Em Gái Không Ký Vào Lời Hứa
Tiếng búa gõ đanh gọn và mùi nhựa gai dầu nồng nặc bao trùm xưởng vá buồm Bến Hạ Thủy, nơi Trần Ngọc Nương đang thoăn thoắt đưa mũi kim lớn xuyên qua lớp vải buồm thô dày.
Nắng trưa hắt qua những kẽ hở trên mái lá dừa nước đã xơ xác vì ngậm muối biển, rọi thành từng vệt bụi vàng lơ lửng xuống nền đất nện lổn nhổn sỏi, cát sông và hàng ngàn mảnh vỏ ốc nước lợ vỡ vụn. Tấm buồm lớn của một chiếc thuyền buôn ba cột buồm đang trải rộng gần hết gian xưởng dài hơn năm trượng. Bề mặt bạt thô ráp sặc mùi bùn phù sa phơi khô, rêu bờ kè ẩm mục và mỡ cá trích được trét thành từng dải nâu bóng để chống thấm nước mặn.
Đôi bàn tay của Ngọc Nương thô ráp, chai sần ở lòng bàn tay và mu bàn ngón trỏ, những vết chai màu vàng sáp ong không thể gột sạch — dấu vết của hơn mười năm cầm kim sắt xuyên qua những thớ vải bạt nặng trịch của bến sông Vọng Giang. Mỗi lần nàng ấn mạnh chiếc đê sắt bọc da bò dày cộp vào đốc kim, đầu sợi dây gai bện ba tẩm dầu lai lại rít lên một tiếng khô khốc qua thớ vải căng, ghìm chặt hai mép rách toạc của cánh buồm lại với nhau bằng một đường khâu vặn thừng đều đặn như răng lược.
Đỗ Thanh dừng bước ngay trước ngưỡng cửa xưởng buồm, nơi những cuộn dây thừng bện bằng xơ dừa ngâm nước vôi xếp cao quá đầu người tỏa ra thứ mùi hăng nồng ngai ngái. Nàng liếc nhìn Tạ Vô Danh bên cạnh.
Kiếm khách nghèo vẫn khoác manh áo gai xám bạc màu đã sờn rách ở mép gấu áo, thanh kiếm cùn không vỏ cài hờ hững bên hông trái bằng một dải vải gai buộc túm. Cánh tay phải của hắn buông thõng một cách cẩn trọng dọc theo mạn sườn, lớp vải thô quấn quanh cổ tay đã bắt đầu tưa chỉ ở những mép gấp, để lộ vết sẹo co kéo mờ mờ ẩn dưới lớp da sạm nắng.
Bùi Bát Quái lẽo đẽo theo sau chừng nửa bước, miệng ngậm một cọng cỏ khô dập nát, đôi mắt lấm lét đảo quanh các đống gỗ vụn, cọc neo và những sạp cá phơi ven sông như thể sợ có kẻ nào đó bất thình lình nhảy ra từ sau đống lưới rách để đòi món nợ quán trà hôm trước.
Nghe thấy tiếng bước chân dẫm lên vỏ ốc lạo xạo ngoài bậu cửa, Ngọc Nương không ngẩng đầu. Mũi kim thép dài nửa gang tay của nàng vẫn cắm phập vào mép vải bạt, cánh tay giật mạnh sợi chỉ gai căng đét, phát ra một tiếng *bật* trầm đục:
"Nếu là người của chủ thuyền Cát Tảo đến hối thúc thì quay về đi. Buồm rách dọc sống buồm từ trận dông lốc ba hôm trước, không khâu đủ ba đường chỉ kép tẩm nhựa thông thì ra đến cửa biển gió giật một cái là vỡ toang cả khoang, đừng mong ta giao trước giờ Thân."
"Trần cô nương," Đỗ Thanh cất tiếng. Giọng nói của nàng không mang vẻ hống hách thường thấy của người chốn nha môn, nhưng rành rọt, chuẩn xác và lạnh như nhịp chày đá giã thuốc giữa đêm sương. "Ta là Đỗ Thanh, người nhận việc kiểm thi theo khế ước của Tĩnh Thi Phòng. Đi cùng ta là Tạ Vô Danh, người đã vớt thi thể của Trần Hữu Sổ ở chân cọc neo ba mươi hai trưa ngày hôm qua."
Cánh tay đang ghì chặt chiếc đê sắt của Ngọc Nương khựng lại giữa không trung.
Sợi chỉ gai đang căng ra bỗng rung lên một nhịp khe khẽ rồi chùng xuống, rũ trên nền vải bạt xám xịt. Đôi mắt người thợ buồm từ từ ngước lên. Nàng trạc ngoài hai mươi tuổi, gương mặt vuông vức mang nét rắn rỏi, gân guốc của kẻ quanh năm đối mặt với gió chướng và nước mặn, đôi gò má rám nắng gồ cao và khóe mắt đã hằn lên những nếp nhăn sớm của sự nhọc nhằn.
Không có tiếng khóc gào thảm thiết xé lòng, cũng chẳng có giọt nước mắt nào lăn xuống ngay tức khắc trên đôi gò má ấy. Những kẻ sinh ra và lớn lên ở vùng bến nước này đã quá quen với việc sông Vọng Giang nuốt chửng tàu bè và thỉnh thoảng lại nhả xác người về bờ bãi. Nỗi đau của những người sống dựa vào con nước thường đông cứng lại thành một khối u uất sau lồng ngực, trĩu nặng, cay đắng và câm lặng như đá tảng chìm dưới đáy lạch.
Ngọc Nương buông lỏng ngón tay, chiếc kim thép rơi cạch xuống mặt gỗ sàn. Nàng chậm rãi đứng dậy, đưa bàn tay phủi những vụn xơ gai dầu và bụi bạt buồm bám đầy trên tấm tạp dề bằng da bò cũ:
"Người đã lạnh ngắt nằm trong Tĩnh Thi Phòng của các người rồi, việc gì còn phải tìm đến xưởng vá buồm hôi hám này làm chi nữa?"
Đỗ Thanh bước tới gần chiếc bàn thợ mộc dài ngổn ngang dùi sắt, dao rọc mép vải, búa con và những cục sáp ong vàng óng dùng để đánh bóng chỉ gai. Nàng cẩn thận đặt xuống mặt bàn một bọc vải chàm nhỏ, bốn góc vải được thắt nút vuông vức, phẳng phiu theo đúng quy thức lưu giữ tư trang nạn nhân của nha môn:
"Theo quy chế khám nghiệm hình ngục, sau khi sơ bộ ghi nhận các dấu vết cơ thể, ngỗ tác có trách nhiệm lập danh mục và trao trả vật dụng không thuộc diện vật chứng trực tiếp cho thân nhân đời thứ nhất. Trong bọc này có một hộp mực nhỏ bằng sừng trâu đã sứt góc nắp, mười hai đồng tiền đồng xâu bằng dây gai mục, một chiếc lược bí bằng gỗ thị gãy ba răng và dải thắt lưng vải gai thô nhuộm màu chàm đậm. Cô nương đối chiếu xem có đúng là đồ tùy thân của Trần Hữu Sổ hay không."
Ngọc Nương bước tới mép bàn, đôi bàn tay chai sạn run rẩy đưa ra rồi chạm khẽ vào lớp vải chàm. Những ngón tay thô ráp của nàng lướt qua cái hộp mực sừng trâu sứt một góc nhỏ ở nắp đậy. Đó là vật bất ly thân của anh trai nàng từ những ngày đầu tiên bước chân vào chân sai vặt chép sổ thuê trước cổng phủ đường, mỗi lần viết hết mực lại tự tay gom muội đèn dầu lạc pha với nước tro lá chuối để mài thành thứ mực đen nhờ nhờ. Nàng hít sâu một hơi, mùi dầu gai nồng nặc pha lẫn vị tanh của nước sông dường như khiến cuống họng nàng đắng ngắt:
"Đúng là của huynh ấy rồi. Huynh ấy... mặt mũi có bị luồng nước xiết xô vào đá hay bị cá sông rỉa nát không?"
"Không," Đỗ Thanh đáp ngắn gọn, ánh mắt điềm tĩnh nhìn thẳng vào gương mặt khắc khổ của người thợ buồm. "Khuôn mặt còn nguyên vẹn, da thịt chưa có dấu hiệu bị thủy tộc xâm hại. Dưới cằm có một nốt ruồi son nhỏ, sau dái tai trái có vết sẹo cong hình móng ngựa do ngã vào cối xay từ thuở nhỏ. Người chết đuối thật sự sau hai canh giờ trôi dạt dưới lòng sông nhiều phù sa như Vọng Giang thường có hiện tượng trương phù biểu bì và bám nghẹt bùn non trong hốc mũi, nhưng thi thể anh trai cô thì không mang những đặc điểm ấy. Đó cũng là lý do vì sao ta phải đến tận đây."
Ngọc Nương khẽ biến sắc, đôi môi mỏng run rẩy toan mở miệng hỏi dồn thì từ con đường đất rải vỏ hà bên ngoài cửa xưởng bỗng vang lên tiếng lách cách hung hãn của xích sắt va vào bao gươm và một giọng cười the thé, kẻ cả vô cùng quen thuộc.
"Trần cô nương có ở xưởng không đấy? Khéo thay, nha môn sáng nay vừa vãn việc công, Hà thư lại đại nhân thương xót cô nương phận nữ nhi neo đơn túng thiếu tiền ma chay táng xác, liền sai bọn ta đem giấy tờ trợ cấp đến tận nơi đây!"
Hai tên sai nha mặc áo nẹp đỏ viền xanh lục sẫm, thắt lưng da bò bản rộng đeo gươm ngắn vỏ sắt bước xộc vào xưởng buồm, đế giày da dẫm mạnh bạo lên mép cánh buồm đang khâu dở. Kẻ đi đầu trạc ngoài ba mươi tuổi, mặt rỗ hoa chằng chịt, khóe môi nhếch lên nụ cười trơ tráo, trên tay cầm một tờ giấy bản màu xám tro gấp làm tư, bên trên đã chép kín những hàng chữ ngay ngắn thẳng thớm cùng một hộp chu sa nhỏ đúc bằng đồng thau cáu bẩn.
Nhìn thấy Đỗ Thanh và Tạ Vô Danh đang đứng sừng sững bên cạnh chiếc bàn thợ mộc, nụ cười trên gương mặt rỗ hoa thoáng khựng lại một nhịp rồi lập tức chuyển thành vẻ mỉa mai, gằn từng tiếng khó nghe:
"Ô hay, Đỗ kiểm thi cũng rỗi việc mò mẫm tới tận cái chốn hôi tanh này cơ à? Khế ước làm công của cô chỉ là mổ xẻ trông nom xác chết thối rữa trong Tĩnh Thi Phòng thôi chứ, việc thăm hỏi gia quyến và thu xếp hậu sự cho người chết đuối xưa nay do Quầy Công Thưởng của Hà đại nhân trực tiếp thụ lý giải quyết. Sao cô lại dắt cả tên kiếm khách vô lại du thủ du thực này đến quấy rầy dân lành đang làm ăn thế hả?"
Hắn chẳng thèm bận tâm đợi Đỗ Thanh mở miệng đáp lời, quay ngoắt sang phía Ngọc Nương, đập mạnh tờ giấy bản lên mặt bàn gỗ lim kêu *chát* một tiếng giòn giã:
"Trần thị, nghe cho rõ lời nha môn truyền bảo đây. Trần Hữu Sổ anh trai ngươi vốn tính cẩu thả vô độ, đêm hôm rượu chè say xỉn đi dọc bờ kè đá trơn trượt rồi tự mình trượt chân ngã nhào xuống sông Vọng Giang chết đuối. Nha môn niệm tình hắn nhiều năm chịu khó chép sổ công văn thuê cho quan phủ, đặc cách trích quỹ công thưởng cấp cho hai quan tiền đồng làm phí mua áo quan bó chiếu. Ngươi chỉ việc ấn ngón tay điểm chỉ vào bản cam kết nhận tiền này, thừa nhận tử vong do tự mình bất cẩn trượt chân đuối nước, không khiếu kiện, không sinh sự thắc mắc, rồi lập tức đem xe cút kít ra Tĩnh Thi Phòng kéo xác về chôn cất trước khi mặt trời lặn. Bằng không, để sang ngày mai, thi thể sình trướng bốc mùi hôi thối làm ô uế nha môn thì quan trên sẽ khép vào tội bất kính xúc phạm công đường, đến lúc đó một đồng kẽm trợ cấp cũng đừng hòng rớ tới!"
Bùi Bát Quái đứng nép mình sau cuộn dây thừng bện, cọng cỏ trong miệng đảo qua đảo lại, khẽ chậc lưỡi một cái rồi lẩm bẩm bằng giọng mỉa mai:
"Nhanh tay thật đấy. Thư lại Hà quả nhiên là tay thầy cò sành sỏi, biết cách làm sạch sổ sách trước khi đoàn thanh tra khâm sai bước chân qua cổng thành. Một vết điểm chỉ đổi lấy hai quan tiền kẽm để bịt kín một cái miệng chết trôi, rẻ mạt hơn cả tiền mua một con lợn cấn ngoài chợ phiên."
Tạ Vô Danh đứng bất động như một bức tượng gỗ dựng bên vách, ánh mắt hắn lướt nhanh qua tờ biên bản cam kết nhận xác đang nằm trên mặt bàn. Lớp mực đen trên giấy bản đã khô cong từ lúc nào, những dòng chữ quy kết tội vạ "tử vong do say xỉn đuối nước bất cẩn" được gọt giũa trơn tru, không có lấy một vết cạo sửa hay tẩy xóa, giống hệt như một chiếc khuôn đúc bằng đồng nung chỉ chờ người ta đổ chì vào cho thành hình.
Ngọc Nương cúi đầu nhìn tờ giấy xám tro, rồi nhìn sang hộp chu sa màu đỏ tươi như máu tươi vừa cạy nắp. Bàn tay thợ buồm gân guốc của nàng từ từ siết chặt lại thành nắm đấm, những khớp ngón tay nổi lên trắng bệch dưới ánh nắng trưa. Nàng ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt sắc lẹm như mũi dao rọc mép vải buồm:
"Đỗ kiểm thi, thi thể anh trai ta đã có kết luận kiểm nghiệm chính thức từ Tĩnh Thi Phòng chưa?"
Đỗ Thanh đứng thẳng lưng, vạt áo vải thô buông rủ phẳng phiu, giọng nói dứt khoát vang lên đanh thép giữa xưởng buồm:
"Chưa. Ta chưa từng đặt bút ký hay đóng dấu điểm chỉ vào bản trát khám nghiệm cuối cùng gửi lên tri huyện. Nhiệt độ bề mặt da hạ sâu bất thường vượt quá mức nhiệt của dòng nước sông, các hạt tinh thể lạ bám quanh cổ áo bị xé rách và sự co cứng bất đối xứng của các nhóm cơ thể mâu thuẫn hoàn toàn với hiện tượng chết ngạt nước thông thường. Hiện tại, theo y lý nghiệm thi, nguyên nhân tử vong vẫn là một nghi án mạng có dấu hiệu che giấu hiện trường."
Tên nha dịch mặt rỗ sa sầm nét mặt, hai hàng lông mày chổi xể dựng ngược lên, quát lớn:
"Đỗ Thanh! Cô ăn cơm gạo của nha môn cấp phát mà dám ăn nói hàm hồ cản trở công vụ à? Hà đại nhân đã đích thân đối chiếu sổ điểm danh, hôm qua chính mắt bao nhiêu nha lại thấy Trần Hữu Sổ tự mình đến lĩnh tiền chép sổ thuê! Lời nói xằng bậy của một con ngỗ tác khế ước như cô mà đòi nặng hơn sổ bộ văn tự của quan phủ hay sao?"
Hắn bước sấn tới một bước, thô bạo vươn bàn tay lông lá chộp lấy cổ tay gầy guộc của Ngọc Nương, gằn giọng đe dọa:
"Điểm chỉ mau! Đừng để rượu mời không uống lại muốn chuốc lấy rượu phạt của chốn công quyền!"
Ngọc Nương không thèm giằng tay ra để né tránh. Nàng dùng bàn tay trái còn lại chộp lấy chiếc kéo cắt vải buồm bằng thép rèn đặc, dài gần một thước đang cắm hờ trên mép gỗ, rồi giáng mạnh mũi kéo xuống mặt bàn lim chỉ cách ngón tay trỏ của tên sai nha đúng nửa tấc.
Âm thanh kim loại nặng nề va đập vào thớ gỗ lim già phát ra một tiếng *cốc* chấn động, rung bần bật cả cái hộp chu sa bằng đồng thau khiến bột đỏ văng tung tóe ra mặt bàn.
"Cút," Ngọc Nương nói, từng chữ rơi xuống đất lạnh tanh như nước đá tan. "Trần Ngọc Nương này vá buồm kéo sợi kiếm từng đồng tiền mồ hôi nuôi thân, chứ không bao giờ bán mạng anh trai mình để lấy hai quan tiền rách nát của các người. Khi nào Đỗ kiểm thi đưa ra trát khám nghiệm có triện son chính thức của huyện đường, chỉ rõ ràng rành mạch huynh ấy chết vì cớ gì, ta mới đặt ngón tay lên tờ giấy đó. Còn cái thứ văn tự viết sẵn để chối bỏ trách nhiệm này, đem về cho Hà Công Bút dùng để lau đít đi!"
Tên mặt rỗ giật bắn người, hoảng hốt rụt tay lại như bị lửa táp, mặt mũi chuyển từ đỏ gay sang tím tái vì tức giận tột độ. Hắn trừng trừng nhìn mũi kéo thép bản rộng cắm ngập sâu hơn một đốt ngón tay vào mặt bàn gỗ lim cứng như đá, rồi liếc mắt thấy Tạ Vô Danh đang lẳng lặng dịch chuyển bước chân từ góc tối bước ra.
Kiếm khách nghèo chỉ bước đúng một bước rưỡi, nhưng thân hình cao gầy của hắn đã chắn ngang một cách tự nhiên giữa hai tên nha dịch hung hãn và người phụ nữ thợ buồm. Bàn tay trái của hắn lơi lỏng đặt hờ trên chuôi thanh kiếm cùn bọc vải, còn bàn chân phải hơi lùi lại nửa tấc về phía sau, tạo thành một thế đứng trầm ổn kỳ quặc. Đôi vai hắn xuôi xuống, nhưng toàn bộ khí tức lại kín kẽ đến mức tựa như một bức tường đá phủ rêu phong, không để lộ ra một kẽ hở nào để kẻ đối diện có thể xuất chiêu hay bước qua.
"Tốt... Rất tốt!" Tên sai nha nghiến răng kèn kẹt, giật lấy tờ giấy bản dính vài hạt bụi đỏ nhét tọt vào ngực áo, rồi chộp lấy hộp chu sa. "Để xem con đàn bà miệng còn hôi sữa như ngươi bướng bỉnh cứng đầu được mấy ngày! Năm ngày nữa thôi, khi quan khâm sai đại thần đặt chân đến phủ nha, lũ dân đen ngoan cố các ngươi cứ chờ đấy mà kéo nhau ra giữa pháp trường chịu tội khi quân!"
Dứt lời cay độc, hai tên nha dịch hầm hầm xoay người, vội vã giẫm lên lớp vỏ ốc lạo xạo dưới nền đất mà cắm đầu cút thẳng ra khỏi xưởng buồm như bị ma đuổi.
Không gian trong xưởng buồm lại chìm vào sự tĩnh lặng ngột ngạt quen thuộc. Tiếng sóng sông mùa gió chướng vỗ ì ọp vào những hàng cọc gỗ bọc hà dưới sàn xưởng nghe rời rạc, buồn bã và lạnh lẽo lạ thường. Nắng trưa bắt đầu rọi xiên qua những mắt lưới dừa nước rách, phủ lên mặt vải buồm những mảng loang lổ như vết da tróc vảy.
Ngọc Nương dùng sức rút mạnh chiếc kéo thép ra khỏi mặt bàn gỗ lim. Nàng không nhìn theo bóng hai tên nha dịch, mà quay ngoắt lại nhìn trừng trừng vào Đỗ Thanh và Tạ Vô Danh. Đôi mắt nàng đỏ hoe vì những đêm thức trắng khâu vá buồm dưới đèn dầu lạc, nhưng tuyệt nhiên không có lấy một giọt lệ nào rơi xuống. Sự chai lì và cứng cỏi của một kẻ lao động bến nước từ thuở nhỏ khiến nàng trông già dặn, u uẩn hơn cái tuổi ngoài hai mươi rất nhiều.
"Các người muốn biết điều gì từ ta?" Nàng cất tiếng hỏi, giọng đã khản đặc như có dằm xơ gai cào xước trong cuống họng.
Đỗ Thanh khẽ liếc mắt ra hiệu cho Bùi Bát Quái đứng canh chừng ở mép rào dừa nước ven bờ lạch, rồi chậm rãi bước lại gần chiếc bàn thợ mộc:
"Đêm trước khi Trần Hữu Sổ mất tích, anh ta có biểu hiện gì bất thường hay không? Anh ta có gặp gỡ ai, nhận trông coi món hàng nào kỳ lạ, hoặc nhắc đến một món tiền lớn bất minh nào chăng?"
Ngọc Nương im lặng trong giây lát. Nàng buông chiếc kéo thép nặng trịch xuống bàn, đưa tay kéo lại tấm rèm cót rách treo ở cửa sổ bên hông xưởng để che bớt ánh nắng gay gắt đang hắt lên bến sông, rồi hạ thấp giọng xuống mức vừa đủ cho ba người nghe thấy:
"Đêm hôm kia, sương mù trên mặt sông Vọng Giang dày đặc như chõ xôi bốc khói, đứng cách nhau năm bước chân là không còn nhìn rõ mặt mũi người đối diện. Vào khoảng canh ba, khi ta đang ngồi khâu nốt mép buồm cho thuyền Cát Tảo dưới ngọn đèn dầu lạc, huynh ấy đột ngột từ ngoài bờ bãi lạch nước chạy xộc vào xưởng tìm ta. Toàn thân huynh ấy ướt sũng vì nước mưa phùn và bùn non bám đầy ống quần. Huynh ấy run rẩy bần bật, hai hàm răng va vào nhau lập cập từng chập, nhưng ta biết rõ đó không phải là cái run vì rét lạnh da thịt, mà là vì nỗi sợ hãi tột cùng."
"Sợ hãi điều gì?" Đỗ Thanh hỏi dồn, ngón tay nàng vô thức siết nhẹ mép bọc vải chàm đựng di vật.
"Huynh ấy bảo với ta rằng mình đã trót nhúng tay vào một việc không nên nhúng, một việc có thể khiến cả dòng họ bị tru di nếu vỡ lở," Ngọc Nương thì thào, ánh mắt nàng đột ngột chuyển hướng, dời khỏi khuôn mặt lạnh lùng của Đỗ Thanh và xoáy thẳng vào bóng hình gầy gò của Tạ Vô Danh đang đứng lặng câm bên cạnh.
"Lúc huynh ấy đứng nói chuyện dặn dò ta ngoài hàng rào cọc dừa nước, ta nhìn qua khe cót thủng thì thấy một bóng người lạ mặt đứng bất động ven mép nước sương mù mờ ảo. Kẻ đó khoác một tấm áo tơi đan bằng lá cọ màu đen sẫm, đội chiếc nón rơm sụp xuống thật thấp che khuất gần hết nửa mặt trên. Khi hắn nhận thấy anh trai ta có ý định quay trở lại bờ sông, hắn liền quay lưng bước đi thật nhanh về phía bến đò đêm. Dáng đi của kẻ đó... vô cùng kỳ dị."
Nàng giơ ngón tay trỏ chai sần lên, chỉ thẳng vào đôi chân đang đứng vững chãi của Tạ Vô Danh:
"Hắn đi theo kiểu chấm phẩy, bước chân lệch hẳn trọng tâm sang bên trái, chân phải kéo lê một vệt dài trên cát sỏi ẩm ướt... hơi khập khiễng, tập tễnh... giống hệt như cái cách mà ngươi vừa bước qua bậu cửa xưởng buồm của ta lúc nãy!"
Bùi Bát Quái đang đứng lấp ló canh chừng bên mép rào dừa nước bỗng giật bắn mình, cọng cỏ trong miệng suýt nữa tụt tọt vào trong cuống họng khiến hắn ho sặc sụa. Gã vội vã xoa ngực áo, hai mắt trợn tròn nhìn Tạ Vô Danh rồi lắp bắp:
"Này... Tạ huynh, chuyện này không phải trò đùa ở xới bạc đâu đấy nhé! Huynh đừng bảo với ta là đêm hôm đó huynh nhận mối đi đòi nợ thuê cho phường nón rồi tiện tay hất người ta xuống sông để ẵm trọn tiền công vớt xác đấy?"
Đỗ Thanh không hề hùa theo câu nói bông đùa gượng gạo của Bùi Bát Quái. Nàng khẽ nhíu đôi mày thanh tú lại, quay nửa người sang quan sát từng cử động nhỏ nhất trên nét mặt và tư thế của Tạ Vô Danh. Là một kiểm thi giàu kinh nghiệm, nàng biết rõ cơ thể kiếm khách này mang theo nhiều vết thương phế tích từ những trận chém giết cũ, nhưng giữa một vết thương thật sự và một màn dàn dựng che mắt thế gian đôi khi chỉ cách nhau một đường tơ kẽ tóc. Nàng cần một lời giải thích rành mạch từ chính miệng hắn.
Tạ Vô Danh không hề tỏ ra bối rối hay hoảng hốt trước lời buộc tội bất ngờ. Gương mặt phong trần hằn sâu những vết sương gió của hắn vẫn phẳng lặng như mặt nước giếng khơi không gợn sóng. Hắn khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ, nhấc chân bước chậm rãi hai bước trên nền đất nện lổn nhổn vỏ ốc vỡ, rồi dừng lại, cúi đầu chỉ vào hai vệt lõm mà gót giày rơm của mình vừa để lại:
"Trần cô nương nhìn thấy kẻ đó bước khập khiễng, chân phải kéo lê trên cát ẩm, đúng như vậy không?"
"Đúng thế," Ngọc Nương lạnh lùng đáp, bàn tay nàng vẫn đặt hờ trên đốc kéo thép. "Tướng đi chấm phẩy lệch sườn ấy ở cái bến Vọng Giang dài mười dặm này, tìm đỏ mắt ra cũng chẳng có người thứ hai có dáng vóc tương tự."
"Nhìn bề ngoài thì giống, nhưng kẻ đó hoàn toàn không hiểu vì sao ta lại phải đi đứng theo cách thức như vậy," Tạ Vô Danh chậm rãi giơ cánh tay phải đang quấn nhiều lớp vải gai lên ngang ngực. Hắn khẽ gập nhẹ khớp cổ tay về phía trước.
Một tiếng *rắc* nhỏ, khô khốc và buốt nhức vang lên từ dưới lớp vải thô bạc màu.
"Cổ tay phải của ta hai năm về trước bị người ta chém đứt lìa hai đường gân chính, đầu xương cổ tay bị chệch trục khớp nhưng không được nắn chỉnh kịp thời, nay đã liền sẹo theo thế vẹo lệch. Mỗi khi toàn bộ cơ thể phải chịu một chấn động dằn xóc mạnh truyền từ mặt đất lên qua cột sống, chấn thương cũ này lại nhức buốt thấu lên tận màng óc."
Hắn bước thêm một bước nữa về phía trước, lần này hắn cố tình làm chậm từng cử động cơ bắp để hai người phụ nữ cùng quan sát:
"Khi một người mang thương tích nặng ở tay cầm vũ khí, để giảm thiểu tối đa độ rung chấn dồn ngược lên cánh tay bị phế ấy trong từng bước di chuyển, toàn bộ nửa thân trên của hắn bắt buộc phải nghiêng nhẹ một góc ba phân sang hướng đối diện. Ta bước chân trái dài hơn bình thường, hạ gót chân trái xuống nền đất trước để triệt tiêu toàn bộ phản lực dội từ mặt đường, sau đó mới thu chân phải về theo một đường cong hẹp. Chân phải của ta không hề mang tật nguyền, nó chỉ đi chậm lại nửa nhịp để giữ cho cánh tay này không phải chịu lực giằng xé. Đó là cách đi né lực của một kẻ mang phế tích trên cổ tay, chứ không phải tướng đi của một kẻ thọt chân bẩm sinh."
Hắn ngước đôi mắt đục ngầu, mệt mỏi nhìn thẳng vào mắt Ngọc Nương, giọng nói trầm đều nhưng sắc sảo đến từng chi tiết:
"Kẻ mà cô nương nhìn thấy lén lút trong màn sương mù đêm đó chỉ đơn thuần bắt chước cái vỏ bọc bên ngoài mà hắn từng nhìn thấy từ xa. Hắn cố tình dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể đè nặng xuống bàn chân phải để tạo ra dáng đi chấm phẩy cho giống ta. Nhưng một kẻ cố diễn vai thọt chân thì hai đầu vai sẽ lắc lư dữ dội theo phương ngang để tìm lại điểm thăng bằng cho cơ thể, và cánh tay phải của hắn bắt buộc phải vung vẩy tự nhiên trong không khí để giữ cho thân mình không bị ngã nhào. Cô nương hãy cố nhớ lại cho thật kỹ xem, cánh tay phải của kẻ khoác áo tơi đêm hôm ấy có đung đưa theo từng nhịp bước chân hay không?"
Đôi đồng tử của Ngọc Nương khẽ co rút lại thành hai chấm nhỏ.
Ký ức về đêm mưa phùn ẩm ướt với màn sương mù giăng kín mặt sông lập tức cuồn cuộn ùa về trong tâm trí nàng. Bóng đen khoác áo tơi đứng bên mép nước bờ rào dừa... đúng vậy, khi hắn xoay gót chân vội vã bước đi, hai cánh tay hắn buông thõng rất tự nhiên, cánh tay phải vung vẩy theo từng nhịp chân bước khập khiễng một cách gượng gạo và thô thiển, chứ hoàn toàn không hề có động tác khép chặt khuỷu tay vào mạn sườn để ghìm giữ khớp cổ tay như Tạ Vô Danh đang làm lúc này!
Đó là một kẻ bắt chước. Một sự dàn dựng công phu và tàn nhẫn đã được tính toán từ trước.
"Có kẻ muốn giăng bẫy huynh," Đỗ Thanh khẽ thốt lên, từng lời thốt ra sắc bén và lạnh lẽo như một lưỡi dao mổ tử thi. "Hắn không chỉ muốn biến Trần Hữu Sổ thành một cái xác chết đuối vô danh trôi dạt trên sông để ém nhẹm vụ việc, mà còn chuẩn bị sẵn một kẻ thế mạng hoàn hảo nhất để gánh tội nếu chẳng may vụ án bị phanh phui. Một kiếm khách nghèo phiêu bạt tha phương, không tông phái che chở, không môn hộ nương tựa, chuyên đi vớt xác thuê kiếm vài đồng bạc lẻ của nha môn, lại mang một dáng đi đặc thù không thể lẫn vào đâu được. Nếu thi thể bị phát hiện và có người nghi ngờ là án mạng, chỉ cần tung ra vài nhân chứng vô tình nhìn thấy bóng lưng khập khiễng của Tạ Vô Danh xuất hiện cùng nạn nhân trong đêm án mạng, vụ án sẽ lập tức được nha môn khép lại một cách êm thấm và tròn trịa."
"Hiểm độc thật sự," Bùi Bát Quái vỗ đùi đánh đét một cái, mặt mày méo mó như vừa nuốt phải hòn than nóng. "Kẻ chủ mưu này không những am hiểu địa bàn bến Vọng Giang như lòng bàn tay, mà còn nắm rõ từng thói quen, từng đường đi nước bước của Tạ huynh. Hắn tính toán từng nước cờ, từ việc cho người tung tin ma quỷ hù dọa dân chài, đến việc dựng lên một bóng hình giả mạo bên bờ lạch sương mù. Một vở tuồng được dàn dựng công phu đến từng chi tiết nhỏ nhất như thế này, tuyệt đối không thể là chủ ý của mấy tên sai nha thô lậu ngoài cửa."
Ngọc Nương đứng sững sờ bên chiếc bàn thợ mộc, ánh mắt nhìn Tạ Vô Danh thật lâu. Sự cảnh giác, thù hằn ban đầu trong đáy mắt nàng dần dần tan biến đi đôi chút, thay vào đó là một nỗi bàng hoàng chua xót đến nghẹn thở. Nàng nhận ra anh trai mình — một kẻ chép sổ thuê nhút nhát, cẩn trọng — đã trót sa chân vào một cái bẫy đen tối và sâu hoắm vượt quá sức tưởng tượng của những kẻ nghèo hèn sống ven sông.
"Huynh ấy... huynh ấy biết rõ mình sắp sửa bị người ta thủ tiêu bịt miệng," Ngọc Nương nghẹn ngào, giọng nói run rẩy nhưng vẫn cố ghìm chặt không cho nước mắt trào ra. "Đêm hôm đó, trước khi vội vã trèo qua hàng rào cọc dừa để biến mất vào màn sương, huynh ấy đã nhét một vật vào đáy ống đựng kim khâu buồm của ta. Huynh ấy dặn đi dặn lại rằng, nếu qua ba ngày mà huynh ấy không quay trở về xưởng buồm này, hãy đem vật đó đốt thành tro vụn rồi rải xuống dòng nước xiết, tuyệt đối không được để cho bất kỳ ai nhìn thấy."
Nói dứt lời, Ngọc Nương bước nhanh về phía góc tối nhất của gian xưởng, nơi treo những bó dây gai và những ống tre lớn dùng để đựng dụng cụ thợ buồm. Nàng với tay nhấc một ống tre già hun khói đen bóng treo sát vách nứa xuống. Nàng dùng đầu mũi dao rọc cẩn thận cạy lớp nắp đáy ống tre đã được trét kín bằng sáp ong pha mỡ cá chống thấm nước, rồi dùng một chiếc nhíp sắt gắp ra một mảnh giấy bản nhỏ bằng hai ngón tay được gấp lại vô cùng cẩn thận.
Mảnh giấy hơi ngả sang màu vàng sáp vì ngấm một phần dầu lai chống ẩm, nhưng những dòng chữ viết bằng mực tàu bên trên vẫn còn nguyên vẹn, sắc nét.
Đó là một tờ phiếu gửi hàng vào khoang lạnh của bến thuyền thương cảng Vọng Giang.
Đỗ Thanh lập tức bước tới đón lấy tờ phiếu từ tay Ngọc Nương, cẩn thận mở từng mép gấp đã giòn vì khô. Bên trên mặt giấy bản ghi rõ ràng số hiệu khoang hàng ngầm số mười bảy, ngày gửi là vào buổi trưa của hai hôm trước. Nhưng điều khiến ánh mắt của cả Đỗ Thanh lẫn Tạ Vô Danh cùng khựng lại là con dấu mực đỏ chót đóng đè ở góc dưới bên phải của tờ phiếu gửi.
Đó hoàn toàn không phải là mộc triện tròn của Ty Tuần Kiểm bến tàu, cũng không phải dấu vuông thường dùng của các thương điếm buôn bán tơ lụa hay gạo muối thông thường.
Mộc dấu ấy có hình một chiếc đuôi cá xòe rộng với ba chiếc vây nhọn hoắt như ba mũi giáo, nét khắc trên gỗ thô ráp, gãy gọn và sắc lẹm — đó là ký hiệu độc nhất vô nhị của dãy hầm chứa cá đông lạnh ướp muối ngầm dọc theo bờ nam sông Vọng Giang!
"Hầm đông lạnh cá..." Đỗ Thanh siết chặt mép tờ phiếu gửi hàng trong lòng bàn tay, đôi mắt nàng bừng sáng lên một tia nhìn sắc bén như ánh thép. "Những hạt tinh thể dạng phiến mỏng màu trắng đục bám trên cổ áo bị xé rách của Trần Hữu Sổ... ta đã nghi ngờ ngay từ khi nạo lấy mẫu thử dưới ánh đèn dầu. Đó hoàn toàn không phải là hạt cát sông phù sa, mà chính là muối diêm ướp cá chuyên dùng trong các hầm chứa đá lạnh để giữ cho thịt cá không bị ươn thối! Thi thể của anh trai cô không hề bị ngâm dưới lòng sông trôi dạt suốt từ chiều hôm qua đến nay, mà đã bị kẻ thủ ác giấu kín trong hầm đá lạnh suốt một ngày đêm để làm chậm lại toàn bộ quá trình phân hủy sinh học tự nhiên của thi thể, nhằm bóp méo hoàn toàn thời điểm tử vong thực tế trước mắt quan nha nghiệm thi!"
Tạ Vô Danh cúi nhìn hình chiếc đuôi cá ba vây màu đỏ máu in trên tờ giấy ố vàng, giọng hắn trầm đục như tiếng đá mài dưới đáy vực:
"Kho hàng số mười bảy. Kẻ thủ ác đã giấu xác Trần Hữu Sổ ở đó để chờ thời cơ thuận lợi, rồi mới lén lút thả thi thể xuống chân cọc neo thuyền số ba mươi hai ngay trước giờ tuần tra bến sông của ta."
"Không chỉ có cái xác đâu," Ngọc Nương bỗng cất tiếng cắt ngang lời hắn, giọng nàng run lên bần bật vì phẫn uất tột cùng. "Đêm hôm đó, trước khi rời khỏi xưởng buồm, huynh ấy còn bảo với ta rằng huynh ấy đã giấu một bọc giấy tờ chép tay cực kỳ quan trọng vào một kiện hàng gửi trong kho bến sông. Đó là những bản sao chép lại toàn bộ các khoản chi tiêu mờ ám của ngân khố phủ nha, các số lệnh truy nã giả mạo để triệt hạ những kiếm khách chống đối, và cả những món tiền hoa hồng chia chác khổng lồ từ việc mua bán thứ hạng trên bảng xếp hạng của Danh Kiếm Hội mà huynh ấy đã lén lút ghi chép lại suốt nửa năm qua..."
"Kiện hàng giấy tờ đó hiện đang gửi ở đâu?" Bùi Bát Quái vội vã nhào tới trước mặt Ngọc Nương, hai con mắt sáng rực lên như kẻ nhặt được một thỏi vàng ròng giữa bãi tha ma. "Trần cô nương, chỉ cần có được đống sổ sách chép tay đó trong tay, chúng ta có thể lật ngược toàn bộ thế cờ của Hà Công Bút và cả đám tai to mặt lớn trong Danh Kiếm Lâu! Cô nương mau đưa nốt tờ phiếu nhận kiện hàng đó ra đây đi!"
Ngọc Nương lập tức lùi phắt lại một bước lớn về phía sau, giấu hai bàn tay thô ráp chai sần ra sau lưng tạp dề da bò. Ánh mắt nàng một lần nữa đông cứng lại thành một lớp băng lạnh lẽo, đầy cảnh giác và cự tuyệt:
"Ta không đưa."
"Sao lại không đưa cơ chứ?" Bùi Bát Quái ôm đầu kêu lên thảng thốt, giậm chân bành bạch xuống nền đất nện. "Cô nương không muốn rửa sạch nỗi oan khuất cho anh trai mình hay sao? Chỉ còn năm ngày nữa thôi là đoàn khâm sai bước chân vào thành rồi, nếu không lật được án thì đầu rơi máu chảy cả lũ đấy!"
"Ta muốn rửa oan cho anh trai ta, nhưng ta tuyệt đối không tin tưởng các người," Ngọc Nương nhìn thẳng vào đôi mắt điềm tĩnh của Đỗ Thanh, rồi lạnh lùng dời ánh mắt sang thanh kiếm cùn bọc vải gai của Tạ Vô Danh. "Một nữ kiểm thi khế ước không có nửa mảnh binh quyền trong tay, sống chết phụ thuộc vào sự điều động của quan huyện; một gã môi giới tin tức mạt hạng chỉ biết chực chờ hóng hớt điều ong tiếng ve để kiếm vài đồng bạc chênh lệch; và một kiếm khách giang hồ phiêu bạt trôi dạt từng cầm kiếm đâm chém thuê kiếm sống... Các người lấy tư cách gì, lấy cái gì để bảo đảm với ta rằng sau khi cầm được đống giấy tờ đoạt mạng đó trong tay, các người sẽ không mang nó đi bán lại cho Danh Kiếm Hội hay quan nha môn để đổi lấy một túi bạc nén nặng trịch và sự bình yên vô sự cho bản thân mình?"
Nàng hít một hơi thật sâu, ngực phập phồng sau lớp áo vá, giọng nói đanh lại như thép nguội:
"Anh trai ta đã phải chết thảm dưới đáy sông lạnh ngắt chỉ vì đã ngây thơ tin vào những lời hứa hẹn công lý của đám người có quyền thế trên bờ. Bọc giấy tờ đó là mạng sống cuối cùng của huynh ấy, cũng là thứ duy nhất có thể bảo giữ cho cái xưởng vá buồm rách nát này và tính mạng hèn mọn của ta không bị kẻ khác tùy tiện chà đạp bóp chết. Trừ phi các người có thể chứng minh được cho ta thấy các người đủ bản lĩnh để lôi kẻ chủ mưu thật sự ra trước ánh sáng công đường mà không dùng máu của anh trai ta làm bàn đạp thăng quan tiến chức, còn không, ta thà ném mảnh giấy này vào bếp than hồng hay quẳng xuống đáy sông Vọng Giang cho cá rỉa sạch!"
Không khí trong xưởng buồm một lần nữa rơi vào sự im lặng nghẹt thở đến buốt óc. Những lời nói trần trụi, gay gắt của người phụ nữ vá buồm nghèo hèn quất thẳng vào mặt bọn họ như một ngọn roi gai tẩm muối.
Ở cái bến nước Vọng Giang này, nơi danh vọng kiếm khách được ngã giá bằng những đồng bạc vụn của các phú thương, nơi công lý bị cân đong đo đếm bằng những bản cáo thị truy nã giả mạo, thì lòng tin chính là thứ xa xỉ, phù phiếm và nguy hiểm nhất mà một con người cùng khổ có thể trao gửi cho đồng loại.
Tạ Vô Danh khẽ nhếch khóe môi, một nụ cười tự giễu mờ nhạt thoáng hiện trên gương mặt gầy gò, phong trần của hắn. Hắn không hề cất lời thanh minh cho bản thân, cũng không buông ra những lời thề thốt đao to búa lớn thường thấy của những kẻ mang danh hào kiệt chốn giang hồ. Hắn chỉ lặng lẽ giơ bàn tay trái lên, cẩn thận chỉnh lại từng nếp gấp của dải vải gai thô đang quấn quanh thanh kiếm cùn bên hông mình, rồi ngước mắt lên đón nhận cái nhìn gay gắt của người phụ nữ thợ buồm.
Người phụ nữ thợ buồm nhìn thẳng vào mắt kiếm khách, hỏi tại sao bóng lưng của hắn lại giống kẻ đòi nợ anh nàng đêm đó.