽ xua tay áo lụa, bước chân nhẹ nhàng không phát ra một tiếng động dù là nhỏ nhất trên nền đá hoa cương. Nụ cười trên môi hắn càng thêm vẻ nhã nhặn, hắn nhìn lướt qua một lượt từ Đỗ Thanh, Tạ Vô Danh rồi dừng lại trên gương mặt khắc khổ của lão Bàng:

“Một chút chuyện hiểu lầm nhỏ nhặt nơi quầy sự vụ, chẳng ngờ lại làm kinh động đến Đỗ cô nương và các vị khách quý. Bàng lão sư tử hà tất phải nổi cơn thịnh nộ hại thân? Đỗ cô nương, và cả... Tạ thiếu hiệp nữa. Đại sảnh người qua kẻ lại ồn ào, bụi bặm tanh nồng, đứng ở đây biện giải e rằng làm mất đi cái vẻ thanh nhã của chốn giang hồ. Nếu các vị không chê trà thô nước lã, xin mời cùng Bàng lão sư dời bước vào trà thất bên trong, xơi một chén Long Tỉnh đầu mùa, chúng ta từ tốn ngồi xuống mà luận bàn cho ra ngô ra khoai.”

Nói đoạn, Lục Trọng Tín nghiêng mình làm một động tác mời vô cùng đoan chính, phong thái ung dung đĩnh đạc tựa như một vị danh sĩ triều đình tiếp đón hiền tài, khiến người ta dù trong lòng đầy ắp phẫn nộ cũng khó lòng tìm ra cớ để buông lời cự tuyệt ngay trước mặt đám đông.

***

Trà thất của Danh Kiếm Lâu nằm tách biệt ở góc đông nam của lầu son, ngăn cách với sự huyên náo bên ngoài bằng hai lớp cửa gỗ đàn hương dày dặn. Không gian bên trong tĩnh mịch đến mức có thể nghe thấy tiếng những giọt nước tí tách nhỏ giọt từ hòn non bộ đặt nơi góc sân nhỏ ngoài hiên.

Mùi khói trầm thơm dịu lan tỏa từ chiếc lư đồng đúc hình kỳ lân ngậm ngọc, bảng lảng vờn quanh bức hoành phi lớn treo chính giữa gian phòng. Bốn chữ “Võ Đạo Chí Thuần” được viết bằng lối chữ thảo cuồng phóng, nét mực rồng bay phượng múa của một vị đại học sĩ kinh kỳ lừng danh, thế nhưng khi treo trong căn phòng dát vàng lộng lẫy này, nó lại mang một vẻ mỉa mai đến chua chát. Bàn trà được tạc từ một khối ngọc thạch xanh biếc nguyên khối, mặt bàn mài nhẵn thín và lạnh toát, bên trên bày biện một bộ ấm chén bằng gốm sứ tử sa màu nâu sẫm, hoa văn thanh mảnh tinh vi.

Lục Trọng Tín tự tay vén tay áo rộng, cầm chiếc gáo tre nhỏ múc nước sôi từ chiếc ấm đồng đặt trên lò than hồng rực, chậm rãi tráng chén, hãm trà. Từng động tác của hắn khoan thai, thuần thục và mực thước, tựa như một nghệ nhân đang biểu diễn trà đạo hơn là một nhân vật quyền biến của giang hồ. Đáng sợ hơn cả, hắn dường như nắm rõ từng chi tiết nhỏ nhặt của những người ngồi đối diện: hắn đẩy chén trà đầu tiên về phía Đỗ Thanh với khoảng cách vừa vặn để nàng không cần với tay, sau đó rót cho Bùi Bát Quái một chén đầy đặn, và cuối cùng đặt trước mặt Tạ Vô Danh một chén trà nghi ngút khói nhưng tuyệt nhiên không hề đụng chạm hay gây ra một tiếng động nào có thể kích động đến phản xạ phòng thủ của người cầm kiếm.

“Bàng lão sư, xin người hạ hỏa, dùng một ngụm trà làm ấm tỳ vị,” Lục Trọng Tín cất giọng ôn tồn, đẩy chén trà thứ tư sang trước mặt lão võ sư gầy gò. “Vụ việc xảy ra ở lôi đài Đông Thị mười lăm hôm trước, Lục mỗ thân làm chấp sự, ngày ngày duyệt qua hàng trăm hồ sơ, nhưng riêng bản báo cáo về ngài, ta đã đọc rất kỹ. Ba mươi hiệp giao tranh, ngài dùng Thiết Sa Chưởng đối đầu với Ngũ Hổ Đoán Môn Đao của Triệu Tam Đao, xuất chưởng thuần hậu, bộ pháp vững vàng, nội kình cương mãnh không chút tà khí. Đó quả thực là công phu khổ luyện mấy chục năm trời của bậc tiền bối, Lục mỗ từ tận đáy lòng vô cùng bội phục.”

Lão Bàng ngồi trên chiếc ghế bọc gấm êm ái mà toàn thân cứng đờ như khúc gỗ. Cơn giận dữ bừng bừng bốc hỏa ngoài sảnh bỗng chốc bị dập tắt mất quá nửa bởi những lời khen ngợi chân thành, rành mạch và thái độ hạ mình quá đỗi cung kính của người đàn ông quyền lực nhất nhì phủ Vọng Giang này. Lão võ sư run run bưng chén trà, giọng chùng xuống:

“Nếu... nếu Lục chấp sự đã thấu suốt tận tường như vậy, biết rõ công phu của ta là thật, đòn đánh là thật... vậy cớ làm sao? Cớ làm sao bản hội lại hạ một nét bút son gạch tên ta khỏi bảng điểm tháng này? Lão hủ một đời ngay thẳng, không cầu danh vọng hão huyền, nhưng chút thanh danh của môn phái tổ tiên để lại, chẳng lẽ không đáng được giữ lấy hay sao?”

Lục Trọng Tín khẽ thở dài một tiếng thật sâu. Khuôn mặt chữ điền của hắn chùng xuống, ánh mắt ánh lên vẻ đầy cảm thông, trăn trở, hệt như một người cha, người anh đang phải gánh vác muôn vàn nỗi niềm khó xử của cả một đại gia đình:

“Bởi vì ngài chưa hoàn tất thủ tục nộp 'phí thẩm tra chiến tích' niên khóa này.”

“Phí thẩm tra?” Bùi Bát Quái lập tức nhướng đôi mày rậm rạp, chiếc quạt nan trên tay khẽ khựng lại giữa không trung. Gã cười khẩy một tiếng đầy châm biếm: “Lục chấp sự à, Bùi mỗ bôn ba khắp các ngõ ngách Vọng Giang này mấy chục năm, chuyên nghề bán tin tức nuôi thân, chuyện kỳ lạ trên đời nghe qua không ít. Ta chỉ nghe nói tỉ thí võ đài thì nộp mạng, nộp bạc cá cược, hoặc kẻ thua nộp tiền phạt, chứ chưa từng nghe nói một kẻ đường đường chính chính đánh thắng bằng nắm đấm trần mà cũng phải móc túi nộp 'phí thẩm tra'. Đây là quy củ mới do Danh Kiếm Hội các ngài tự nghĩ ra để vặt lông đám võ phu nghèo hèn đấy à?”

Lục Trọng Tín không hề giận dữ trước lời lẽ xấc xếch, móc mỉa của Bùi Bát Quái. Hắn chỉ điềm đạm nhấp một ngụm trà Long Tỉnh, đặt chiếc chén tử sa xuống mặt bàn ngọc thạch phát ra một tiếng “cạch” thanh thoát.

“Bùi tiên sinh quả là người miệng lưỡi sắc bén, nhưng ngài chỉ mới nhìn thấy cái ngọn xao động trên mặt nước mà chưa thấy được cái rễ sâu chìm dưới đáy sông,” Lục Trọng Tín từ tốn nói, giọng điệu trầm ấm, mang đậm vẻ duy lý của một kẻ nắm giữ giềng mối trật tự. “Giang hồ ngày xưa là giang hồ thế nào? Ân oán hỗn loạn, môn phái tranh chấp vô cớ, hôm nay ngươi chém ta một đao, ngày mai ta đâm ngươi một kiếm. Động một tí là lôi nhau ra bãi tha ma hay bờ sông quyết tử, thây phơi ngoài nội cỏ, máu chảy thành sông, vợ con người chết gào khóc thảm thiết, quan phủ dẹp không xuể, dân lành nơm nớp lo âu. Cái thời kỳ hỗn loạn, mông muội và vô pháp ấy, chẳng lẽ các vị ngồi đây muốn nó quay trở lại?”

Hắn nhìn thẳng vào mắt Đỗ Thanh, rồi chuyển ánh nhìn sang Tạ Vô Danh, ánh mắt sáng rực vẻ chính nghĩa:

“Danh Kiếm Hội chúng ta cùng các đại môn phái lập ra bảng xếp hạng này, dựng lên những lôi đài quy củ như Đài Bách Thắng, mục đích tối thượng là gì? Chính là chuẩn hóa võ học, đưa võ lâm vào khuôn khổ luật pháp và đạo đức xã hội! Chúng ta biến những trận huyết chiến tàn khốc, vô nghĩa thành những cuộc so tài kỹ nghệ có kiểm soát, có tài phán can thiệp kịp thời để không ai phải mất mạng uổng phí.”

Hắn giơ một ngón tay lên, bắt đầu bóc tách từng tầng lý lẽ một cách vuông vức, kín kẽ như một bài văn sách chốn trường thi:

“Một trận đấu diễn ra trên võ đài, Danh Kiếm Hội phải cử ba vị tài phán áo đen giám sát, phải thuê y sư túc trực bắt mạch, đối chiếu mức độ nông sâu của thương tật, phải cử thám tử đi thẩm tra lý lịch xem võ sĩ hai bên có dấu hiệu uống thuốc kích lực, hạ độc ngầm hay nhận tiền mua chuộc của các sòng bạc ngầm hay không. Sau đó, toàn bộ hồ sơ giao đấu, khẩu cung nhân chứng phải được thư lại sao chép thành ba bản, đóng dấu giáp lai, một bản lưu trữ tại phân hội Vọng Giang, một bản gửi sang Ty Hành chính nha môn, một bản hỏa tốc phi ngựa chuyển về tổng hội ở kinh kỳ để cập nhật vào đại điển võ lâm. Toàn bộ quy trình đồ sộ, nghiêm cẩn đó tiêu tốn biết bao nhiêu nhân lực, thời gian và ngân lượng?”

Lục Trọng Tín hơi nghiêng người tới trước, giọng nói tràn đầy tính thuyết phục:

“Khoản phí thẩm tra kia không phải là tiền mãi lộ để làm giàu cho bản hội, mà chính là một hàng rào kỹ thuật cần thiết để bảo vệ sự thuần khiết của võ giới. Nếu như trận đấu nào diễn ra nơi xó chợ, bến đò cũng tùy tiện ghi tên lên bảng vàng mà không qua thẩm định chi tiết, thì giang hồ này sẽ lập tức tràn ngập những kẻ hám danh tự tạo xung đột, thách đấu bừa bãi, đánh đấm hỗn loạn để mong một bước thành danh. Lúc ấy máu lại chảy, đầu lại rơi, ai sẽ là người chịu trách nhiệm trước bá tánh và quan phủ? Có quy củ nghiêm ngặt, có chi phí ràng buộc, người luyện võ mới biết tự cân nhắc trách nhiệm và hậu quả trước khi rút kiếm, vung quyền. Chẳng lẽ nỗ lực ổn định trật tự dân sinh, giảm thiểu thương vong xương máu cho đồng đạo võ lâm lại là một cái tội?”

Một màn thao túng tâm lý đỉnh cao được bao bọc hoàn hảo dưới lớp vỏ bọc của trật tự và nhân đạo. Lời lẽ của Lục Trọng Tín trơn tru, sắc bén và đầy tính nhân văn giả tạo, biến một hành vi bóp nghẹt cơ hội của tầng lớp võ phu mạt hạng thành một nghĩa cử cao đẹp vì đại cục võ lâm. Hắn nói câu nào cũng vuông vức như viên gạch nung, hợp tình hợp lý đến mức lão Bàng ngồi chết lặng, đôi bàn tay thô ráp đặt trên đầu gối run rẩy bối rối, trong đầu mông lung tự hỏi chẳng lẽ chính bản thân mình mới là kẻ ích kỷ, nông cạn, không hiểu đại nghĩa giang hồ?

“Lý lẽ của Chấp sự Lục nghe qua quả thực êm ái như tiếng đàn cầm mùa xuân,” Đỗ Thanh đột ngột lên tiếng, thanh âm lãnh đạm của nàng như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào bầu không khí đang bị ru ngủ bởi tài hùng biện của gã chấp sự. Nàng không hề đụng đến chén trà trước mặt, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên bàn: “Nhưng Lục chấp sự dường như đã 'quên' giải thích một điểm mấu chốt: Triệu Tam Đao của Kim Đao Môn, kẻ đã đại bại dưới tay Bàng võ sư, ngực gãy hai xương sườn, đao rơi khỏi tay. Hắn là kẻ bại trận, tại sao lại được cộng thêm năm mươi điểm cống hiến và tăng liền ba bậc trên bảng xếp hạng tháng này? Lẽ nào một trận thua thảm hại cũng đòi hỏi một quy trình 'thẩm tra nhân lực và ngân lượng' tốn kém đến mức phải tưởng thưởng cho kẻ chiến bại?”

Lục Trọng Tín mỉm cười, nụ cười vẫn không hề gợn một chút bối rối. Hắn khẽ vẫy tay ra hiệu về phía góc phòng. Một gia nhân áo xám lập tức từ tốn tiến lại, hai tay nâng một cuốn sổ bọc da dê dày cộp, mép sổ nẹp đồng sáng loáng, cung kính đặt xuống mặt bàn ngọc trước mặt Đỗ Thanh.

“Quy chế nội bộ của Danh Kiếm Hội, điều thứ ba mươi sáu, chương Giáp,” Lục Trọng Tín dùng ngón tay gõ nhẹ lên bìa da dê. “Các môn phái lớn đã đăng ký môn bài hạng Giáp, hàng năm đều đóng góp một khoản ngân lượng bảo trợ niên khóa rất lớn vào ngân quỹ bảo an của hội quán. Toàn bộ đệ tử nội môn của họ, theo quy chuẩn liên minh, đều nằm trong diện 'miễn thẩm tra sơ bộ' vì danh dự của môn phái đã là một tầng bảo chứng vững chắc. Hơn thế nữa, trận giao đấu của Triệu Tam Đao ở Đông Thị không phải là một cuộc đấu vô vị; hắn nhận lời lên đài là để thử nghiệm thực chiến cho một mẫu mã đại đao mới do Tổng cục Tiêu Bưu đặt hàng rèn đúc, nhằm mục đích tìm kiếm giải pháp vũ khí tối ưu chống lại nạn thảo khấu trên các cung đường vận lương.”

Hắn ngước nhìn Đỗ Thanh, ánh mắt đầy vẻ điềm nhiên: “Điểm số gia tăng của Triệu Tam Đao là điểm cống hiến thực nghiệm binh khí mới cho trật tự vận tải của liên lộ, không phải điểm chiến thắng cá nhân. Một người hy sinh thân mình, chịu thương tật để thử nghiệm khí giới bảo vệ an nguy của hàng ngàn chuyến hàng dân sinh, việc bản hội ghi nhận công lao của hắn bằng một chút điểm số danh dự, có gì là sai trái với đạo lý giang hồ?”

Đỗ Thanh không đáp lời ngay. Nàng vươn tay, ngón tay thon thả lật nhanh từng trang giấy dầy cộp của cuốn sổ bọc da dê. Tiếng sột soạt của giấy bản vang lên đều đặn trong căn phòng tĩnh mịch. Tạ Vô Danh khẽ liếc mắt nhìn theo từng cử động của nàng; chàng biết rõ, một khi nữ ngỗ tác này bắt đầu lật giở giấy tờ với ánh mắt kia, nàng sẽ không bỏ qua bất kỳ một kẽ hở nào của sự ngụy tạo.

Chỉ sau mươi nhịp thở, ngón tay của Đỗ Thanh đột ngột dừng lại ở một trang nằm gần cuối cuốn sổ. Đó là một trang giấy có chất lượng mực in hơi mờ, nét chữ nhỏ li ti như đàn kiến bò, nằm khuất sau những điều khoản hoa mỹ về nghĩa vụ võ lâm.

Đỗ Thanh nhếch mép, cất giọng đọc to từng chữ, rành rọt và đanh thép: “Chương ba, khoản mười hai, tiết B: 'Ban điều hành Danh Kiếm Hội có toàn quyền đình chỉ, hoãn xét duyệt hoặc loại trừ vĩnh viễn bất kỳ kết quả giao đấu nào khỏi hệ thống xếp hạng chính thức, nếu nhận thấy trận đấu đó thiếu bảo chứng tài chính đầy đủ từ các hội quán, thương điếm hoặc môn phái có môn bài tương ứng, nhằm phòng ngừa rủi ro phá sản kỹ thuật hoặc mất khả năng bồi thường thương tật phát sinh sau trận đấu'.”

Đỗ Thanh ngẩng đầu lên, ánh mắt đóng băng nhìn thẳng vào nụ cười của Lục Trọng Tín: “Bảo chứng tài chính? Nói một cách thẳng thắn theo ngôn ngữ chợ búa mà các người khinh bỉ: kẻ nào không có bạc nộp cho các môn phái lớn bảo bọc, không có bang hội giàu có đứng ra trả tiền lót tay cho Danh Kiếm Hội, thì trận thắng bằng máu của kẻ đó tự động bị quy chụp là 'tiềm ẩn rủi ro' và bị các người tùy ý xóa sổ bằng một nét mực son. Đánh nhau trên đài bằng quyền cước, nhưng định đoạt kẻ thắng người thua trong sổ sách lại bằng độ nặng của túi bạc. Quy chế này viết ra bằng thứ ngôn từ hoa mỹ, thực chất là để bảo vệ võ lâm, hay là để bảo kê cho một đường dây buôn danh bán tước, tống tiền các võ sư tự do?”

Bùi Bát Quái nghe vậy lập tức vỗ đùi đánh đét một tiếng rõ to: “Hay! Tuyệt diệu! Đỗ cô nương bóc trần đúng tim đen của lũ quan lại võ lâm! Cú lừa này đi vào lòng đất thật sự! Hóa ra nắm đấm thép ba mươi năm khổ luyện của lão Bàng đây dù có đấm nát cẩm bào của Kim Đao Môn, làm gãy cả đại đao của bọn chúng, thì cũng chẳng có chút giá trị nào so với một tờ ngân phiếu đóng dấu đỏ của Hiệu bạc Đồng Tín! Rõ ràng là ăn cướp giữa ban ngày mà lại khoác áo thánh hiền!”

Bị vạch trần điều khoản mờ ám và nhơ bẩn nhất ngay trước mặt, nụ cười trên gương mặt Lục Trọng Tín rốt cuộc cũng khẽ lay động một chút, nhưng hắn tuyệt nhiên không hề biến sắc hay lộ vẻ thẹn quá hóa giận.

Vị đại chấp sự khẽ thở dài một tiếng, thong thả nâng chén trà Long Tỉnh đã vơi một nửa, đưa lên môi nhấp một ngụm nhỏ. Phong thái của hắn vẫn điềm đạm, tĩnh tại như mặt hồ không đáy giữa mùa thu. Một kẻ từng trải qua hàng ngàn cuộc thương thuyết nơi chốn quan trường và giang hồ như hắn biết rõ hơn ai hết: khi một con cờ đã bị dồn vào góc chết của lý lẽ, cách tốt nhất không phải là cố công cãi chày cãi cối, mà là đổi sang một bàn cờ hoàn toàn mới với những quân cờ mang tính sát thương thực tế hơn.

Hắn hạ chén trà xuống, ánh mắt hờ hững rời khỏi khuôn mặt lạnh lùng của Đỗ Thanh, lướt qua vẻ mặt uất ức nhưng bất lực của lão Bàng, rồi cuối cùng dừng lại thật lâu, thật sâu trên người Tạ Vô Danh.

“Bàng lão sư,” Lục Trọng Tín cất giọng, lời lẽ nhẹ nhàng êm ái nhưng mang theo uy lực không thể đảo ngược của một kẻ định đoạt luật chơi, “chuyện của ngài, bản hội ghi nhận thiện chí và sự băn khoăn chính đáng. Ta sẽ đích thân phê duyệt hồ sơ của ngài chuyển sang diện 'hỗ trợ võ sư cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn'. Ngài có thể ra quầy sự vụ sảnh ngoài, nhận một phiếu cứu tế mười quan tiền đồng từ ngân quỹ tương tế của hội quán. Số tiền đó đủ để ngài trang trải tiền thuốc men và mua gạo ăn trong hai tháng tới.”

Đó là một sự bố thí nhục nhã nhưng tàn nhẫn và thực tế. Lão Bàng run rẩy, bờ môi mấp máy muốn thốt lên những lời cự tuyệt đầy khí phách của một võ sư, nhưng rồi ánh mắt lão chạm phải chiếc áo rách chắp vá trên người mình, nhớ đến cái quán trọ dột nát và những bữa cháo hoa cầm hơi ngoài bến đò. Lão võ sư khẽ cụp mắt xuống, hai vai sụp đổ, lưng còng rạp đi như già thêm mười tuổi. Lão lẳng lặng chắp tay hướng về phía Lục Trọng Tín, rồi quay sang nhìn nhóm ba người của Tạ Vô Danh bằng ánh mắt đầy xấu hổ và biết ơn, trước khi lê từng bước chân nặng nề, thất thểu bước ra khỏi trà thất.

Cánh cửa gỗ đàn hương khép lại sau lưng lão võ sư. Trong phòng lúc này chỉ còn lại bốn người. Tiếng nước sôi trong ấm đồng reo tí tách trên bếp than hồng càng làm cho bầu không khí trở nên tĩnh mịch, ngột ngạt đến nghẹt thở.

Lục Trọng Tín vươn bàn tay trắng trẻo, với lấy một tập hồ sơ mật được bọc bằng lụa xanh đặt ở góc bàn ngọc, chậm rãi lật mở từng trang giấy mỏng.

Con ngươi của Tạ Vô Danh khẽ co lại trong tích tắc khi chàng nhận ra những mép giấy ố vàng quen thuộc bên trong tập hồ sơ ấy. Đó là bản trích lục danh sách những kiếm khách từng nhận thù lao tham gia các trận đấu biểu diễn kiếm thuật tại các hội chợ ngoại thành từ hai năm trước — những trận đấu mua vui cho đám phú thương lắm tiền nhiều của, vết nhơ mà bất kỳ một kiếm khách nào từng nuôi mộng danh môn cũng muốn chôn vùi xuống đáy mồ.

Lục Trọng Tín khép hờ tập hồ sơ lại, ngón tay gõ nhẹ lên mặt lụa, ngước nhìn Tạ Vô Danh bằng ánh mắt đầy vẻ xót xa, thương cảm của một bậc tiền bối đức cao vọng trọng:

“Tạ thiếu hiệp, mấy ngày qua ở phủ nha Vọng Giang, cậu đã phải chịu nhiều nỗi hàm oan, vất vả rồi. Vụ án mạng của chưởng quỹ Trần Hữu Sổ ở tiệm tơ lụa... thật may mắn là nhờ sự mẫn cán của Đỗ ngỗ tác, cậu đã được gỡ bỏ hiềm nghi giết người cướp của. Thế nhưng, theo như tin tức ta nhận được từ Ty Hành chính trưa nay, Tri phủ Phạm đại nhân vẫn chưa chịu hủy bỏ lệnh quản chế đối với cậu. Cậu vẫn là kẻ mang thân phận bất minh, bị cấm rời khỏi ranh giới phủ Vọng Giang nửa bước, mỗi đầu tuần đều phải đến nha môn trình diện, đúng chứ?”

Tạ Vô Danh ngồi bất động, lưng thẳng như một cây tùng mọc trên vách đá. Bàn tay trái của chàng vẫn giữ chặt lấy chuôi kiếm cùn bọc trong lớp vải bố thô, ngón tay không hề nhúc nhích. Chàng không đáp lời, chỉ nhìn Lục Trọng Tín bằng ánh mắt phẳng lặng, kiên nhẫn chờ đợi mũi tên thực sự mà đối phương sắp bắn ra.

Lục Trọng Tín mỉm cười, giọng nói của hắn hạ thấp xuống, trầm ấm và thân mật như thể hai người là chỗ thâm giao tri kỷ đã quen biết tự thuở nào:

“Tạ thiếu hiệp, cậu là một người có tài năng võ học hiếm có. Kiếm pháp của cậu năm xưa... Lục mỗ từng có duyên may được nghe một vài tiền bối giang hồ nhắc lại. Chuẩn xác, lạnh lùng, dứt khoát, không mang một chút hoa mỹ thừa thãi, kiếm xuất là định đoạt sinh tử. Đáng tiếc thay, trời ghen kẻ tài hoa, cổ tay phải của cậu gặp phải biến cố, gân cốt tổn thương nặng nề, nay ngay cả việc vung kiếm đoạt mạng cũng không thể phát lực trọn vẹn. Một kiếm khách tuyệt đỉnh như thế, nay lại phải sống chui lủi, dựa vào mấy vụ truy bắt tội phạm vặt vãnh vài quan tiền của nha môn để mua cơm lót dạ qua ngày.”

Hắn khẽ lắc đầu, vẻ mặt đầy sự ái ngại: “Cậu hiện tại đang tá túc tại Miếu Kiếm Gãy hoang phế ngoài cửa bắc thành, đúng không? Mái miếu rách nát, mùa đông gió bấc lùa thấu xương tủy, mùa mưa thì dột ba bốn chỗ, nước ngập cả manh chiếu rách. Ta còn nghe nói, đến tận sáng nay, khoản tiền thuê chỗ ngủ hai trăm đồng tiền kẽm cho bà lão mù giữ miếu tháng này, cậu vẫn còn đang nợ, chưa có cách nào xoay xở để trả?”

Bùi Bát Quái ngồi bên cạnh trố tròn hai mắt, chiếc quạt nan che ngang miệng, quay sang nhìn Tạ Vô Danh với vẻ mặt không thể tin nổi: “Ủa, Tạ huynh đệ? Ngươi... ngươi nghèo đến mức túng quẫn nợ cả tiền thuê một góc miếu hoang rách nát thật đấy à? Hôm trước bắt được tên trộm ngựa ở bến đò, nha môn thưởng cho ba quan tiền, ngươi mang đi đâu hết rồi?”

Tạ Vô Danh không thèm chớp mắt, khóe môi hơi mím lại, nhàn nhạt buông một câu khô khốc: “Ba quan tiền đó mang trả tiền thuốc thang cho đứa bé bị ngựa giẫm ở chợ đông rồi. Còn tiền miếu, chưa tới kỳ hạn trả. Bà lão bảo đến rằm mới thu.”

Lục Trọng Tín nghe vậy liền bật cười thành tiếng. Tiếng cười của hắn vang lên sảng khoái nhưng lại chứa đựng sự thương hại đến buốt lòng:

“Tạ thiếu hiệp, người có bản lĩnh thật sự thì không nên tự đày đọa mình vào cảnh nghèo hèn, khốn khổ như thế. Thời thế đã đổi thay rồi, giang hồ ngày nay không còn là giang hồ của những hiệp khách áo rách lang bạt kỳ hồ nữa. Cơm áo gạo tiền, danh vị thân phận, đó mới là những thứ bảo chứng cho sự tồn tại của một con người. Không ai có thể ôm mãi một thanh kiếm rỉ, ngậm một ngụm khí phách suông mà sống qua ngày được. Cậu cần bạc để sinh sống, cần những thang thuốc quý từ Tây Vực để dưỡng lại kinh mạch cổ tay phải, và quan trọng hơn tất cả... cậu cần một danh phận danh chính ngôn thuận để nha môn và quan phủ không bao giờ dám tùy tiện lôi cậu ra làm kẻ thế mạng cho những trò tranh quyền đoạt lợi của bọn họ nữa.”

Lục Trọng Tín nghiêng người tới trước, vươn tay rút từ trong tay áo ra một tấm thiếp thiếp vàng lộng lẫy, viền mép dập nổi hoa văn rồng lượn, chậm rãi đẩy nó trượt trên mặt bàn ngọc thạch lạnh toát, dừng lại ngay trước mũi kiếm của Tạ Vô Danh.

“Ba ngày nữa, tại lôi đài Bách Thắng của Danh Kiếm Hội, sẽ diễn ra một trận tỉ thí võ học quy mô lớn quy tụ hàng trăm môn phái, nhằm tuyển chọn những nhân tài ưu tú nhất bổ sung vào Liên đoàn Bảo tiêu Tam Lộ phụ trách bảo vệ các tuyến đường buôn bán trọng yếu,” Lục Trọng Tín gõ nhẹ ngón tay lên tấm thiếp vàng. “Đối thủ của cậu trong trận đấu này sẽ là một đệ tử kiệt xuất, một hạt giống sáng giá đang được một môn phái thế gia dốc lòng nâng đỡ.”

Đôi mắt Lục Trọng Tín khóa chặt lấy ánh nhìn của Tạ Vô Danh, từng lời hắn thốt ra như mật ngọt rót vào tai, chứa đầy sự mê hoặc của quyền lực và tiền tài:

“Cậu không cần phải dốc toàn lực để chém giết. Cậu chỉ cần bước lên đài, cầm thanh kiếm cùn của mình múa vài đường kiếm thật đẹp mắt, thật hoa mỹ theo đúng kịch bản mà ban giám sát đã chuẩn bị sẵn trong cuốn sổ này. Hãy tạo ra một thế trận giằng co kịch liệt chừng hai mươi hiệp để cống hiến cho đám đông khán giả một màn biểu diễn mãn nhãn, rồi sau đó, giả vờ kiệt sức, nhận một chưởng tượng trưng vào vai và thoái lui chịu thua trong danh dự.”

Hắn mỉm cười, giọng nói hạ xuống như lời thầm thì của ác quỷ: “Thắng hay thua trên đài không quan trọng. Quan trọng là ngay sau trận đấu đó, tên của Tạ Vô Danh cậu sẽ được Danh Kiếm Hội đặc cách ghi danh vào Bảng Danh Kiếm ở một thứ hạng trang trọng. Kèm theo đó là một bản hợp đồng bảo tiêu danh giá với bổng lộc năm mươi lượng bạc trắng mỗi năm, được chi trả định kỳ hàng tháng bằng bạc nén của Hiệu bạc Đồng Tín.”

Lục Trọng Tín nhìn sâu vào đáy mắt Tạ Vô Danh, buông ra đòn quyết định: “Chỉ một trận đấu biểu diễn, một bước đổi đời. Cậu có bạc để trả nợ, có tiền mua thuốc quý trị lành cổ tay, có danh vọng để ngẩng cao đầu đi lại giữa thanh thiên bạch nhật. Và quan trọng nhất, Danh Kiếm Hội sẽ đích thân gửi công văn bảo lãnh sang phủ nha, yêu cầu Tri phủ Phạm xóa bỏ hoàn toàn lệnh quản chế đối với cậu ngay trong ngày hôm đó. Một sự sắp xếp vẹn toàn cho cả đôi bên, danh lợi đều đủ, hà tất phải tiếp tục bám víu lấy cái lý lẽ nghèo hèn, gàn dở của đám võ phu mạt hạng ngoài đường?”

Trong căn phòng trà tĩnh lặng, mùi mực xạ hương thượng hạng ướp trên tấm thiếp mạ vàng bốc lên nồng nặc. Thứ mùi hương nhân tạo gắt gỏng ấy xộc thẳng vào mũi Tạ Vô Danh, hệt như thứ phấn son rẻ tiền của đám kỹ nữ lầu xanh cố công trát lên mặt để che giấu đi vẻ tàn tạ bên trong — hào nhoáng, lấp lánh nhưng mục ruỗng và rỗng tuếch đến ghê người.

Đỗ Thanh siết chặt hai bàn tay giấu dưới tay áo chẽn, khớp xương ngón tay trắng bệch ra vì kìm nén phẫn nộ. Nàng nghiến răng, toan mở miệng nói một điều gì đó để chặn đứng màn mua chuộc bỉ ổi này, nhưng Tạ Vô Danh đã khẽ nghiêng đầu, làm một động tác lắc đầu rất nhẹ về phía nàng.

Chàng kiếm khách nghèo chậm rãi cúi xuống nhìn tấm thiếp vàng rực rỡ nằm trên mặt ngọc.

Rồi, trước ánh mắt tự tin, nắm chắc phần thắng của Lục Trọng Tín, Tạ Vô Danh đưa ngón tay trỏ thô ráp, chai sần của bàn tay trái ra. Chàng khẽ đẩy một cái.

Tấm thiếp mạ vàng phát ra một tiếng “xoạt” khô khốc, trượt sang một bên mép bàn, nằm chỏng chơ bên cạnh đĩa bánh đậu xanh nguội ngắt.

Tạ Vô Danh ngẩng đầu lên, đối diện trực tiếp với ánh mắt sâu thẳm của vị chấp sự quyền uy. Giọng chàng cất lên, khô khốc, trầm đục và phẳng lặng như nước dưới giếng sâu, không mang theo lấy một gợn sóng cảm xúc:

“Lục chấp sự đã hiểu lầm hai chuyện rồi.”

“Ồ?” Đôi lông mày tỉa tót cẩn thận của Lục Trọng Tín khẽ nhướng lên, ý cười trên khóe môi bắt đầu nhạt đi. “Hiểu lầm chuyện gì?”

“Thứ nhất,” Tạ Vô Danh chậm rãi nói, từng từ buông ra dứt khoát như những nhát búa gõ vào đe sắt, “hai trăm đồng kẽm tiền thuê góc miếu hoang rách nát đúng là ta chưa trả cho bà lão. Nhưng chiều nay, sau khi rời khỏi đây, ta chỉ cần ra bến sông sau chợ, nhận chém ba xe củi khô cho quán cơm của lão Trương là có đủ hai trăm đồng tiền công mang về nộp. Chém củi tuy có mỏi tay, củi gãy thì cơm sôi lửa ấm, bát cơm kiếm được bằng mồ hôi và sức lực của mình, ăn vào bụng thấy ấm lòng thanh thản, tuyệt nhiên chẳng phải nợ nần ai một lời dối trá.”

Tạ Vô Danh chống tay đứng bật dậy. Động tác của chàng quá đỗi đột ngột và dứt khoát, khiến lớp vải bố thô bọc quanh thanh kiếm cùn khẽ rung lên bần bật, phát ra một âm thanh trầm đục:

“Thứ hai, thanh kiếm này của ta, từ ngày được thợ rèn đập ra khỏi lò lửa, nó chỉ quen với việc chém củi kiếm miếng cơm ăn, vung lên đỡ đòn cản phá hung tàn để đoạt mạng kẻ ác, chứ chưa từng học được cái ngón nghề uốn éo, múa may làm xiếc trên võ đài theo sổ sách làm tiền của hội quán các người. Kịch bản của các người viết bằng mực thơm quá hay, trang hoàng quá lộng lẫy, tiếc thay ta là kẻ võ phu dốt nát, mắt mù chữ, cả đời này không diễn nổi.”

Nụ cười trên gương mặt chữ điền của Lục Trọng Tín đông cứng lại hoàn toàn trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Vệt sáng ấm áp, phong nhã thường trực trong đáy mắt vị đại chấp sự bỗng chốc vỡ tan, để lộ ra một luồng hàn ý sắc lạnh, âm u và tàn nhẫn như lưỡi độc kiếm rút ra khỏi vỏ trong đêm tối. Thế nhưng, bản lĩnh của một kẻ quen điều khiển những ván cờ lớn khiến hắn nhanh chóng thu hồi vẻ thất thố, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười nhạt nhẽo.

“Tạ thiếu hiệp quả nhiên là người có khí phách ngút trời,” Lục Trọng Tín chậm rãi thu hai ống tay áo rộng lại, tựa lưng vào thành ghế bọc da hươu, giọng nói của hắn vẫn êm ru như tơ lụa nhưng từng chữ thốt ra đã phảng phất hơi lạnh của tử khí. “Chỉ sợ giang hồ này sóng gió khôn lường, cạm bẫy trùng trùng. Kiếm khách có khí phách mà không có chỗ dựa, không chịu cúi đầu trước quy củ kim tiền, thì cuối cùng kết cục cũng chỉ là chết rũ xương trong một con hẻm tối tăm, ẩm mốc nào đó mà chẳng một ai hay biết. Đến lúc ấy, một nấm mồ đất ẩm cũng là xa xỉ, nói gì đến một chữ khắc trên bia đá để lưu lại chút dấu vết trên đời.”

Tạ Vô Danh đã xoay người bước ra phía ngưỡng cửa gỗ đàn hương. Chàng dừng lại nửa nhịp chân, không hề quay đầu lại, chỉ buông lại một câu lạnh ngắt qua bờ vai gầy guộc:

“Chết thối rữa trong hẻm tối cũng là cái chết thật. Còn hơn sống lộng lẫy, phè phỡn trên một tấm bảng vàng toàn khắc tên những kẻ giả mạo mua danh.”

Dứt lời, chàng sải bước đẩy toang cánh cửa bước ra ngoài, tà áo tro tàn phần phật bay theo từng bước chân kiên định.

Đỗ Thanh lập tức đứng dậy, ánh mắt nàng liếc qua Lục Trọng Tín như muốn khắc ghi khuôn mặt của kẻ chủ mưu vào sổ đen của mình, rồi lạnh lùng cất bước theo sau.

Bùi Bát Quái lật đật đứng dậy theo, nhưng bản tính bần tiện của kẻ bán tin dạo không cho phép gã chịu thiệt thòi; trước khi bước qua bậu cửa, gã nhanh tay với lấy miếng bánh đậu xanh đắt tiền còn sót lại trên đĩa ngọc nhét tọt vào miệng, vừa nhai nhồm nhoàm vừa lầm bầm chửi đổng: “Mẹ kiếp, trà thì đắng nghét như nước thuốc lào mà bày đặt thanh cao với chả phong nhã!”

Ba bóng người nối đuôi nhau rời khỏi trà thất, để lại một khoảng trống hoác sau cánh cửa gỗ đàn hương đang khẽ đung đưa.

Lục Trọng Tín ngồi lại một mình giữa gian phòng rộng lớn. Khói trầm hương từ chiếc lư đồng hình kỳ lân vẫn lượn lờ bốc lên, bao phủ lấy gương mặt hắn trong một màn sương mờ mịt.

Hắn đưa mắt nhìn chén trà Long Tỉnh đã nguội ngắt của Tạ Vô Danh đặt trên mặt bàn ngọc thạch, ánh mắt dần trở nên thâm u, tăm tối như vực sâu không đáy. Bàn tay với những ngón tay trắng trẻo của hắn lật lại tập hồ sơ mật bọc lụa xanh, lật giở từng trang cho đến khi dừng lại ở một tờ biên nhận đã ố vàng, mục nát ở góc mép. Trên tờ giấy ấy, dòng chữ ghi tên chàng kiếm khách nghèo cùng một vết mực son đỏ quạch như một vệt máu khô khẽ đập vào mắt hắn.

Khóe môi Lục Trọng Tín nhếch lên thành một đường cong tàn nhẫn, giọng hắn thì thào lọt qua kẽ răng, lạnh buốt giữa làn khói trầm:

“Chém củi kiếm cơm? Tạ Vô Danh, để xem thanh kiếm rỉ và cái cổ tay tàn phế của ngươi... còn cứng cỏi được bao lâu trước khi đói lả gục ngã dưới chân ta...”

***

Bước chân của nhóm ba người đưa họ trở lại đại sảnh chính của Danh Kiếm Lâu.

Tiếng khánh đồng treo dưới góc mái lại vang lên từng hồi giòn giã, lanh lảnh rung động cả khoảng không gian bát giác. Đám kiếm khách và đệ tử các danh môn thế gia bên dưới vẫn chen chúc, xô đẩy nhau, ngửa cổ ngưỡng vọng lên tấm hoàng bảng sơn son thếp vàng lộng lẫy. Những tiếng reo hò, trầm trồ thán phục vẫn không ngớt vang lên xung quanh cái tên Vệ Thiên Kiêu ngự trị kiêu hãnh trên đỉnh cao muôn trượng, nơi chuỗi ba mươi trận toàn thắng được ca tụng như một huyền thoại bất diệt của võ lâm thời thái bình.

Ánh nắng chiều tà đỏ quạch như máu từ khung cửa sổ lớn chiếu xiên qua giếng trời, hắt lên tấm bảng vàng những vệt sáng chói lọi, dát một lớp hào quang giả tạo lên những dòng chữ khải ngay ngắn, thẳng tắp từng hàng.

Ở chốn giang hồ này, trên những trang giấy tờ mực son dấu đỏ của kẻ nắm quyền, đường kiếm đẹp nhất vĩnh viễn không phải là đường kiếm xuất ra từ mồ hôi và lòng quả cảm để đâm trúng đích.

Đường kiếm đẹp nhất, hoàn hảo nhất... là đường kiếm đã đóng đủ lệ phí.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories