Kho Mát Làm Hỏng Câu Chuyện Đẹp
Hơi lạnh buốt giá mang theo mùi tanh nồng của cá ươn, bùn phèn lưu cữu và muối mặn phả thẳng vào mặt ba người khi then cài gỉ sét của kho lạnh số bốn ven Bến Hạ Thủy từ từ rên lên một tiếng nặng nhọc rồi hé mở.
Nửa đêm trên bến sông Vọng Giang, bóng tối đặc quánh như một bát mực tàu vừa bị đánh đổ trên mặt bàn gỗ mục. Sương mù từ mặt nước dâng lên từng dải lững lờ, quấn quýt trườn qua những hàng cọc cừ gãy vụn, trườn qua mạn những chiếc xà lan rỉ sắt nằm gối bãi từ độ cạn dòng, rồi bám riết lấy gấu áo tơi lá của ba kẻ đột nhập đêm khuya. Tiếng sóng vỗ ì oạp vào chân kè đá rêu phong đều đặn như nhịp thở của một con quái vật khổng lồ đang say ngủ dưới đáy nước đục ngầu phù sa.
Bùi Bát Quái rụt cổ thật sâu vào trong chiếc áo bông kép sờn mép đã trơ cả xơ gai. Hai hàm răng hắn va vào nhau lập cập thành từng hồi giòn giã, phát ra những âm thanh vừa thảm hại vừa tức cười. Hắn ngồi thụp sau một bệ đá kê thuyền, hai tay che gió, cẩn thận thổi bùng một đốm bùi nhùi rơm nhồi mỡ cá. Từng đốm tàn đỏ lập lòe soi rõ gương mặt gầy guộc xám xịt vì lạnh, đôi mắt ti hí đảo lia lịa ra mép lạch nước tối om om, nơi thỉnh thoảng lại có một vệt bóng đen lướt qua của lũ chuột cống to bằng bắp chân:
"Ta nói trước cho hai vị biết đường mà liệu, nếu lão tuần đinh bến tàu mà vác gậy tre bịt đồng đi tuần tra quành qua mỏm đá này, ta sẽ lập tức giơ hai tay đầu hàng rồi hô toáng lên là chính Đỗ cô nương kề dao ép ta đi trộm cá mè trộm tôm tích. Ta còn nợ quán trà bà Ba đầu chợ sáu hào bạc chưa thanh toán, còn mẹ già sáu mươi tuổi ở xóm lưới ngoài bãi bồi, tuyệt đối không thể để bị gông cổ tống ngục huyện chỉ vì cái tội cạy kho mắm dặm này đâu!"
"Chiếc chìa khóa này do đích thân Ngọc Nương lấy từ hòm đồ của thuyền trưởng đưa cho, phiếu gửi kho khoang lạnh số mười bảy có đóng triện đỏ đuôi cá ba vây của phường buôn Vạn Thông cũng đang nằm nguyên vẹn trong túi áo ta," Đỗ Thanh lạnh lùng đáp, giọng nàng không gợn một chút run rẩy dù gió bấc quất rát rạt qua vành tai. Bàn tay nàng đeo lớp găng vải thô dầy cộm, tì mạnh vào mép cánh cửa gỗ mun bọc sắt nặng trịch, dồn sức đẩy nó hé thêm một khoảng vừa đủ cho một thân người nghiêng mình lách qua. "Về mặt pháp lý khế ước của quan phủ sở tại, chúng ta đường đường chính chính là người nhà của chủ hàng đến kiểm kê tài sản lưu kho quá hạn không có người nhận. Còn về mặt đạo lý chốn giang hồ... ngươi đã lén lút đút túi mười lượng bạc trắng của vị khách giấu mặt để đẩy bài phóng bút trên bảng tin đầu cầu, chút gió lạnh thấu xương thịt này coi như là khoản tiền khấu hao lương tâm của ngươi đi."
Bùi Bát Quái nghẹn họng, há hốc miệng định cãi lại nhưng nhìn thấy ánh mắt sắc như lưỡi trích của nàng, đành lúng búng ngậm chặt miệng, chỉ biết làu bàu mấy câu rủa thầm trong kẽ răng rồi lẽo đẽo lách người theo sau.
Tạ Vô Danh từ đầu đến cuối không nói một lời thừa thãi. Chàng đứng chắn ở phía đầu ngọn gió, giơ cao ngọn đuốc quấn vải dầu tẩm mỡ rái cá bằng tay trái. Ngọn lửa màu cam vàng bốc lên ngùn ngụt, tỏa ra một mùi khói hăng nồng xua bớt cái uế khí ẩm mốc của gian hầm. Cổ tay phải của chàng vẫn giấu gọn ghẽ dưới lớp vải áo tay chẽn bó chặt, áp sát vào mạn sườn phải để triệt tiêu mọi rung chấn vô thức. Dưới ánh đuốc chập chờn, bóng chàng đổ dài lên cánh cửa sắt han gỉ, thẳng đứng và im lìm tựa như một tấm bia đá cổ bên bờ hoang.
Kho lạnh số bốn thực chất là một gian hầm nửa chìm nửa nổi dưới mặt đất phù sa, vách hầm được ghép bằng ba lớp ván thông dày đực tẩm hắc ín chống thấm, bên ngoài lại phủ thêm rơm bện trộn bùn non trát dày đến nửa gang tay để ngăn hơi nóng mùa hè xâm nhập. Thời hoàng kim của các hội thuyền buôn cá sông Vọng Giang chừng mười năm về trước, nơi này từng là yết hầu giao thương tấp nập nhất bến sông, ngày đêm chứa hàng trăm tạ cá lăng, cá ngạnh, cá chiên tươi roi rói chờ bốc dỡ lên các khoang thuyền buôn Kinh kỳ vừa cập bến. Nhưng từ ngày khúc sông cạn dòng, luồng lạch lớn chuyển dịch dần sang bờ bắc, dãy nhà kho kiên cố này đã bị các phường buôn lớn bỏ hoang cho mạng nhện bám đầy. Chỉ còn lại vài ba thương nhân nhỏ lẻ, những kẻ buôn hàng chuyến hoặc đám đầu nậu ít vốn thuê lại những khoang ngầm ẩm ướt ở góc khuất để chứa đồ đông lạnh rẻ tiền hoặc những kiện hàng hóa mờ ám không tiện đưa ra ánh sáng công đường.
Không khí bên trong hầm rét buốt hơn bên ngoài bến sông gấp bội phần. Cái lạnh ở đây không phải là cái lạnh hanh hao của gió bấc ngoài trời, mà là một thứ hàn khí tù đọng, âm u, ngấm ngầm luồn lách qua từng thớ vải thô, đâm thẳng vào tủy xương. Mỗi hơi thở của ba người vừa phả ra đã lập tức ngưng đọng thành những luồng khói trắng xóa, lơ lửng rồi tan biến vào màn đêm quánh đặc mùi ẩm mốc.
Đỗ Thanh tháo bọc hành lý kiểm thi may bằng da hươu sấy khô sau lưng xuống, đặt cẩn thận lên một chiếc thùng gỗ rỗng nằm sát vách ngăn. Động tác của nàng thuần thục và dứt khoát đến mức máy móc. Nàng rút từ trong bao da ra chiếc kẹp tre dài nửa thước, một chiếc đĩa sứ nhỏ màu men tràm và một mảnh lụa trắng sạch tinh chưa hề dính một hạt bụi, đoạn cất bước đi thẳng về phía sàn gỗ ở góc khoang ngầm số mười bảy nằm sâu nhất trong góc tối.
Nơi đó, trên nền ván gỗ sồi xám xịt đóng một lớp sương muối trắng nhờ dày cộm, vẫn còn sót lại một đống đá ướp muối to tướng bằng nửa gian phản nằm ngổn ngang nhưng đã tan mất một nửa. Nước muối mặn chát rỉ ra từ đống băng đá, chảy tràn qua các rãnh thoát nước khoét nông trên mặt sàn gỗ, đọng lại thành từng vệt cặn khô màu xám xịt hình vân mây uốn lượn.
Thế nhưng, điều khiến đôi mắt của một nữ ngỗ tác lành nghề lập tức chú ý lại là sự thiếu vắng kỳ lạ của những dấu vết sinh học thông thường. Đống đá ướp đồ sộ này không hề có lấy một cái vảy cá trôi dạt, không có một mẩu mang cá thối rữa hay chút dịch ruột màu vàng nâu đặc trưng của tôm cá ươn thối thường thấy ở các khoang hàng thủy sản ven sông.
Đỗ Thanh quỳ một gối xuống sàn ván trơn trượt, vạt áo chàm quét nhẹ trên nền ẩm. Nàng chẳng hề bận tâm đến việc lớp nước bùn lạnh ngắt đang thấm qua lớp vải quần lanh mỏng dính vào đầu gối. Nàng đưa chiếc kẹp tre ra, gắp lấy một mẩu tinh thể muối còn chưa tan hết đang bám chặt trên bề mặt một tấm phản gỗ dài chừng sáu thước kê sát chân tường.
"Muối hột thông thường mà dân chài và thương lái bến sông dùng để ướp cá chở đường xa là loại muối thô làm từ nước biển cạn, hạt to bản, đục ngầu sắc xám vì lẫn nhiều cát mịn và tạp chất phù sa," Đỗ Thanh đưa mẩu tinh thể lại gần sát ngọn lửa đuốc bập bùng trên tay Tạ Vô Danh. Đôi con ngươi đen lánh của nàng khẽ nheo lại, chăm chú quan sát từng giác cạnh khúc xạ dưới ánh lửa vàng cam. "Nhưng tinh thể này thì khác hẳn. Nó rất mỏng và dẹp, viền ngoài tẽ ra như những cánh hoa cúc nở rộ vào mùa đông, các cạnh sắc lẹm chẳng khác nào những mảnh thủy tinh vỡ, màu trắng trong suốt như ngọc lưu ly, tuyệt nhiên không lẫn một hạt bụi phù sa hay bọt bẩn."
Nàng ngừng lại một thoáng, đầu ngón tay khẽ miết nhẹ lên chuôi kẹp tre:
"Đây là 'muối diêm tuyết phiến' – thứ khoáng diêm đắt đỏ chỉ được khai thác từ các vỉa đá muối sâu trên vùng núi cao phía Bắc, chuyên dùng trong các hầm băng lớn của vương phủ hoặc các phường giữ thực phẩm thượng hạng tại kinh thành. Loại muối này khi hòa trộn với đá lạnh theo một tỷ lệ nhất định sẽ tạo ra một luồng hàn khí cực sâu, sâu hơn băng tự nhiên gấp ba bốn lần, có khả năng làm đông cứng thịt mềm trong chớp mắt mà không làm rách thớ cơ hay khiến da thịt bị trương phình, rữa nát."
Nói đoạn, nàng cẩn thận mở chiếc túi gấm nhỏ thêu chỉ đỏ mang theo bên hông, dùng kẹp rút ra một mẩu vải thô xơ xác đã khô cứng. Đó là mảnh vải được nàng dùng dao trích cắt ra từ mép cổ áo sau lưng của thi thể Trần Hữu Sổ khi chàng phu chép sổ xấu số này được quật lên khám nghiệm tại Tĩnh Thi Phòng vào đầu giờ sáng.
Đỗ Thanh trải phẳng tấm lụa trắng lên mặt phản gỗ, nhẹ nhàng đặt mẩu vải rách và mẩu tinh thể muối vừa nhặt được nằm sát cạnh nhau.
Dưới ánh lửa đuốc chao nghiêng theo từng cơn gió lùa, cảnh tượng hiện ra rành rành không thể chối cãi. Những hạt muối li ti còn bám chặt trong từng kẽ sợi của thớ vải thô trên cổ áo người chết và những tinh thể muối vương vãi trên mặt sàn gỗ của khoang ngầm số mười bảy lấp lánh cùng một thứ ánh sáng sắc lạnh, hình dáng cánh hoa cúc sắc nhọn và độ tinh khiết hoàn toàn trùng khớp với nhau từng ly từng tí.
"Vết rách dài dọc theo đường chỉ sau gáy của nạn nhân không phải do giằng co, xô xát với kẻ cướp trên bờ đá gập ghềnh," Đỗ Thanh hạ giọng thật thấp, thanh âm trầm tĩnh nhưng rành rọt từng chữ vang lên giữa gian hầm lạnh lẽo. "Đó là dấu vết để lại khi người ta dùng một chiếc móc sắt hoặc luồn một sợi thừng gai thô bạo vào cổ áo, kéo lê một thi thể đã đông cứng như một súc gỗ trên mặt sàn ván trơn trượt đầy băng giá này để tống ra ngoài cửa kho."
Bùi Bát Quái nghe đến đó thì rùng mình một cái thật mạnh, cảm giác như có một luồng khí lạnh buốt bò dọc từ thắt lưng lên tận đỉnh đầu. Hắn vô thức lùi thụt lại nửa bước, cái lưng gầy va sầm vào một dãy thùng gỗ mục chất cao ngất ngưởng ở khoảng tối phía sau. Đống thùng gỗ lâu năm khẽ lay động dữ dội, phát ra những tiếng cọt kẹt ken két rợn người như tiếng xương khớp của một thây ma đang cựa quậy.
"Nói... nói như vậy là," Bùi Bát Quái lắp bắp, hai mắt trợn trừng nhìn vào đống đá muối tan dở, "Trần Hữu Sổ không hề bị trượt chân chết đuối ở chân cọc ba mươi hai như lời khai của đám tuần phu sao? Hắn bị người ta giết từ một xó xỉnh nào đó, rồi nửa đêm nửa hôm bị khiêng lén lút vào cái hầm cá chết tiệt nồng nặc mùi chết chóc này, nhét trần truồng vào giữa đống đá muối diêm tuyết phiến?"
"Một người bị ngạt nước mà chết thật sự thì khoang ngực phù nề, khí quản đầy bọt nước lẫn bùn rêu, bụng trướng to vì nuốt phải chất lỏng, các mao mạch ở niêm mạc mắt và vòm họng sẽ xuất huyết li ti vì thiếu dưỡng khí cục bộ," Đỗ Thanh vừa nói vừa cẩn thận gắp hai mẫu vật bỏ vào chiếc hộp sắt tây có lót bông trắng, ngón tay nàng gõ nhẹ lên mặt phản gỗ rỗng bên dưới tạo nên những âm thanh cồm cộp khô khốc. "Nhưng sáng nay tại Tĩnh Thi Phòng, các ngươi cũng đã tận mắt chứng kiến: da dẻ của Trần Hữu Sổ co rút sâu một cách bất thường, các khớp ngón tay quắp chặt cứng như thép nguội, cơ bắp co cứng theo hình thế nằm thẳng đuột, và quan trọng nhất là dạ dày cùng khí quản của hắn hoàn toàn khô ráo, không có lấy một giọt nước sông Vọng Giang. Hắn đã trút hơi thở cuối cùng trên cạn. Và kẻ xuống tay hạ sát hắn cần biến cái xác không hồn này thành một con rối biết đi sau khi mạch máu đã ngừng đập từ lâu."
Trong lúc Đỗ Thanh đang cẩn trọng thu thập từng mẩu tinh thể muối vương vãi, Tạ Vô Danh đã cầm ngọn đuốc lẳng lặng tách ra, bước vòng qua một góc chết bị che khuất bởi dãy thùng gỗ thông mục nát.
Nơi chàng bước tới là góc kẹt nằm sâu nhất của gian hầm, khuất sau những tấm lưới đánh cá rách bươm bám đầy rong rêu khô và mấy chiếc sọt tre thủng đáy nằm chồng chất lên nhau. Ánh sáng vàng vọt từ ngọn đuốc mỡ rái cá quét qua mặt đất phủ đầy mùn cưa và vỏ trấu ẩm ướt, làm hiện lên một vài vệt bùn còn lờ mờ hình hoa văn của đế giày – đó là những đường vân gợn sóng tinh xảo của loại giày da lộn đế mỏng, thứ trang phục chỉ có các đào kép hát tuồng trên rạp lớn hoặc đám công tử nhà giàu dạo phố chơi bời mới mang vào chân, hoàn toàn lạc lõng và xa xỉ giữa chốn bến bãi lầy lội nồng nặc mùi bùn phèn này.
Mũi thanh kiếm cùn bọc vải của Tạ Vô Danh khẽ vung lên một đường ngắn, gạt góc bao tải gai rách rưới sang một bên.
"Đỗ Thanh, qua đây xem thứ này." Giọng chàng cất lên, khô khốc, trầm đục và phẳng lặng như mặt nước giếng sâu.
Nữ kiểm thi và Bùi Bát Quái lập tức rảo bước đi tới.
Dưới chân một chiếc hòm gỗ cũ nát bị cạy bung nắp, nằm lăn lóc giữa đám dăm bào mục ẩm và những mảnh muối vụn lóng lánh, là một chiếc hộp phấn sáp trang điểm bằng sứ tròn tráng men xanh bị vỡ làm đôi. Lớp sáp đặc quánh bên trong có màu đỏ son rực rỡ khác thường, dù đã bị nấm mốc trắng li ti bám thành một vòng xung quanh nhưng khi ánh lửa đuốc chiếu vào, nó vẫn tỏa ra một mùi hương xạ pha trộn bột chu sa nồng gắt, lấn át cả mùi cá ươn xung quanh.
Ngay bên cạnh chiếc hộp vỡ là một bộ râu giả quăn queo làm bằng lông đuôi ngựa đen nhánh, các sợi lông được đan cài tỉ mỉ trên một lớp màng lụa mỏng tang dán vừa khít cằm người, mép viền của nó vẫn còn dính những vệt keo da trâu dẻo quánh màu hổ phách chưa kịp khô kiệt hoàn toàn.
Nhưng thứ nổi bật nhất, kỳ quặc nhất giữa đống rác rưởi phế thải này lại là một dải băng vải thô màu nâu nhạt dài chừng ba thước. Bên trong dải băng được may khéo léo chèn vào hai thanh nẹp bằng cật tre già uốn cong vòng cung, có dây rút bằng gân bò buộc chéo hai đầu – một kết cấu nẹp độn vai chuyên dụng không thể lẫn vào đâu được.
Bùi Bát Quái chớp chớp đôi mắt ti hí, không nén nổi tò mò liền cúi xuống nhặt bộ râu giả lên ngắm nghía, đoạn buột miệng kêu lên một tiếng kinh ngạc:
"Ủa, đây là lông đuôi ngựa thật trăm phần trăm này! Loại râu giả đan bằng lông đuôi tuấn mã phương Bắc này đắt đỏ lắm, đám gánh hát rong diễn trò ngoài đình chợ chỉ dám dùng sợi gai tước nhỏ nhuộm mực tàu rẻ tiền thôi. Còn cái hộp son này nữa... trời đất quỷ thần ơi, nhìn bột chu sa mịn như nhung thế này xem, dưới đáy mảnh gốm vỡ còn có dấu ấn triện chìm 'Kinh Đô Thải Vân Lâu'. Một hộp sáp hồng này bày bán ở tiệm phấn sáp lớn phố Thượng có giá không dưới hai lượng bạc trắng! Kẻ nào lại điên rồ đến mức đem đồ hóa trang của đào kép thượng thặng vào tận cái hầm cá hôi thối này để bôi mặt quẹt môi?"
Tạ Vô Danh cúi người xuống, dùng những ngón tay dài của bàn tay trái nhặt dải băng nẹp vai bằng cật tre lên. Khung nẹp tre được uốn cong gập ghềnh một cách tài tình, ôm khít theo dáng xương quai xanh của người lớn, hai đầu nẹp được bọc nhiều lớp vải bông chần đệm dày đến hai đốt ngón tay để nâng đỡ bờ vai giả tạo.
Chàng khẽ ướm dải nẹp tre ấy lên bờ vai rộng lớn, vững chãi của chính mình, rồi đưa mắt nhìn sang vóc người thấp lùn, lòng khòng của Bùi Bát Quái.
"Không phải điên," Tạ Vô Danh nhàn nhạt nói, ánh mắt chàng sắc lạnh như lưỡi dao thép. "Kẻ đó độn vai. Vóc dáng thật của hắn thấp bé hơn ta rất nhiều, vai xuôi và hẹp. Nếu hắn muốn khoác chiếc áo tơi rách tơi tả của một phu bến tàu, đội nón lá sụp xuống che khuất nửa khuôn mặt, rồi đi từng bước khập khiễng trong đêm sương mù dày đặc để người qua đường nhìn từ xa tưởng nhầm là một kiếm khách vạm vỡ dắt theo một gã phu chép sổ, hắn bắt buộc phải dùng khung nẹp tre độn bông này để nâng bờ vai gầy guộc của mình lên cho đủ tầm vóc."
Đỗ Thanh nhìn chằm chằm vào dải nẹp tre và bộ râu giả trên tay hai người, đôi lông mày thanh tú khẽ nhíu lại thành một đường sắc sảo:
"Và bộ râu giả bằng lông đuôi ngựa này nữa... Khi còn sống, Trần Hữu Sổ có một chòm râu dê ngắn ngủn, lưa thưa dưới cằm, và ngay bên dưới khóe môi trái của hắn có một nốt ruồi son bẩm sinh to bằng hạt kê. Hộp sáp đỏ đắt tiền kia không phải dùng để đánh má đào hay tô môi kép hát, mà là dùng một đầu que tăm chấm vào bột chu sa để tạo nên một nốt ruồi son giả mạo."
Từng mảnh ghép rời rạc, tưởng chừng như vô lý và hỗn loạn, bỗng chốc khớp chặt vào nhau như những bánh răng của một cỗ máy cơ quan tinh vi vừa được tra đẫm dầu trơn.
Một kẻ có vóc người nhỏ nhắn, am tường kỹ nghệ sân khấu và thuật dịch dung đến mức thượng thừa, mang theo những món đạo cụ hóa trang đắt giá nhất của các rạp hát kinh kỳ vào ẩn nấp trong gian hầm cá hoang vắng này.
Hắn rạch mặt nạ sương mù đêm khuya, nẹp vai cho vừa vặn với vóc dáng lực lưỡng của Tạ Vô Danh để giả dạng bám theo Trần Hữu Sổ; sau khi chàng phu chép sổ xấu số bị sát hại và đem giấu xác vào đống băng muối, kẻ đó lại dùng râu giả, dùng chu sa chấm nốt ruồi son, khoác lên mình bộ quần áo dính mực của nạn nhân, rồi đường hoàng bước chân vào Quầy Công Thưởng của nha môn giữa thanh thiên bạch nhật, thản nhiên ký tên điểm chỉ nhận ba mươi lượng bạc thưởng ròng rã dưới con mắt chứng kiến của hàng chục sai nha và phu bến.
Đó chính là câu trả lời trọn vẹn cho việc tại sao dân chúng khắp bến Vọng Giang đều xôn xao đồn đại rằng họ đã nhìn thấy "Trần Hữu Sổ bằng xương bằng thịt" đi vào sảnh nha môn lúc xế chiều. Hoàn toàn không có chuyện oan hồn hiện về đòi tiền thưởng hay thây ma biết đi, mà đó là một màn trình diễn dịch dung đỉnh cao, một vở kịch lừa trời dối người được dàn dựng công phu ngay giữa chốn công quyền uy nghiêm.
Thế nhưng, ngay giữa lúc sự thật dần hé lộ, Đỗ Thanh đột nhiên đứng lặng sững sững. Nét mặt của nàng đông cứng lại, trở nên căng thẳng tột độ. Nàng nhìn trân trối vào đống đá muối đang tan rữa từng giọt dưới sàn ván, rồi nhìn xuống đôi găng tay dính đầy bụi mốc của mình. Lồng ngực nàng phập phồng sau một nhịp thở nghẹn ngào, bàn tay khẽ run lên một thoáng rất nhẹ.
Tạ Vô Danh với sự nhạy cảm của một kiếm khách lập tức nhận ra sự biến đổi kỳ lạ ấy: "Nàng phát hiện ra điều gì bất thường?"
Đỗ Thanh siết chặt hai bàn tay đeo găng lại với nhau đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Giọng nàng khô khốc, mang theo một nỗi dằn vặt chuyên môn không thể nào che giấu được:
"Kết luận ban đầu của ta tại sảnh nha môn... đã sai một nửa."
Bùi Bát Quái đang săm soi bộ râu giả bỗng giật nảy mình như phải bỏng, hắn nhảy chồm lên: "Sai? Nàng... nàng nói cái gì cơ? Nàng là ngỗ tác chính thức có khế ước ăn lương quan nha, giấy trắng mực đen khám nghiệm tử thi hồi sáng nàng vừa tự tay niêm phong nộp vào tráp sắt để chuẩn bị đối chất trước mặt Khâm sai Kinh kỳ đấy! Bây giờ nàng lại bảo là mình kết luận sai? Hà Công Bút mà tóm được cái thóp này, hắn sẽ không bỏ lỡ nửa khắc để băm nàng ra làm trăm mảnh, khép nàng vào cái tội ngụy tạo biên bản kiểm thi hòng giải vây cho hung thủ!"
"Sai thì phải đính chính, đó là bổn phận của kẻ khám nghiệm tử thi," Đỗ Thanh lạnh lùng ngắt lời hắn, nhưng nơi đáy mắt nàng ánh lên một ngọn lửa kiên định pha lẫn nỗi tự trách sâu sắc. "Ở sảnh công đường lúc sáng, khi chạm tay vào thi thể, thấy các khớp cứng đờ toàn diện và nhiệt độ bề mặt da hạ sâu, ta đã đối chiếu theo lẽ thường của một xác chết vào mùa thu ven sông để phán đoán nạn nhân tử vong cách lúc nộp xác chừng hai đến ba canh giờ – tức khoảng cuối giờ Tỵ hoặc đầu giờ Ngọ. Kết luận đó đủ để vạch trần việc ký giấy vào giờ Thân một khắc là ngụy tạo, nhưng ta đã hoàn toàn không ngờ tới gian kho mát này."
Nàng giơ thẳng chiếc kẹp tre, chỉ thẳng vào đống đá ướp muối diêm tuyết phiến đang rỉ nước:
"Nhưng ta đã hoàn toàn không tính đến sự tồn tại của gian kho mát này! Muối diêm tuyết phiến trộn cùng đá tuyết vụn có thể kéo nhiệt độ môi trường xung quanh hạ xuống mức băng giá cực độ trong một thời gian cực ngắn. Khi một người vừa mới trút hơi thở cuối cùng bị ném ngay lập tức vào hầm đá muối này, cái lạnh thấu xương sẽ ngay lập tức làm ngưng trệ toàn bộ quá trình phân hủy tự nhiên của tế bào trong cơ thể, dòng máu đông đặc lại tại chỗ, và hiện tượng cứng đờ tử thi bị cưỡng ép xuất hiện sớm hơn bình thường gấp nhiều lần, nhưng sau đó nó lại giữ nguyên trạng thái đóng băng ấy suốt nhiều ngày đêm không hề biến chuyển. Chỉ đến khi cái xác chết lạnh cóng ấy được kẻ thủ ác vớt ra khỏi đống đá, ném xuống dòng sông nước ấm hơn để tạo hiện trường giả, quá trình rã đông giả tạo mới bắt đầu diễn ra!"
Tạ Vô Danh ngưng mắt nhìn sâu vào gương mặt nàng, giọng chàng trầm xuống: "Nghĩa là thế nào?"
"Nghĩa là Trần Hữu Sổ tuyệt đối không phải chết vào quãng giờ Tỵ hay giờ Ngọ ban trưa!" Đỗ Thanh dõng dạc khẳng định, từng lời từng chữ của nàng vang lên đanh thép như đinh đóng vào cột gỗ mun. "Hắn đã bị sát hại từ đêm hôm trước, thậm chí là từ canh ba rạng sáng ngày hôm qua – tức là trước thời điểm có kẻ xuất hiện tại Quầy Công Thưởng ký tên điểm chỉ nhận ba mươi lượng bạc ít nhất là sáu đến tám canh giờ! Cái chết oan khuất của hắn đã xảy ra từ rất lâu trước khi giọt mực trên tờ biên nhận hoa tiên kia được viết ra!"
Không gian bên trong gian hầm lạnh bỗng chốc im phăng phắc, đặc quánh lại như thể thời gian vừa ngừng trôi.
Chỉ còn lại tiếng những giọt nước muối tan từ xà gỗ trên trần kho nhỏ xuống mặt ván bên dưới: *tách... tách... tách...* Đều đặn, lạnh lùng và buốt giá.
Mưu đồ này tinh vi và tàn độc đến mức khiến người ta phải lạnh gáy. Kẻ thủ ác không đơn thuần chỉ muốn cướp đi ba mươi lượng bạc tiền thưởng công đường, không chỉ muốn vu oan giá họa cho Tạ Vô Danh cái tội nộp xác giả để lấy tiền, mà bọn chúng còn cao tay đến mức lợi dụng chính những quy luật sinh học biến đổi tự nhiên của thi thể và kiến thức kiểm thi thông thường của ngỗ tác nha môn để dựng nên một bức tường thời gian bất khả xâm phạm.
Nếu như đêm nay họ không lần ra được gian kho lạnh số bốn này, nếu như Đỗ Thanh cứ khăng khăng ôm giữ lấy bản kết luận ban đầu vì sự kiêu hãnh hay sĩ diện nghề nghiệp của một nữ ngỗ tác, khoảng chênh lệch thời gian do kho lạnh gây ra sẽ bị đối phương khoét sâu vào để công kích, biến kết luận của nàng thành một phán đoán hồ đồ, thiếu căn cứ trước mặt quan giám sát. Còn Tạ Vô Danh, chừng nào chưa chứng minh được thi thể từng bị ướp lạnh và có kẻ đóng giả người chết đến ký sổ, chàng vẫn sẽ mắc kẹt trong vòng nghi vấn giết người đoạt thưởng.
Thế nhưng, nếu nàng dũng cảm đứng ra lật ngược kết luận của chính mình trước mặt Tri phủ và Khâm sai đại thần Nguyễn Minh Luật, nàng sẽ phải đối mặt với một cơn bão tố nơi công đường: toàn bộ quan lại nha môn sẽ xúm vào công kích nàng là kẻ nghiệp vụ non kém, tiền hậu bất nhất, thậm chí là đồng lõa ngụy tạo chứng cứ.
"Ngươi... nàng thật sự định sửa lại toàn bộ hồ sơ kiểm thi sao?" Bùi Bát Quái hạ giọng hỏi, trong mắt hắn lộ rõ vẻ kinh ngạc tột độ xen lẫn sự kiêng nể không giấu giếm. "Hà Công Bút đang thèm khát cái chức vị của nàng từng ngày từng giờ, hắn sẽ không tha cho nàng đâu."
"Nha môn có thể nghi ngờ sự chuẩn xác của ta, cấp trên có thể cách chức tống ngục ta vì một phán đoán sai lầm ban đầu," Đỗ Thanh ngẩng cao đầu, ánh mắt nàng trong vắt tựa như làn nước mùa thu nhưng vững chãi khôn cùng, "nhưng người chết nằm dưới đất lạnh không thể tự cất tiếng nói để đòi lại công lý cho mình, nếu ngay cả người làm ngỗ tác khám nghiệm cho họ cũng hèn nhát che giấu sai sót để bảo toàn cái ghế quan nha. Hắn đã chết một cách oan ức, ta tuyệt đối không thể để một kết luận vội vã của mình biến kẻ giết hắn thành người vô can đứng ngoài vòng lao lý."
Tạ Vô Danh nhìn nàng thật sâu dưới ánh lửa bập bùng, khóe môi chàng khẽ nhếch lên một thoáng rất mờ nhạt, dường như là một sự tán đồng hiếm hoi. Chàng gật đầu:
"Rất tốt. Chúng ta đã có mẫu muối diêm, đã có đạo cụ cải trang bỏ lại. Nhưng chỉ bấy nhiêu vẫn chưa đủ để kết tội ai trước mặt Khâm sai. Điều cốt yếu nhất lúc này là: kẻ nào đã đứng ra bỏ tiền thuê cái khoang ngầm này?"
Vừa nghe nhắc đến chuyện tiền nong, sổ sách và việc thuê mướn bến bãi, đôi mắt ti hí của Bùi Bát Quái lập tức sáng rực lên như chuột cống bắt được mùi mỡ thơm. Hắn vỗ đùi một cái *đét*, vẻ sợ hãi ban nãy dường như bay biến đi đâu mất một nửa:
"Chuyện đó thì hai vị cứ việc để mặc cho Bùi mỗ ra tay! Cả cái Bến Hạ Thủy này không có con chuột nào rúc vào xó nào mà ta không hay biết. Dãy kho lạnh số bốn này trên danh nghĩa vẫn thuộc quyền quản lý trực tiếp của Phòng Sự Vụ Bến Tàu. Lão thủ kho Mã chột tối nào cũng ôm bình rượu nếp uống say mèm ở quán rượu thịt chó đầu cầu gãy, sổ sách ghi chép danh sách khách thuê và tiền thu chi hàng tháng lão đều nhét bừa bãi trong một chiếc hòm gỗ khóa sơ sài dưới gầm bàn trà của gian điếm canh ngoài cổng!"
Không đợi hai người kia kịp lên tiếng giục giã, Bùi Bát Quái đã lách thoăn thoắt qua khe cửa hở, bóng hắn biến mất dạng vào màn sương mù dày đặc bên ngoài.
Chưa đầy nửa khắc sau, giữa tiếng gió hú từng cơn qua khe ván mục, tiếng bước chân lẹp xẹp vội vã đã quay trở lại. Bùi Bát Quái hớt hải lách người vào trong hầm, trên tay ôm khư khư một cuốn sổ dày cộp bìa bọc da bò rách nát, các góc bìa đã sờn rách và phủ đầy một lớp bụi bặm lẫn mạng nhện xám xịt.
"Tìm thấy rồi! Đây đích thị là cuốn sổ lưu ký tiền thuê bến bãi, cầu tàu và các khoang ngầm bảo quản lạnh từ đầu năm đến nay!"
Ba người lập tức chụm đầu lại dưới ánh sáng vàng ấm của ngọn đuốc mỡ rái cá.
Bùi Bát Quái liếm đầu ngón tay trỏ, thoăn thoắt lật từng trang giấy dó vàng ố vì khói thuốc và hơi ẩm sông nước. Mồm hắn lẩm bẩm tính toán từng ngày từng tháng:
"Khoang ngầm số mười lăm... kho muối mắm cá linh... Khoang ngầm số mười bảy... kho đông lạnh muối cá bờ nam... Đây rồi! Xem nào, ba tháng trước khoang này vẫn để trống vì mối mọt xông vách. Nhưng đến đúng ngày mùng một đầu tháng này, có một kẻ đã đứng ra ký hợp đồng trả trước trọn vẹn ba tháng tiền thuê bằng bạc nén nguyên chất, tổng cộng sáu lượng bạc trắng không thiếu một xu!"
"Ai là người đứng tên ký giấy?" Đỗ Thanh nín thở hỏi dồn, ngón tay nàng siết chặt lấy mép áo gấm.
Bùi Bát Quái ghé sát mắt vào mặt trang giấy ố vàng, ngón tay xương xẩu của hắn dừng lại ở dòng chữ ký nhận tiền nằm ở góc dưới bên phải trang sổ.
Đó tuyệt nhiên không phải là một cái tên họ đầy đủ của một phường buôn cá danh tiếng, cũng không phải là tên của một thương nhân lương thiện ven sông.
Nơi dòng kẻ dành cho người thuê khoang chỉ có một con triện mực son đã mờ nhạt, khắc hình một thanh trường kiếm đặt gác ngang qua một chiếc mặt nạ tuồng sân khấu, và đè lên trên con triện ấy là một lối ký tắt bằng mực tàu gồm bốn nét gãy sắc nhọn, vút cao tựa như hình ảnh đôi cánh nhạn đang rẽ gió bay lên.
Bùi Bát Quái hít vào một hơi khí lạnh buốt buốt tận cuống họng, hai con mắt tròn xoe kinh ngạc:
"Lối ký tắt chữ 'Khôi'... cùng con dấu kiếm gác mặt nạ này... Trời đất ơi, đây chính là nét bút riêng của Lục Tiết Khôi! Kẻ chuyên quản lý toàn bộ hòm xiềng trang phục, mặt nạ và đạo cụ hậu trường của Đài Bách Thắng!"
"Đài Bách Thắng?" Tạ Vô Danh khẽ lặp lại ba chữ ấy bằng một thanh âm trầm thấp lạ thường.
Bàn tay trái của chàng bất giác siết chặt lấy chuôi thanh kiếm cùn bọc vải thô. Những đường gân xanh trên mu bàn tay chàng gồ lên cuồn cuộn dưới ánh lửa, tỏa ra một sát khí lạnh lẽo không kém gì hàn khí của đống đá muối diêm dưới chân.
Đài Bách Thắng – võ đài danh vọng tráng lệ và tàn khốc bậc nhất bên bờ sông Vọng Giang. Đó là nơi diễn ra những trận huyết chiến sinh tử của giới võ biền giang hồ, nơi những chiếc vé vào cửa được bán ra với cái giá cắt cổ tính bằng vàng ròng, nơi những vị anh hùng thảo mãng được vinh danh khắc tên lên bảng vàng chói lọi của Danh Kiếm Hội. Và đó cũng chính là nơi Vệ Thiên Kiêu – đối thủ truyền kiếp năm xưa của chàng – đang ngự trị sừng sững trên đỉnh cao bất bại với những màn biểu diễn kiếm thuật hoa mỹ ngút trời, được vạn người tung hô bái phục.
Hộp phấn sáp đắt tiền có triện Thải Vân Lâu nơi Kinh kỳ hoa lệ.
Bộ râu giả đan bằng lông đuôi ngựa thượng hạng.
Dải nẹp vai đạo cụ chuyên dùng để biến đổi vóc dáng trên sân khấu tuồng.
Và giờ đây là chữ ký cùng con dấu thuê kho lạnh của chính người quản lý đạo cụ Đài Bách Thắng.
Một đường dây đen tối, quỷ quyệt và đẫm máu bỗng chốc hiện rõ mồn một: nó bắt đầu từ sảnh Quầy Công Thưởng của nha môn huyện, luồn lách qua cái chết oan uổng trong đêm lạnh của người phu chép sổ Trần Hữu Sổ, rồi đâm thẳng một nhát chí mạng vào trung tâm của cỗ máy tạo dựng danh vọng giang hồ lớn nhất và lộng lẫy nhất kinh thành Vọng Giang này.
Một cơn gió đêm từ lòng sông sâu lại thốc mạnh qua khe cửa hé mở, thổi tạt vào gian hầm ẩm thấp khiến ngọn lửa trên tay Tạ Vô Danh chao đảo dữ dội. Ánh lửa bập bùng hắt bóng ba người in dài ngoằng ngoặc, méo mó và lạnh lẽo lên vách gỗ mun đóng băng muối.
Cái lạnh thấu xương của hầm cá không chỉ giữ xác người, nó còn đóng băng cả một lời nói dối hoàn hảo.