Giang Hồ Hết Cứu: Một Kiếm, Ba Cú LừaCh.20 / 30
Chapter 20

Nhân Chứng Không Phải Vật Chứng Biết Đi

Một ngọn đuốc tẩm dầu trẩu bất ngờ rạch toạc màn đêm đặc quánh, phóng vút qua bờ rào giậu nứa của xưởng vá buồm ven sông. Nó rơi đánh bộp xuống đống bạt gai vụn ngay trước mũi giày vải của Trần Ngọc Nương, rồi bùng lên ngùn ngụt giữa khoảng sân đất nện.

Tàn lửa đỏ quạch nổ lách tách như mỡ sôi trong chảo gang. Mùi dầu trẩu khen khét, ngai ngái bốc lên nồng nặc, quyện chặt lấy vị mặn chát của hơi nước sông Vọng Giang cuộn theo cơn gió quẩn, tạt thẳng vào mặt làm cay xè hai hốc mắt.

Trần Ngọc Nương không thét lên một tiếng nào. Bàn tay chai sần vì năm tháng cầm kim lớn luồn dây gai phản xạ nhanh như chớp. Nàng giật phắt chiếc gầu cán dài múc đầy nước lắng phèn cạnh bể ngâm xơ đay, dội thẳng một đường dứt khoát vào tim lửa.

*Xèo!*

Khói xám bốc lên mù mịt, xộc thẳng vào cuống họng mùi khét lẹt của vải gai cháy dở. Ngọn lửa non vừa kịp liếm vào mép đống vải bạt đã bị dập tắt rụi dưới lớp nước đục ngầu, nhưng ngoài con ngõ đất nhão nhoẹt men bờ sông, những thanh âm nhớp nhúa đã bắt đầu rộ lên. Tiếng huýt sáo the thé, tiếng gậy gỗ bịt sắt gõ cồm cộp vào từng cọc rào tre mục nát vang lên liên hồi, nhịp nhàng một cách hiểm độc, chẳng khác nào tiếng đàn chuột cống rúc rỉa chân tường trong những đêm nước lũ tràn bờ.

“Con đàn bà góa kia! Biết khôn thì giữ cái mồm cho kín! Củi mục dễ bén lửa, mà da thịt người trần thì cũng chẳng dai hơn mớ buồm rách của mày đâu!”

Tiếng cười ré lên the thé của một gã du đãng vọng qua vách đất rồi lẩn nhanh vào màn mưa bụi đang giăng kín mặt sông.

Nhưng ở xưởng buồm, đó mới chỉ là lời cảnh cáo bằng lửa non. Cùng lúc ấy, tại căn nhà cấp bốn xiêu vẹo của cựu tiêu sư Lương Đức – chỉ cách xưởng buồm hai dãy ngõ lầy lội – sự khủng bố không dừng lại ở một ngọn đuốc dọa dẫm.

Đá hộc to bằng nắm tay người lớn rào rào trút xuống như mưa trút nước trên mái ngói âm dương đã mục ruỗng qua mấy mùa bão gió. Tiếng ngói vỡ loảng xoảng chát chúa xé toạc đêm đen. Từng mảng vôi vữa, bụi rơm và đất mùn rớt rụng lả tả xuống chiếc phản gỗ kê sát góc tường – nơi người vợ ốm yếu của Lương Đức đang cuộn tròn người, lấy trọn tấm lưng gầy gò ôm chặt lấy đứa con gái sáu tuổi đang khóc ngất vì kinh hoàng.

Một hòn đá nhọn hoắt xuyên thủng rui mè tre ải, rơi cắm phập xuống mép chiếc chậu đồng rửa mặt rách mép, bật ra một tiếng đay nghiến kim loại ngân dài buốt óc. Cánh liếp cửa nứa vốn chỉ khép hờ bằng một then cài bằng gỗ tạp bị ai đó bên ngoài dùng chân đạp tung một mảng lớn. Gió lạnh mang theo hơi ẩm sông hồ và mùi bùn thối lập tức ùa vào gian phòng chật hẹp, chập chờn rọi sáng một vật thể quái đản vừa bị quẳng thẳng vào giữa bậu cửa.

Đó là một vòng hoa tang bện vội bằng rơm ẩm đã bốc mùi chua nồng. Cắm lẫn giữa những cọng rơm mốc thếch là mấy cành hoa cúc trắng thối rữa bị dập nát, cùng một nắm tiền vàng mã nhuộm phẩm đỏ loang lổ như máu đông. Vòng hoa ấy đập vào mắt người nhìn như một lời kết án tử hình treo sẵn ngay ngưỡng cửa nhà người sống.

Trên dải vải xô trắng buộc chéo ngang vòng hoa, mấy dòng chữ son ngoằn ngoèo, nhớt nháp viết bằng mực pha nhựa trắc hiện lên sắc lạnh:

*“Kẻ lắm lời thì ngậm đất. Cả nhà ba miệng ăn, khôn hồn thì nuốt lại chữ ký.”*

Khi Đỗ Thanh và Tạ Vô Danh vội vã chạy xuyên qua màn mưa phùn buốt giá để tới nơi, cảnh tượng phơi bày trước mắt họ bên trong căn chòi rách nát chỉ còn là một mớ đổ nát thê thảm và hoảng loạn đến tột cùng.

Lương Đức – người đàn ông từng một thời lẫy lừng tay vác thiết thương ròng rã suốt mười hai lộ bảo tiêu, kẻ từng ngẩng cao đầu khước từ đòn hối lộ ép đánh giả thua đệ tử chân truyền của Kim Đao Môn năm năm về trước – lúc này đang quỳ sụp giữa vũng nước mưa đang dột lõm bõm từ trần nhà xuống sàn đất.

Hai bàn tay thô ráp, gân guốc của gã cắm chặt vào mái tóc hoa râm bù xù, toàn thân run rẩy từng chặp như người đang lên cơn sốt rét rừng. Đứa con gái nhỏ rúc đầu sâu vào ngực mẹ nấc lên từng cơn nghẹn ứ, bàn chân trần tái mét vì giá rét còn dính những vệt xước rớm máu do mảnh ngói vỡ cứa phải. Người vợ trẻ chỉ biết ôm chặt lấy con, đôi mắt mở to trừng trừng nhìn khoảng tối ngoài cửa sổ, ánh nhìn dại đi trong nỗi tuyệt vọng tột cùng.

“Ta không làm chứng nữa... Lạy các vị... Ta rút lại! Ta xin rút lại toàn bộ!”

Lương Đức ngước khuôn mặt xám ngoét như tro tàn lên khi nhận ra bóng người nơi cửa. Nước mắt cùng nước mưa hòa lẫn chảy tràn trên những nếp nhăn hằn sâu vì sương gió đường trường và gánh nặng nợ nần ngập đầu tại các hiệu bạc. Giọng gã lạc hẳn đi, vỡ vụn ra từng mẩu cay đắng, uất nghẹn:

“Chúng nó biết hết rồi... Tạ huynh đệ ơi, chúng nó biết tường tận từng chân tơ kẽ tóc! Chúng nó biết con bé học con chữ ở lớp vỡ lòng xóm chùa mồ côi, biết vợ ta chiều nào cũng phải gánh đồ đi giặt thuê ở bến đá cuối sông... Bảng xếp hạng cái nỗi gì, thanh danh võ miếu cái nỗi gì nữa! Ngày mai quan khâm sai tới, mở phiên đàn hặc rình rang rồi phủi tay về lại kinh đô... Còn mẹ con nó... ai nhặt xác cho mẹ con nó đây? Ta chỉ là một thằng đánh thuê mạt hạng gãy mất một cánh tay, ta lấy cái gì để đấu với lũ người ăn thịt người ấy?”

Đỗ Thanh đứng sững ở bậu cửa nứt toác, gấu áo chàm ngấm nước mưa dầm ướt sũng dính bết vào ống chân lạnh ngắt. Nàng nhìn vòng hoa tang cắm đầy tiền vàng mã ngổn ngang trước mặt, lồng ngực thắt nghẹn lại.

Là một ngỗ tác đã quen lật mở từng thớ thịt thối rữa, quen ngửi mùi tử khí của những thi thể vô thừa nhận nằm dưới đáy giếng hoang hay đáy thuyền chở cát, nàng hiểu rõ thứ mùi vị này hơn ai hết. Đó không phải là trò hù dọa bồng bột của đám du đãng càn quấy ngoài bến sông. Đó là mùi tanh nồng của một cỗ máy quyền tài khổng lồ – thứ guồng máy được bôi trơn bằng bạc nén của Danh Kiếm Lâu và mạng lưới nợ ngầm của hiệu bạc Đồng Tín. Một khi cỗ máy ấy đã nghiến răng chuyển động, nó sẵn sàng cán nát bất cứ mảnh vụn xương thịt nào dám ngáng đường ray danh vọng của nó.

Tiếng bước chân dồn dập dẫm nát vũng bùn lầy phía sau ngõ hẹp vang lên. Trần Ngọc Nương xông xáo lao vào cửa. Trên tay nàng vẫn lăm lăm chiếc kéo cắt buồm bản rộng bằng thép đen sì sắc lẻm, vạt áo trước ngực còn vương nguyên những vệt muội than lem luốc từ ngọn đuốc cháy dở.

Đôi mắt người đàn bà vá buồm đỏ ngầu, ánh nhìn quắc lên một sự phẫn nộ cùng cực đến tàn nhẫn khi đảo qua mặt Tạ Vô Danh rồi dừng lại trên người Đỗ Thanh.

“Các người cút hết đi!”

Ngọc Nương gầm lên, giọng run rẩy nhưng đanh thép như hai lưỡi thép va vào nhau. Nàng bước giậm chân qua vũng nước, chĩa thẳng mũi kéo nhọn hoắt vào giữa ngực áo Tạ Vô Danh:

“Nhìn đi! Mở to mắt ra mà nhìn cho rõ vào! Các người mang mấy tờ giấy bản chi chít chữ mực, mang ba cái mớ lý lẽ công bằng thối tha ra để đấu đá sống chết với lũ Danh Kiếm Hội, rồi các người đem mạng của ai ra làm bia đỡ đạn? Hả? Đem cái mạng rách của anh trai ta ném xuống sông Vọng Giang làm mồi cho tôm cá còn chưa đủ sao? Giờ các người lại muốn cả nhà anh Lương Đức phải chết rấp dưới gầm cầu cạn này mới vừa lòng hả?”

Bùi Bát Quái thở không ra hơi lếch thếch chạy theo phía sau. Chiếc ô dầu rách tướp trên tay gã chẳng thể nào che nổi bộ dạng tả tơi, ướt như chuột lột sau khi cái trà quán mưu sinh của gã bị đám côn đồ đập phá tan tành hồi chập tối.

Gã vừa run rẩy đưa tay áo lau mồ hôi trộm lẫn nước mưa trên trán, vừa lắp bắp khuyên can:

“Ngọc Nương cô nương... xin cô nương hãy bớt giận, hạ hỏa một chút đã... Đây rõ ràng là độc kế điệu hổ ly sơn của Lục Trọng Tín và Liễu phu nhân! Chúng cố tình dùng hạ sách khủng bố tinh thần để ép chúng ta phải buông tay, triệt hạ hết nhân chứng trước khi chiến thuyền của quan Khâm sai cập bến sáng mai...”

“Ta không cần biết kế hổ hay kế hèn gì của các người!”

Ngọc Nương ngắt phắt lời gã môi giới tin tức bằng một tiếng gằn xé họng, mũi kéo trong tay nàng run rẩy theo từng nhịp thở gấp gáp:

“Các người muốn làm anh hùng hảo hán, muốn rửa sạch cái thanh danh kiếm khách thanh cao của các người thì tự vác xác đi mà tìm Lục Trọng Tín mà chém giết! Tự đi mà đòi lại công đạo! Tại sao lại bêu tên những người làm chứng lên mấy cái bảng đối chất trước cổng phủ nha? Để thiên hạ tung hô các người nghĩa khí, còn kẻ chịu đao kiếm trong bóng tối lại là những người đàn bà vá buồm, những đứa trẻ con chưa ráo đầu rỉ mũi sao? Nếu đêm nay các người không thể lấy mạng sống của chính mình ra mà bảo đảm cho vợ con người ta được lành lặn đến sáng mai, thì ngay bây giờ, xé hết mấy bản khai man khế ước đó đi! Xé hết đi! Ta thà để anh trai ta muôn đời chịu tiếng chết đuối vì say rượu, còn hơn phải giương mắt nhìn thêm một đứa trẻ vô tội bị lũ khốn nạn ấy ném xác xuống bến sông!”

Lời buộc tội cay đắng rơi xuống sàn đất ẩm mục, để lại một khoảng lặng nghẹt thở đến buốt óc. Trong căn chòi rách nát, chỉ còn nghe thấy tiếng mưa phùn rỉ rả dội trên những mảnh ngói vỡ vụn, tiếng gió rít qua khe nứa và hơi thở hổn hển đầy uất nghẹn của người đàn bà làm nghề vá buồm.

Đỗ Thanh đứng yên hồi lâu. Nàng không đưa ra những điều khoản khế ước chặt chẽ mà nàng đã thuộc làu, không viện dẫn quy chế nghiêm ngặt của nha môn hình bộ, và càng không lôi cái sự thật khách quan lạnh lùng mà một ngỗ tác thường tôn sùng ra để biện minh cho hoàn cảnh.

Nàng khẽ khàng quỳ một bên gối xuống nền đất ướt nhão. Bằng những ngón tay gầy guộc nhưng chuẩn xác của người cầm dao giải phẫu, nàng nhặt lấy một mảnh ngói vỡ sắc nhọn dính máu tươi đặt sang một bên mép cột, rồi vươn tay kéo tấm chăn rách phủ kín lại đôi bàn chân trần đang run rẩy của đứa nhỏ. Xong xuôi, nàng ngẩng đầu, nhìn thẳng vào đôi mắt tuyệt vọng của Lương Đức, rồi nhìn sang ánh mắt hừng hực phẫn uất của Trần Ngọc Nương.

“Ngọc Nương nói đúng.”

Âm thanh phát ra từ miệng Đỗ Thanh bình thản đến lạ lùng, nhưng từng từ từng chữ rơi xuống nặng tựa gang thép:

“Nhân chứng là những con người bằng xương bằng thịt. Họ có một gia đình để che chở, có một hơi thở để sống sót qua ngày đoạn tháng. Họ không phải là thứ vật chứng vô tri biết đi để chúng ta tùy tiện mang ra trưng bày trên bàn cờ đòi lại công lý. Nếu giữ được một bản cáo trạng nguyên vẹn thư tịch mà phải đánh đổi bằng mạng sống của cả một gia đình lương thiện, thì cái bản cáo trạng ấy rốt cuộc cũng chỉ là một mớ giấy lộn vô giá trị.”

Nàng chậm rãi đứng dậy, quay sang nhìn người đàn ông đứng lặng bên khung cửa nứt.

Tạ Vô Danh vẫn đứng tựa lưng vào mép gỗ mục rỗng. Cánh tay phải bó nẹp tre áp chặt bên mạn sườn, những khớp ngón tay buông thõng bất động dưới lớp vải xô đã ố vàng. Con mắt phải của chàng đỏ lựng, sưng húp lên vì dư âm của thứ bột vôi sống trộn ớt bột cay xè mà Kỷ Song đã rải lại trên bến đá tối qua vẫn còn cắn xé từng thớ thịt. Dưới ánh sáng chập chờn, leo lét của ngọn đèn dầu hạt lạc đặt dưới đất, khuôn mặt hốc hác đầy vết sẹo gió sương của chàng hiện lên sắc lạnh, cô độc như một lưỡi đao vùi sâu dưới lớp tuyết dày.

“Hoãn nộp,” Tạ Vô Danh lên tiếng.

Giọng chàng khàn đặc, đục ngầu như ngấm phải nước sông mùa lũ, nhưng từng âm tiết phát ra lại rành mạch, dứt khoát không một chút đắn đo:

“Sáng mai, toàn bộ lời khai cá nhân có điểm chỉ của Lương Đức, của các tiêu sư liên minh và của những người thợ xưởng buồm... đình chỉ toàn bộ. Không đưa lên Quầy Công Thưởng, không niêm yết trước cửa nha môn. Rút toàn bộ danh tính người làm chứng khỏi hồ sơ công tố.”

Bùi Bát Quái nghe vậy thì nhảy dựng lên như giẫm phải than hồng. Gã ôm chặt lấy cái đầu ướt sũng, giọng lạc đi vì kinh hãi:

“Tạ huynh! Đỗ cô nương! Hai người mất trí hết rồi sao? Thuyền của Khâm sai đại thần Nguyễn Minh Luật sáng sớm mai là cập cầu tàu chính! Không có lời khai nhân chứng tại chỗ để đối chiếu trực tiếp với tập sổ phụ của Tống Kim Chương và tài liệu giải mã chữ ký mà Trần Hữu Sổ để lại, Tri phủ Phạm Duy Liêm nhất định sẽ vin vào cớ hồ sơ thiếu nhân sự đối chất để đình chỉ thụ lý vụ án! Đám thư lại của Danh Kiếm Lâu sẽ lập tức lật ngược thế cờ, khép ba người chúng ta vào tội vu khống công ước hiệp hội giang hồ! Tội ấy nhẹ thì gông cổ lưu đày ba nghìn dặm, nặng thì rũ tù mục xương!”

“Thì rũ tù,” Tạ Vô Danh thản nhiên đáp lại.

Bàn tay trái duy nhất còn lành lặn của chàng siết nhẹ lấy bao thanh kiếm cùn giấu dưới lớp vải thô buộc chéo trước ngực. Ánh mắt chàng nhìn thẳng vào Bùi Bát Quái, không dao động lấy một khắc:

“Chúng ta có thể ngồi tù vì chậm nộp giấy tờ hình sự. Nha môn có thể gõ thẻ đòi tra xét vì hồ sơ thiếu chữ ký đối chất. Nhưng một đứa trẻ sáu tuổi không thể chết oan uổng chỉ vì một tờ giấy khai mang họ tên cha nó. Đó không phải là việc mà một kẻ cầm kiếm được phép dung thứ.”

Đỗ Thanh khẽ gật đầu. Động tác của nàng dứt khoát đến mức không để lại một kẽ hở nào cho sự do dự. Nàng thò tay vào trong lớp vạt áo chàm sâu hoắm, lấy ra chiếc tráp đồng nhỏ được niêm phong kỹ lưỡng bằng sáp đỏ – nơi cất giữ toàn bộ những bản cung từ đối chiếu các khế ước ngầm ký lùi ngày của các tiêu cục bị ép phá sản. Không một chút luyến tiếc, nàng nhét ngược chiếc tráp xuống tận đáy chiếc đãy da thuộc chuyên đựng dao mổ tử thi của mình, khóa chặt then cài lại.

“Hồ sơ có thể chờ,” Đỗ Thanh nói thêm, ánh mắt kiên định nhìn lướt qua mọi người. “Chậm nửa ngày, chậm một ngày, cùng lắm là ta chịu thêm một bản kiểm điểm ghi vào học bạ của Tĩnh Thi Phòng, hay bị Phạm tri phủ tước thẻ bài ngỗ tác đuổi về làm dân cống. Danh phận của ta chẳng đáng một xu. Nhưng mạng người một khi đã đứt, thì không có bất kỳ thứ thủ tục hành chính hay con dấu son nào của nha môn có thể chắp vá lại được.”

Ánh mắt hừng hực lửa giận của Trần Ngọc Nương chùng xuống. Đôi bàn tay đang lăm lăm chiếc kéo thép từ từ hạ thấp mép nhọn, nhưng nàng vẫn nhìn hai người họ bằng ánh mắt nửa tin nửa ngờ, chứa chan nỗi cay đắng của một kẻ đã quá quen với những trò bội bạc ở bến sông này:

“Các người nói thì nghe hay lắm. Nhưng ngoài kia, tai mắt của Danh Kiếm Lâu và đám tay chân chuyên nghề đòi nợ máu của hiệu bạc Đồng Tín đang rải kín như mạng nhện. Từ ngã tư chợ Cá cho tới tận mố gầm cầu cạn, chỗ nào cũng có người của Kim Đao Môn phục sẵn. Đêm hôm mưa gió thế này, các người định giấu họ vào đâu? Giấu vào bụng cá sông Vọng Giang chắc?”

Bỗng nhiên, một bóng người to lớn sừng sững gạt mạnh tấm liếp rách nát bước vào gian nhà.

Hoàng Tự Lập xuất hiện. Mình khoác chiếc áo tơi lá sáp ong nặng trĩu nước mưa, cây thiết bổng dài kẹp chặt dưới nách được bọc kín bằng vải bạt dầu cũ kỹ, toát ra một mùi gỉ sắt tanh nồng và lạnh buốt. Gương mặt sạm đen vì gió bão của người đầu lĩnh Tam Lộ Tiêu Cục hằn lên những vệt cơ căng cứng, hàm răng gã nghiến chặt lại nghe ken két:

“Về trang trại của Tam Lộ. Rời khỏi ranh giới phủ Vọng Giang ngay trong đêm nay. Cách đây ba mươi dặm đường rừng về phía đồi thông.”

Hoàng Tự Lập tiến thẳng tới trước mặt Lương Đức. Nhìn người huynh đệ từng chung một bát cơm, từng cùng mình vung thương chống chọi với thổ phỉ trên những con đèo heo hút năm xưa giờ đây co rúm như một con thú trúng tên, giọng người tiêu đầu chùng hẳn xuống, nghẹn ngào nhưng dứt khoát:

“Lương đệ, đứng dậy! Thu dọn mấy bộ quần áo rách nát đi. Cả vợ con chú mày nữa, đi ngay bây giờ! Tiêu cục Tam Lộ của tao dù đang gánh món nợ ngập đầu tại hiệu bạc Đồng Tín, dù ngày mai cái bảng hiệu cha ông để lại sắp bị thằng Lục Trọng Tín gạt phăng khỏi danh sách xếp hạng, nhưng mấy cỗ xe lôi bọc gỗ nghiến và vài thằng tiêu sư gãy tay què chân còn thở được thì chưa chết hết đâu! Đây là ván cược sinh tử của cả cái liên minh tiêu cục mạt rệp này. Hoặc là chúng ta cùng giữ mạng nhau mà sống sót, hoặc là cùng chôn thây dưới đáy vực!”

Hoàng Tự Lập quay ngoắt sang nhìn Bùi Bát Quái, ánh mắt sắc như dao cạo:

“Bùi lão đệ, cái mồm buôn tin dạo của chú mày làm hại không ít người, giờ là lúc đem nó ra mà chuộc tội đấy.”

Bùi Bát Quái chớp mắt liên hồi. Bản năng sinh tồn của một kẻ chuyên sống dựa vào những kẽ hở thông tin nơi phố chợ lập tức trỗi dậy trong huyết quản gã. Đôi mắt ti hí của gã lóe lên một tia sáng ranh mãnh:

“Nghi binh? Kế giương đông kích tây? Được! Trò này tiểu đệ rành rẽ nhất cái đất Vọng Giang này! Lũ đệ tử Kim Đao Môn và đám tay chân của mụ Liễu Tố Văn đang canh chừng như quạ rình xác quanh Trà quán Nửa Lời và ngõ xưởng buồm. Nửa canh giờ nữa, đệ sẽ cho ba tốp phu xe đẩy ba cỗ xe hàng trống đóng kín rời kho số tư hướng thẳng về phía cửa Đông, tung tin đồn ầm ĩ rằng nhân chứng cốt cán đang được đích thân Tạ huynh đệ bí mật áp giải lên chùa Long Cốt lánh nạn! Đám kền kền hám bạc và hóng biến nhất định sẽ bu kín lấy cửa Đông cho mà xem!”

“Hành động ngay,” Tạ Vô Danh ra lệnh bằng tay trái. “Mưa đang mỗi lúc một nặng hạt. Khi sương mù từ mặt sông bốc lên phủ kín các bến than là lúc tốt nhất để đưa người ra khỏi thành.”

Hoàng Tự Lập gật đầu, nhưng trước khi quay lưng ra cửa, ông khẽ bước chậm lại, hạ thấp giọng ghé sát tai Tạ Vô Danh:

“Tạ huynh đệ, vừa có tin mật từ đứa em thân tín của ta gác cổng bến tàu báo về. Hồi chiều, người của ta tóm được một tên du đãng dạt ra từ Đài Bách Thắng. Ép cung một hồi, nó khai ra một việc động trời... Thằng sát thủ Kỷ Song chưa hề rời khỏi thành như lời đồn. Hắn đang lẩn trốn ngay dưới tầng hầm ngầm của Đài Bách Thắng, chỗ đặt hệ thống trục tời và ròng rọc cơ quan.”

Tạ Vô Danh khẽ nheo con mắt trái còn lại, con mắt phải đau buốt vẫn giật giật từng cơn sau lớp mi sưng tấy:

“Hắn trốn ở nơi an toàn nhất của Lục Trọng Tín.”

“Phải. Nhưng đêm nay, ưu tiên số một của chúng ta là bảo toàn mạng sống cho những người này rời khỏi ranh giới phủ an toàn,” Hoàng Tự Lập vỗ mạnh vào bả vai trái lành lặn của Tạ Vô Danh. “Trang trại đồi thông có tường đá bao quanh, lương thảo tích trữ đủ dùng trong nửa tháng. Tạ huynh, tính mạng của những người này, nhờ cả vào thanh kiếm của đệ đấy.”

“Đi thôi,” Tạ Vô Danh khẽ đáp.

Cuộc di tản diễn ra trong sự lặng câm tuyệt đối. Không có cờ dong trống mở như những chuyến áp tải tiêu cục lẫm liệt năm nào, cũng chẳng có bóng dáng của những bậc đại hiệp phong quang cưỡi tuấn mã rẽ lối mở đường.

Ba cỗ xe tiêu cục tồi tàn, cũ kỹ nhất của Tam Lộ được dắt lầm lũi ra từ một con ngõ cụt tăm tối nằm khuất sau bến cá thối. Đó là loại xe thùng kín chuyên dùng để chở da thuộc sống ngâm muối và mắm tôm từ các làng chài ven biển, thành xe làm bằng những tấm ván gỗ sồi dày cộp quét một lớp hắc ín đen đúa, bốc lên mùi nồng nặc đến lợm giọng. Thứ mùi tanh tưởi ấy nồng nặc tới mức đủ để át đi hơi thở của con người và xua đuổi bất kỳ tên lính tuần hay du đãng nào có ý định ghé mắt tò mò dòm ngó.

Vợ con Lương Đức, cùng hai gia đình của những người thợ mộc từng ký vào bản giám định xà nhà mục nát của xưởng Mộc Chi và hai phu bến tàu từng chứng kiến vụ dìm thuyền, đều được sắp xếp nằm ép mình dưới những lớp cói rách mục rữa và bạt dầu đẫm nước mưa. Đứa bé sáu tuổi ngậm chặt một thanh gỗ nhỏ tẩm mật ong mà Đỗ Thanh đưa cho để không bật ra tiếng khóc khi xe xóc qua những ổ trâu lầy lội.

Hoàng Tự Lập đích thân cầm roi lừa ngồi ở càng cỗ xe đi đầu. Chiếc roi da quất nhẹ vào không khí nghe một tiếng *vút* khô khốc, ba cỗ xe lặng lẽ trườn đi men theo triền đê đất nhão, lẫn dần vào màn sương đen kịt như mực của dòng Vọng Giang.

Cùng lúc đó, ở phía bên kia thành phố, Bùi Bát Quái đã hoàn thành xuất sắc vai diễn của mình tới mức nực cười.

Tiếng la hét thất thanh, tiếng bánh xe gỗ nghiến ầm ĩ trên mặt đường lát đá và những ngọn đuốc tẩm dầu thông lập lòe cố tình để lộ phía cửa Đông đã thu hút toàn bộ sự chú ý của đám võ sinh hung hãn thuộc Kim Đao Môn cùng bọn tay sai của Liễu Tố Văn. Trong mắt đám đông cuồng loạn đang thèm khát tiền thưởng và những màn thanh trừng đẫm máu, một cuộc vây bắt kịch tính nơi cổng thành tráng lệ hấp dẫn hơn gấp vạn lần ba cỗ xe chở mắm tôm bẩn thỉu đang âm thầm men theo con đường mòn rừng rú gập ghềnh hướng về phía Tây Bắc.

Gần nửa đêm, đoàn người mới rã rời đặt chân tới trang trại hẻo lánh của Tam Lộ Tiêu Cục.

Nơi này thực chất chỉ là một kho trung chuyển hàng hóa bỏ hoang nhiều năm, nằm lọt thỏm giữa một thung lũng đá tai mèo cằn cỗi và xám xịt. Bốn bề bao bọc bởi những rặng thông già rậm rạp quanh năm gió rít và những bãi sỏi ngổn ngang không một dấu chân qua lại. Sương muối buốt giá từ trên các đỉnh núi đá tràn xuống thung lũng, phủ một lớp màng trắng đục, ẩm ướt và lạnh ngắt lên từng mái lá mục nát của khu nhà kho.

Sau khi đã cùng Đỗ Thanh và Trần Ngọc Nương thu xếp chỗ nằm tương đối khô ráo cho phụ nữ và trẻ nhỏ trong gian nhà kho bằng đá kiên cố nhất, nhóm một bếp lửa nhỏ bằng củi thông khô để sưởi ấm, Tạ Vô Danh một mình bước ra ngoài. Chàng chậm rãi trèo lên căn chòi canh bằng gỗ dựng chênh vênh trên mỏm đá nhô ra ở đầu con dốc dẫn vào thung lũng.

Gió đêm rít qua từng khe nứa của vách chòi canh, réo rắt và buốt nhói như tiếng còi ma gọi hồn. Cơn lạnh thấu xương nhanh chóng xuyên qua lớp áo vải thô sờn rách tả tơi, táp thẳng vào da thịt trần trụi.

Khớp cổ tay phải của Tạ Vô Danh bắt đầu phát tác cơn đau nhức dữ dội. Mỗi khi có một đợt hàn khí tràn qua kẽ ván, những đường nứt rạn trên xương cẳng tay bên dưới lớp nẹp tre lại giật lên từng hồi buốt óc, hệt như có hàng ngàn mũi kim sắt nung đỏ đang cắm sâu vào tủy. Con mắt phải dính vôi sống và bột ớt dù đã được Đỗ Thanh tận tình tẩy rửa bằng nước hoa cúc và dầu vừng từ chiều, lúc này vẫn cay xè, nhức buốt; từng giọt nước mắt nóng hổi không kìm được cứ trào ra, chảy ròng ròng xuống khóe cằm lạnh ngắt.

Chàng ngồi bệt xuống sàn gỗ mục, tựa lưng vào cây cột chòi sứt sẹo. Chàng không thể khoanh tay trước ngực, cũng chẳng thể dùng bàn tay thuận để giữ chặt lấy chuôi kiếm như thói quen của một kiếm khách suốt mười mấy năm lăn lộn trên giang hồ. Tạ Vô Danh chỉ có thể dùng bàn tay trái thô ráp ôm trọn thanh kiếm cùn bọc vải vào lòng, ghì chặt nó trước ngực như một đứa trẻ ôm lấy chiếc phao cứu sinh duy nhất giữa dòng nước xoáy.

Tiếng bước chân nhẹ nhàng dẫm lên lớp lá thông khô mục dưới chân thang gỗ vang lên. Đỗ Thanh bước lên chòi canh, trên tay bưng một chiếc bát sành đựng cháo hoa nóng hổi còn bốc khói nghi ngút, cùng một chiếc khăn vải ấm tẩm nước thảo dược đặc quánh mùi ngải cứu.

“Đắp lên mắt đi,” nàng ngồi thụp xuống bên cạnh chàng, đưa chiếc khăn ấm qua, giọng nói vẫn giữ vẻ càu nhàu khô khốc đặc trưng của một người quanh năm chỉ làm bạn với những xác chết:

“Nếu để nó mưng mủ rồi viêm kết mạc lan sâu vào trong, mai sau dù Khâm sai có trả lại cho huynh mười lượng bạc thưởng án điểm thì huynh cũng chỉ là một tên kiếm khách chột mắt tàn phế, cầm gậy đi ăn mày ngoài miếu Kiếm Gãy mà thôi.”

Tạ Vô Danh đón lấy chiếc khăn bằng tay trái, cẩn thận áp nhẹ lên hốc mắt phải đang sưng húp. Hơi ấm dịu nhẹ cùng mùi thơm ngai ngái của thảo mộc bốc lên làm dịu đi cảm giác xé rách nơi mi mắt. Chàng khẽ ngước con mắt còn lành lặn nhìn nàng, khóe môi nhợt nhạt gượng gạo nở một nụ cười mệt mỏi:

“Đỗ cô nương vẫn chưa ngủ sao?”

“Ngủ làm sao được khi nghĩ tới đống công văn của nha môn,” Đỗ Thanh ngồi xuống bậc gỗ sát mép chòi, kéo chặt lại chiếc áo khoác ngắn bằng vải chàm đã bạc màu. Nàng đưa mắt nhìn xuống khoảng thung lũng lờ mờ sương bạc phía dưới, nơi gian nhà kho bằng đá vừa le lói một đốm lửa vàng ấm áp qua khe cửa hẹp.

“Sáng mai, khi đoàn thuyền ba tầng của quan Khâm sai Nguyễn Minh Luật thả neo cập bến sông Vọng Giang, Liễu Tố Văn nhất định sẽ dùng toàn bộ hệ thống loa gốm truyền thanh và các bản tin mộc bản in nhanh để bêu rếu chúng ta. Mụ ta sẽ rêu rao rằng đám người tố cáo là lũ hèn nhát bỏ trốn, rằng kiếm khách và ngỗ tác đã sợ tội mà chạy trốn khỏi công môn. Đám đông thị dân ngoài phố sẽ cười nhạo, cho rằng chúng ta chột dạ trước những bản tự thú man trá dán ngoài cổng phủ.”

“Kệ cho họ cười,” Tạ Vô Danh chậm rãi nhấp một ngụm cháo hoa nóng. Vị gạo nhạt phếch, không có lấy một hạt muối, nhưng hơi ấm của nó trôi xuống cổ họng làm dịu lại lồng ngực đang run lên bần bật vì giá buốt.

“Trên cõi đời này, có những kẻ sẵn sàng bỏ ra cả trăm lượng bạc nén để mua lấy một trận thắng giả tạo trên võ đài, chỉ cốt để được đám đông bên dưới tung hô vạn tuế. Lại có những kẻ chỉ thích chen chúc đứng dưới khán đài, hò reo vỗ tay đến rách cả họng cho một cú lừa lộng lẫy được bọc bằng gấm vóc. Họ sống bằng tiếng reo hò của thiên hạ, và chết đi cũng chỉ vì một cái danh hão huyền trên một tấm bảng gỗ sơn son thiếp vàng. Chúng ta không sống cùng thế giới với lũ người đó.”

Đỗ Thanh im lặng một lát. Nàng chăm chú nhìn bàn tay trái của Tạ Vô Danh đang nắm chặt lấy bao kiếm mòn vẹt. Những khớp ngón tay của chàng trắng bệch ra vì giá rét của sương muối, nhưng gân cốt vẫn nổi lên cuồn cuộn, không hề nới lỏng ra dù chỉ nửa phân.

“Huynh có hối hận không?” Đỗ Thanh hỏi khẽ, ánh mắt nàng thăm thẳm như đáy giếng sâu không gợn sóng. “Nếu năm xưa ở Hắc Hổ Lĩnh, huynh không nhận mười lượng bạc để chịu một đòn đánh giả thua, có lẽ giờ này huynh đã là một đại hiệp lừng lẫy có tên trong nhóm đầu Bảng Danh Kiếm. Huynh sẽ có môn bài vàng của các đại tiêu cục, có ngựa tốt áo ấm, chứ đâu đến nỗi nửa đêm phải ngồi ôm thanh kiếm gãy chịu rét mướt trên cái chòi canh rách nát này.”

Tạ Vô Danh hướng ánh nhìn ra màn sương mù mịt mùng đang nuốt chửng lấy những triền đồi phía xa xăm. Giọng chàng trầm tĩnh, rành rọt rơi vào khoảng không tĩnh mịch của màn đêm buốt giá:

“Năm xưa ta nhận mười lượng bạc đó, là vì ta đói. Đói đến mức mắt hoa chân run, đói đến mức trong túi không có nổi hai đồng tiền kẽm để mua một bát cháo hoa lót dạ, không có tiền trả hai trăm đồng tiền trọ cho bà lão góa giữ miếu hoang. Ta sai. Cái sai đó hèn hạ và nhục nhã. Ta đã cúi đầu nhận nó trước công môn, đã tự tay dán bản tự thú lên bảng gỗ cho cả thành Vọng Giang phỉ nhổ vào mặt. Nhưng bán một trận đấu giả để kiếm miếng ăn nhét vào mồm là giới hạn nhục nhã cuối cùng mà ta cho phép bản thân mình chạm tới.”

Chàng siết chặt bao kiếm bằng tay trái, hướng ánh mắt ấm áp về phía vệt lửa le lói hắt ra từ khe cửa gian nhà kho phía dưới – nơi đứa con gái nhỏ của người tiêu sư tàn tật đang say ngủ bình yên trong hơi ấm của mẹ nó:

“Phá một vụ án mạng oan khiên, vạch trần một cú lừa đảo giang hồ đã kéo dài hàng chục năm qua, mục đích cuối cùng của nó không phải là để chứng minh Tạ Vô Danh này tài giỏi, càng không phải để rửa sạch một cái tên vô danh tiểu tốt trên một tấm bảng xếp hạng phù phiếm. Nếu muốn thắng một bản án bằng cách ép những người vô tội phải đem tính mạng ra làm mồi nhử cho đao kiếm, nếu để mặc cho con cái của người làm chứng bị ném đá vỡ đầu rồi lạnh lùng gọi đó là sự hy sinh cần thiết cho công lý... thì thứ công lý đó bẩn thỉu và tàn nhẫn chẳng khác gì thứ vinh quang mua bằng máu và bạc nén của Danh Kiếm Hội.”

Đỗ Thanh khẽ mỉm cười. Đó là một nụ cười hiếm hoi, mỏng manh nhưng ấm áp nở trên gương mặt vốn luôn nghiêm nghị, lạnh lùng của người nữ kiểm thi trong đêm đông giá buốt.

Nàng đứng dậy, đưa tay phủi nhẹ những mảnh bụi thông khô dính trên vạt áo chàm, rồi phóng tầm mắt nhìn về phía chân trời xa xôi phía đông – nơi bóng tối đang tụ lại đặc quánh nhất, báo hiệu khoảnh khắc trước khi bình minh ló rạng.

Tiếng gió rít qua rừng thông nghe như tiếng thở dài ảo não của mảnh đất Vọng Giang đang oằn mình trong cơn sốt điên cuồng của danh vọng và tiền bạc. Một ngày mới sắp bắt đầu. Cùng với ánh bình minh, đoàn thuyền thanh tra của Kinh lộ sẽ cập bến, mang theo những mũi giáo bọc nhung, những mưu mô tranh đoạt quyền lực và những bản án chực chờ định đoạt số phận của tất cả bọn họ.

Nhưng ngay tại góc đồi hoang vu, lạnh lẽo này, sự sống và phẩm giá của những con người hèn mọn vẫn đang được che chở một cách trọn vẹn dưới lưỡi kiếm mòn của một kẻ dùng tay trái.

Một bản án thắng mà để nhân chứng mất nhà mất mạng thì cũng chỉ là một chiến thắng rác rưởi.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories