Giang Hồ Hết Cứu: Một Kiếm, Ba Cú LừaCh.25 / 30
Chapter 25

Danh Hiệu Đã Viết Sẵn Tên

Hương trầm ngoại nhập đắt tiền tỏa khói mờ ảo trong căn phòng thượng hạng tầng ba Danh Kiếm Lâu, nơi ánh sáng đèn lồng phản chiếu lấp lánh trên đĩa bạc và chén ngọc tinh xảo.

Bên ngoài cửa sổ chớp gỗ tếch, tiếng mưa dội xuống những mái ngói cong của kinh kỳ Vọng Giang nghe rền rĩ, xa xăm như tiếng gõ mõ cầm canh dưới đáy giếng. Mưa đêm mùa thu trút xuống mặt sông cuộn sóng, biến bến tàu sầm uất phía xa thành một dải bóng đen nhạt nhòa, chỉ chốc chốc lại bùng lên vài đóm lửa vàng vọt từ những chiếc đèn lồng treo nơi đầu mũi thuyền câu. Nhưng bên trong căn phòng này, sự ẩm mốc và nhớp nháp của một thành phố sông nước dường như bị chặn đứng tuyệt đối bởi những lớp rèm lụa dày nặng tẩm hương hoa hồi và vỏ quế khô. Hơi ấm tỏa ra từ chiếc lò sưởi bằng đồng hun chạm trổ hình kỳ lân đặt ở góc phòng xua tan đi cái lạnh căm căm đang luồn qua từng ngõ ngách bần hàn ngoài kia.

Lục Trọng Tín ngồi xếp bằng trên chiếc sập gụ khảm ốc xà cừ sáng bóng, phong thái ung dung như một vị quan học sĩ đang thanh thản thưởng trà giữa tiết lập thu. Y mặc một bộ trường bào màu lam thêu chìm hoa văn mây lượn dọc theo vạt áo, chất vải gấm Tô Châu mềm mại buông rủ không một nếp nhăn. Mái tóc đã điểm hoa râm của y được chải chuốt tỉ mỉ, búi gọn gàng dưới chiếc trâm ngọc bích không tì vết, tỏa ra thứ ánh sáng xanh dịu nhẹ dưới ánh nến sáp ong. Gương mặt y vuông vức, hàm râu cắt tỉa cẩn thận, khóe mắt hằn sâu những nếp nhăn của một kẻ đã nếm trải đủ thăng trầm thế sự, nhưng tuyệt nhiên chẳng có lấy nửa phần sát khí của một kẻ vừa điều động đám du đãng đốt phá xưởng buồm bên sông hay ngầm giật dây cho những vụ ám toán đẫm máu trong bóng tối quan trường.

Y điềm đạm ngẩng lên, ánh mắt bình thản bao quát lấy dáng vẻ gầy guộc cùng bước chân hơi gượng của người vừa bước qua ngưỡng cửa gỗ nặng nề:

“Tạ thiếu hiệp, mời ngồi. Nước giếng ngọt Bồ Đề đun bằng than hoa củi lê, pha với trà Thiết Quan Âm vụ xuân vừa cập bến sáng nay. Trời mưa lạnh thế này, cổ tay bị tổn thương chắc chắn sẽ nhức buốt thấu xương. Uống một ngụm cho ấm kinh mạch.”

Tạ Vô Danh không bước lại gần chiếc sập gụ. Chàng dừng lại ở khoảng cách mười bước chân, lưng tựa hờ vào một chiếc cột gỗ lim tiện tròn nhẵn bóng. Toàn thân chàng ướt sũng nước mưa, vạt áo ngắn bằng vải thô màu xám tro dính bết vào da thịt, từng giọt nước đùng đục tí tách rơi từ gấu quần xuống sàn gỗ lót thảm len dày, để lại những vệt ố sẫm màu. Bàn tay phải của chàng vẫn được nẹp chặt bằng hai thanh gỗ sồi cứng, quấn quanh bởi những lớp vải gai trắng đã ngả màu ố vàng, giấu hờ hững trong vạt áo trước ngực để giữ cho khớp xương không bị chấn động. Chân trái chàng hơi lùi về sau nửa bước, gót chân tì nhẹ xuống mặt sàn, nơi mép thanh đoản đao mỏng vừa được mài sắc trên đá mài bén ngót đang nằm im lìm dưới lớp lót ủng da đã rách tưa mép.

“Lục chấp sự đổi địa điểm nhanh thật,” Tạ Vô Danh cất giọng đều đều, khô khốc như tiếng gỗ mục cọ vào vách đá. “Thiếp mời hẹn ở thuyền Vọng Nguyệt bến Nam, nhưng gia nhân của ngài lại chặn ta ở ngã tư để dẫn về tận sào huyệt này.”

Lục Trọng Tín khẽ cười, nâng tay áo rộng khẽ gạt nắp chén trà bằng sứ hoa lam, động tác thuần thục và khoan thai đến kỳ lạ. Nụ cười của y đượm vẻ bao dung, nhẫn nại như của một bậc trưởng bối nhìn đứa trẻ ngỗ nghịch nhưng có tài:

“Thuyền bến Nam nhiều gió, ẩm ướt lại xao động, không tiện để bàn đại sự. Hơn nữa, trên tầng cao nhất của Danh Kiếm Lâu này, chúng ta mới có thể nhìn trọn vẹn toàn cảnh Vọng Giang.”

Y đưa tay khẽ chỉ ra ngoài khung cửa sổ chớp đang mở hé một góc chừng nửa thước. Từ độ cao này nhìn xuống, dù màn mưa trắng xóa giăng kín khắp bầu trời đêm, người ta vẫn có thể lờ mờ thấy được những mái nhà tranh vách đất lụp xụp của khu ổ chuột ven sông, những bóng thuyền chài chập chờn trôi nổi vô định giữa dòng nước xiết, và xa hơn nữa, dưới chân những ngọn đèn bão đỏ rực, là cổng phủ nha nơi đám đông dân nghèo cùng các võ sinh đang tụ tập, đội mưa gào thét đòi giữ lại bảng đấu phân hạng. Tiếng la hét hỗn loạn dội qua màn mưa đặc quánh, nghe nghẹn ứ và vô vọng như tiếng sóng đập vào bờ kè đá.

Lục Trọng Tín khẽ phất tay áo lam. Từ sau bức bình phong thêu cảnh sơn thủy, một gã người hầu áo xám bước ra không một tiếng động. Gã cẩn trọng cúi đầu, nhẹ nhàng đặt lên chiếc bàn trà nhỏ kê ngay trước mặt Tạ Vô Danh một chiếc khay bạc chạm nổi hoa văn tường vân. Trên khay không có đao kiếm hay ám khí, chỉ bày biện vỏn vẹn hai thứ: một vò rượu hoa cúc bọc đất nung phong sáp đỏ thẫm tỏa hương thơm ngào ngạt pha lẫn mùi thảo mộc ấm nồng, và một bản khế ước viết trên giấy da cừu trắng tinh, mép giấy dát bột vàng mịn màng, nét mực xạ hương còn tươi mới như vừa được đặt bút hạ chữ cách đây chưa đầy nửa khắc.

“Ngươi mở ra xem thử đi,” Lục Trọng Tín nâng chén trà, nhấp một ngụm nhỏ, hơi nóng phả lên làn da mỏng nơi sống mũi y.

Tạ Vô Danh dùng những ngón tay khẳng khiu của bàn tay trái nhấc bản khế ước lên. Mặt giấy da cừu mát lạnh và mịn màng như da thịt thiếu nữ, hoàn toàn tương phản với những vết chai sần thô ráp trên đầu ngón tay của một kẻ cầm kiếm kiếm sống qua ngày. Chàng đưa tờ giấy lại gần ngọn nến sáp ong đặt trên đôn gỗ cạnh cột. Từng dòng chữ chân phương, nét bút sắc sảo đầy uy nghi hiện rõ mồn một dưới ánh quang lung linh: *Hợp đồng bảo tiêu và huấn luyện danh dự của Danh Kiếm Hội*.

Mục người nhận đã được điền sẵn bằng thứ mực son rực rỡ, ngay ngắn ba chữ: *Tạ Vô Danh*. Mức thù lao cố định ghi rành rành không một chút mập mờ: *Một ngàn lượng bạc trắng mỗi niên kỳ*, quy định thanh toán thành bốn đợt đều đặn vào các tiết giao mùa, bằng ngân phiếu có bảo chứng vô điều kiện tại bất kỳ chi nhánh nào của Hiệu bạc Đồng Tín khắp mười hai châu phủ. Kèm theo đó, phía dưới là các điều khoản phụ cấp xa hoa: một căn nhà ngói ba gian có sân vườn tọa lạc tại phố Nam—khu vực trù phú bậc nhất của tầng lớp phú thương, cùng quyền sử dụng kho ngựa riêng, võ trường riêng biệt có người hầu hạ cơm nước, thuốc thang và rèn đúc vũ khí theo yêu cầu.

Một ngàn lượng bạc trắng.

Đối với một kiếm khách nghèo cả đời phiêu bạt giang hồ, kẻ chỉ quen nhận những món tiền thưởng vài ba lượng bạc vụn từ việc lội bùn vớt xác người chết đuối dưới chân cầu chữ Y, hay dầm mưa dãi nắng áp tải những chuyến xe chở rau cỏ củ cải từ ngoại ô vào chợ sớm, con số ấy là một ảo ảnh khổng lồ vượt xa mọi giấc mộng hoang đường nhất. Một ngàn lượng đủ để mua đứt cả một con phố nhỏ ở ngoại thành Vọng Giang, đủ để một gia đình trung lưu sống xa hoa ba đời không cần lo nghĩ, đủ để chàng vứt bỏ thanh kiếm cùn, từ nay không bao giờ phải liếm máu đầu kiếm, không phải chịu cảnh nằm co ro trong những ngôi miếu hoang dột nát mỗi khi mùa đông giá rét tràn về, và thừa sức để chuộc lại cả mười đời những chiếc bao kiếm cũ mòn rách tả tơi mà chàng từng phải cầm cố lấy vài bát cháo loãng.

“Một ngàn lượng bạc cho một kẻ tay phải đã tàn phế một nửa,” Tạ Vô Danh nói tỉnh bơ, ánh mắt dừng lại thật lâu ở con số một ngàn viết bằng mực son đỏ au như vệt máu đông. “Lục chấp sự hào phóng đến mức khiến người ta phát sợ.”

“Ngươi xứng đáng với giá đó, Tạ Vô Danh,” Lục Trọng Tín đặt chén trà xuống mặt bàn ngọc. Tiếng đáy gốm va chạm với mặt đá phát ra một tiếng ‘cạch’ thanh tao, dứt khoát. Giọng y trầm ấm, mang theo một sức nặng thuyết phục lạ kỳ, thứ âm lượng không cần gắt gỏng nhưng lại dễ dàng len lỏi vào tâm trí người nghe: “Ngươi không có danh gia vọng tộc đứng sau đỡ đầu, không có vàng bạc lót tay cho các vị giám khảo, cổ tay phải bị phế gân mà vẫn có thể dùng một thanh kiếm tầm thường bằng tay trái đánh bại Vệ Thiên Kiêu trong chín chiêu ngay trên nền gạch ướt sũng của Đài Bách Thắng. Ngươi có thực lực chân chính. Và quan trọng hơn cả, ngươi có sự bướng bỉnh, có cái chất gai góc bần hàn mà thiên hạ ngoài kia đang điên cuồng thèm khát.”

Y chậm rãi đứng dậy khỏi sập gụ, chắp hai tay sau lưng, từng bước khoan thai tiến về phía cửa sổ chớp. Ánh mắt y dõi qua khe gỗ, hướng thẳng xuống thành phố đang ngập chìm trong mưa gió bão bùng:

“Ngươi nghĩ ta là kẻ ác? Ngươi nghĩ ta dựng lên cái bảng xếp hạng võ lâm này, thao túng các trận đấu tại Đài Bách Thắng, liên kết chặt chẽ với Hiệu bạc Đồng Tín chỉ đơn thuần là vì lòng tham bạc vụn của một thương nhân hám lợi?”

Lục Trọng Tín lắc đầu, bờ vai khẽ rung lên sau một tiếng thở dài thảng thốt, nghe như nỗi xót xa chân thành của một bậc trượng phu đau đáu vì thế sự:

“Tạ thiếu hiệp, giang hồ này từ ngàn xưa vốn dĩ là một đống hỗn loạn vô chính phủ, một bãi lầy tanh tưởi của những kẻ hữu dũng vô mưu. Trước khi Danh Kiếm Hội thành lập, ngươi có biết mỗi tháng ở cái đất Vọng Giang này có bao nhiêu vụ thanh toán môn phái đẫm máu không? Bao nhiêu gã võ biền chỉ vì một câu khích bác lỡ lời ngoài quán rượu rẻ tiền mà rút đao chém nhau toạc đầu đứt ruột ngay giữa thanh thiên bạch nhật, vấy máu lên cả gánh hàng rong của đám đàn bà con trẻ? Bao nhiêu góa phụ và cô nhi phải dắt díu nhau đi ăn mày đầu đường xó chợ vì chồng con họ chết một cách vô nghĩa trong những cuộc huyết đấu tranh danh đoạt lợi hão huyền? Giang hồ trước đây không phải là nơi hành hiệp trượng nghĩa, nó là một cái cối xay thịt người không đáy!”

Y quay người lại. Ánh nến hắt lên nửa khuôn mặt nghiêm nghị của y, làm rực sáng đôi mắt chứa chan niềm tin sắt đá—thứ niềm tin sắc bén của một kẻ phản diện mang đầy lý lẽ thực tế và lạnh lùng:

“Ta đã thay đổi toàn bộ cái cối xay thịt đó. Ta đưa quy tắc vào sự hỗn loạn hoang dã. Ta biến bạo lực mù quáng thành một thị trường văn minh, có thể kiểm soát, định lượng và dự đoán được! Khi thứ hạng trên bảng vàng có giá trị quy đổi sòng phẳng bằng bạc trắng, các chưởng môn môn phái sẽ ngồi lại quanh bàn trà để đàm phán phân chia địa bàn thay vì rút đao chém giết lẫn nhau ngoài ngõ hẻm. Khi có một bảng xếp hạng minh bạch, các thương đoàn lớn biết rõ ai đủ uy tín để thuê áp tiêu bảo vệ hàng hóa, các võ quán có nguồn học phí ổn định để nuôi dưỡng môn đệ, các tiểu thương quanh Đài Bách Thắng bán được từng bát mì nóng, từng ấm trà ngon. Phu phen bến tàu có việc bốc dỡ đạo cụ, thợ mộc đóng võ đài, con hát gánh tuồng biểu diễn mở màn đều có cơm ăn áo mặc tử tế! Toàn bộ mười tám vạn lượng tín dụng của Hiệu bạc Đồng Tín đang bơm máu cho sinh kế của cả nửa cái phủ Vọng Giang này vận hành trơn tru suốt năm năm qua!”

Lục Trọng Tín tiến lại gần Tạ Vô Danh thêm hai bước. Y hạ thấp giọng xuống, từng lời từng chữ thốt ra nặng nề như những nhát búa nện thẳng vào tâm can kiếm khách:

“Thị trường cần những biểu tượng anh hùng để vận hành. Đám đông ngu muội ngoài kia không cần biết Vệ Thiên Kiêu có dùng dây cáp kéo người hay không, họ không cần biết những chiêu thức hoa mỹ trên đài có phải là ước định từ trước hay không. Họ chỉ cần một vị anh hùng bất bại, một truyền kỳ sáng chói để tin tưởng, để bỏ tiền mua vé xem đấu, để uống rượu thâu đêm và tạm quên đi cuộc sống lầm than, bế tắc của chính bản thân họ! Vậy mà các ngươi... ba kẻ các ngươi, chỉ vì cái chết vô danh của một gã chép sổ quèn như Trần Hữu Sổ, lại muốn giật sập toàn bộ trật tự vĩ đại đó xuống bùn đen?”

“Trần Hữu Sổ không phải chỉ là một gã chép sổ quèn,” Tạ Vô Danh lạnh lùng đáp trả, giọng nói chàng không hề nâng cao nhưng đanh thép lạ thường. “Ông ta là một mạng người bằng xương bằng thịt. Một mạng người bị chính tay chân của ngài dùng dây thừng siết đứt cuống họng, rồi ném xác vào kho lạnh sâu ba trượng dưới lòng đất ướp muối diêm để phi tang dấu vết.”

“Một mạng người đổi lấy chén cơm manh áo của mười vạn con người, phép tính đó khó làm lắm sao?” Lục Trọng Tín bật cười cay đắng. Nụ cười của y chuyển sang vẻ thực tế đến tàn nhẫn, không thèm che giấu sự khinh miệt đối với thứ đạo đức viển vông: “Ngươi bước lại đây! Ngươi nhìn ra ngoài cổng nha môn kia xem! Hàng ngàn dân chúng đang dầm mưa vây kín công đường ngoài đó, họ tụ tập không phải để đòi công lý cho cái xác vô danh của Trần Hữu Sổ! Họ đang gào khóc, đang van xin quan phủ đừng xóa bỏ bảng xếp hạng Danh Kiếm! Họ sợ ngày mai lò bánh bao không còn đỏ lửa, họ sợ con cái họ bị đuổi khỏi võ quán vì thiếu tiền nộp phạt, họ sợ chủ nợ kéo đến siết sạch nhà cửa đất đai! Ngươi bới móc sự thật ra, công lý của ngươi có nấu thành cháo để phát cho mười vạn con người đó húp qua mùa đông giá rét này không? Hay là thứ sự thật trần trụi của ngươi chỉ mang lại cảnh vỡ nợ hàng loạt, đói rét cùng cực và những cuộc chém giết tranh giành miếng ăn lại bùng lên khắp thành phố này?”

Không khí trong căn phòng thượng hạng bỗng chùng xuống, đặc quánh lại như vũng bùn lầy.

Lục Trọng Tín đã đánh trúng vào tử huyệt đạo đức lớn nhất của bất kỳ kẻ nào tự xưng là hiệp khách. Y không dùng đao to búa lớn uy hiếp, y không đem cái chết ra dọa dẫm. Y dùng chính chén cơm, manh áo rách, dùng mạng sống lay lắt của hàng vạn thường dân nghèo khổ ngoài kia để đúc thành một bức tường thành kiên cố nhất. Đó là thứ lý lẽ ngụy biện nhưng lại bám rễ sâu sắc vào thực tế trần trụi, hoàn hảo đến mức khiến bất kỳ kẻ trượng nghĩa nào cũng phải thấy bàn tay mình run rẩy khi nắm lấy chuôi kiếm.

Nhận thấy sự im lặng kéo dài của Tạ Vô Danh, Lục Trọng Tín ngỡ rằng chàng kiếm khách nghèo túng đã bắt đầu lung lay ý chí. Khóe môi y khẽ nhếch lên một nụ cười kín đáo. Y thong thả thò tay vào trong tay áo rộng, rút ra một tập tài liệu bọc lụa điều khác, nhẹ nhàng đặt nó nằm cạnh vò rượu hoa cúc thơm ngát:

“Ta chưa từng bảo ngươi phải làm ngơ trước cái nghèo khổ của thiên hạ. Trái lại, ta đang mở ra cho ngươi một con đường rộng thênh thang để ngươi danh chính ngôn thuận cứu giúp họ.”

Ngón tay trỏ thon dài, đeo nhẫn ngọc của Lục Trọng Tín gõ nhẹ lên mặt tập giấy:

“Đây là bản tuyên cáo sắc phong danh hiệu ‘Đệ Nhất Kiếm Ngoại Thành’ do chính Danh Kiếm Hội và quan phủ nha môn đồng thuận công nhận. Sau khi Vệ Thiên Kiêu gãy kiếm, sụp đổ hình tượng trên đài thi đấu, thành phố này đang khát khao một biểu tượng mới hơn bao giờ hết. Một kiếm khách xuất thân bần hàn cùng cực, cánh tay phải tàn phế nhưng vươn lên đỉnh cao võ học bằng ý chí sắt đá—ngươi nghĩ xem, còn câu chuyện truyền kỳ nào hoàn mỹ hơn thế để vực dậy niềm tin đang lung lay của thị trường? Đi kèm với danh hiệu đó, ta sẽ giao toàn bộ quyền quản lý ‘Quỹ Cứu Trợ Võ Quán Bần Hàn’ trị giá hai vạn lượng bạc trắng cho một mình ngươi đứng tên. Ngươi muốn giúp đỡ ai, muốn chu cấp tiền thuốc men cho võ quán nào, muốn cho bao nhiêu thiếu niên nghèo khó tiền bạc để chuộc thân khỏi kiếp nô bộc, toàn bộ đều do một lời của ngươi định đoạt.”

Lục Trọng Tín nghiêng người về phía trước, ánh mắt rực sáng xoáy sâu vào tận đáy mắt Tạ Vô Danh, từng nhịp thở của y phả ra mùi hương bạc hà thanh mát:

“Đổi lại, điều kiện ta đưa ra vô cùng giản đơn, chẳng làm tổn hại đến một cọng tóc của bất kỳ ai trên cõi đời này: Ngươi chỉ cần đặt bút ký vào biên bản kiểm tra lại của nha môn, xác nhận thi thể Trần Hữu Sổ trôi dạt vào bến sông là do trượt chân đuối nước trong lúc say rượu đêm khuya. Giao nộp lại tập tài liệu chép tay cùng tờ chỉ thị có thủ bút của ta mà tên phản đồ Hà Công Bút đã trộm đi khỏi mật thất. Vụ án sẽ khép lại êm thấm bằng một tai nạn đáng tiếc. Kỷ Song sẽ bị xử phạt hành chính rồi bí mật trục xuất khỏi bờ cõi. Nha môn giữ được thể diện uy nghiêm trước mặt đoàn Khâm sai kinh thành, dân chúng giữ được chén cơm manh áo, mười tám vạn lượng tín dụng của các hiệu buôn không bị sụp đổ thành tro bụi. Và ngươi... Tạ Vô Danh, ngươi sẽ trở thành vị anh hùng cứu thế thực sự của toàn cõi ngoại thành Vọng Giang này.”

Đó là một bản giao kèo ngọt ngào đến nghẹt thở.

Tiền tài vô tận, danh vọng tột đỉnh, quyền lực cứu nhân độ thế trong tầm tay, và quan trọng hơn hết thảy: chàng sẽ không phải mang danh là kẻ nhẫn tâm phá hoại sinh kế, đạp đổ chén cơm của hàng ngàn con người khốn cùng đang run rẩy ngoài màn mưa kia.

Tạ Vô Danh cúi đầu, lặng lẽ nhìn bản khế ước lấp lánh bụi vàng đang nằm im trên khay bạc. Bàn tay trái gầy guộc của chàng chầm chậm vươn ra, đầu ngón tay khẽ chạm vào mép giấy da cừu láng mịn.

Ngón tay chàng khẽ run lên một nhịp. Một nhịp run rẩy rất khẽ, nhưng không qua mắt được ánh nhìn sắc sảo của Lục Trọng Tín.

Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi ngủ vùi giữa hai nhịp thở nặng nề, Tạ Vô Danh đã thực sự nghĩ đến việc cầm lấy ngọn bút lông sói cắm trên nghiên mực chu sa.

Tâm trí chàng vụt hiện lên hình ảnh căn miếu Kiếm Gãy dột nát, nơi những cơn gió bấc mùa đông lùa qua vách đất lạnh thấu xương tủy; chàng nhớ đến món nợ hai trăm đồng tiền kẽm dai dẳng nhiều năm chưa trả hết cho bà lão mù giữ miếu; chàng nhớ đến những ngày tháng đói lả người, phải múc từng gáo nước suối lạnh ngắt uống cầm hơi để giữ chặt thanh kiếm rỉ sét; và chàng nhớ đến ánh mắt đục ngầu, tuyệt vọng của những phu phen đang quỳ lạy, khóc lóc thảm thiết trước cửa công đường lúc chiều tà...

Chỉ cần hạ một nét bút ký, chỉ cần gật một cái đầu, toàn bộ chuỗi ngày thống khổ cùng cực, nhục nhã và đói rét kéo dài đằng đẵng từ thuở thiếu thời sẽ chấm dứt vĩnh viễn. Chàng sẽ có áo ấm nệm êm, sẽ có bạc trắng đè nặng túi, sẽ được người đời cúi đầu kính cẩn gọi một tiếng “Tạ đại hiệp”.

Thế nhưng, thói quen sinh tồn cay đắng của một kẻ cả đời sống ở tầng đáy, luôn bị những điều khoản lắt léo nơi công môn chèn ép đến nghẹt thở, đã bất thần kéo giật chàng lại bên bờ vực.

Tạ Vô Danh không cầm bút. Chàng dùng những ngón tay trái chai sần lật nhẹ từng trang của bản khế ước dày dặn gồm năm tờ giấy da cừu. Chàng bắt đầu đọc. Chàng đọc chậm rãi, tỉ mỉ, soi xét từng con chữ, từng dấu phẩy, từng nét mực lắt léo uốn lượn dưới ánh nến, giống hệt như cái cách Đỗ Thanh thường dùng que bạc tỉ mẩn rà soát từng thớ thịt, từng kẽ móng tay trên thi thể của những kẻ chết oan.

Nụ cười trên môi Lục Trọng Tín hơi khựng lại. Đôi mắt y nheo lại một tia khó chịu mờ nhạt.

Khoảng lặng ngột ngạt bao trùm khắp căn phòng, kéo dài suốt nửa tuần trà. Trong không gian tĩnh mịch, chỉ còn lại tiếng giấy da cọ vào nhau sột soạt khô khốc, hòa cùng tiếng mưa rền rĩ không dứt ngoài bao lơn tầng ba.

Càng đọc sâu xuống những trang sau, ánh mắt phẳng lặng của Tạ Vô Danh càng trở nên sắc lạnh như băng tuyết phủ trên đỉnh Hắc Hổ Lĩnh. Những dòng chữ hoa mỹ, bay bổng viết về lòng bác ái, về sự phồn vinh của võ lâm và sự phát triển sinh kế cho dân nghèo dần dần bộc lộ bản chất trần trụi, ghê tởm của chúng qua những điều khoản phụ viết bằng nét chữ nhỏ li ti, giấu khéo léo ở góc dưới cùng của từng trang giấy:

*Điều khoản thứ mười hai: Người thụ nhận danh hiệu và quản lý quỹ cứu trợ cam kết chịu sự giám sát tuyệt đối của Ban Thường trực Danh Kiếm Hội. Mọi quyết định giải ngân cứu trợ có giá trị trên mười lượng bạc trắng đều phải có văn bản đệ trình và chữ ký chuẩn thuận duy nhất của Chấp sự trưởng Lục Trọng Tín.*

*Điều khoản thứ mười bảy: Người thụ hưởng danh vị chịu ràng buộc bởi nghĩa vụ bảo mật vĩnh viễn đối với mọi hoạt động vận hành nội bộ, sổ sách tài chính và cơ chế phân hạng của Hội. Trong trường hợp vi phạm hoặc tự ý đưa ra bất kỳ phát ngôn nào gây phương hại đến sự ổn định của thị trường và uy tín của Hội, người thụ hưởng phải bồi thường thiệt hại quy định là một vạn lượng bạc trắng, đồng thời chịu hoàn toàn quyền phát vãng lưu đày của quan nha sở tại theo sự ủy thác của Hội.*

*Điều khoản thứ hai mươi mốt: Toàn bộ danh mục các võ quán và cá nhân thọ ơn từ quỹ cứu trợ sẽ do Hội toàn quyền chỉ định định kỳ, nhằm phục vụ các mục tiêu bình ổn thứ bậc và điều tiết cân bằng tỷ lệ đặt cược.*

Một cái bẫy hoàn hảo không một kẽ hở.

Không hề có một sự cứu rỗi thực sự nào dành cho những người nghèo khổ ở đây cả. Bản hợp đồng lộng lẫy dát bột vàng này thực chất chỉ là một chiếc xích vàng tinh xảo được rèn đúc công phu để tròng vào cổ chàng. Nếu chàng hạ bút ký tên, Lục Trọng Tín không chỉ mua đứt được sự câm lặng vĩnh viễn về cái chết oan khiên của Trần Hữu Sổ, mà còn biến Tạ Vô Danh thành một con rối thế mạng mới toanh thay thế cho Vệ Thiên Kiêu đã phế bỏ. Một con rối khoác tấm áo “nghèo hèn, liêm chính, vươn lên từ nghịch cảnh” để Danh Kiếm Hội tiếp tục mượn danh nghĩa đó đi thu phí chứng nhận, tiếp tục siết nợ cắt cổ các võ quán nhỏ, và biến cái gọi là quỹ cứu trợ hai vạn lượng thành một công cụ nham hiểm nhằm mua chuộc, chia rẽ vây cánh của các môn phái ngoại thành.

Chàng cứu ai? Chàng chẳng cứu được bất kỳ ai cả, ngoài việc tự tay biến chính bản thân mình thành một tên cai ngục mới, một con chó săn mẫn cán phục vụ cho cái cối xay thịt mang tên Liên ước Vàng Son.

Tạ Vô Danh khẽ thở ra một hơi dài, buốt lạnh. Chàng xếp năm tờ giấy da cừu ngay ngắn lại, đặt trả bản khế ước lên mặt chiếc khay bạc chạm trổ tinh vi. Bằng một động tác dứt khoát, chàng dùng mu bàn tay trái đẩy nhẹ chiếc khay bạc trượt trên mặt bàn gỗ bóng lộn, trả về phía Lục Trọng Tín. Giọng chàng vang lên, bình thản đến mức tàn nhẫn:

“Chữ ký của ta xấu lắm. Viết vào bản da cừu đắt tiền này sợ làm bẩn giấy của ngài.”

Sắc mặt Lục Trọng Tín dần dần đanh lại. Nét từ hòa, phong thái ung dung nho nhã trên gương mặt y tan biến từng chút một như lớp sương mỏng gặp nắng gắt, để lộ ra những đường gân xanh giật giật đầy vẻ dữ tợn nơi thái dương:

“Tạ Vô Danh, ngươi có thực sự hiểu mình đang từ chối cái gì không? Ngươi đang từ chối con đường sống duy nhất của bản thân ngươi, và đang tự tay xô đẩy hàng vạn con người nghèo khổ ngoài kia vào cảnh lầm than, tan cửa nát nhà chỉ vì sự cố chấp ngu xuẩn, vô nghĩa của mình!”

“Ta không cứu được cả thiên hạ, Lục chấp sự,” Tạ Vô Danh ngẩng đầu, nhìn thẳng vào đôi mắt đang hằn lên những tia máu của y. Từng câu từng chữ của chàng thốt ra rành rọt, đanh thép như mũi giáo đâm thẳng vào tim đen đối phương: “Nhưng ta biết một điều chắc chắn: người ta không bao giờ có thể no bụng bằng những lời dối trá viết trên những tờ giấy lộn dát vàng. Ngài luôn miệng nói ngài tạo ra trật tự để người nghèo có cơm ăn, nhưng Trần Hữu Sổ chết đói chết rét ngay trên đống sổ sách gian lận của ngài; Lý Đại Hữu bị người của ngài dùng dây thừng siết cổ chết tươi chỉ để ngài cướp lấy quyền quản lý bến tàu; gia đình Lương Đức cùng đường suýt nữa phải bán đứa con gái mười hai tuổi vào lầu xanh để trả cái gọi là phí bình ổn thứ hạng võ lâm cho các ngài. Ngài chưa từng nuôi sống họ lấy một ngày. Ngài chỉ đang bẻ gãy hai chân của họ, rồi bắt họ bỏ tiền ra mua lại đôi nạng gỗ mục với giá cắt cổ mà thôi.”

Lục Trọng Tín đứng phắt dậy khỏi sập gụ. Tà áo gấm thêu vân mây của y giật mạnh, cuốn theo một luồng gió làm chao đảo ngọn lửa trên các cây nến sáp ong. Trong đáy mắt y, sự điềm đạm giả tạo hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại tia sát khí sắc lạnh như thép nguội, lớp mặt nạ ngụy trang của một nhà cải cách xã hội sụp đổ tan tành:

“Ngươi nghĩ ngươi còn đường lùi để làm anh hùng sao? Đoàn thuyền Khâm sai của Nguyễn Minh Luật sáng mai mới chính thức cập bến sông kinh kỳ. Ngươi nghĩ ngươi và hai kẻ tàn tạ kia có thể giữ được đống sổ sách giấy tờ đó sống sót qua đêm mưa gió này? Kỷ Song đã sẵn sàng dưới khoang chiếc thuyền buôn ba tầng đáy tại âu thuyền Đài Bách Thắng. Hắn chỉ chờ hiệu lệnh duy nhất của ta để rời bến nhổ neo vào rạng sáng mai, mang theo toàn bộ ngân lượng dự trữ và vàng khối gom góp xuôi dòng về phương nam. Đến lúc đó, trên công đường của quan Khâm sai chỉ còn lại một đống nợ nần hoang tàn không ai chi trả, và chính các ngươi sẽ là những kẻ tội đồ bức tử nền kinh tế của cả cái phủ Vọng Giang này! Ngươi dám bước chân ra khỏi cánh cửa này để trở thành kẻ thù truyền kiếp của toàn bộ thành phố này sao?”

Tạ Vô Danh không đáp lại lấy nửa lời. Chàng đưa bàn tay trái ra sau lưng, ngón tay khẽ gõ nhẹ vào chuôi kiếm cũ kỹ đã sờn rách lớp vải quấn, phát ra một tiếng ‘cạch’ khô khốc. Chàng xoay người, dứt khoát sải những bước chân vững chãi bước thẳng về phía cầu thang gỗ dẫn xuống tầng trệt.

“Tạ Vô Danh!”

Tiếng Lục Trọng Tín gầm lên giận dữ phía sau lưng chàng, lần đầu tiên trong suốt buổi hội kiến, giọng y hoàn toàn mất đi vẻ lịch thiệp, tao nhã thường nhật:

“Ngươi sẽ phải hối hận! Cả đời này ngươi sẽ phải hối hận vì sự ngu xuẩn của mình!”

Tạ Vô Danh không buồn ngoái đầu nhìn lại lấy một lần. Bước chân chàng đều đặn, lạnh lùng dẫm lên từng bậc thang gỗ tếch bóng loáng, đi thẳng xuống sảnh tầng trệt. Chàng thản nhiên bước qua ánh mắt kinh ngạc lẫn e dè của đám môn đồ áo lam đang đứng ken dày hai bên lối đi, rồi đẩy cánh cửa lớn, hòa mình vào màn mưa giông đang trút nước xối xả giữa bóng đêm mịt mùng của Vọng Giang.

***

Miếu Kiếm Gãy trong đêm mưa dột nát thảm hại hơn thường lệ muôn phần.

Gió thu mang theo hơi nước lạnh buốt rít từng hồi qua những mảng tường gạch nứt toác, thổi bạt ngọn nến mù u leo lét đang cắm chông chênh trên một mảnh ngói vỡ. Nước mưa từ những lỗ thủng loang lổ trên mái ngói rêu phong rơi tong tòng xuống nền đất ẩm ướt, dội vào những chiếc chậu sành mẻ, bát vỡ được đặt rải rác quanh bệ thờ hoang phế, tạo nên những âm thanh lộp độp, rời rạc và thê lương.

Đỗ Thanh đang ngồi xếp bằng bên chiếc bàn gỗ mục kê sát góc tường khô ráo nhất. Gương mặt thanh tú của nàng nhợt nhạt vì mệt mỏi, nhưng đôi mắt vẫn tập trung cao độ. Dưới ánh sáng chập chờn của ngọn nến, nàng cẩn thận dùng một thanh dao con cạo từng mẩu sáp ong vàng, hơ trên ngọn lửa cho chảy mềm ra, rồi tỉ mẩn miết kín từng khe hở quanh miệng những chiếc ống đồng dài bằng gang tay—nơi cất giấu toàn bộ các bản cung khai có điểm chỉ máu và tập chứng từ kế toán gian lận lấy được từ kho ngầm của Danh Kiếm Hội.

Ngay bên cạnh nàng, Bùi Bát Quái đi đi lại lại như kiến bò trên miệng chảo nóng. Chiếc áo dài bằng vải thô màu nâu của gã đã sờn rách ở gấu, hai bàn tay mập mạp bồn chồn vò đầu bứt tai đến rối bù cả tóc, mặt mũi tái mét cắt không còn giọt máu:

“Trời đất quỷ thần ơi, giờ này mà Tạ huynh đệ vẫn chưa thấy tăm hơi đâu... Lục Trọng Tín là con cáo già đội lốt người, lầu Danh Kiếm có khác gì hang cọp đầm rồng đâu cơ chứ? Nhỡ đâu hắn cho người phục kích sau lưng rèm, hạ độc trong chén trà, rồi ném xác xuống sông Vọng Giang thì sao? Có khi nào chúng ta phải bỏ của chạy lấy người ngay đêm nay không?”

“Ngươi câm miệng lại và ngồi yên một chỗ đi,” Đỗ Thanh khẽ gắt, tay vẫn không ngừng miết chặt lớp sáp ong quanh ống đồng thứ ba. “Tạ Vô Danh mạng lớn, không dễ chết trong tay một tên thương nhân như Lục Trọng Tín đâu. Nếu hắn muốn giết huynh ấy, hắn đã không tốn công cho gia nhân chặn đường đưa thiếp mời.”

“Nhưng mà...”

Bùi Bát Quái chưa kịp dứt lời thì bên ngoài sân miếu, tiếng bước chân ướt sũng dẫm lên những phiến đá phủ đầy rêu phong bỗng vang lên, bì bõm và chậm rãi.

Cả hai người trong miếu đồng loạt giật mình, toàn thân căng cứng như dây đàn.

Đỗ Thanh lập tức chụp vội lấy thanh kéo thép dài chuyên dùng để giải phẫu tử thi đặt bên mép bàn, mũi kéo sắc nhọn chĩa thẳng ra phía cửa. Còn Bùi Bát Quái thì nhảy dựng lên như bị ong chích, lủi tọt ra nấp sau lưng pho tượng Phật bằng đá đã bị sứt mất nửa vành tai, hai mắt lấm lét nhìn qua khe nứt.

Màn mưa ngoài cửa miếu rẽ ra, bóng dáng gầy guộc, ướt sũng nước của Tạ Vô Danh lặng lẽ hiện ra nơi khung cửa gỗ xiêu vẹo. Nước mưa chảy ròng ròng từ mái tóc bết bát xuống gò má hốc hác của chàng.

Thấy rõ người bước vào, Đỗ Thanh mới buông thõng bờ vai căng thẳng, thở phào một hơi dài run rẩy. Nàng vội vã buông thanh kéo thép xuống bàn, chạy nhanh tới đỡ lấy cánh tay trái của chàng, kéo chàng lại gần đống lửa nhỏ đang cháy le lói giữa lòng miếu:

“Huynh có sao không? Hắn có mai phục người ám toán không? Vết thương ở cổ tay thế nào rồi, có bị động gân không?”

Tạ Vô Danh ngồi thụp xuống bậu cửa đá ẩm ướt cạnh đống lửa, tháo chiếc nón mê rách nát đầy những lỗ thủng vứt sang một bên góc miếu. Chàng đưa bàn tay trái lạnh ngắt như băng hơ lên ngọn lửa bập bùng, chậm rãi lắc đầu:

“Hắn không động thủ. Hắn mời ta uống rượu hoa cúc, rồi đặt lên bàn một bản khế ước trị giá một ngàn lượng bạc trắng mỗi năm.”

Bùi Bát Quái từ sau pho tượng Phật sứt tai thò đầu ra, hai con mắt ti hí trợn trừng tròn xoe như hai đồng tiền kẽm:

“Cái... Cái gì cơ? M... Một ngàn lượng bạc? Lại còn là mỗi năm một ngàn lượng? Lục Trọng Tín hắn phát điên rồi sao? Hắn bảo ngươi phải làm những chuyện tán tận lương tâm gì? Hắn thuê ngươi đi ám sát quan Khâm sai Nguyễn Minh Luật à?”

“Không,” Tạ Vô Danh cất giọng khàn khàn, mệt mỏi tựa lưng vào cột miếu.

Chàng không giấu giếm bất kỳ chi tiết nào, bắt đầu kể lại rành rọt, tỉ mỉ từng lời mà Lục Trọng Tín đã nói trên căn phòng thượng hạng tầng ba Danh Kiếm Lâu. Từ những lý lẽ đanh thép về “ổn định trật tự thị trường”, chuyện “chén cơm manh áo của mười vạn con người”, cho đến lời hứa hẹn phong danh hiệu ‘Đệ Nhất Kiếm Ngoại Thành’ cùng quyền hạn tối cao kiểm soát hai vạn lượng bạc của Quỹ Cứu Trợ Võ Quán Bần Hàn.

Chàng kể lại bằng giọng điệu phẳng lặng, không thêm bớt một lời. Và rồi, chàng dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào hai người bạn đồng hành của mình, thốt ra một câu nói khiến toàn bộ gian miếu đổ nát chìm vào sự im lặng tuyệt đối:

“Lúc hắn đặt vò rượu hoa cúc xuống và đưa cây bút son trước mặt ta... ta đã thực sự dao động. Dao động rất nhiều.”

Bùi Bát Quái há hốc mồm kinh ngạc, cổ họng gã nghẹn lại, phải mất vài nhịp mới nuốt ực một ngụm nước bọt:

“Ngươi... Ngươi mà cũng dao động thật sao Tạ huynh?”

“Phải,” Tạ Vô Danh nhìn trân trân vào những đốm than hồng đang nổ lách tách trong đống lửa, giọng nói chàng trầm xuống, mang theo một sự trần trụi và chân thật đến xót lòng: “Một ngàn lượng bạc trắng mỗi năm. Số tiền đó quá lớn. Nó đủ để ta đến tiệm cầm đồ chuộc lại thanh kiếm cũ của ân sư đã mất; đủ để ta trả dứt điểm món nợ hai trăm đồng tiền kẽm cho bà cụ giữ miếu; đủ để ta mua một căn nhà ngói ấm áp, vững chãi, không bao giờ phải chịu cảnh dột nát lạnh buốt mỗi khi trời đổ mưa giông; và có thừa bạc để mời những danh y giỏi nhất kinh kỳ về châm cứu, chạy chữa cho dải gân tay phải này. Hắn lại còn bảo ta sẽ được đứng tên quản lý quỹ cứu tế hai vạn lượng, có thể danh chính ngôn thuận đem bạc đi phát cho những võ sư nghèo đói cùng cảnh ngộ. Thử hỏi trên đời này, có kẻ phàm phu nào lại không muốn làm một vị anh hùng vừa có tiền rừng bạc biển, vừa có danh thơm muôn thuở, lại vừa được thiên hạ ca tụng đội ơn?”

Đỗ Thanh ngồi quỳ bên cạnh đống lửa, đôi mắt sáng trong veo của nàng nhìn sâu vào gương mặt phong trần, mệt mỏi nhưng lại vô cùng thanh thản của chàng. Nàng khẽ cất tiếng hỏi, giọng dịu dàng như làn gió đêm:

“Vậy rốt cuộc, điều gì đã khiến huynh quay lưng bước về lại căn miếu lạnh lẽo này?”

Tạ Vô Danh khẽ nhếch khóe môi, một nụ cười thoáng hiện nét tự giễu quen thuộc từng hằn sâu trên gương mặt chàng qua bao năm tháng gió bụi giang hồ:

“Vì ta đã đọc đến tận trang cuối cùng của bản giao kèo. Từng con chữ li ti giấu dưới đáy giấy đều nói rõ rằng: ta chỉ được phép phát tiền cho những kẻ mà chính tay Lục Trọng Tín gật đầu ưng thuận. Và nếu ta dám hé răng nửa lời tiết lộ sự thật về cái chết của Trần Hữu Sổ hay những trò gian lận ở Đài Bách Thắng, ta sẽ ngay lập tức gánh một món nợ một vạn lượng bạc trắng cùng bản án lưu đày biệt xứ ngàn dặm. Hắn không hề bỏ tiền ra mua thanh kiếm của ta để đi cứu giúp người nghèo. Hắn chỉ muốn mua chuộc ta về làm một con chó giữ cổng mới toanh, dùng chính cái danh xưng một kẻ nghèo hèn liêm chính của ta để tiếp tục lừa mị, bóc lột những kẻ nghèo khổ khác, ép họ cúc cung cống nạp máu tủy cho hắn đến chết.”

Chàng ngửa đầu ra sau, tựa hẳn vào thân cột gỗ lim mục nát của ngôi miếu cổ, khép hờ hai mi mắt lại:

“Ta nghèo thật, cả đời này ta chưa từng thấy nhiều bạc trắng đến thế. Nhưng ta biết rất rõ cái gì có thể nuốt vào bụng để sống, và cái gì nuốt vào sẽ làm thối rữa toàn bộ ruột gan, biến ta thành một đống bùn nhơ nhục nhã.”

Bùi Bát Quái nghe xong những lời ruột gan ấy, ngây người ra một lúc lâu. Gã thở hắt ra một tiếng đánh thượt, hai vai buông thõng, ngồi phịch mông xuống đống rơm khô lót cạnh vách tường:

“Mẹ kiếp... một ngàn lượng bạc trắng ròng rã mỗi năm, thế là bay vèo qua cửa sổ theo làn gió thu. Nhưng mà... ngươi làm đúng đấy, Tạ đại hiệp. Nếu đêm nay ngươi hạ bút ký vào cái thứ giấy da cừu quỷ quái đó, thì sau này quán trà nhỏ của họ Bùi ta dù có mở lại được giữa phố lớn, ta cũng chẳng còn mặt mũi nào mà nhìn thẳng vào mắt ngươi nữa.”

Bỗng nhiên, như bị một tia sét xẹt ngang qua đầu, Bùi Bát Quái vỗ đùi đánh ‘bốp’ một cái, vội vã thò tay vào trong túi áo ngực lôi ra một mảnh giấy bồ câu nhỏ xíu đã bị nước mưa làm ướt nhòe một góc:

“À suýt nữa thì quên khuấy mất việc hệ trọng! Vừa nãy, ngay trước khi ngươi trở về chừng nửa khắc, chim bồ câu đưa tin của một mối làm ăn cũ của ta dưới bến tàu vừa bay tới. Tạ huynh, Lục Trọng Tín con cáo già đó không hề nói dối để dọa ngươi đâu! Một chuyến thuyền buôn ba tầng đáy mang số hiệu ‘Hải Yến’ vừa bí mật nộp lệnh xin xuất bến hỏa tốc tại khu vực âu thuyền kín của Đài Bách Thắng. Tay chân của Kỷ Song đang hối hả bốc dỡ hàng chục chiếc hòm gỗ nặng bọc da trâu, niêm phong bằng đai sắt xuống khoang ngầm ngay trong đêm mưa này. Bọn họ dự kiến đúng vào giờ Dần rạng sáng mai sẽ nhổ neo, vượt qua ghềnh đá hiểm trở để xuôi thẳng ra biển lớn!”

Đỗ Thanh lập tức đứng bật dậy khỏi bàn gỗ. Đôi lông mày thanh tú của nàng nhíu chặt lại, sắc mặt trở nên vô cùng nghiêm trọng:

“Kỷ Song đang ở ngay trên chiếc thuyền đó! Toàn bộ số bạc mặt, vàng thỏi và châu báu gom góp từ tiền cống nạp của các võ quán, cùng tiền bán vé cá cược của người dân trong suốt những tháng qua đều được chất đầy dưới khoang ngầm chiếc thuyền ‘Hải Yến’! Nếu chúng ta để chiếc thuyền đó thuận lợi rời bến trước khi trời sáng, Lục Trọng Tín ở lại kinh kỳ sẽ đổ sạch mọi tội lỗi giết người, tham ô và gian lận lên đầu Kỷ Song. Hắn sẽ ung dung phủi tay biến mất cùng khối tài sản khổng lồ, bỏ lại một mớ nợ nần hoang tàn, phá sản cho toàn bộ người dân nghèo cùng các môn phái ở thành phố này tự cắn xé lẫn nhau gánh chịu!”

Tạ Vô Danh chậm rãi mở mắt ra.

Trong bóng tối nhập nhoạng của ngôi miếu Kiếm Gãy hoang tàn, đôi mắt chàng không còn chút mệt mỏi hay dao động nào nữa. Chúng sáng quắc, lạnh lùng và sắc bén như hai lưỡi thép nguội vừa được tuốt phăng ra khỏi vỏ bao.

Chàng khẽ cúi người xuống, đưa bàn tay trái chai sần luồn sâu vào trong ống ủng da rách nát bên chân trái. Những ngón tay chàng siết chặt lấy quai gỗ của thanh đoản đao mỏng manh nhưng bén ngọt, cảm nhận từng đường vân gỗ lạnh lẽo đang áp sát vào da thịt mình.

Bọn họ đã cố công mang đến cho chàng một chiếc vương miện lộng lẫy đúc bằng vàng ròng, với một điều kiện duy nhất: chàng phải dùng chính chiếc vương miện sáng chói ấy để bịt chặt miệng những kẻ đã chết oan uổng dưới đáy sông sâu.

Thế nhưng, những kẻ ngồi trên nhung lụa ở Danh Kiếm Lâu đã tính toán sai mất một điều cốt tử: kẻ mang thanh kiếm rách nát phiêu bạt chốn giang hồ này, từ lúc sinh ra cho đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay, chưa từng bao giờ cần đến một chiếc vương miện của phường buôn máu.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories