Giang Hồ Hết Cứu: Một Kiếm, Ba Cú LừaCh.4 / 30
Chapter 4

Một Người Bắt Nhầm, Hai Người Đúng Mẫu

Trước cổng lớn nha môn phủ Vọng Giang, cái nắng hanh hao của cữ cuối thu không xua nổi luồng tử khí nhờn nhợt bốc lên từ những rãnh thoát nước ngập ngụa rác rưởi dưới chân tường đá. Gió từ ngã ba sông thổi thốc vào nội thành mang theo mùi bùn tanh nồng, quẩn quanh nơi bậc tam cấp loang lổ vết rêu xanh cùng những vệt máu cũ từ những vụ thụ hình chưa từng được cọ rửa sạch sẽ.

Một toán nha dịch gồm bốn tên đao phủ và tuần sai mặt mày bặm trợn, ống quần xắn cao tới bẹn, đang hè nhau lôi xềnh xệch một bóng người khốn khổ qua khoảng sân rải sỏi nhọn. Người bị kéo lê là một phu bến tàu trạc ngoài ba mươi, chiếc áo vải thô rách tơi tả từng mảng lớn để lộ bộ xương sườn nhô lên như chiếc lồng nan tre mục. Hai bắp chân gã phủ kín lớp phù sa đỏ quạch cáu bẩn của lòng sông Vọng Giang, khô nứt nẻ thành từng vệt như da cóc. Cổ gã bị kẹp cứng trong chiếc gông gỗ lim nặng trịch tới ba mươi cân, bốn góc bịt sắt hoen gỉ cọ xát vào da thịt trầy trụa rớm máu theo từng nhịp giật. Mỗi bước chân xiêu vẹo, dập dềnh của gã cào trên những phiến đá xanh nhẵn thín đều kéo theo chuỗi âm thanh xích sắt loảng xoảng buốt óc, hòa lẫn tiếng khóc nghẹn gãy vụn giữa cuống họng khô rát:

"Oan… oan cho thảo dân quá quan lớn ơi! Trời cao đất dày chứng giám, thảo dân từ thuở cha sinh mẹ đẻ chỉ biết bốc bao muối kéo mảng nứa ở bến Hạ Thủy, nửa hạt lúa cọng rau của ai cũng không dám tơ hào! Sao các ngài lại gông cổ bảo thảo dân là giặc cướp giết người đoạt thuyền? Oan khốc này thấu tận cửu trùng rồi quan lớn ơi!"

"Câm cái mồm thối lại!" Một tên tuần sai đi bên cạnh giáng thẳng chuôi roi mây bịt đồng xuống thành gông gỗ, phát ra một tiếng *cộp* khô khốc khiến đầu gã phu bến giật nảy sang một bên. Tên sai nha gằn từng tiếng qua kẽ răng vàng khè vì khói thuốc: "Đã lết chân qua bậu cửa nha môn này rồi mà còn dám tru tréo làm kinh động đến thanh danh quan trường hả? Cáo thị truy nã đóng dấu đỏ lòm của nha phủ dán rành rành khắp bốn cổng đông tây nam bắc suốt một năm trời, miêu tả vóc dáng ngươi không sai một ly một hào! Đợt này quan trên muốn khép sổ dọn án tồn để đón đoàn khâm sai tuần thú, ngươi thức thời thì ngoan ngoãn lăn tay điểm chỉ nhận tội, vào ngục còn được vài bát cơm lạt lót dạ trước ngày ra pháp trường đón nhát chém. Còn cứ giở cái thói cãi chày cãi cối, chỉ tổ để bọn ta tẩm dầu roi mây nện nát thịt nát xương!"

Hai tên chấp trượng khác không thèm nương tay, cùng lúc dùng đầu gậy gỗ thúc mạnh vào hõm gối người phu bến, ép gã quỳ sụp xuống mặt đá lạnh ngắt ngay trước cửa sảnh đường.

Cùng lúc ấy, dọc theo hành lang râm mát lót ván gỗ nối liền Quầy Công Thưởng với tiền đường, tiếng đế giày vải bước gấp gáp vang lên dồn dập. Thư lại Hà Công Bút tay bưng một tráp gỗ tếch phủ vuông lụa điều đỏ thắm, khóe môi nhếch lên một nụ cười rạng rỡ khôn tả. Gã đi nhanh đến mức vạt áo dài bằng lụa mỏng phần phật bay trong gió, nhưng nếu nhìn kỹ vào khóe mắt giật giật liên hồi cùng những giọt mồ hôi đang rịn ra từ hai bên thái dương, người ta sẽ thấy rõ nỗi nôn nóng gần như phát cuồng đang thiêu đốt can tràng gã.

Thời gian không còn nhiều nữa. Chỉ còn vỏn vẹn bốn ngày rưỡi nữa thôi, đoàn xe ngựa cắm cờ tiết mao của Khâm sai đại thần Nguyễn Minh Luật thuộc Ngự Sử Đài sẽ chính thức lăn bánh qua cây cầu đá đầu phủ Vọng Giang. Chiếc thòng lọng vô hình đang treo lơ lửng trên cổ toàn bộ quan lại và lại dịch bản phủ: hàng chục vụ án tồn đọng mục ruỗng từ ba năm trước, những khoản ngân khố hao hụt chưa biết lấy gì đắp vào, và trên hết là hàng tá văn bản truy nã treo thưởng bổng lộc đang nằm chết gí trong kho mà chưa có lấy một cái đầu hay một tấm thân tội phạm nào mang ra thế mạng. Quan Khâm sai vốn có tiếng là thanh liêm, chấp pháp nghiêm minh như bàn thạch, một khi sổ sách án từ bị lật tung ra mà phát hiện sơ hở, chiếc mũ ô sa của quan trên lung lay thì đầu của đám thư lại như Hà Công Bút chắc chắn sẽ rụng trước tiên.

Bởi vậy, việc "bắt" được một tên tội phạm vừa vặn khớp vào một hồ sơ truy nã trọng điểm vào đúng buổi trưa hôm nay chẳng khác nào trời ban cho gã một tấm bùa hộ mệnh bằng vàng ròng.

Bước thoăn thoắt lên những bậc thềm đá dẫn vào sảnh đường chính, Hà Công Bút lập tức thu lại vẻ hấp tấp, khom lưng uốn gối thật thấp theo đúng lễ nghi công môn. Gã đặt tráp gỗ lên một góc bàn, hai tay nâng tờ cáo thị có viền mực son đỏ rực chìa ra trước mặt Tri phủ Phạm Duy Liêm.

Viên Tri phủ lúc này đang ngồi ủ rũ sau chiếc bàn công vụ chạm trổ hoa văn kỳ lân bằng gỗ gụ. Khuôn mặt vuông vức béo tốt của ông ta xám xịt như tro tàn, hai bọng mắt thâm quầng vì những đêm mất ngủ tính toán sổ sách tiếp đón đoàn khâm sai. Thấy thư lại của mình bước vào với vẻ mặt đắc thắng, Phạm Duy Liêm hơi nhướng mi mắt mệt mỏi, buông tiếng thở dài uể oải.

"Khởi bẩm Tri phủ đại nhân!" Giọng Hà Công Bút vang lên thanh thoát, âm lượng vừa đủ để đám nha dịch ngoài sân nghe rõ mồn một uy thế của quan phủ: "Đây chính là bản cáo thị truy nã ác tặc Quách Bạt Tụ, kẻ mang ngoại hiệu 'Thiết Phách Thủy Quỷ' đã táo tợn gây ra vụ cướp thuyền muối chấn động tại ngã ba sông Thủy Lĩnh vào tháng Tám năm ngoái! Mức thưởng định mức ngân khố treo giải cho chiếc đầu của hắn là hai mươi lượng bạc ròng. Sáng nay ty chức đích thân dẫn tuần sai mật phục rà soát tại bến Hạ Thủy, quả nhiên phát hiện tung tích kẻ gian, lập tức ra tay bắt gọn tên phu bến họ Lỗ này đem về công đường."

Hà Công Bút bước sang một bên, tay chỉ thẳng vào người phu bến đang run rẩy dưới thềm:

"Xin đại nhân rủ lòng minh giám! Kẻ này thân dài đúng năm thước ba tấc, hai vai nở rộng nhưng lưng hơi gù vì thói quen khom người bơi lặn; nước da ngăm đen bóng nhẫy vì dầm sương dãi nắng nơi sông nước nhiều năm; hai bàn tay thô dày, đốt ngón to bè, lòng bàn tay đóng tầng tầng lớp lớp chai sạn của kẻ ngày đêm cầm chèo cầm sào. Mọi đường nét nhân dạng được ghi trong cáo thị lưu chuyển khắp nơi đều trùng khớp đến từng chân tơ kẽ tóc, tựa như đúc từ một khuôn mà ra! Bắt được tên 'Thiết Phách Thủy Quỷ' này quy án ngay trước kỳ hạn kiểm tra, nha môn ta chẳng những dứt điểm được một trọng án lưu cữu gây hoang mang lòng dân bấy lâu, mà còn là minh chứng hùng hồn nhất dâng lên quan Khâm sai về năng lực tuần phòng, bảo an trật tự nghiêm cẩn của bản phủ!"

Phạm Duy Liêm chầm chậm đưa tay vuốt chòm râu dê lưa thưa nơi cằm. Đôi mày nhăn tít của ông ta từ từ giãn ra, trong đáy mắt ánh lên một tia hy vọng le lói. Đối với một viên quan đã tại vị bảy năm ở vùng đất ngã ba sông phức tạp này, chân tướng sự việc chưa bao giờ quan trọng bằng sự vững chãi của chiếc ghế quan trường. Việc có một cái tên để gạch bỏ khỏi danh sách nợ đọng công trạng của Ngự Sử Đài vào thời khắc nước sôi lửa bỏng này quý giá hơn bất cứ thứ gì trên đời.

Ông ta với tay nhấc chiếc bút lông chấm vào nghiên mực son đặt bên góc án thư, khẽ gật gù:

"Ừm... Nhìn qua thì vóc dáng, nước da quả có phần tương đồng. Nhưng việc trọng án giết người cướp của hệ trọng, đã cho đối chiếu lời khai và bắt điểm chỉ chưa?"

Hà Công Bút nở nụ cười nhũn nhặn đến tận mang tai, bước lên nửa bước, đon đả bưng nghiên mực son dịch lại gần tay Tri phủ hơn:

"Dạ bẩm đại nhân anh minh, bọn giặc cướp vùng sông nước vốn mang bản tính hung tàn, giảo hoạt quen thói chối quanh chối quẩn. Lúc vừa bị bắt gã nào chẳng tru tréo kêu oan để mong tìm đường trốn chạy. Quy củ chốn nha môn trước nay vẫn thế, chỉ cần đại nhân phê chuẩn tống giam vào tử lao, cho sai nha dùng trượng gỗ 'vỗ về' khuyên bảo vài ba hiệp, gân cốt nhừ tử thì dẫu có là sắt đá cũng phải ngoan ngoãn cúi đầu nhận tội, điểm chỉ vẽ vòng vào công văn ngay thôi ạ..."

Ánh mắt Hà Công Bút lấp liếm liếc nhanh về phía cửa sau công đường, nụ cười càng lúc càng nịnh bợ. Bút son của Phạm Duy Liêm đã nhấc lên lưng chừng trời, ngòi bút thấm đẫm mực đỏ chuẩn bị hạ xuống góc hồ sơ để chuẩn y lệnh tống ngục.

"Khoan đã."

Một thanh âm trong trẻo, bằng phẳng và lạnh lùng như một dòng nước suối mùa đông bất ngờ vang lên từ phía cửa ngách, cắt ngang khoảng không gian đặc quánh mùi mực son và toan tính.

Nét bút của Phạm Duy Liêm khựng lại giữa không trung, một giọt mực son tròn trịa rơi tõm xuống mặt giấy trắng tinh, loang ra như một giọt máu tươi.

Từ phía hành lang râm mát dẫn ra Tĩnh Thi Phòng, Đỗ Thanh chầm chậm bước vào sảnh đường. Nàng không mặc quan phục thụng thịnh vướng víu của chốn quan trường, cũng chẳng đeo tạp dề da thuộc nồng nặc mùi giấm chua và thảo dược khi mổ xẻ tử thi. Nàng vận một bộ áo chẽn màu xám tro cắt may gọn gàng, hai ống tay áo được bó chặt bằng dải băng vải bạt sát cổ tay, vạt áo giắt gọn vào thắt lưng bản rộng chuyên dùng cho người làm nghiệp dịch kiểm nghiệm pháp y. Khuôn mặt nàng tĩnh lặng như mặt hồ không gió, đôi mắt hạnh trong veo mang theo cái nhìn thấu suốt đến rợn người.

Trên tay Đỗ Thanh là một xấp hồ sơ viền chỉ gai màu xanh đã ngả màu ố vàng, cùng với một tấm cáo thị bằng giấy rơm gai xác xơ, mép giấy còn dính những mảng hồ dán khô khốc vừa mới được nàng dùng dao con cạo nhẹ bóc ra từ bảng niêm yết gỗ ngoài cổng thành Vọng Giang.

Hà Công Bút giật thót mình, nụ cười trên gương mặt gã cứng đờ lại như lớp sáp ong gặp lạnh. Gã cau mày, giọng điệu lập tức chuyển sang vẻ trịch thượng đầy khó chịu:

"Đỗ kiểm thi! Nàng từ Tĩnh Thi Phòng chạy lên tiền đường làm cái gì? Việc truy bắt, thẩm vấn đạo tặc sông nước là thẩm quyền tuyệt đối của Quầy Công Thưởng và bộ phòng tư pháp nha môn, có quy chế thứ bậc rành rành. Đây đâu phải chốn mổ xẻ xác chết xú uế hay buồng ngỗ tác nghiệm thương tích của nàng mà dám tùy tiện xông vào cắt ngang nét bút son của đại nhân?"

Đỗ Thanh dừng bước cách án thư năm bước chân, thân hình mảnh mai đứng thẳng tắp như một cây trúc giữa sảnh đường. Nàng không hề liếc nhìn vẻ giận dữ của Hà Công Bút, chỉ đưa mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt đang biến sắc của Phạm Duy Liêm, bình thản cất lời:

"Ta không bước lên đây để can thiệp vào quyền bắt bớ hay phát trượng của bộ phòng. Ta xuất hiện ở sảnh đường này với tư cách dịch lại kiểm thi, thực hiện nghĩa vụ đối chiếu thể thức văn bản tư pháp và quy chuẩn nhận dạng thân thể theo quy định của triều đình."

Nàng giơ tập hồ sơ bìa xanh lên, giọng nói đều đặn, rành rọt từng chữ:

"Theo điều thứ mười hai trong Khế ước Hành chính và Quy chế Hình án hiện hành của bản phủ Vọng Giang, phàm mọi văn bản truy nã tội phạm trọng án có treo giải thưởng trích xuất từ ngân khố từ mười lượng bạc trở lên, bắt buộc phải đính kèm bản lược ghi thương tật vĩnh viễn và các dấu hiệu sinh học đặc thù do viện kiểm thi hoặc dịch lại phụ trách nghiệm vết lập ra sau khi khám nghiệm hiện trường hoặc thu thập từ nhân chứng trực tiếp. Mục đích của điều luật là để ngăn chặn việc bắt lầm người lương thiện và tránh tệ nạn ngụy tạo công trạng."

Nói đoạn, Đỗ Thanh bước thêm hai bước, trải phẳng tấm cáo thị bóc ngoài cổng thành lên chiếc bàn gỗ trước mặt Tri phủ. Ngón tay trỏ thon thả, trắng trẻo của nàng đặt ngay ngắn lên dòng chữ đen nguệch ngoạc mô tả tội phạm:

"Bản niêm yết cổng thành mà Hà thư lại vừa căn cứ để bắt người chỉ ghi vẻn vẹn: 'Quách Bạt Tụ, tuổi ngoài ba mươi, cao năm thước ba tấc, vai rộng, da ngăm đen'. Thưa đại nhân, bến Hạ Thủy có hơn bốn trăm phu bốc vác, phường chài Thủy Lĩnh có gần sáu trăm ngư hộ. Đàn ông xứ sông nước Vọng Giang này từ mười lăm tuổi đã cởi trần kéo lưới, ngâm mình dưới nước, phơi nắng qua bao mùa lũ, thử hỏi có ai mà không cao tầm năm thước ba tấc, ai không vai rộng lưng gù, ai không có nước da ngăm đen cáu bẩn phù sa? Nếu chỉ dựa vào vài dòng mơ hồ này để bắt người, thì chỉ cần quăng một mẻ lưới rách xuống bến tàu lúc hoàng hôn, ngài có thể tóm được ít nhất ba mươi tên 'Quách Bạt Tụ' đem về nộp mạng!"

"Nàng... nàng nói xằng nói bậy!" Mặt Hà Công Bút đỏ gay lên vì ngượng và giận, gã giậm chân phân bua: "Nhân dạng tương đồng đến thế còn muốn chối cãi? Tên phu bến này lấm la lấm lét, thấy nha dịch là run như cầy sấy, không phải có tật giật mình thì là cái gì?"

"Hắn run vì sợ chiếc gông ba mươi cân trên cổ và sợ đòn roi vô cớ, chứ không phải run vì hắn là giặc cướp Quách Bạt Tụ," Đỗ Thanh lạnh lùng ngắt lời, ngón tay nàng chuyển hướng, miết nhẹ dọc theo một đường gờ mờ nhạt nằm ở khoảng trống giữa dòng chữ thứ ba và thứ tư trên mặt giấy cáo thị rơm gai: "Quan trọng hơn cả, bản cáo thị niêm yết ngoài cổng thành này đã bị ai đó dùng dao gọt giấy cố tình cạo mòn một dòng chữ cốt lõi trước khi mang ra cho thợ mộc bản quét mực in hàng loạt."

Lời vừa thốt ra, cả sảnh đường bỗng chốc im phăng phắc. Ngay cả Phạm Duy Liêm cũng phải nhổm người dậy, nheo đôi mắt kèm nhèm nhìn chăm chú vào tờ giấy.

Đỗ Thanh nâng mép giấy lên ngược chiều ánh sáng rọi qua khung cửa sổ:

"Xin đại nhân nhìn kỹ thớ sợi ở vị trí này. Giấy rơm gai làm thủ công vốn dày và thô, nhưng riêng vệt ngang dài nửa tấc này lại mỏng hơn xung quanh gần nửa phân, bề mặt xơ xác vì bị lưỡi thép cạo đi lớp bột giấy tráng mặt. Dòng chữ vốn dĩ nằm ở khoảng trống bị cạo đi ấy, chính là đặc điểm nhận dạng bất di bất dịch của tên cướp thuyền muối: 'Đuôi mày trái có vết sẹo chéo dài hai tấc, sâu chạm xương trán'."

Trán Hà Công Bút lập tức lấm tấm một tầng mồ hôi hột to như hạt ngô. Gã siết chặt hai nắm tay giấu trong tay áo thụng, cố gượng ra một điệu cười khẩy, xua tay lia lịa nhằm trấn át nỗi hoảng loạn đang dâng lên:

"Nực cười! Thật là chuyện nực cười chốn công đường! Đỗ cô nương ngày ngày quanh quẩn với xác chết thối rữa nên đâm ra hoang tưởng nhìn đâu cũng thấy uẩn khúc rồi chăng? Chữ nghĩa khắc trên ván gỗ thị, gỗ lim hàng loạt, thợ khắc trong xưởng phố Đông làm việc thâu đêm suốt sáng để kịp tiến độ, dao khắc trượt tay làm mẻ mất một vài nét chữ là chuyện thường tình xưa nay ở khắp các nha môn! Một hai chữ sẹo hay không sẹo thì có can hệ gì đến đại cục? Vóc dáng gã phu bến này y hệt trong cáo thị, bắt đúng người là được, hà tất phải bới lông tìm vết?"

"Thợ khắc gỗ có thể làm mẻ một chữ, sứt một dấu, nhưng không thợ khắc nào có thể vô tình đục phẳng lì đúng tám chữ mô tả đặc điểm nhận dạng độc nhất vô nhị của một tử tội!"

Đỗ Thanh cất giọng đanh thép. Nàng dứt khoát xoay người, bước xuống từng bậc thềm đá, tiến thẳng tới chỗ người phu bến họ Lỗ đang quỳ mọp dưới đất. Bỏ qua mùi mồ hôi chua nồng và lớp bùn đỏ hôi hám bám trên thân thể gã đàn ông khốn khổ, nàng ngồi xổm xuống, vươn hai ngón tay mảnh khảnh nhưng cứng cỏi nâng cằm gã lên.

Bằng động tác thành thạo của một người khám nghiệm nghiệm thi, Đỗ Thanh vén những lọn tóc bết dính bùn đất và mồ hôi trên trán người phu bến sang hai bên, để lộ toàn bộ phần chân mày và thái dương dưới ánh sáng ban ngày. Nàng quay đầu lại, hướng về phía bàn công vụ:

"Mời Tri phủ đại nhân và Hà thư lại bước xuống đây nhìn cho thật tỏ tường! Người phu bến này tuy mặt mày thô ráp, da dẻ sần sùi vì gió sông và muối mặn, nhưng vùng da trán, hốc mắt và đuôi mày trái của hắn hoàn toàn nhẵn nhụi, lớp biểu bì liền lạc tự nhiên, tuyệt đối không có bất kỳ dấu vết thương tổn hay sẹo lồi sẹo lõm nào. Vết đao chém dài hai tấc thấu tận xương mi mắt của Quách Bạt Tụ theo hồ sơ là vết thương do đao cận chiến gây ra trong vụ cướp thuyền muối năm ngoái, máu chảy đầm đìa làm đứt cả bó cơ đuôi mắt khiến mắt trái hơi xếch lên. Đó là thương tật vĩnh viễn không bao giờ có thể tự lành lặn hay biến mất chỉ sau một năm ngắn ngủi! Bắt một người có khuôn mặt nhẵn nhụi để gán ghép vào lệnh truy nã một kẻ mang vết đao chém sâu hoắm trên mặt, đây tuyệt đối không phải là sự sơ suất của thợ khắc, mà là hành vi cố tình cạo chữ, bóp méo nhân dạng để bắt bớ bừa bãi một mạng người lương thiện!"

Mặt Hà Công Bút thoắt cái chuyển từ đỏ gay sang trắng bệch như tờ giấy quyến. Những thớ thịt trên gò má gã giật giật, giọng nói bắt đầu the thé, mất hẳn vẻ bình tĩnh giả tạo ban đầu:

"Ngươi... ngươi ngậm máu phun người! Ngươi lấy cái gì làm bằng chứng khẳng định bản thảo sơ duyệt ban đầu có ghi chữ 'vết sẹo chéo dài hai tấc'? Lệnh truy nã này phát ra từ trung tuần tháng Tám năm ngoái, viên thư lại phụ trách sao lục hồ sơ khi ấy là tên gàn dở Trần Hữu Sổ! Ai trong cái phủ Vọng Giang này mà chẳng biết hắn vừa mới trượt chân chết đuối dưới bến sông mấy hôm trước? Toàn bộ giấy tờ nháp, sổ sách cũ của hắn để lại trong kho lưu trữ sớm đã bị dọn dẹp thanh lý, nước ngập mối mọt thất lạc sạch sành sanh từ lâu! Ngươi lấy đâu ra bản gốc đối chiếu mà dám đứng giữa công đường vu cáo bản bộ ngụy tạo công văn?"

"Ai bảo với ngươi là thất lạc sạch sành sanh?"

Một tiếng quát vang rền như sấm nổ vang lên ngay ngưỡng cửa chính, tiếp sau đó là một tiếng *rầm* long trời lở đất khi một thân hình to béo thô kệch va rầm vào cánh cửa gỗ lim của sảnh đường.

Bùi Bát Quái lặc lè bước vào, tiếng thở dốc của hắn ồn ào như bễ lò rèn đang kéo củi. Chiếc áo lụa bóng lộn màu cánh kiến mà hắn thường ngày vẫn hãnh diện khoác lên người để đi thu thập tin tức vỉa hè giờ đây loang lổ những vệt mực tàu đen sì, tay áo dính đầy bụi than và mạng nhện của những xưởng in ẩm thấp. Dẫu mệt đến mức hai chân run rẩy, cái miệng rộng ngoác của Bùi Bát Quái vẫn toe toét một nụ cười đắc thắng.

Hắn giơ cao một tập giấy ố vàng được kẹp cẩn thận giữa hai thanh nẹp tre đã lên nước bóng loáng, vừa thở hồng hộc vừa lớn giọng rao truyền:

"May phước ba đời cho cái nha môn Vọng Giang này là Trần Hữu Sổ khi còn sống có cái tật gàn dở mà ai cũng ghét: làm bất cứ cái công văn, trát đòi hay cáo thị nào, lão cũng cẩn thận chép tay thêm một bản sơ thảo phụ để lót đáy hòm tài liệu riêng! Bản thảo gốc sơ duyệt của lệnh truy nã số hiệu Đinh-Bính 104, lập vào ngày rằm tháng Tám năm ngoái, do chính tay Trần Hữu Sổ dùng mực xạ viết trên giấy dó mịn, có cả chữ ký nhận mẫu khắc của lão chủ xưởng mộc bản phố Đông, ta vừa mới moi được từ đáy hòm giấy vụn mục nát trong góc xưởng in của lão đây!"

Bùi Bát Quái nhảy tót lên ba bậc thềm đá, chẳng thèm màng đến phép tắc công đường, chìa thẳng xấp giấy còn nồng nặc mùi dầu thông, bột than và mùi giấy ẩm mốc vào tận chóp mũi Hà Công Bút:

"Mở to đôi mắt ti hí của Hà thư lại ra mà soi từng chữ! Chữ của Trần Hữu Sổ nổi tiếng ngay ngắn, nét cứng như rễ tre không lẫn vào đâu được! Đọc to lên cho cả sảnh đường nghe xem: 'Tên cướp sông Quách Bạt Tụ, đuôi mày trái có vết sẹo chéo do đao chém, sâu thấy xương trán, mắt trái hơi xếch'! Bản sơ thảo gốc nộp cho Quầy Công Thưởng của ngươi có đủ từng câu từng chữ rành rành thế này, vậy mà khi mang bản mẫu ra thợ khắc để in hàng loạt dán lên tường thành thì hai chữ 'vết sẹo' bỗng dưng bốc hơi như sương mù buổi sớm! Ngươi lén cạo hai chữ ấy đi, biến một tên cướp có sẹo nhận dạng độc nhất thành một bóng hình chung chung vô định, cốt để lũ tay sai nha dịch dưới quyền cứ hễ thấy ai đen đúa, lưng gù, làm nghề sông nước ở bến tàu là đè cổ xích lại lôi về nộp mạng thế chỗ, khép sổ ăn tiền thưởng đúng không?"

Hà Công Bút hồn xiêu phách lạc, lảo đảo lùi lại phía sau hai bước, gót giày vấp phải mép thảm trải sàn suýt nữa ngã ngửa ra sau. Mồ hôi gã túa ra như suối, ướt đẫm cả mảng lưng áo lụa dán chặt vào da thịt. Gã run rẩy chỉ tay vào Bùi Bát Quái, môi mấp máy nhưng không thốt nên lời.

Đỗ Thanh đứng bên dưới, ánh mắt sắc như dao cạo găm thẳng vào người viên thư lại, bồi thêm một đòn chí mạng:

"Theo luật định văn thư của Bộ Hình, mỗi một bản lệnh truy nã có mức thưởng từ ngân khố khi phát hành đều phải lưu giữ song song hai bản: một bản sơ thảo lưu dấu vết do người phụ trách thụ lý lập ra, và một bản lưu chính thức đóng dấu giáp lai cất trong tráp sắt của Quầy Công Thưởng. Nếu Hà thư lại vẫn một mực khăng khăng bản cáo thị ngoài cổng thành là chuẩn xác do thợ in sơ suất, vậy thì xin mời đại nhân cho người mang chìa khóa, mở ngay tráp sắt lưu trữ của Quầy Công Thưởng ra đối chất tại chỗ! Chúng ta cùng nhau xem thử bản lưu đóng dấu đỏ trong tráp của ngươi rốt cuộc đã bị chuột gặm mất chữ 'vết sẹo' từ ngày tháng năm nào?"

Từng lời của Đỗ Thanh như từng hồi chuông giáng mạnh vào lồng ngực Hà Công Bút. Hai đầu gối gã mềm nhũn, va vào nhau cầm cập. Gã làm sao dám mở tráp sắt? Hơn ai hết, gã hiểu rõ như lòng bàn tay rằng trong chiếc tráp sắt khóa ba lớp của Quầy Công Thưởng làm gì có bản lưu hợp thức nào! Toàn bộ giấy tờ lưu trữ liên quan đến những mã hồ sơ truy nã cũ đều đã bị gã cùng bè lũ xé góc, cạo chữ, sửa đổi số liệu và đóng dấu khống từ nhiều tháng trước để biển thủ các khoản tiền chi thưởng nhằm lấp vào những hố đen thâm hụt ngân khố.

Bầu không khí trong sảnh đường bỗng chốc ngột ngạt đến nghẹt thở. Sự im lặng đáng sợ bao trùm lấy đám nha dịch, chỉ còn nghe thấy tiếng thở dốc đầy phẫn uất của người phu bến họ Lỗ dưới nền đá.

Đúng lúc thế giằng co đang căng như dây đàn thì ngoài khoảng sân rộng trước nha môn bỗng rộ lên những tiếng la hét, quát tháo huyên náo.

Bốn năm tên sai vặt tay lăm lăm gậy gỗ bịt sắt, mặt mày đằng đằng sát khí đang hùng hổ xông từ phía góc sân vào bậc thềm tiền đường. Bọn chúng không nhìn ngó xung quanh, lao thẳng tới định túm lấy chiếc gông gỗ trên cổ Lỗ Thiết Tử lôi giật về phía dãy hành lang dẫn xuống nhà lao ngầm phía đông. Một tên đầu sỏ la lớn để áp chế tình hình:

"Tên đạo tặc này dám mở mồm thóa mạ công đường, có dấu hiệu muốn cắn lưỡi tự vẫn để hủy hoại chứng cứ! Mau mau giải gã vào ngục tối cách ly nghiêm ngặt để chờ xét hỏi bổ sung!"

Tên sai vặt lực lưỡng nhất vươn bàn tay hộ pháp đầy lông lá tóm chặt lấy cổ áo rách của người phu bến, dùng sức vặn ngược cánh tay gã ra sau lưng định bẻ trẹo khớp. Lỗ Thiết Tử rú lên một tiếng thảm thiết:

"Cứu tôi với! Cứu mạng với quan lớn ơi! Bọn họ... bọn họ vừa lôi tôi ở bến tàu đã dọa sẽ bẻ gãy tay tôi nếu tôi không chịu cắn ngón tay điểm chỉ vào tờ giấy trắng không có chữ!"

Tiếng kêu cứu xé lòng của gã phu bến chưa kịp dứt thì một bóng áo lam bạc màu đã lướt tới, chắn ngang giữa bậc thềm đá tựa như một bức tường thành sừng sững dựng lên từ cõi vô hình.

Tạ Vô Danh xuất hiện không một tiếng động. Bước chân của hắn nhẹ bẫng, không làm xao động một hạt bụi trên mặt đá xanh. Cánh tay phải mang chấn thương nặng nề từ những biến cố cũ vẫn ép chặt sát mạn sườn để triệt tiêu mọi phản lực chấn động, hắn chỉ dùng duy nhất bàn tay trái cầm ngang thanh kiếm cùn bọc trong lớp vải gai thô nham nhở.

Không rút kiếm, không cần vận dụng bất kỳ chiêu thức đao kiếm hoa mỹ nào, Tạ Vô Danh chỉ đơn giản xoay nhẹ cổ tay trái, đưa phần mũi bao kiếm bọc vải gai chắn ngang giữa ngực tên sai vặt đang hung hãn nhất.

Đó chỉ là một thế đứng phòng thủ thuần túy dựa trên bộ pháp trầm ổn và sự chuyển dịch trọng tâm cơ thể một cách hoàn hảo đến mức lạnh lùng. Thế nhưng, tên sai vặt hung hãn lại có cảm giác như cả tấm thân hộ pháp của mình vừa lao thẳng vào một khối đá ngầm khổng lồ nằm sâu dưới đáy sông ngàn năm không chuyển dịch. Toàn bộ xung lực lao tới của gã bị dội ngược lại hoàn toàn. Một tiếng *huỵch* trầm đục vang lên, tên sai nha bật ngửa ra sau ba bước dài, ngã ngồi bệt xuống nền đá xanh ê ẩm cả xương chậu, chiếc gậy gỗ trên tay văng ra xa kêu loảng xoảng.

"Nơi đây là sảnh đường công môn, Tri phủ đại nhân còn ngồi trên án, chưa có trát lệnh hạ xuống, ai cho phép các ngươi tự tiện lôi người đi?"

Giọng nói của Tạ Vô Danh trầm thấp, đều đều như tiếng chuông đồng gõ nhịp trong đêm vắng. Thanh âm không hề gắt gỏng, nhưng từng chữ buông ra đều ngưng tụ một luồng hàn khí thấu xương khiến ba tên sai vặt còn lại bất giác rùng mình, bước chân chững lại rồi dạt vội sang hai bên mép thềm, không một tên nào dám tiến thêm nửa bước.

Nhưng phía sau lưng Tạ Vô Danh, sự việc không chỉ dừng lại ở một người một kiếm.

Ngay khi thanh kiếm của hắn hạ xuống, từ ngoài cổng lớn nha môn, một đoàn người đông đảo rầm rập kéo vào chật kín cả khoảng sân rải sỏi. Đó là hơn mười người phu bốc vác vạm vỡ của bến Hạ Thủy, trên vai họ vẫn còn vắt nguyên những chiếc đòn xóc bằng tre đực bóng nhẫy, những cuộn dây thừng gai thô ráp dùng để kéo mảng và mùi tanh nồng của cá, của muối biển bốc lên ngùn ngụt. Khuôn mặt ai nấy đều hằn sâu nỗi phẫn uất cùng sự can trường của những kẻ lao động cùng khổ.

Một người phu già nhất trong nhóm, râu tóc hoa râm, vứt phịch chiếc đòn xóc xuống đất, quỳ sụp xuống giữa sân tiền đường, hai tay chắp lại dập đầu thật mạnh vang lên tiếng *cộp* chát chúa:

"Trời xanh có mắt! Xin Tri phủ đại nhân anh minh mở lượng từ bi xét lại cho thằng Lỗ Thiết Tử! Lão già này làm cai bến ở Hạ Thủy ba mươi năm qua, tận mắt thấy thằng Lỗ từ tấm bé theo cha gánh muối kéo thuyền. Tính nó nhút nhát như thỏ đế, ngày rằm đi qua miếu hoang còn không dám nhìn vào trong, đêm mưa nghe sấm đánh còn trùm chăn run lẩy bẩy thì làm sao có gan cầm đao làm giặc cướp sông giết người đoạt thuyền? Suốt một năm qua, ngày nào nó cũng có mặt ở bến từ canh tư bốc vác từng bao muối hột, có cả tổ bốc vác chúng tôi làm chứng điểm danh nhận thẻ tre mỗi sớm mai! Nó làm sao có thể bay đến ngã ba sông Thủy Lĩnh cách đây tám mươi dặm để giết người cướp thuyền muối được? Xin quan lớn minh xét, đừng bắt người lương thiện thế mạng cho giặc dữ!"

"Xin Tri phủ đại nhân tha cho Lỗ Thiết Tử! Hắn là người lương thiện!"

Hơn mười người phu bến đồng loạt quỳ rạp xuống sân, tiếng hô kêu oan của họ vang lên rền rĩ, trầm hùng như sóng cuộn dưới gầm cầu đá, dội thẳng vào những hàng cột gỗ lim và mái ngói rêu phong của tiền đường nha môn. Tiếng động huyên náo ấy lập tức thu hút hàng trăm người dân đi chợ, tiểu thương phố Đông và khách buôn vãng lai dừng bước ngoài cổng thành. Đám đông bắt đầu túm tụm lại mỗi lúc một đông, nghển cổ ngó nghiêng, tiếng xì xào bàn tán, chỉ trỏ bắt đầu lan ra như tằm ăn rỗi.

Trên ghế cao công đường, Tri phủ Phạm Duy Liêm lúc này mặt mày thoắt xanh thoắt trắng, mồ hôi ướt đẫm cả chòm râu dê lưa thưa.

Tình thế lúc này đối với ông ta không khác nào đang ngồi trên đống lửa. Nếu để cái đám phu bến tàu này tiếp tục quỳ gối gào thét kêu oan thêm nửa canh giờ nữa, tin tức dân chúng bến sông bao vây nha môn phủ phản đối quan sai bắt bớ oan sai chắc chắn sẽ lọt vào tai do thám của đoàn khâm sai. Đoàn xe của Khâm sai Nguyễn Minh Luật hiện đang hạ trại nghỉ chân tại trạm dịch cách phủ thành chưa đầy ba mươi dặm đường sông.

Nguyễn Minh Luật là ai? Là con chim ưng sắc sảo nhất của Ngự Sử Đài đương triều, kẻ nổi tiếng tàn nhẫn và căm ghét tột cùng thói tệ nạn làm sai lệch án tích, bắt người lương thiện thế mạng để tạo dựng chiến tích khống! Nếu để vị Khâm sai đại thần kia bước chân vào phủ và phát hiện ra vụ bê bối bắt nhầm người phu bến trắng trợn này ngay ngày đầu tiên tuần tra, thì chiếc mũ cánh chuồn trên đầu Phạm Duy Liêm đừng nói là bị tước đoạt, mà bản thân ông ta cũng khó thoát khỏi cảnh bị tống vào xe tù áp giải về kinh chờ thẩm vấn!

Nghĩ đến viễn cảnh kinh hoàng đó, da đầu Phạm Duy Liêm tê dại đi.

"Đập bàn!"

*Chát!*

Một tiếng gõ kinh đường mộc vang lên chói tai, mặt gỗ giáng mạnh xuống mặt bàn gỗ gụ làm nghiên mực son nảy lên bần bật. Phạm Duy Liêm đứng bật dậy, chòm râu rung lên bần bật vì vừa hoảng sợ vừa phẫn nộ, ông ta chỉ tay ra ngoài sân, gầm lên để át đi tiếng xì xào của đám đông:

"Hỗn xược! Thật là hỗn xược đến tột cùng! Ai cho phép lũ thảo dân các ngươi kéo bè kéo lũ làm loạn nơi tôn nghiêm công đường? Còn đứng trơ mắt ra đó làm gì? Mau tháo gông! Tháo chiếc gông lim trên cổ tên Lỗ Thiết Tử ra ngay lập tức!"

Đám nha dịch bên dưới giật mình thon thót, vội vã rút chùm chìa khóa sắt tra vào ổ khóa gông. Chiếc gông gỗ lim nặng trịch vừa được nhấc ra khỏi vai, Lỗ Thiết Tử lập tức ngã quỵ xuống mặt đá xanh, hai tay ôm lấy đôi bờ vai rách toạc da thịt rớm máu, òa khóc nức nở như một đứa trẻ vừa thoát khỏi cửa tử trong gang tấc.

Phạm Duy Liêm không thèm nhìn người phu bến, quay phắt sang trừng mắt nhìn Hà Công Bút, cố gắng dùng giọng điệu nghiêm khắc nhất để khỏa lấp sự bối rối tột độ của chính mình:

"Hà thư lại! Ngươi làm ăn cẩu thả, tắc trách đến thế là cùng! Một việc trọng đại liên quan đến tính mạng con người và kỷ cương phép nước của triều đình, cớ sao lại dám để lũ thợ in ngoài phố tự tiện cắt xén, đục bỏ những đặc điểm nhân dạng cốt lõi như thế hả? Chút nữa thôi là sự tắc trách của ngươi đã làm tổn hại đến đức hiếu sinh của Hoàng thượng và thanh danh chí công vô tư của bản quan! Đây rõ ràng là hành vi 'thiếu sót sao chép' cực kỳ vô trách nhiệm của dịch lại cấp dưới phụ trách mộc bản! Bản quan tuyên phạt ngươi nửa năm bổng lộc, lập tức hủy bỏ việc bắt giữ đối với Lỗ Thiết Tử, trả tự do cho hắn về bến sông làm ăn!"

Hà Công Bút nghe thấy bốn chữ "thiếu sót sao chép" cùng mức phạt nửa năm bổng lộc thì như kẻ sắp chết đuối vớ được cọng rơm cứu mạng. Gã biết Tri phủ đang tìm cách giơ cao đánh khẽ để bưng bít vụ việc, vội vàng quỳ sụp xuống dập đầu lia lịa:

"Tạ ơn đại nhân khai ân! Tạ ơn đại nhân soi xét công minh! Ty chức thực sự có mắt không tròng, sơ suất trong việc kiểm tra mộc bản in ấn... Ty chức nhất định sẽ truy cứu và xử phạt thật nặng tên thợ khắc sao chép bản thảo để làm gương..."

"Khoan đã, đại nhân."

Giọng nói của Đỗ Thanh một lần nữa vang lên, cắt đứt màn kịch che đậy vụng về giữa viên Tri phủ và tên thư lại gian manh.

Nàng vẫn đứng sừng sững tại chỗ cũ, ánh mắt phẳng lặng nhìn thẳng vào tập hồ sơ bọc lụa điều mà Hà Công Bút vừa đệ trình khi nãy. Bàn tay nàng đè chặt lên góc tập hồ sơ công thưởng:

"Lệnh truy nã này mang mã số Đinh-Bính 104, định mức tiền thưởng quy định trong sổ bộ là hai mươi lượng bạc ròng trích từ quỹ thưởng truy nã bản phủ. Nay nếu đã xác định người bị bắt là Lỗ Thiết Tử bị nhầm lẫn do bản niêm yết sai lệch và được phóng thích tại công đường, vậy xin Tri phủ đại nhân thuận theo thể thức tư pháp, cho đóng dấu son hủy bỏ và niêm phong mã hồ sơ Đinh-Bính 104 này lại, chuyển vào kho lưu trữ chờ mở cuộc điều tra toàn diện về việc sai lệch bản thảo."

Phạm Duy Liêm lúc này chỉ muốn nhanh chóng dẹp yên vụ ồn ào để giải tán đám đông phu bến đang tụ tập ngoài sân, đầu óc căng thẳng đến mức không còn đủ tỉnh táo để cân nhắc từng lời nói. Thấy Đỗ Thanh cứ bám riết lấy cái mã số công văn chết tiệt đó, ông ta bực bội xua tay lia lịa, buột miệng gắt gỏng:

"Hủy cái gì mà hủy! Niêm phong cái gì mà niêm phong! Cái mã số Đinh-Bính 104 này hồi đầu tháng trước nha môn đã làm thủ tục quyết toán chi trả một phần tiền thưởng truy bắt cho tiêu đội trinh sát bến sông rồi, ngân khố đã xuất bạc, sổ bộ đã khóa số, làm sao mà tùy tiện hủy bỏ được? Cứ tạm thời gác lại đó, bổ sung hồ sơ tiếp tục truy tìm tên Quách Bạt Tụ thật sau!"

Câu nói vô tình buột ra trong cơn bực dọc của viên Tri phủ rơi tõm vào sảnh đường rộng lớn.

Không gian bỗng chốc đông cứng lại.

Tạ Vô Danh khẽ nhướng đôi mày kiếm, ánh mắt lóe lên một tia sáng sắc lạnh. Bùi Bát Quái đứng bên cạnh thì há hốc mồm, chiếc cằm ngấn mỡ rớt xuống như thể vừa nghe thấy một chuyện hoang đường nhất thiên hạ.

Còn Đỗ Thanh, ánh mắt nàng lập tức đanh lại, lạnh toát như băng phiến ngàn năm.

Một sự mâu thuẫn chết người vừa được chính miệng quan Tri phủ thốt ra giữa thanh thiên bạch nhật.

Một mã số truy nã Đinh-Bính 104 dành riêng cho tên cướp Quách Bạt Tụ... Nếu như hồi "đầu tháng trước" đã làm xong thủ tục quyết toán, đã xuất bạc từ ngân khố để chi trả tiền thưởng truy bắt cho một tiêu đội nào đó, vậy thì tại sao trưa ngày hôm nay, Hà Công Bút lại có thể cầm chính cái mã số Đinh-Bính 104 ấy, dắt một người phu bến vô tội lên công đường, đường hoàng yêu cầu Tri phủ phê chuẩn để đòi lĩnh tiếp khoản tiền thưởng hai mươi lượng bạc ròng?

Cùng một tên cướp. Cùng một mã lệnh truy nã. Nhưng nó lại được đem ra sử dụng nhiều lần để rút bạc trắng từ ngân khố nha môn.

Hà Công Bút đứng chết trân bên cạnh án thư, toàn thân run rẩy như cầy sấy. Mặt gã lúc này không còn một giọt máu, trắng bệch như xác chết trôi sông. Gã há hốc mồm muốn nói điều gì đó để chữa cháy, để lấp liếm cái sơ hở tày trời mà quan Tri phủ vừa vô tình thốt ra, nhưng khi bắt gặp ánh nhìn sắc lẹm, thấu suốt tâm can của Đỗ Thanh đang chĩa thẳng vào mình, mọi âm thanh đều tắc nghẹn lại nơi cuống họng. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán, chảy ròng ròng xuống cằm rồi nhỏ tong tong xuống nền gạch.

Tạ Vô Danh lẳng lặng lùi lại nửa bước, khẽ nghiêng đầu liếc nhìn Bùi Bát Quái.

Tên môi giới tin tức nuốt nước bọt một cái đánh *ực*, lồng ngực phập phồng dữ dội. Trong đôi mắt ti hí của hắn giờ đây không chỉ có sự kinh ngạc, mà còn ánh lên sự rùng mình lẫn kích động tột độ của một kẻ làm nghề buôn tin tức vừa ngửi thấy mùi tanh tưởi của một vụ án động trời.

Bọn họ đã hiểu ra tất cả.

Đây hoàn toàn không phải là một vụ quan sai lộng hành, bắt bớ nhầm lẫn đơn lẻ nơi bến tàu do thợ in sơ suất. Đằng sau tờ cáo thị bị cạo mất hai chữ "vết sẹo" kia là cả một mạng lưới ăn chặn tiền thưởng công môn có tổ chức, được vận hành một cách tinh vi và ma quỷ: những tên cướp có thể đã chết hoặc không có thật, những mã số truy nã được quay vòng liên tục, những hồ sơ khống được lập ra để bòn rút từng hòm bạc trắng của triều đình chia nhau, và khi kỳ hạn thanh tra của Khâm sai ập đến, bọn chúng chỉ việc quăng bừa một mẻ lưới xuống bến sông, bắt đại một thân phận thấp cổ bé họng để khép lại chiếc bẫy lừa dối khổng lồ ấy.

Phạm Duy Liêm dường như cũng vừa giật mình nhận ra mình vừa lỡ lời để lộ một bí mật có thể khiến cả dòng tộc bay đầu. Khuôn mặt béo tốt của ông ta co giật liên hồi. Không dám nhìn thẳng vào mắt Đỗ Thanh hay Tạ Vô Danh thêm một giây nào nữa, ông ta vội vàng giáng mạnh kinh đường mộc xuống bàn một cái chát chúa rồi quát lớn:

"Bãi triều! Mau giải tán đám đông ngoài sân! Ai về chỗ nấy!"

Nói đoạn, viên Tri phủ vung mạnh tay áo thụng, đứng phắt dậy quay người đi thẳng một mạch vào hậu đường, bước chân vội vã, loạng choạng đến mức suýt vấp ngã nơi bậu cửa gỗ, tuyệt nhiên không dám ngoái đầu nhìn lại lấy một lần.

Đám nha dịch như ong vỡ tổ, vội vã hò hét xua đuổi đám đông tò mò ngoài cổng. Mười mấy người phu bến Hạ Thủy ríu rít xúm lại, người đỡ tay, kẻ cõng lưng, dìu Lỗ Thiết Tử đứng dậy. Họ liên tục chắp tay vái lạy cảm tạ Tạ Vô Danh, Đỗ Thanh và Bùi Bát Quái rồi nhanh chóng tản ra ngoài cổng thành, biến mất vào dòng người đông đúc nơi bến sông trước khi nha môn kịp đổi ý.

Sảnh đường tiền đường bỗng chốc trở nên vắng ngắt, thênh thang đến rợn ngợp.

Gió cuối thu thổi lồng lộng qua các ô cửa sổ không cài then, cuốn theo những đám bụi mờ và mùi ẩm mốc của giấy tờ cũ. Ánh hoàng hôn đỏ quạch như máu từ phía tây hắt nghiêng qua mái ngói cong vút của công đường, rọi xuống tấm cáo thị màu vàng úa đang nằm trơ trọi, cô độc trên mặt bàn đá xanh.

Đỗ Thanh chầm chậm bước tới mép bàn. Nàng cúi xuống, dùng những ngón tay thon dài nhặt tờ giấy truy nã rơm gai lên. Nàng đưa đầu ngón tay miết nhẹ, thật chậm rãi qua khoảng giấy mỏng dính, nham nhở những vết xơ xác – nơi từng tồn tại hai chữ miêu tả một vết sẹo oan nghiệt.

Giọng nàng trầm xuống, thanh âm nhỏ thôi nhưng nghe buốt lạnh và thê lương tựa như tiếng gió thổi qua những nấm mồ vô danh ngoài bãi tha ma ven sông Vọng Giang:

"Một mạng người lương thiện... suýt chút nữa đã phải vùi xác nơi pháp trường, chỉ vì một tờ công văn cố tình thiếu đi hai chữ 'vết sẹo'."

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories