Giang Hồ Hết Cứu: Một Kiếm, Ba Cú LừaCh.24 / 30
Chapter 24

Sự Thật Đến Nơi, Người Nghe Chưa Sẵn Sàng

Tiếng la ó dập dồn như sóng vỗ bờ đá bắt đầu cào xé màn sương đục ngầu từ lúc tiếng chuông đầu tiên của chùa Linh Hựu trên sườn núi phía tây còn chưa kịp tan. Trước nha môn Vọng Giang, mùi mồ hôi chua lòm của hàng trăm con người chen lấn, xô đẩy nhau bốc lên nồng nặc trong không khí ẩm ướt, quyện chặt với mùi bùn non sông Cái vừa dâng theo con nước ròng đêm qua.

Mặt trời còn bị giam hãm sau những tầng mây xám xịt giăng ngang rặng mù bến sông. Khoảng sân rộng mênh mông lát đá xanh Thanh Hóa phía trước hàng rào gỗ nghiến của phủ đường vốn dĩ chỉ dành cho lính lệ bồng giáo thị uy mỗi kỳ công đường thiết triều, nay chật ních người đến nỗi một hạt kê rớt xuống cũng chẳng thể chạm mặt đất. Nhưng đây tuyệt nhiên không phải là một đám đông cuồng nộ kéo đến để gầm thét đòi công lý. Không có lấy một mảnh biểu ngữ tang trắng, chẳng có những tiếng gào khóc ai oán đòi mạng cho người chép sổ khốn khổ Trần Hữu Sổ, và cũng chẳng một ai buồn nhắc đến cái tên của người ngư dân Lý Đại Hữu đã vùi xác dưới đáy sông sâu ba năm trước.

Trái lại, thứ âm thanh đang rền rĩ như đàn ong vỡ tổ trước cánh cổng gỗ lim đóng chặt, cài then sắt nặng hàng trăm cân, là những chuỗi âm thanh van vỉ thê thiết, những tiếng đấm ngực bành bạch và nỗi hoảng loạn trần trụi của những kẻ bỗng nhiên thức giấc thấy nồi cơm, manh áo của cả gia đình mình sắp sửa bị hất tung xuống bùn lầy.

Tất cả bắt đầu bùng nổ chỉ vỏn vẹn hai canh giờ sau khi bản tin mang dấu mộc tròn đỏ chót bằng mực chu sa mang dòng chữ “ĐÃ ĐỐI CHIẾU” của Phường Tin Bến Chợ được đám trẻ mồ côi rải như bươm bướm khắp các hang cùng ngõ hẻm. Từng nét chữ sắc lẹm ghi lại bản tự thú rành rọt của Vệ Thiên Kiêu, từng mảnh trích lục mật lệnh mang dấu ấn lửa vàng của Lục Trọng Tín đã giáng một đòn chí mạng, đánh vỡ tan cái vỏ bọc hào nhoáng và kiêu hãnh của Bảng Danh Kiếm bấy lâu nay. Nhưng giang hồ này chưa bao giờ vận hành bằng thứ lòng tự trọng viển vông được chép trong các pho sách kiếm hiệp; giang hồ ở bến sông Vọng Giang từ ngàn đời nay vốn thở bằng bạc nén, sống bằng dòng tiền mặt luân chuyển qua từng ngày từng giờ.

Khi cái tin quan phủ đang chuẩn bị ban hành lệnh niêm phong toàn diện để mở cuộc đại điều tra đối với Bảng Danh Kiếm vừa rò rỉ qua các bức vách của nha môn, phản ứng đầu tiên của giới thương nhân giàu có không phải là sự phẫn nộ trước trò lừa đảo thế kỷ, mà là một cuộc tháo chạy hoảng loạn chưa từng thấy. Hơn hai mươi nhà buôn tơ lụa vùng cửa sông, các phường buôn trà dược Phúc Kiến và những chủ lò rèn đại quy mô lớn nhất phủ Vọng Giang đã lập tức sai gia nhân, quản sự mang theo tráp gỗ rầm rập kéo đến trụ sở lộng lẫy của Danh Kiếm Lâu. Họ không đến để chất vấn đạo đức hay danh dự của giới kiếm khách; họ đến để đập bàn đòi rút lại toàn bộ số ngân lượng tài trợ niên khóa đã trót ký gửi theo các khế ước thương mại dài hạn.

Và ngay tức khắc, một hiệu ứng sụp đổ mang tính hủy diệt ập xuống những mắt xích yếu ớt nhất của chuỗi dây chuyền: các võ quán hạng ba, hạng tư nằm rải rác khắp các khu ngoại vi.

Suốt nhiều năm qua, hàng chục võ quán nhỏ bé này sống sót, phình to và nuôi béo những ông võ sư bụng phệ hoàn toàn nhờ vào nguồn học phí đóng trước cả năm trời của hàng ngàn võ sinh từ khắp các châu lân cận đổ về. Người ta cắn răng bán trâu, cầm đất cho con em theo học kiếm pháp ở đây không phải vì những bài quyền cước thực chiến, mà chỉ vì một tấm biển gỗ mạ vàng treo lủng lẳng trước cổng viện: “Võ quán bảo chứng bởi Danh Kiếm Hội”. Tấm biển đó là tấm vé thông hành để một đứa trẻ con nhà nghèo có cơ hội lọt mắt xanh các đội tuyển chọn của tiêu cục lớn, hoặc ít nhất cũng có thể khoe khoang một danh vị kiếm khách có số má trong thiên hạ.

Nay cái mác bảo chứng danh giá ấy bỗng chốc trở thành bằng chứng của một trò bịp bợm. Từ tờ mờ sáng, hàng trăm phụ huynh mặt mày tái mét, dắt díu con em mình kéo đến bao vây kín mít các võ quán, đập cửa rầm rầm đòi lại tiền cọc và học phí. Nhưng các võ quán lấy đâu ra bạc mặt để hoàn trả? Phần lớn số tiền mồ hôi nước mắt của các gia đình nghèo ấy đã bị các chủ võ quán đem đi cung phụng, nộp thành những khoản “phí bình ổn thứ hạng” ngầm định kỳ cho các tay chân của Lục Trọng Tín để giữ chân cho đệ tử trên bảng xếp hạng. Không có tiền mặt dự trữ trong rương, trước sự bao vây gắt gao của đám đông căm phẫn, hàng loạt viện chủ, viện phó đã chọn cách dập tắt đèn nến, khóa chặt cửa trước rồi nửa đêm trèo tường phía sau, gùi theo chút tư trang ít ỏi tháo chạy trốn nợ trong bóng tối.

Hiệu ứng sụp đổ dây chuyền ấy không dừng lại ở những kẻ mang danh võ biền. Nó lao thẳng xuống, nghiền nát tầng lớp bần hàn dưới đáy cùng của xã hội Vọng Giang.

“Quan lớn ơi! Xin trời cao có mắt, xin quan lớn mở lượng từ bi xót thương lấy chúng con!”

Một bà lão lưng còng rạp xuống như một chiếc đòn gánh gãy, hai bàn tay gầy guộc chằng chịt những vết nứt nẻ vì sương gió đang run rẩy bưng chiếc mẹt tre đựng đầy những chiếc bánh bao trắng đã nguội ngắt, quỳ phục ngay trên bậc thềm đá Thanh Hóa lạnh ngắt của nha môn. Nước mắt cùng nước mũi giàn giụa chảy dọc theo những nếp nhăn sâu hoắm trên khuôn mặt sạm đen vì nắng cháy:

“Cả cái nhà lão ba đời nay chỉ biết bám vào chân Đài Bách Thắng mà sống qua ngày. Cứ mỗi ngày có hội đấu đài, người từ khắp nơi đổ về chen chúc, lão cũng bán dạo được năm trăm cái bánh bao chay lẫn mặn, chắt bóp từng đồng tiền kẽm để nuôi bốn miệng ăn trong cái túp lều rách nát. Nay nghe người ta đồn quan phủ định niêm phong võ đài, bắt bỏ bảng kiếm, dẹp hết hội hè... Trời đất ơi, thế thì từ sáng mai, lũ cháu nhỏ dại nhà lão phải húp cháo hoa hay bốc đất mà ăn đây?”

Ngay phía sau bà lão, hàng chục người thợ mộc của các xưởng dựng giàn giáo gỗ, bàn tay còn vương đầy dăm bào và vết chai sần, tay vẫn lăm lăm cầm cưa cầm đục, cùng hàng trăm phu khuân vác bến tàu mình trần trùng trục, áo quần rách tơi tả như xơ mướp, đang chen lấn gào thét đến lạc cả giọng. Ánh mắt họ vằn lên những tia máu đỏ lòm vì lo sợ cho sinh mạng của gia đình mình. Họ đâu có rảnh rỗi để bận tâm xem Vệ Thiên Kiêu có dùng sợi dây cáp tơ tằm vô hình để giở trò ma mãnh hay không. Họ cũng chẳng buồn để tâm đến chuyện Kỷ Song đã dùng dây thép gai siết cổ ai trong những đêm đen u ám.

Điều duy nhất tồn tại trong bộ óc mộc mạc và chiếc dạ dày trống rỗng của họ lúc này là: Nếu không còn những trận đấu hoành tráng làm chấn động giang hồ, nếu không có đám công tử nhà giàu, khách thương buôn lớn từ kinh kỳ nườm nượp kéo về thuê phòng trọ, uống rượu ngon, xem đả lôi đài, thì những đoàn thuyền chở gỗ nghiến từ thượng nguồn sẽ không cập bến. Hàng hóa tơ lụa, rượu thịt sẽ chẳng ai tiêu thụ. Bến sông sẽ quạnh quẽ như tha ma, và bát cơm chan chút mắm mặn chát của những kẻ phu khuân vác sẽ ngay lập tức biến thành hư vô.

“Dừng tay điều tra lại đi!”

“Bắt một đứa kiếm khách nghèo thì no bụng được ai? Đập vỡ cái lôi đài Bách Thắng là đập vỡ nồi cơm của cả cái phủ Vọng Giang này rồi!”

“Xin tri phủ đại nhân khai ân! Cho Bảng Danh Kiếm mở lại đi! Cho đài đấu hoạt động trở lại đi!”

Tiếng la hét, tiếng gào thét thất thanh hòa cùng tiếng dộng những chiếc đòn gánh, cán cưa vào then cửa gỗ lim tạo nên một thứ âm thanh đục ngầu, cuồng loạn và bức bối đến nghẹt thở. Ngay tại góc sân công đường—nơi mà chỉ mới đêm qua người ta còn ngỡ rằng ngọn cờ của công lý và sự thật sắp sửa được giương cao khải hoàn—giờ đây lại đang bị vây hãm, chửi rủa bởi chính những con người khốn khổ mà thứ công lý ấy trên danh nghĩa đang tìm cách chở che.

***

Bên trong phòng nghị sự hậu đường của phủ nha, bầu không khí thậm chí còn ngột ngạt và u ám hơn ngoài cổng gắp mười lần. Những ngọn nến sáp ong thắp vội trên giá đồng cháy bập bùng, tỏa ra mùi khói hăng hắc không xua nổi cái lạnh thấu xương của buổi sớm ẩm mốc.

Tống Kim Chương, chủ Hiệu bạc Đồng Tín lừng lẫy, dù trên danh nghĩa vẫn đang phải chịu lệnh quản thúc nghiêm ngặt tại gia chờ ngày định tội, nhưng ngay từ canh năm sáng nay đã khẩn cấp sai người đập cửa sau nha môn xin vào diện kiến. Bộ y phục bằng lụa vân xám đắt tiền bậc nhất đất Giang Nam của lão giờ đây nhăn nhúm, vương vãi những tàn thuốc lá và bụi bặm. Đôi mắt lão thâm quầng như mắt gấu trúc, hai tròng mắt đỏ ngầu lộ rõ dấu vết của một đêm dài hoàn toàn thức trắng trong kinh hoàng.

Trên chiếc bàn tròn bằng gỗ lim bóng loáng trước mặt Tri phủ Phạm Duy Liêm, Tống Kim Chương không hề quỳ mọp van xin tha mạng như cái dáng vẻ run rẩy của một kẻ phạm tội hôm trước. Lão run rẩy nhưng dứt khoát trải rộng ra một tấm biểu đồ lớn vẽ trên giấy tuyên bản dày, chằng chịt những con số chi chít viết bằng cả mực đen lẫn mực đỏ—bảng cân đối toàn bộ dòng tiền và công nợ đang lưu hành của hệ thống tài chính phủ Vọng Giang.

“Tri phủ đại nhân...” Giọng Tống Kim Chương khản đặc, the thé như tiếng kim loại rỉ sét cọ vào nhau. Những ngón tay đeo đầy nhẫn ngọc bích của lão run lên bần bật, gõ cồm cộp xuống mặt giấy vẽ chi chít những ô vuông và mũi tên. “Ngài hãy mở to mắt ra mà nhìn vào những con số này đi! Đây tuyệt đối không còn là chuyện mất còn của riêng một cái mạng già thảo dân, hay cái ghế hội chủ của Lục Trọng Tín nữa rồi!”

Phạm Duy Liêm ngồi tựa lưng vào chiếc ghế bành bọc gấm, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trước ngực. Vầng trán của vị phụ mẫu chi dân hằn sâu những nếp nhăn u uất, hai bên thái dương giật giật liên hồi theo từng tiếng gầm rú vọng vào từ ngoài sân. Chiếc mũ cánh chuồn biểu trưng cho uy quyền triều đình bị quan tri phủ tháo ra, đặt nằm lệch một bên góc bàn như một món đồ phế thải.

“Nói thẳng vào việc chính! Đừng có giở giọng hù dọa bản phủ!” Phạm Duy Liêm gắt gỏng, thanh âm trầm đục lộ rõ sự kiệt quệ cả về thể xác lẫn tinh thần.

“Bảng Danh Kiếm không đơn thuần là một cái bảng gỗ khắc tên vinh danh mấy trò mèo cào của lũ võ biền!” Tống Kim Chương nuốt khan một ngụm nước bọt đặc quánh, cố kìm nén cơn run rẩy đang chạy dọc sống lưng, giọng lão trở nên sắc lẹm, lạnh lùng đến tàn nhẫn. “Suốt năm năm trời qua, dưới bàn tay sắp đặt của Lục Trọng Tín và sự ngầm thừa nhận của chính nha môn này, cái bảng xếp hạng ấy chính là tài sản bảo đảm duy nhất, là thước đo giá trị cho toàn bộ hệ thống tín dụng của Hiệu bạc Đồng Tín chúng tôi!”

Lão chủ hiệu bạc chồm hẳn người về phía trước, hơi thở hôi hám phả ra bàn trà:

“Hơn bốn mươi tiêu cục lớn nhỏ vay hàng vạn lượng bạc của Đồng Tín để đóng thuyền mới, tậu ngựa chiến, thuê mướn nhân thủ... họ thế chấp bằng cái gì? Bằng thứ hạng của các kiếm khách mà họ bảo trợ trên Bảng Danh Kiếm! Sáu mươi võ quán vay bạc mở rộng võ đường, mua sắm binh khí, họ thế chấp bằng các hợp đồng ăn chia tài trợ trong tương lai dựa trên danh tiếng bảng đấu! Ba mươi thương điếm lớn nhất bến sông này nhập khẩu hàng nghìn súc gỗ quý từ thượng nguồn, xuất kho vạn thước lụa màu điều để cung ứng cho việc trang hoàng lôi đài Bách Thắng... tất cả những khế ước nợ ấy đều dùng sợi dây ràng buộc với Danh Kiếm Hội làm chứng thực!”

Lão đưa ngón tay trỏ run rẩy, ấn mạnh vào một con số tổng kết được khoanh tròn bằng mực chu sa đỏ chót nằm sừng sững ở góc dưới cùng của tờ giấy:

“Tổng dư nợ tín dụng đang lưu hành trên giấy tờ hiện nay là mười tám vạn lượng bạc trắng! Mười tám vạn lượng! Ngài có hiểu con số này nặng đến mức nào không? Sáng nay, khi tin tức Vệ Thiên Kiêu giở trò bịp bợm và quan phủ sắp ra lệnh đình chỉ Bảng Danh Kiếm vừa lọt ra ngoài, người gửi bạc đã rồng rắn xếp hàng dài suốt ba con phố trước cửa chính của hiệu bạc chúng tôi để đòi rút bạc mặt! Đồng Tín lấy đâu ra mười tám vạn lượng tiền mặt để ném ra giữa đường trong một buổi sáng? Tiền của họ ném vào đây đã hóa thành gỗ đóng thuyền của tiêu cục, đã trát vào tường vôi của các võ quán, đã đóng thành đinh sắt trên giàn giáo của Đài Bách Thắng rồi!”

Tống Kim Chương thở hổn hển, lồng ngực phập phồng dữ dội, đôi mắt đỏ ngầu gườm gườm nhìn thẳng vào vị quan tri phủ đang ngồi chết lặng:

“Nếu hôm nay đại nhân đem toàn bộ cái mớ sự thật công lý của ngài phơi bày ra trước bàn dân thiên hạ, nếu ngài dán cáo thị tuyên bố ba mươi mốt trận toàn thắng kia là một trò lừa bịp và xóa sổ vĩnh viễn Bảng Danh Kiếm... thì toàn bộ những khế ước thế chấp kia sẽ lập tức biến thành một đống giấy vụn không hơn không kém! Toàn bộ mười tám vạn lượng nợ kia sẽ đồng loạt biến thành nợ chết! Hiệu bạc Đồng Tín sẽ tuyên bố vỡ nợ ngay khi tiếng chuông giờ Ngọ điểm!”

Lão chủ hiệu bạc hạ giọng xuống, từng lời từng chữ thốt ra lúc này chẳng khác nào những nhát dao cùn cưa nghiến vào màng nhĩ của Phạm Duy Liêm:

“Đồng Tín sụp đổ, bốn mươi tiêu cục phá sản trong chớp mắt, hàng hóa ứ nghẹn thối rữa tại các kho bến, hàng ngàn chủ nợ nhỏ lẻ sẽ phát điên xông vào cướp bóc, đập phá các thương trường. Toàn bộ huyết mạch lưu thông tiền tệ của cái đất Vọng Giang này sẽ chết đứng hoàn toàn! Đại nhân muốn bắt Lục Trọng Tín ư? Dễ lắm! Một tờ trát đỏ, vài chục tay sai nha bồng đao ập vào là trói gô cổ hắn lại được ngay. Nhưng sau khi gông cổ hắn rồi, ai sẽ là người móc trong túi ra mười tám vạn lượng bạc trắng để trả lại cho dân chúng ngoài kia? Tri phủ đại nhân định lấy ngân khố còm cõi của nha môn ra đền, hay ngài định để cho hơn một vạn con người bị dồn vào đường cùng nổi loạn, san phẳng cái phủ đường này trước khi thuyền của Khâm sai đại thần kịp cập bến?”

Phạm Duy Liêm nhắm nghiền hai mắt lại. Từng giọt mồ hôi lạnh toát rỉ ra từ chân tóc, lăn dài xuống gò má xám ngoét của người đứng đầu một phủ.

Bên ngoài cửa sổ, tiếng gào thét, tiếng khóc than của đám đông dân chúng lại dội lên từng chặp, nghe ai oán và dữ dội chẳng khác nào tiếng gió rít trước cơn đại hồng thủy sắp cuốn phăng tất cả. Những lời lẽ của Tống Kim Chương nghe sao mà cay độc, tàn nhẫn, nhưng đó lại là một phép tính kinh tế lạnh lùng, trần trụi mà bất kỳ kẻ nào từng nhúng chân vào chốn quan trường đều hiểu rõ đến rợn người: Đạo đức không thể đem nấu thành cháo, và chân lý thì chẳng bao giờ thế chấp được để đổi lấy một đấu gạo nuôi thân.

***

“Két...”

Tiếng bản lề cửa ngách hậu đường rên rỉ khô khốc. Ba bóng người lặng lẽ bước qua bậu cửa vào phòng.

Đỗ Thanh đi đầu tiên. Nàng mặc bộ đồ dạ hành sẫm màu đã bạc phếch vì sương gió, hai cánh tay mảnh dẻo ôm chặt chiếc hộp sắt tây niêm phong cẩn mật—bên trong là toàn bộ biên bản giảo nghiệm tử thi các nạn nhân cùng tờ chỉ thị viết tay mang dấu ấn lửa vàng của Lục Trọng Tín mà họ vừa dùng mưu đoạt lại được từ gót giày của Hà Công Bút đêm qua.

Đi sát phía sau nàng là Tạ Vô Danh. Cánh tay phải của chàng vẫn còn được cố định chặt chẽ trong thanh nẹp bằng gỗ sồi cứng cáp, quấn chằng chịt những lớp vải gai thô dày cộp. Bàn tay trái của chàng buông thõng, những ngón tay gầy guộc chạm nhẹ vào vỏ thanh kiếm rỉ sét đeo lệch bên hông. Đi sau cùng là Bùi Bát Quái, khuôn mặt gã nhợt nhạt không còn một giọt máu, chiếc áo chẽn ngắn lấm lem bùn đất và nước cống sau một đêm dài chạy vạy khắp các chân rết tin tức của giang hồ.

Nhìn thấy sự xuất hiện của ba người, Phạm Duy Liêm khẽ giật mình như kẻ vừa bị bắt quả tang điều gì đáng hổ thẹn, nhưng ánh mắt quan tri phủ lập tức chuyển sang vẻ quẫn bách, mệt mỏi cùng cực. Ngài phất tay thật mạnh, ra hiệu cho Tống Kim Chương lập tức cút ra ngoài hành lang hậu viện, rồi đích thân nặng nề lê từng bước chân tới bên khung cửa sổ, kéo sập cánh gỗ lim lại để ngăn bớt thứ âm thanh gào khóc đang như bão dội ngoài sân.

“Các ngươi... đứng ngoài ngách cửa, chắc hẳn đã nghe thấy hết rồi chứ?” Giọng Phạm Duy Liêm trầm hẳn xuống, nghe nặng nề và đặc quánh như chì nấu chảy.

“Bẩm đại nhân, từng câu từng chữ, chúng tôi đều nghe không sót một điều gì.” Đỗ Thanh tiến thẳng tới trước bàn, dằn mạnh chiếc hộp sắt tây xuống mặt gỗ lim phát ra một tiếng “cạch” đanh gọn. Ánh mắt nàng trong veo nhưng sắc lạnh như băng tuyết trên đỉnh Ngọa Hổ: “Bên ngoài cánh cổng kia, người ta khóc lóc đòi giữ lấy gánh bánh bao, đòi giữ lấy việc bốc vác. Bên trong căn phòng này, kẻ có tội lớn tiếng đe dọa đại nhân bằng món nợ bạc mặt. Nhưng đại nhân hãy nhìn vào chiếc hộp này đi! Trong này là mạng sống bị tước đoạt tàn nhẫn của Trần Hữu Sổ, là danh dự bị vùi dập suốt ba năm ròng rã dưới mồ sâu của Lý Đại Hữu, và là toàn bộ chứng cứ vạch trần một đường dây ma quỷ đã dùng chính công quỹ của nha môn để nuôi dưỡng trò lừa đảo ô nhục này!”

“Đỗ cô nương!”

Phạm Duy Liêm gầm lên một tiếng nghẹn ngào, bàn tay đập mạnh xuống mặt bàn khiến nghiên mực nảy lên:

“Bản phủ này không mù, cũng không điếc! Bản phủ không hề phủ nhận công lao trời biển của các ngươi! Ta biết Lục Trọng Tín là một tên đại gian đại ác, tội đáng chém đầu răn đe thiên hạ! Ta biết tên thư lại Hà Công Bút là loài sâu mọt đục khoét quốc khố! Nhưng các ngươi có chịu mở mắt ra mà nhìn ra ngoài cái sân kia không? Có thấy hàng ngàn con người nghèo khổ đang chực xé xác cái nha môn này ra không?”

Vị tri phủ bước giật lùi vài bước, rồi tiến thẳng tới đứng sừng sững trước mặt Tạ Vô Danh. Đôi mắt thâm quầng của quan phụ mẫu nhìn xoáy vào gương mặt lạnh băng của người kiếm khách:

“Tạ thiếu hiệp! Bản phủ biết rõ quá khứ của ngươi. Ngươi từng vì cùng đường đói rách mà phải bấm bụng nhận mười lượng bạc bẩn thỉu để giả thua trên đài đấu, ngươi hơn ai hết phải là kẻ thấu hiểu cái giá khủng khiếp của sự bần hàn! Nếu hôm nay bản phủ thuận theo ý các ngươi, đem toàn bộ cái hộp sắt này dâng lên trước mặt Khâm sai đại thần Nguyễn Minh Luật, tuyên bố hủy bỏ Bảng Danh Kiếm, niêm phong toàn bộ sản nghiệp của Liên ước Vàng Son... thì ngay ngày mai, cả cái đất Vọng Giang này sẽ biến thành địa ngục trần gian! Hàng vạn gia đình sẽ lập tức mất đi manh áo bát cơm, hiệu bạc vỡ nợ, chợ búa đóng cửa, cướp bóc bạo loạn sẽ bùng phát như nấm sau mưa. Đó là thứ công lý mà một kiếm khách như ngươi muốn nhìn thấy sao? Đó là sự thật mà các ngươi muốn đánh đổi bằng sinh mạng của hàng vạn người sống sao?”

Bùi Bát Quái co rúm người lại sau lưng Tạ Vô Danh, nuốt nước bọt cái ực, ngập ngừng lên tiếng với vẻ mặt đưa đám:

“Đại nhân... ngài... ngài nói thế thì oan ức cho bọn thảo dân quá đỗi. Chúng ta dầm mưa dãi nắng, suýt mất mạng mấy lần cũng chỉ là để tìm ra kẻ giết người, trả lại sự trong sạch cho người chết thôi mà...”

“Nhưng kẻ giết người lúc này đang ngồi chễm chệ giữa một cái mạng nhện khổng lồ!” Phạm Duy Liêm cắt ngang lời gã buôn tin bằng một cái phẩy tay đầy cay đắng. “Cái mạng nhện ấy đã đan bện chặt chẽ vào từng bát cơm, manh áo của cả cái phủ này rồi! Rút một sợi tơ, toàn bộ cái tổ nhện sẽ sụp đổ và đè bẹp dí tất cả chúng ta dưới đống gạch vụn! Vừa rồi, bản phủ đã nhận được bồ câu đưa thư từ trạm dịch thượng nguồn. Đoàn thuyền chiến của Khâm sai Nguyễn Minh Luật đã tiến vào địa giới Vọng Giang. Nhưng đoàn thuyền chở quan khâm sai đi thuyền lớn ngược dòng, cập bến còn phải làm lễ đón tiếp, kiểm tra sổ sách công thưởng định kỳ cũng phải mất ít nhất ba ngày trời.”

Quan tri phủ hít một hơi thật sâu, ngực phập phồng sau lớp áo bào. Khi ngài cất tiếng trở lại, giọng điệu đã chuyển sang sự van nài đầy toan tính của một kẻ nắm quyền lực hành chính:

“Bản phủ yêu cầu các ngươi: Tạm thời phong tỏa tuyệt đối toàn bộ hồ sơ kết luận điều tra liên quan đến Danh Kiếm Hội và Hiệu bạc Đồng Tín! Án mạng của người chép sổ Trần Hữu Sổ sẽ tạm thời khép lại dưới danh nghĩa một vụ mâu thuẫn cá nhân, hung thủ trực tiếp là tên đào phạm Kỷ Song đang bị quan quân phát lệnh truy nã gắt gao. Toàn bộ chuyện biển thủ bạc ở Quầy Công Thưởng sẽ đổ hết lên đầu một mình tên tham lại Hà Công Bút! Hãy đợi... các ngươi hãy ráng nhẫn nhịn đợi cho kỳ thanh tra Kinh lộ này trôi qua một cách êm thấm! Đợi khi đoàn thuyền của Khâm sai nhổ neo rời đi, bản phủ sẽ âm thầm tìm cách tái cơ cấu dần dần các khoản nợ của Đồng Tín, gỡ bỏ bảng kiếm từng bước một để không làm kinh động lòng dân!”

Một sự im lặng ngột ngạt, nặng trĩu bao trùm lấy toàn bộ gian phòng hậu đường.

Đỗ Thanh đứng sững sờ. Hai bàn tay nàng siết chặt lại thành nắm đấm, những khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực quá mạnh. Nàng trừng mắt nhìn chằm chằm vào chiếc hộp sắt tây đặt trên bàn—nơi cất giữ bao nhiêu đêm thức trắng ngửi mùi tử khí nồng nặc trong kho lạnh, bao nhiêu nỗi tủi nhục cay đắng mà nàng và người cha già đã phải nuốt ngược vào trong để dũng cảm thừa nhận sai lầm trước công chúng.

“Tạm hoãn sao?” Đỗ Thanh cất tiếng, từng thanh âm thốt ra buốt giá như sương muối mùa đông cào vào da thịt. “Đại nhân bảo chúng tôi hãy đợi sóng yên biển lặng rồi mới tính tiếp. Nhưng một vị quan tri phủ như ngài lẽ nào lại ngây thơ đến mức không hiểu rằng: Sự thật một khi đã bị giấu giếm vào bóng tối một lần, thì nó sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi, không bao giờ còn cơ hội bước ra ánh sáng nữa? Ba năm trước, cha tôi—người ngỗ tác già cả đời liêm chính ấy—cũng chỉ vì tin vào một chữ ‘đợi’, tin vào lời hứa ‘ổn định đại cục’ của cấp trên mà run rẩy đặt bút ký vào tờ biên bản chết đuối giả tạo của Lý Đại Hữu! Để rồi cái giá phải trả cho sự im lặng ba năm trước là gì? Là ngày hôm nay một mạng người vô tội khác như Trần Hữu Sổ phải bỏ xác dưới tay hung thủ!”

“Đỗ Thanh! Ngươi câm miệng lại cho ta!”

Phạm Duy Liêm giận dữ quát tháo, khuôn mặt đỏ gay vì tự ái quan trường bị đụng chạm:

“Ngươi chỉ là một đứa con gái làm nghề mổ xẻ xác chết! Cả đời ngươi chỉ biết đối diện với những kẻ đã chết! Nhưng bản phủ ngồi trên chiếc ghế này, bản phủ phải chịu trách nhiệm cho mạng sống của hàng vạn con người đang sống sờ sờ ngoài kia! Ngươi muốn vì danh dự của hai cái xác chết mà bắt hàng vạn người dân vô tội phải chết đói cùng hay sao?”

Trước cơn thịnh nộ của quan tri phủ, Tạ Vô Danh nãy giờ vẫn đứng tựa lưng vào cây cột gỗ lim sẫm màu, im lìm như một pho tượng đá vô tri. Đôi mắt chàng phẳng lặng, không hề gợn lên một tia dao động nào, chỉ chăm chú dõi nhìn ra ngoài ô cửa sổ khép hờ—nơi những hạt mưa đầu mùa bắt đầu rơi lộp bộp xuống những bờ vai gầy guộc, ướt sũng của đám thợ mộc và tấm lưng còng của bà lão bán bánh bao.

Chàng hiểu. Chàng hiểu sâu sắc sự thật tàn nhẫn đang diễn ra trước mắt.

Lục Trọng Tín quả thực là một kẻ thao túng đáng sợ nhất mà giang hồ này từng sản sinh ra. Hắn không dùng gươm đao giáo mác để đối đầu với công lý, cũng chẳng thèm dùng tà thuật để chống lại cái thiện. Hắn cao tay hơn tất cả: Hắn dùng chính chén cơm manh áo của những kẻ khốn cùng nhất để làm tấm khiên che chắn cho tội ác của bản thân. Hắn không cần phải vung kiếm giết người diệt khẩu; hắn chỉ cần biến sự tồn tại nhơ bẩn của mình thành điều kiện sống còn duy nhất của toàn bộ trật tự xã hội này. Hắn là một khối u ác tính đang gặm nhấm đô thành Vọng Giang, nhưng rễ của khối u ấy đã cắm quá sâu vào từng mạch máu nuôi dưỡng thành phố; nếu dùng dao sắc phạt ngang khối u một cách vội vã, thì kẻ chết trước vì mất máu lại chính là thành phố này.

“Đại nhân.”

Rốt cuộc, Tạ Vô Danh cũng lên tiếng. Giọng chàng trầm thấp, khàn đục nhưng lại bình thản đến mức kỳ lạ giữa cơn hỗn loạn.

“Lệnh phong tỏa hồ sơ điều tra... thân phận thảo dân chúng tôi, dĩ nhiên không có tư cách cũng chẳng có quyền hành gì để chống lại ý muốn của quan phủ.”

“Tạ Vô Danh!”

Đỗ Thanh bàng hoàng quay phắt người lại, ánh mắt nhìn chàng chan chứa nỗi thất vọng tột cùng xen lẫn sự tức giận đến run rẩy. Nàng không thể tin nổi người kiếm khách từng kiên cường đối đầu với danh lợi, từng dám vạch trần mọi sự giả dối lại có thể thốt ra những lời buông xuôi nhục nhã như vậy.

Tạ Vô Danh không nhìn nàng. Chàng khẽ nghiêng đầu, đôi mắt sắc lạnh như mũi kiếm hướng thẳng về phía Phạm Duy Liêm:

“Nhưng xin đại nhân hãy khắc ghi lấy một điều: Tên sát thủ Kỷ Song hiện tại vẫn đang ẩn nấp đâu đó dưới những tầng hầm gỗ mục nát của Đài Bách Thắng. Và cỗ lâu thuyền ba tầng sơn son thếp vàng của Lục Trọng Tín neo ở bến Nam vẫn chưa hề nhổ neo rời bến. Ngài phong tỏa hồ sơ lúc này, là ngài thực lòng muốn bảo vệ chén cơm cho đám dân nghèo ngoài kia... hay ngài chỉ đang rắp tâm tạo thêm thời gian để Lục Trọng Tín gom sạch mười tám vạn lượng bạc nén ấy rồi xuôi thuyền ra biển lớn?”

Phạm Duy Liêm sững sờ. Toàn thân vị tri phủ cứng đờ ra như bị điểm huyệt, bờ môi run rẩy bần bật nhưng cổ họng nghẹn ứ, không tài nào thốt ra nổi một lời phản bác.

***

Rời khỏi nha môn qua lối cửa ngách chật hẹp, ẩm thấp phía sau hậu viện, bộ ba lầm lũi quay trở về Miếu Kiếm Gãy. Suốt dọc con đường mòn lầy lội ven sông, không một ai mở miệng nói với ai một lời nào. Bầu không khí im lặng giữa ba người nặng nề chẳng khác nào những tảng đá tảng đang đè nén lên lồng ngực.

Cơn mưa rào đầu mùa mỗi lúc một thêm nặng hạt. Những giọt nước mưa xối xả gõ rầm rập lên những lớp ngói vỡ nát của ngôi miếu hoang tàn, tạo nên những dòng nước đục ngầu chảy tràn qua bậu cửa.

Bùi Bát Quái vừa bước qua cửa miếu liền buông xuôi hai tay, ngồi bệt xuống bậc thềm đá phủ đầy rêu phong. Gã ôm chặt lấy đầu, vò rối mái tóc ướt sũng, thở dài thườn thượt từng chặp:

“Hết cách cứu thật rồi... Thảo nào người ta bảo giang hồ hiểm ác, nhưng hiểm ác đến mức này thì đúng là cạn lời. Cả đời ta đi khắp các đầu đường xó chợ buôn tin hóng chuyện, chưa từng thấy cái nghịch lý nào thối tha như thế này bao giờ. Kẻ bị lừa gạt đến tận xương tủy thì quỳ lạy van xin quan lớn đừng vạch trần kẻ lừa đảo. Còn những kẻ liều mạng đi tìm sự thật, mang lại lẽ phải thì bỗng chốc bị người đời xua đuổi, coi chẳng khác nào phường giặc cướp phá hoại nồi cơm của thiên hạ!”

Đỗ Thanh chẳng buồn bận tâm đến những lời than thở của gã buôn tin. Nàng bước tới bệ thờ đá hoang phế, đặt mạnh chiếc hộp sắt tây lên bề mặt đầy bụi bặm và lá mục. Nàng quay phắt người lại, ánh mắt sắc lẹm như lưỡi dao mổ tử thi găm thẳng vào Tạ Vô Danh:

“Tại sao ban nãy ở hậu đường huynh lại nhượng bộ Phạm Duy Liêm? Huynh sợ rồi sao? Hay là huynh cũng bắt đầu bị lung lay, muốn thỏa hiệp với cái mớ lý lẽ ‘vì đại cục, vì an sinh’ rác rưởi mà bọn quan lại với lũ thương nhân giăng ra để lấp liếm tội ác?”

Tạ Vô Danh không vội đáp lời. Chàng chậm rãi bước tới một khúc gỗ mục nằm bên góc miếu dột, nặng nề ngồi xuống. Bằng những ngón tay gầy guộc của bàn tay trái, chàng bắt đầu tháo từng vòng băng bằng vải gai thô ráp đang quấn quanh cổ tay phải của mình.

Mỗi một vòng vải được gỡ ra, cơn đau nhức buốt nhói từ vết rạn xương lại dội lên từng cơn theo từng nhịp đập của mạch máu, khiến khóe môi chàng khẽ giật giật. Chàng cúi đầu, lặng lẽ ngắm nhìn thanh nẹp bằng gỗ sồi cứng cáp—thứ mà chính tay Đỗ Thanh đã tỉ mỉ dùng dao gọt giũa và băng bó cho chàng trong đêm mưa lạnh lẽo hôm qua.

“Ta không thỏa hiệp.” Tạ Vô Danh cất giọng khẽ khàng, thanh âm chìm lẩn vào tiếng mưa rơi rầm rập trên mái ngói. “Nhưng Phạm Duy Liêm có một điểm nói không hề sai: Khi sự thật giẫm đạp lên miếng ăn của hàng vạn con người, họ sẽ không bao giờ có đủ kiên nhẫn để lắng nghe những chứng cứ pháp y hay những đạo lý cao vời của muội đâu. Trong mắt họ lúc này, muội không phải là người mang lại công lý; muội chỉ là một kẻ tàn nhẫn đang nhẫn tâm cướp đi manh áo, bát cháo của con cái họ. Đem công văn, chứng cứ lên công đường đối đầu với Lục Trọng Tín vào lúc này... chúng ta cầm chắc phần thất bại thảm hại.”

Đỗ Thanh mím chặt bờ môi đến mức rỉ máu. Đôi bàn tay nàng buông thõng bên hông run lên bần bật vì một cảm giác bất lực tột cùng đang bóp nghẹt lấy trái tim.

Nàng là một ngỗ tác tài ba, nàng có thể đọc được từng dấu vết của sự thật trên những xác chết câm lặng, nhưng đứng trước cái bẫy đạo đức tàn độc này của chốn nhân gian, mọi công lý hình thức, mọi lẽ phải trên trang giấy điều tra đều trở nên hoàn toàn tê liệt. Lục Trọng Tín đã biến chính sự sống còn của những kẻ vô tội thành tấm bình phong hoàn hảo nhất cho tội ác của mình.

Đúng lúc đó, từ màn mưa trắng xóa đang bao phủ lối mòn dẫn vào Miếu Kiếm Gãy, một bóng người gầy gò, thẳng thớm bỗng nhiên lướt qua rặng tre ngà gãy đổ, từng bước tiến vào.

Đó là một gã gia nhân trạc ngoài bốn mươi tuổi. Gã khoác trên mình bộ y phục bằng gấm đoạn màu lam thêu viền chỉ bạc vô cùng sang trọng, đầu đội chiếc nón sơn đen tuyền bóng loáng che kín nửa khuôn mặt, đôi chân mang đôi ủng da bê bóng lộn không hề dính lấy một vệt bùn bẩn. Sự xuất hiện đường hoàng, xa hoa của gã hoàn toàn đối lập và lạc lõng giữa khung cảnh đổ nát, ẩm mốc của ngôi miếu hoang.

Gã gia nhân dừng bước ngay mép thềm đá, đứng dưới làn mưa xối xả nhưng tư thế vẫn cung kính cúi rạp người xuống. Hai bàn tay gã giơ cao ngang trán, cẩn trọng nâng một chiếc phong bì làm bằng loại giấy hoa tiên màu hồng đào thượng hạng—loại giấy đắt đỏ chỉ có giới quyền quý kinh thành mới dùng, tỏa ra một làn hương thơm ngào ngạt của dầu long não và trầm hương cao cấp:

“Thảo dân phụng mệnh chủ nhân, kính gửi phong thư này đến tận tay Tạ Vô Danh Tạ thiếu hiệp.”

Bùi Bát Quái giật nảy mình như đạp phải đuôi rắn, cả người gã bắn vọt dậy, thanh đoản đao giấu trong tay áo lập tức tuột ra nắm chặt trong lòng bàn tay, mắt gườm gườm cảnh giác. Nhưng Tạ Vô Danh chỉ khẽ giơ bàn tay trái lên ra hiệu ngăn lại.

Chàng đứng dậy, từng bước đi tới mép thềm đá, chìa bàn tay lành lặn đón lấy phong bì hoa tiên thơm nức.

Gã gia nhân không nói thêm nửa lời, khẽ cúi đầu hành lễ một lần nữa rồi xoay người, thoăn thoắt lướt nhanh vào màn mưa trắng xóa, bóng dáng gã chớp mắt đã biến mất hút sau rặng tre già xao xác.

Tạ Vô Danh dùng đầu ngón tay trái khẽ lách vào mép phong bì, bóc lớp sáp niêm phong màu đỏ thẫm in nổi hình ngọn lửa vàng rực rỡ quen thuộc của Liên ước Vàng Son. Bên trong phong bì là một tờ thiếp hoa tiên được dát một lớp bụi vàng mịn lấp lánh dưới ánh sáng yếu ớt của ngày mưa. Nét chữ viết bằng mực xạ hương đen nhánh, từng đường nét uốn lượn mềm mại, thanh thoát nhưng lại toát lên một vẻ ngạo nghễ, trịch thượng tột bậc của một kẻ nắm trọn toàn bộ thế cờ trong tay:

*“Giang hồ thực chất chỉ là một canh bạc lớn. Kẻ thông minh chân chính là kẻ biết rõ khi nào nên dừng tay gạt bài, để giữ lại chút vốn liếng sinh tồn cho thiên hạ bần hàn. Kính mời Tạ thiếu hiệp quá bộ ghé qua cỗ thuyền Vọng Nguyệt neo tại bến Nam vào đầu giờ Thân chiều nay. Cùng Lục mỗ uống một chén trà thanh nhiệt, đàm đạo về chuyện an sinh của vạn dân đất Vọng Giang. Chỉ một mình thiếu hiệp.”*

Phía cuối dòng thư, một chữ ký nắn nót, bay bướm hiện lên rõ mồn một: *Lục Trọng Tín.*

Đỗ Thanh bước vội lại gần, ánh mắt nàng quét nhanh qua từng con chữ viết trên tờ thiếp mạ vàng. Sắc mặt nàng biến đổi liên tục, từ kinh ngạc chuyển sang lo âu tột độ:

“Hắn muốn gặp riêng huynh! Lục Trọng Tín là một bậc thầy về thao túng tâm lý và mua chuộc lòng người! Hắn biết rõ nha môn đang dao động đến cực điểm, hắn biết dân chúng ngoài kia đang phát điên vì miếng ăn, và giờ đây hắn muốn dùng chính cái gánh nặng ‘sinh mạng của hàng vạn người vô tội’ ấy để đè bẹp, bẻ gãy hoàn toàn ý chí chiến đấu của huynh! Huynh tuyệt đối không được đi! Đây rõ ràng là một cái bẫy!”

“Hắn không có ý định giết ta trên chiếc thuyền đó đâu.”

Tạ Vô Danh bình thản gấp tờ thiếp hoa tiên lại làm đôi, cẩn thận nhét sâu vào trong lớp áo vải rách nát trước ngực. Khóe môi chàng khẽ nhếch lên một nụ cười lạnh lùng:

“Nếu Lục Trọng Tín thực sự muốn lấy mạng ta bằng đao kiếm, hắn đã phái hàng trăm tay sát thủ của Hắc Thủy Đường bao vây ngôi miếu này từ nửa đêm, chứ chẳng việc gì phải tốn công gửi một tờ giấy hoa tiên ướp hương trầm sang trọng như thế này.”

Dứt lời, chàng ngồi thụp xuống bậc thềm, tháo chiếc ủng da rách tả tơi bên chân trái ra. Bằng một động tác dứt khoát, chàng lột lớp đế lót bằng da bò mục nát bên trong, rút ra một thanh đoản đao dài chừng một gang tay. Lưỡi đao mỏng dính, đen nhánh như mun, không hề phản chiếu ánh sáng nhưng mép đao lại sắc bén đến rợn người.

Tạ Vô Danh nhặt lấy một mảnh đá mài nhẵn thó nằm chỏng trơ bên góc bệ thờ đổ nát. Chàng đặt thanh đoản đao lên mặt đá ướt nước mưa, dùng bàn tay trái bắt đầu mài lại lưỡi đao bằng những động tác chậm rãi, tỉ mỉ, đều đặn đến lạnh lùng.

“Xoẹt... xoẹt... xoẹt...”

Tiếng kim loại ma sát ken két, chói tai vang lên đều đặn trong không gian tĩnh mịch của ngôi miếu dột, hòa nhịp cùng tiếng mưa rào rền rĩ không dứt ngoài trời. Từng mạt thép li ti bị mài mòn, cuốn theo dòng nước mưa chảy tràn xuống bậc thềm đá.

“Lục Trọng Tín nghĩ rằng hắn có thể dùng cái danh nghĩa ‘vì đại cục, vì dân sinh’ để mua chuộc sự im lặng của ta.” Tạ Vô Danh vừa mài đao vừa lẩm bẩm, giọng nói của chàng phẳng lặng như mặt nước giếng sâu ngàn năm không gợn sóng, nhưng lại ẩn chứa một luồng hàn khí thấu xương: “Hắn muốn đàm đạo, ta sẽ đến tận nơi đàm đạo cùng hắn. Hắn muốn bàn về an sinh của vạn dân, ta sẽ lắng nghe xem một kẻ buôn bán mạng người giảng giải đạo lý như thế nào. Nhưng trước khi bước chân lên chiếc thuyền hoa tráng lệ của hắn để nghe hắn giảng bài... ta phải chắc chắn rằng lưỡi đao này của mình đã được mài đủ bén.”

Bùi Bát Quái đứng nhìn từng vệt thép lạnh loang loáng lóe lên dưới bàn tay thoăn thoắt của người kiếm khách, bất giác rùng mình một cái, sống lưng lạnh toát. Gã quay đầu nhìn qua khung cửa miếu đổ nát, phóng tầm mắt ra phía xa xa nơi bờ sông Cái—nơi những làn khói bếp mỏng manh từ những túp lều rách nát của khu ổ chuột bến tàu đang ngơ ngác bốc lên giữa cơn mưa giông vần vũ.

Ở cái chốn giang hồ đầy rẫy những nghịch lý trớ trêu này, khi sự thật và công lý đe dọa trực tiếp đến chén cơm của hàng ngàn con người cùng khổ, thì kẻ kiên quyết cất lên tiếng nói của sự thật bỗng chốc lại trở thành kẻ thù tàn nhẫn của tất cả mọi người.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories