Món Trái Vườn Chín Ép
Tiếng quạ kêu ran trên rặng dừa nước đón ghe của Duyên quay lại Vàm Dừa, tay lái cô siết chặt trong khi lòng thầm tính toán món chè bưởi ngọt tráng miệng đã lỡ hứa thêm với Nam hôm trước mà chưa hỏi han kỹ chủ vườn.
Mặt nước rạch buổi sớm còn phủ một lớp váng sương mỏng tang, con nước ròng đang cạn dở làm trơ ra những gốc bần chĩa rễ lởm chởm như chông nhọn ven mép bùn. Chiếc ghe cải hoán dài chín mét lướt êm nhờ chiếc máy đuôi tôm được ghìm ga ở mức vừa phải, nhưng mỗi nhịp rung của trục láp truyền qua bàn tay chai sạn vẫn làm Duyên chộn rộn không yên. Mới hai hôm trước thôi, cũng tại khúc rạch này, Nam – người phụ trách tổ làm vườn hơn hai chục mạng – đã vỗ đùi đánh đét khen bữa cơm canh chua cá kho nức nở. Khi ấy, khói mắm còn chưa tan hết trên mui ghe, Nam đã hào hứng hứa hẹn mối tiệc lớn bên rạch Ba Càng, kèm theo câu dặn nửa đùa nửa thật: "Bữa tới mà ghe bếp tụi bay có thêm miếng tráng miệng thanh cảnh cho anh em ngọt giọng sau bữa trưa thì coi như điểm mười trọn vẹn, tao dắt mối cho khắp mạn sông này."
Duyên lúc đó vì sướng rơn, lại sợ để tuột mất cái mối làm ăn béo bở hiếm hoi giữa mùa thất bát, đã buột miệng gật đầu cái rụp. Cô còn cười giòn tan: "Chuyện nhỏ anh Nam ơi! Vườn bưởi da xanh sát nách đây, tụi em hái tại chỗ nấu chè bưởi đường phèn đãi tổ thợ một bữa mát ruột!"
Giờ thì ghe đã cập mé liếp vườn nhà ông Hai Trí, nơi Nam bảo bữa trước là "có mấy chục gốc bưởi da xanh đang độ".
Duyên với tay kéo cần ga về nấc chết, tắt máy. Tiếng xình xịch trầm đục của chiếc máy cũ vừa lịm đi, trả lại cho khúc rạch không gian tịch mịch chỉ có tiếng bìm bịp kêu chiều hôm sớm và tiếng gió xào xạc qua tàu dừa nước. Chiếc ghe chầm chậm trôi theo trớn nước ròng rồi tấp mạn vào cầu tàu ghép bằng mấy thân dừa già trơn tuột, đóng đầy rong rêu xanh rì.
Bình từ trong khoang bếp khom lưng bước ra mũi, tay cầm cuộn dây thừng bện bằng xơ dừa ngả màu xám xịt: "Để tui cột đòn gánh giữ mũi ghe cho êm. Duyên lên bờ hỏi chú Hai đi, coi giá cả hái tại cây bao nhiêu một ký để tui còn tính lượng đậu xanh với lượng nước cốt dừa. Đậu xanh bữa nay trong khạp còn chừng nửa lon gu gô thôi đó nghen, tính không khéo là thiếu trước hụt sau."
"Biết rồi, để tui lên coi liền."
Duyên nhảy phóc lên bờ đất thịt. Lớp bùn nhão nhoét mé mép nước bám chặt lấy đôi dép mủ, cô phải bấm mười đầu ngón chân xuống đất để khỏi trượt ngã dúi dụi. Lối đi vào vườn bưởi rợp bóng mát rượi, hai bên rãnh mương phèn nước trong leo lẻo nhưng bốc lên mùi ngai ngái của cỏ mục và bùn chua.
Thế nhưng, đập vào mắt Duyên lúc này không phải là những chùm bưởi da xanh căng tròn, bóng loáng đang oằn cành chờ thu hoạch như lời Nam ba hoa bữa nọ. Dọc theo các liếp đất dài ngút mắt, trái non to bằng nắm tay trẻ con rụng la liệt dưới mương phèn, lớp vỏ thối nhũn ngả màu nâu xám xịt. Trên cành, những trái bưởi còn sót lại đa phần da dẻ sần sùi, màu xanh ngắt như lá chè khô, đít trái còn túm lại, núm sâu hoắm, chưa hề có dấu hiệu "nở rốn" của trái bưởi chín già đẫy đà tích đủ mật ngọt.
Một người đàn ông luống tuổi mặc chiếc áo cộc tay bạc phếch vá víu hai bên vai, đầu đội cái nón lá rách vành tơi tả đang cặm cụi dùng kéo cắt cành bấm tỉa những trái bưởi kẹ vứt toẹt xuống mương nước bên cạnh.
Nghe tiếng bước chân lẹp bẹp giẫm trên lớp lá khô mục, ông Hai Trí ngẩng lên, nheo đôi mắt kèm nhèm đục ngầu nhìn Duyên chòng chọc: "Ai đó? Vô vườn kiếm ai mà thập thò bờ liếp người ta?"
"Dạ chú Hai! Cháu là Duyên, chủ cái ghe bếp nấu cơm trưa cho tổ thợ tỉa cành của anh Nam đằng vạt dừa mé bên kia," Duyên đon đả cúi đầu, hai tay xoa vào vạt áo bà ba, nở nụ cười tươi rói cốt lấy lòng chủ vườn. "Hôm trước anh Nam có dặn cháu ghé vườn chú lấy dăm ba trái bưởi da xanh ngon ngọt về nấu chè tráng miệng cho mấy anh em thợ. Chú cho cháu cắt mấy trái chín già nghen chú!"
Ông Hai Trí buông thõng cái kéo tỉa cành xuống bên hông, nhổ toẹt bãi nước bọt đỏ lòm màu trầu xuống gốc cây bưởi trơ rễ, khuôn mặt nhăn nheo lạnh tanh không một gợn thiện cảm: "Thằng Nam nó nói xàm láp mà mầy cũng tin cho được! Vườn tao mới bắt đầu đợt tỉa trái non đặng dưỡng cây đón vụ Tết năm sau, lấy đâu ra bưởi già thu hoạch? Mớ chín bói lưa thưa trên đọt là bưởi nghịch mùa, ruột sượng ngắt, chua lè như giấm giúi, múi khô queo không có lấy một giọt nước thì ngọt bùi cái nỗi gì mà đòi nấu chè!"
Duyên sượng sùng, nụ cười trên môi đông cứng lại giữa cái nắng sớm bắt đầu hắt qua kẽ lá: "Ủa... chú Hai ơi, sượng chút xíu cũng được chú. Cháu lấy cùi bưởi làm chè là chính, chỉ cần cái vỏ dày, cùi mọng xốp là gọt ra sên đường được ráo trọi à. Chú phụ công trèo hái giùm cháu chừng bốn, năm trái thôi, cháu gửi tiền trái với tiền công hái đàng hoàng mà chú! Chú thương tình giúp tụi cháu một bữa..."
"Thôi thôi, dẹp đi cô nương!" Ông Hai Trí phẩy tay lia lịa, giọng gắt gỏng vang cả khúc liếp vắng. "Tao rảnh đâu mà trèo lên đọt hái ba cái trái chín bói lắt nhắt cho mầy! Rách gai rách da, gãy cả cành tơ của người ta. Cây bưởi da xanh chứ có phải cây gáo, cây trâm bầu đâu mà leo trèo bừa bãi? Mầy muốn thì tự trèo mà hái, rụng nhánh gãy cành thì đền tiền triệu, còn không thì đi chỗ khác cho tao mần ăn. Có mấy chục ngàn bạc lẻ tiền bưởi mà bắt người ta bỏ công leo trèo nắng nôi, rảnh quá ha!"
Từng lời của ông Hai Trí như gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt Duyên giữa buổi ban mai. Cô đứng chôn chân giữa bờ liếp đất thịt, hai má nóng bừng bừng vì ngượng và bực.
Người làm vườn Nam Bộ một khi đã khó tính, tiếc cành tỉa nhánh và dứt khoát không tiếp thì có lạy lục nài nỉ cỡ nào cũng chỉ chuốc lấy xua đuổi. Duyên ngước mắt nhìn lên những ngọn bưởi cao vút tua tủa gai nhọn hoắt chĩa ra như chông. Dưới chân mang đôi dép mủ trơn tuột, làm sao cô tự mình đu bám lên ngọn cây mà hái? Mà giả như có trèo lên bẻ được, mớ bưởi nghịch mùa chua loét, chín ép sượng sùng đó cùi mỏng dính, ngập ngụa tinh dầu đắng nghét thì làm sao nấu ra nổi một nồi chè thanh mát cho hai mươi lăm miệng ăn đang ngóng đợi?
Duyên cắn môi, lủi thủi quay gót trở lại mé rạch. Từng bước chân cô giẫm mạnh xuống sình như trút nỗi bực dọc vô cớ.
Bình đứng vịn mui ghe nhìn lên, thấy hai bàn tay Duyên trống trơn không có lấy một cái cuống lá hay trái bưởi dính tay thì tròn mắt ngạc nhiên: "Ủa, sao vậy Duyên? Chủ vườn hổng chịu bán hả? Hay họ đòi giá trên trời?"
"Vườn người ta tỉa trái non dưỡng cành làm vụ Tết, hổng có bưởi già thu hoạch như lời anh Nam nói khoác! Ổng già khó tính như quỷ, dứt khoát hổng chịu trèo hái giùm vài trái lẻ," Duyên hậm hực nhảy phóc xuống sàn ghe. Chiếc ghe chín mét chòng chành mạnh làm mớ nồi niêu treo bên vách va vào nhau leng keng, mặt nước mé rạch dậy sóng đục ngầu phù sa.
Bình thở dài một hơi sườn sượt, với tay vặn nhỏ bấc lò dầu hỏa đang hâm nồi nước luộc thịt ba rọi: "Vậy thôi, bỏ món chè đi Duyên. Lát nữa tổ thợ tới ăn cơm, mình cứ thật tình nói với anh Nam là vườn nhà chú Hai chưa tới cữ hái trái. Mấy anh em làm đồng dễ tánh, trưa nắng chang chang chỉ cần cơm nóng canh ngọt, có miếng cá kho đậm đà lùa vài ba chén no bụng là quý dữ lắm rồi. Ai nỡ trách mình nuốt lời một chén chè tráng miệng đâu nè."
"Hổng được!" Duyên gạt phắt đi ngay tắp lự. Giọng cô đanh lại, đôi mày chau nghiến, ánh mắt lộ rõ vẻ bướng bỉnh cố chấp quen thuộc mỗi khi gặp cảnh ngặt nghèo. "Tui đã trót hứa chắc nịch với ảnh bữa trước rồi. Người ta đang chấm ghe bếp mình để giao nguyên cái đám tiệc bự chảng bên rạch Ba Càng, giờ mới bữa thứ hai nấu cơm nhật trình mà đã than hổng có bưởi, hổng mần được chè, người ta lại nghĩ con Duyên này mồm mép tép nhảy, hứa hươu hứa vượn cho sướng miệng rồi quỵt! Mang tiếng ghe bếp xứ Cái Mít nuốt lời thì mốt còn mặt mũi nào đi nhận mối dọc mấy con rạch này nữa?"
"Nhưng mà trong vườn người ta đã hổng có thì mình biết đào đâu ra bưởi bây giờ giữa đồng không mông quạnh này?" Bình chau mày lại, vẻ lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt tròn phúc hậu đầm đìa mồ hôi.
"Bình ở đây canh chừng than củi, luộc thịt xắt mỏng rồi sơ chế mớ rau muống đồng đồ mặn trước đi. Tui nổ máy quay ngược ra Bến Chợ Nổi Cái Mít!" Duyên quả quyết giật mạnh sợi dây thừng khởi động chiếc máy đuôi tôm.
Pằng! Pằng pằng pằng!
Tiếng máy nổ bành bành rền vang phá tan không gian vắng lặng mé rạch Vàm Dừa, khói dầu mù mịt phả ra sau đuôi lái.
"Ra sạp bờ kè chợ nổi thiếu gì bưởi loại một đóng sọt đem lên Sài Gòn! Mắc mấy tui cũng phải cắn răng mua cho bằng được bốn trái bưởi da xanh thứ thiệt về nấu chè!" Duyên gắt lên qua tiếng máy nổ chát chúa.
Bình toan mở miệng can ngăn chuyện tốn thêm một cữ dầu máy và cả đống thời gian chạy ngược dòng ròng chảy xiết, nhưng chưa kịp thốt ra lời thì chiếc ghe đã rùng mình rẽ sóng, mũi ghe xé toạc làn nước đục, phóng vút ra hướng sông cái. Bình chỉ kịp chụp lấy cái nắp vung nồi canh tép đang chực rơi xuống sàn ván trơn trượt.
Nắng trưa bắt đầu rọi gắt gắt xuống mặt sông Cái Mít. Mặt sông loang loáng ánh bạc nhức mắt, không một gợn gió mát. Thay vào đó là từng cơn gió chướng thổi ngược dòng nước ròng làm từng đợt sóng ngắn đập chan chát vào be gỗ của chiếc ghe nhỏ.
Duyên phải ghìm chặt hai tay vào cần lái bằng sắt mát lạnh dính đầy nhớt, mắt căng ra canh chừng những đám lục bình trôi dạt dập dềnh để tránh rễ cây quấn chặt vào chân vịt. Mỗi nhịp máy rống lên giằng xé là một nhịp ruột Duyên thắt lại. Từng phút đồng hồ trôi qua trên sông là từng phút hao hụt quỹ thời gian chuẩn bị bữa trưa vốn đã vô cùng sít sao.
Từ khúc rạch Vàm Dừa này mà chạy ngược dòng ra chợ nổi Cái Mít, dù có ghìm ga hết cỡ cho máy gầm rú khản đặc thì cũng ngốn đứt hai mươi phút đồng hồ. Hai mươi phút chạy xuôi chạy ngược, chiếc máy cũ kỹ sẽ nuốt trọn không biết bao nhiêu xị dầu pha nhớt mà cô chắt chiu từng đồng tiền lời từ mấy bữa cơm trước mới đong được.
Cập được vào bậc thềm đá trơn trượt đóng đầy rong rêu của Bến Chợ Nổi Cái Mít, chiếc ghe còn chưa kịp tắt hẳn trớn, Duyên đã quăng vội sợi dây thừng mũi cho một đứa nhỏ đánh giày ngồi bên mé bờ kè: "Giữ giùm chị chút xíu nghen em nhỏ!"
Duyên ba chân bốn cẳng trèo thoăn thoắt lên những bậc đá cao ngất, chạy xộc vào dãy sạp trái cây đặc sản san sát nhau ven bờ kè lộ lớn. Mùi trái cây chín nồng nặc quyện với mùi bùn sông bốc lên ngột ngạt. Trên những sạp gỗ kê cao, người ta bày la liệt xoài cát Hòa Lộc ửng vàng, sầu riêng cơm vàng hạt lép, vú sữa Lò Rèn da căng bóng, và nổi bật nhất là những chồng bưởi da xanh loại một trái nào trái nấy tròn vo, da láng mướt như thoa mỡ, cuống lá xanh rì còn tươi roi rói được thắt nơ đỏ chót để chờ bỏ mối cho xe tải đi thành phố hoặc bán cho khách du lịch sang trọng.
Duyên thở dốc, hai lá phổi như muốn nổ tung sau một quãng chạy thục mạng. Cô vịn tay vào mép sạp gỗ của một người đàn bà phốp pháp: "Chị... chị ơi! Lựa giùm em bốn trái bưởi da xanh loại một, trái nào già đẫy đà, cùi dày mọng nước nghen chị!"
Người đàn bà chủ vựa bưởi đang phe phẩy chiếc quạt nan phành phạch bỗng dừng tay lại. Bà ta đảo mắt nhìn từ đầu đến chân Duyên, lướt qua bộ quần áo bà ba màu tro dính đầy vệt dầu máy đen sì, đôi dép mủ bết bùn non và mái tóc rối bù xù xơ xác vì gió sông. Khóe môi bà ta nhếch lên một nụ cười nửa miệng: "Loại một da bóng tróc phấn, cuống tươi tẩm nơ này một trăm hai chục ngàn một ký nghen cô em. Hàng lựa từng trái đi tiệc, đi biếu đó. Bốn trái này tao cân thử rồi, tròn trĩnh sáu ký rưỡi, vị chi là bảy trăm tám chục ngàn. Mua lẻ từng trái hổng có bớt một xu cắc nào đâu đó nghen!"
Con số bảy trăm tám mươi ngàn đồng nổ đùng một cái bên tai Duyên như một tiếng sét giữa trời quang.
Tim cô thắt lại, chân tay bủn rủn. Bảy trăm tám mươi ngàn! Một suất cơm trưa phục vụ cho tổ thợ làm vườn của anh Nam đổ mồ hôi sôi nước mắt cũng chỉ lấy giá bốn mươi ngàn đồng. Hai mươi lăm suất ăn cho cả tổ thợ ngày hôm nay, tính trọn gói cả cơm, canh chua bông súng, cá kho quẹt, mắm chưng và tiền trà đá, tổng cộng thu về tròn trĩnh đúng một triệu bạc! Nếu như bây giờ cô móc túi bỏ ra gần tám trăm ngàn chỉ để mua bốn trái bưởi chợ giá bán lẻ cắt cổ này cho một món tráng miệng hứa suông, thì coi như toàn bộ tiền thịt ba rọi, tiền cá trê đồng, tiền rau muống, gạo thơm, nước mắm và cả công lênh quần quật của Bình với cô từ bốn giờ sáng coi như đổ trôi ra sông ra biển hết!
Duyên nuốt khan một ngụm nước bọt mặn chát, cổ họng nghẹn ứ lại vì xấu hổ: "Chị... chị Hai ơi, chị có loại nào... dạt hơn chút đỉnh hổng chị? Trái hơi nám vỏ ngoài chút cũng được, hoặc chín bói lỡ cỡ... miễn cùi dày đặng em về gọt vỏ nấu chè đãi thợ..."
"Xời đất ơi! Tưởng mối sộp mua bưởi đãi tiệc cưới hỏi sang trọng chứ ai dè đi mua bưởi dạt nấu chè mướn hả?"
Bà chủ vựa bĩu môi dài cả tấc, chiếc quạt nan lại phành phạch xua ruồi một cách khinh khỉnh. Bà ta dùng mũi guốc gõ cộp cộp xuống cái sọt tre rách nhét sâu dưới gầm sạp tối om: "Đó, bưởi dạt hàng ba, da hơi nám xước, mới hái hôm qua còn chưa ráo mủ, bán xô sáu chục ngàn một ký. Lấy bốn trái cỡ bốn ký mốt, tao tính chẵn hai trăm bốn mươi ngàn. Mua thì cân lẹ tao lấy tiền, hổng mua thì xê ra chỗ khác cho người ta đón khách ghe lớn lên mua sỉ, rảnh đâu mà đứng kỳ kèo bưởi dạt!"
Duyên cắn chặt môi dưới đến mức muốn bật máu tươi.
Hai trăm bốn mươi ngàn đồng tiền mặt!
Đối với người buôn bán lớn trên bờ kè, hai trăm bốn mươi ngàn có thể chỉ là một bữa ăn sáng hay chầu cà phê máy lạnh. Nhưng đối với cái ghe bếp chắp vá đang gánh trên lưng từng món nợ lắt nhắt của Duyên, con số đó là một cú đấm trời giáng vào túi tiền còm cõi. Thế nhưng, cái thể diện phù phiếm và nỗi sợ hãi tột cùng bị Nam coi thường, sợ bị chê là quân "thất hứa", sợ tuột mất hợp đồng rạch Ba Càng đã bóp nghẹt lý trí của cô.
Duyên run rẩy thọc tay vào túi quần bà ba sâu hoắm. Cô móc ra một xấp tiền lẻ nhăn nheo, đủ thứ mệnh giá từ mười ngàn, hai mươi ngàn phẳng phiu lẫn nhàu nát. Đôi ngón tay lem luốc dầu nhớt cẩn thận vuốt thẳng từng mép tiền, đếm đủ hai trăm bốn mươi ngàn đưa cho người đàn bà bán bưởi. Đổi lại, cô nhận về bốn trái bưởi dạt vỏ xanh lét, da sần sùi đóng đầy mủ trắng dính nhớp nháp vào tay.
Duyên ôm ghì bốn trái bưởi nặng trịch trước ngực, cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng trở lại bến đá để nhảy xuống ghe.
Mười giờ trưa. Mặt trời đã leo lên đỉnh đầu, rọi những tia nắng bỏng rát xuống mặt sông phẳng lặng. Mái tôn cũ của chiếc ghe bếp hấp thụ nhiệt, tỏa hơi nóng hầm hập như một cái lò nung bánh mì.
Khi chiếc ghe hớt hải quay trở lại bến dừa nhà ông Hai Trí, Duyên tắt máy, mồ hôi túa ra như tắm ướt đẫm cả vạt áo sau lưng.
Vừa cập mạn vào thân dừa, Duyên đã thấy bóng dáng ông Hai Trí đứng lom khom bên cầu dừa từ lúc nào. Dưới chân ông già là hai buồng chuối xiêm còi cọc, trái nhỏ thó chỉ nhỉnh hơn ngón chân cái, vỏ chuối đã ngả sang màu vàng vượn lốm đốm trứng cuốc nhưng cuống thì khẳng khiu, teo tóp như bị sâu đục thân từ gốc.
Nhìn thấy Duyên ôm bốn trái bưởi chợ lấm lem mủ nhảy từ sàn ghe lên, ông Hai Trí chép miệng một cái, vẻ mặt bớt đi phần gay gắt ban sáng, thay vào đó là nét ngượng ngùng của người già trót lỡ lời: "Hồi nãy tao nói hơi gắt tiếng, cái tính tao bộc trực nóng nảy xưa giờ mầy đừng có để bụng nghen con nhỏ. Thằng Nam nó vừa ghé qua chòi tao mượn cái xuồng ba lá đi kiểm tra bờ bọc, nó khen tụi mầy nấu cơm cho thợ ăn tử tế, chu đáo dữ lắm. Tao thấy mầy vì mấy trái bưởi mà chạy ghe đi ngược dòng chợ nổi cực khổ quá xá... Tao mới chặt hai buồng chuối xiêm chín bói trong góc liếp đem ra cho nè."
Duyên khựng lại, mắt nhìn hai buồng chuối xiêm khẳng khiu dưới chân ông lão: "Ủa... chuối này chú bán cho cháu hả chú Hai?"
"Bán buôn gì ba cái thứ chuối còi này mầy ơi!" Ông Hai Trí phẩy tay, mắt đưa nhìn vào khoang bếp của ghe đang bốc khói nghi ngút, tỏa ra mùi mắm chưng hột vịt và mùi canh tép đồng thơm lừng cả khúc rạch. "Tao với thằng cháu coi vườn ở chòi lá một mình, trưa trật lười đỏ lửa bắc nồi nấu nướng quá. Mầy múc cho tao hai suất cơm trưa của cánh thợ, đem đủ miếng thịt luộc, mắm chưng với tô canh tép nóng cho hai cậu cháu tao ăn bữa trưa. Rồi mầy xách hai buồng chuối xiêm này về sàn ghe mà xắt nấu chè độn vô, hay luộc ăn dằn bụng cũng được. Coi như tao với mầy đổi ngang cho huề, chịu hổng?"
Nghe hai chữ "đổi ngang", trong đầu Duyên bỗng chốc sáng rực lên một tia hy vọng mù quáng. Cô không hề đắn đo suy tính sâu xa, liền gật đầu lia lịa: "Dạ chịu chớ chú! Cháu cảm ơn chú Hai nhiều nghen chú! Chú đợi cháu chút xíu! Bình ơi! Múc liền hai phần cơm thiệt đầy đặn, lấy miếng mắm chưng góc béo nhất với tô canh tép đầy cho chú Hai giùm tui nghen!"
Trong khi Bình ở trong khoang bếp tất tả xới hai đĩa cơm vun ngọn, múc hai tô canh nghi ngút khói trao tận tay ông Hai Trí, thì Duyên khệ nệ cúi xuống ôm hai buồng chuối xiêm còi thảy phịch lên sàn gỗ của mũi ghe.
Cô đứng thở dốc nhưng trong bụng lại dâng lên một sự đắc ý ngây thơ: *Hai buồng chuối này coi như đồ vườn đổi chác, nguyên liệu "không tốn đồng nào"! Lát nữa mình bẻ mớ chuối này lột vỏ xắt lát mỏng, thả chung vô nồi cùi bưởi sên đường. Vừa độn cho nồi chè đầy đặn, thợ ăn no bụng, lại vừa đỡ tốn cái mớ đậu xanh ít ỏi trong khạp. Coi như hai buồng chuối này gỡ gạc lại được chút đỉnh tiền mua bốn trái bưởi chợ ban nãy rồi!*
Sự tính toán của Duyên lúc ấy hoàn toàn bị che mờ bởi cái cảm giác "đổi chác huề vốn". Cô không nhận ra rằng, hai suất cơm trưa đầy đặn bốn mươi ngàn một suất mà cô vừa niềm nở trao đi đồng nghĩa với việc cô đã móc túi bỏ ra tám mươi ngàn đồng tiền mặt từ doanh thu của bữa ăn, đem đổi lấy hai buồng chuối còi xơ xác mà ngoài chợ Cái Mít người ta đổ đống bán rong chưa chắc đã có ai thèm mua với giá ba chục ngàn một nải.
Một phép tính kinh tế mù quáng của kẻ đang loay hoay trong cơn bĩ cực, tự ru ngủ bản thân bằng khái niệm "của vườn đổi lấy" để trốn tránh thực tế thâm hụt.
Dưới sàn bếp chật hẹp chỉ vừa vặn hai người ngồi khom lưng, không khí đặc quánh lại vì hơi nóng phả ra từ chiếc lò dầu hỏa và nồi cơm lớn đang sôi ùng ục.
Bình ngồi xổm trên tấm ván gỗ bóng nhẫy, chiếc áo thun ba lỗ ướt đẫm mồ hôi dán chặt vào tấm lưng gầy gò. Mồ hôi từ trán anh chảy ròng ròng xuống cằm, thi thoảng anh phải nghiêng đầu quẹt vội vào vai áo để khỏi cay xè đôi mắt. Bình cầm con dao bài bén ngót gọt đi lớp vỏ xanh mỏng bên ngoài của một trái bưởi chợ Duyên vừa mang về. Lưỡi dao lướt qua lớp vỏ sần, nhưng vừa chạm vào lớp cùi trắng bên trong, Bình bỗng khựng lại.
Anh đưa ngón tay cái bấm thử vào lớp cùi trắng xốp. Lớp cùi dai nhách, rịn ra một lớp nước nhờn nhợt hăng hắc. Bình cắt vội một mẩu cùi nhỏ bằng móng tay, bỏ vào miệng nhai thử.
Ngay lập tức, mặt Bình biến sắc. Anh nhăn tít cả hai mắt lại, khóe môi giật giật rồi quay ngoắt ra mạn ghe nhổ vội vào cái xô đựng rác hữu cơ bên cạnh: "Khẹc... Duyên ơi! Bưởi này nguy to rồi Duyên!"
Duyên đang ngồi xổm lúi húi rửa từng trái chuối xiêm còi trong chậu thau, giật thót mình ngẩng phắt lên: "Sao vậy Bình? Vỏ nó dày cui đó thôi, lúc nãy ở sạp tui lựa mấy trái nặng trịch cầm đầm tay dữ lắm mà!"
Bình thở hổn hển, chìa miếng cùi bưởi trắng vừa cắt dở ra trước mặt Duyên, giọng run rẩy đầy âu lo: "Bưởi này người ta cắt non non dưới gốc rồi đem ủ khí đá giấm cho chín ép đặng bán xô cho lẹ chứ bưởi già gì thứ này! Tinh dầu của vỏ non nó chưa kịp phân tán ra ngoài, gặp khí đá nó ngấm sâu hoắm vô tận ruột cùi rồi. Nhai vô một miếng mà the rát cả đầu lưỡi, đắng nghét như ngậm thuốc nam dã tật vậy á! Giờ mà muốn khử cho hết cái vị đắng này thì phải thái hạt lựu, rắc muối sống vô bóp thật lực rồi xả nước ngọt cả chục bận mới mong ép hết chất the ra được!"
Lời nói của Bình giáng thẳng vào Duyên như một nhát búa tạ.
Nước ngọt!
Quy tắc sinh tử trên chiếc ghe bếp này là tuyệt đối không bao giờ được múc nước sông rạch dưới chân mạn ghe để rửa trực tiếp đồ ăn hay nấu nướng. Nước sông rạch mạn này đục ngầu phù sa, lại nhiễm mặn nhiễm phèn và lẫn vô số tạp chất hữu cơ từ các vườn dừa đổ ra. Mọi giọt nước dùng để nấu nướng, tráng bát đĩa và sơ chế thực phẩm đều phải dùng nước ngọt tinh khiết đóng can nhựa ba mươi lít màu xanh, mua từ Bến Nước Bà Hảo ở đầu cù lao với giá năm ngàn đồng một can.
Mỗi sáng xuất bến, ghe chỉ chở theo tối đa bốn can nước ngọt vì khoang ghe chật chội và sợ chìm mớn nước. Từ sáng tới giờ, ba can nước đã trôi sạch theo nồi canh tép, nồi luộc thịt, ấm trà đá và việc rửa rau sống. Trên sàn bếp lúc này chỉ còn trơ trọi đúng một can nước ngọt duy nhất – đó là số nước dự trữ để nấu chè và tráng sơ mâm chén cuối buổi!
Lấy đâu ra nước ngọt để ngâm xả mớ cùi bưởi đắng ngắt kia tới mười bận?
Bình cắn chặt môi, mắt nhìn chiếc can nhựa màu xanh chỉ còn một nửa. Anh thở dài một tiếng nặng trĩu, với tay vặn chiếc vòi can xanh thật nhỏ, chắt chiu từng ca nước ngọt nhỏ giọt như chắt từng giọt máu. Anh rắc nắm muối hạt thô lên mớ cùi bưởi đã thái hạt lựu trong thau nhôm, rồi gồng hai cánh tay gân guốc dùng toàn bộ sức lực nhào bóp liên tục.
Xoẹt! Xoẹt!
Bọt the màu trắng xóa sủi lên nồng nặc mùi tinh dầu hắc nồng đến nghẹt thở. Cùi bưởi xẹp dần dưới bàn tay chai sạn của Bình. Nhưng dù anh đã cắn răng chắt nước ngọt, vắt kiệt mớ cùi tới ba lần đến mức hai bàn tay đỏ ửng vì xót muối, Bình vẫn lắc đầu ngao ngán, mắt lộ rõ vẻ bất lực: "Hổng hết đắng được đâu Duyên ơi... Tinh dầu vỏ non nó ngấm sâu quá rồi. Mình đâu có đủ nước ngọt mà xả cho tới nước trong veo được. Đã vậy... trong hũ đường cát của mình nãy giờ nêm nếm nồi canh với ướp thịt kho quẹt, giờ chỉ còn trơ đáy chừng hai muỗng canh thôi à. Đường phèn đóng gói bữa trước mua ở tiệm bà Hảo thì xài sạch bách hôm qua rồi. Cùi bưởi the đắng vầy mà hổng có đường phèn thanh giọng để luộc với sên cho ngấm mật thì nấu lên nó lợ vị dữ dội lắm, đắng quyện với lợ thì ai mà nuốt cho nổi trời!"
Duyên đứng chết trân tại chỗ. Đôi bàn tay dính đầy mủ chuối đen thui buông thõng xuống hai bên đùi.
Cô nhìn đáy hũ nhựa đựng đường cát trắng chỉ còn dính một lớp bụi đường mỏng tanh. Cổ họng cô nghẹn ứ, sống mũi cay xè.
Tiếng cười đùa của tổ thợ làm vườn ngoài bờ liếp bắt đầu vọng lại. Tiếng rựa chặt cành chan chát thưa dần, thay vào đó là tiếng họ í ới gọi nhau: "Nghỉ tay tụi bay ơi! Mười một giờ rưỡi rồi, xuống mé sông rửa chân cẳng ăn cơm ghe bếp thôi! Bữa nay nghe thằng Nam nói có chè bưởi đường phèn đãi tráng miệng mát ruột lắm nè!"
Từng tiếng gọi réo rắt ấy như những mũi kim đâm thẳng vào tim Duyên.
Chẳng lẽ bây giờ cô lại bưng mâm cơm không lên bờ, rồi cúi đầu lí nhí nói với Nam rằng món chè tráng miệng danh giá bị hư hỏng, bị đắng nghét vì cô mua phải bưởi dạt chợ nổi? Thể diện của cô, danh dự của cái ghe bếp Cái Mít, và cả mối làm ăn tiệc tùng béo bở rạch Ba Càng... tất cả sẽ tan thành mây khói trong tiếng cười chê của đám thợ vườn.
Bình nhìn thấy bờ vai nhỏ bé của Duyên run lên bần bật dưới lớp áo bà ba vá víu. Anh thấy đôi mắt cô đỏ hoe, chất chứa sự cùng quẫn và xấu hổ tột cùng. Bình hiểu cái tính bướng bỉnh nhưng dễ tổn thương của bạn mình. Dù Duyên có cố chấp, thì cái gánh nặng nợ nần và áp lực mưu sinh của chiếc ghe này cũng là do cô một tay gồng gánh bấy lâu nay.
Bình không nỡ để Duyên phải muối mặt.
Anh lặng lẽ quay người vào phía trong khoang ngủ chật hẹp, khẽ khàng luồn tay xuống dưới tấm vạt giường bằng gỗ tạp. Ở nơi sâu nhất, bụi bặm nhất, Bình lôi ra một chiếc túi vải dù bạc màu được cột túm miệng bằng sợi dây thun.
Đúng lúc đó, từ ngoài khúc rạch, một chiếc xuồng con bán hàng tạp hóa trôi lững lờ ngang qua mạn ghe bếp. Tiếng mái chèo khua nước bì bõm hòa cùng tiếng rao lanh lảnh, quen thuộc của một bà già chèo xuồng: "Ai mua dầu thơm, đường thốt nốt, dầu cù là, vani ống, diêm quẹt hông..."
Mắt Bình sáng lên một tia hy vọng mong manh. Anh nhổm người dậy thật nhanh, thò đầu ra cửa khoang vẫy vẫy chiếc xuồng con: "Dì Bảy ơi! Ghé mũi vô đây con mua chút đồ dì Bảy!"
Chiếc xuồng con tấp sát vào be ghe. Bình lén quay lưng lại với Duyên, thọc tay vào chiếc túi vải dù riêng của mình. Những ngón tay thô ráp của anh chạm vào những tờ tiền giấy hai chục ngàn mỏng dính, nhăn nheo – số tiền tiêu vặt còm cõi mà anh tích cóp từng đồng suốt mấy tháng trời từ tiền phụ hồ, tiền bán ve chai để dằn túi phòng khi đau ốm bất trắc giữa dòng sông nước.
Bình rút ra ba tờ hai chục ngàn phẳng phiu nhất, chìa ra cho bà già chèo xuồng: "Bán cho con một bánh đường thốt nốt An Giang màu đậm với ba ống vani bột con ó nghen dì."
"Có liền đây con trai. Đường thốt nốt này ngọt đậm mà thơm nức mũi nghen, nấu chè bà ba hay chè chuối là số dách!" Bà già thoăn thoắt trao bọc đồ qua be thuyền rồi thu tiền lặn mất.
Bình quay vào, giấu vội chiếc túi vải dù vào chỗ cũ dưới tấm vạt giường rồi bước nhanh lại bên chiếc lò dầu đang cháy phì phì. Anh chìa bọc đường màu nâu sẫm và mấy ống bột vani ra trước mắt Duyên, cất giọng trầm ấm cố làm như không có chuyện gì to tát: "Duyên né qua một bên để tui chữa cháy cho kịp giờ. Đường thốt nốt này vị ngọt đậm, mùi thơm nồng dữ dằn lắm. Tui sẽ chặt nhỏ đường ra, đem sên cùi bưởi với đường thốt nốt cho cái ngọt đậm nó át bớt cái vị the đắng của vỏ non. Rồi mình thả mớ chuối xiêm chín xắt lát vô nấu chung, rắc thêm vani cho nó dậy mùi thơm lừng. Hy vọng cái vị béo ngọt của đường thốt nốt với chuối chín sẽ kéo lại được cái đắng của cùi bưởi. Chứ giờ hổng còn cách nào khác đâu!"
Duyên đứng chết lặng nhìn Bình thoăn thoắt dùng dao chặt bánh đường thốt nốt thành từng tảng nâu sẫm, rồi đổ ụp vào chiếc chảo gang đang nóng rực trên bếp lò. Mùi đường thốt nốt gặp nhiệt bốc lên ngào ngạt, ngọt lịm pha lẫn mùi khen khét đặc trưng.
Trong lòng Duyên dâng lên một nỗi xót xa tê tái, pha lẫn sự xấu hổ ê chề. Cô không phải kẻ ngốc. Cô biết rõ chiếc hũ tiền chợ chung của hai đứa sáng nay đã cạn sạch sau khi cô trả tiền bưởi. Gói đường thốt nốt và ba ống vani bột kia từ đâu ra? Chắc chắn là Bình đã tự móc số tiền túi riêng còm cõi mà anh chắt chiu bấy lâu để bù vào cái lỗ hổng do sự bốc đồng và tự ái của cô gây ra.
Nhưng nỗi sợ hỏng việc trước mắt, tiếng bước chân rầm rập của cánh thợ vườn đang đổ dồn xuống bến cau già đã khiến Duyên hèn nhát tặc lưỡi bỏ qua. Cô không dám cất tiếng hỏi Bình lấy tiền đâu ra. Bởi vì chỉ cần hỏi một câu thôi, cái vỏ bọc tự tôn giả tạo của cô sẽ vỡ vụn, và cô sẽ phải đối mặt với một sự thật trần trụi: chiếc ghe bếp này đang cạn kiệt từng đồng vốn liếng, ngấp nghé bên bờ vực phá sản.
Mười một giờ ba mươi lăm phút.
Hai mươi lăm người thợ tỉa cành mồ hôi nhễ nhại, áo quần dính đầy mủ cây và bụi đất kéo nhau ngồi chật kín ba dãy bàn dài ghép bằng những tấm ván dừa bên mé bờ liếp.
Bữa trưa bắt đầu rôm rả. Món mặn của ghe bếp làm rất tròn trịa: những đĩa thịt ba rọi luộc xắt mỏng kẹp với rau muống đồng non mướt chấm mắm kho quẹt cay xè, những tô canh tép đồng nấu bông súng ngọt lịm nước lèo, và những đĩa mắm chưng hột vịt béo ngậy điểm vài lát ớt sừng đỏ tươi. Những người lao động sau nửa ngày quần quật dưới nắng đói lả người, vừa lua cơm vừa tấm tắc khen lấy khen để trong tiếng cười nói vang dội cả khúc vườn.
Duyên và Bình đứng dưới sàn ghe thở phào nhẹ nhõm, lau vội mồ hôi trán.
Thế nhưng, khoảnh khắc định mệnh cũng đến khi những hạt cơm cuối cùng trong nồi được vét sạch. Bình khom lưng bưng hai chiếc khay nhôm lớn, trên chất đầy hai mươi lăm chén chè tráng miệng nóng hổi bước từng bước cẩn trọng lên bờ đất.
Màu của nồi chè lúc này không phải là màu trắng ngà thanh nhã điểm xuyết những hạt đậu xanh vàng ươm như món chè bưởi đường phèn truyền thống mà người ta thường thấy ở các quán chè sang trọng trên chợ tỉnh. Do sên bằng đường thốt nốt nguyên chất và độn quá nhiều chuối xiêm còi, nước chè ngả sang một màu nâu sẫm đặc quánh, tối tăm. Những miếng cùi bưởi ngậm đường đổi sang màu xam xám nhờn nhợt, chen chúc lộn xộn cạnh những lát chuối xiêm luộc chín quá lửa bắt đầu bở rệt ra, nổi lềnh bềnh dưới một lớp nước cốt dừa màu trắng đục được chan vội vã lên trên bề mặt.
"Ủa! Chè gì ngộ nghĩnh vậy tụi bay?" Một người thợ tỉa cành lớn tuổi cầm chiếc muỗng nhôm múc một miếng cùi bưởi nâu sẫm đưa lên ngang mũi ngửi ngửi, hai hàng lông mày cau tít lại.
Nam ngồi ở đầu chiếc bàn gỗ thứ nhất, nghe vậy cũng tò mò với tay lấy một chén. Anh dùng muỗng khuấy nhẹ lớp nước chè nâu đặc sệt, mỉm cười xởi lởi: "Chắc chè bưởi da xanh miệt vườn biến tấu đó mấy cha! Ăn thử coi sao!"
Nói rồi, Nam múc một muỗng lớn đầy cả cùi bưởi lẫn chuối xiêm bỏ tọt vào miệng.
Duyên đứng nép mình bên mạn ghe dưới mé sông, hai bàn tay nắm chặt lấy vạt áo bà ba đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra. Cô nín thở, lồng ngực đập thình thịch như đánh trống, đôi mắt dán chặt vào từng cử động trên gương mặt của người đội trưởng.
Nam vừa nhai được hai nhịp, nụ cười hồ hởi thường trực trên gương mặt vuông vức bỗng nhiên khựng sững lại.
Đôi lông mày rậm rạp của anh co rút lại thành một đường thẳng thớm. Quai hàm anh cứng đờ, khóe môi giật giật liên hồi như muốn nhè ngay miếng chè trong miệng ra bãi cỏ. Nhưng nhìn thấy Duyên đang đứng ngóng dưới mé sông và trước mặt bao nhiêu anh em thợ, Nam cố gượng gạo nuốt ực một cái cho trôi qua cổ họng. Khuôn mặt anh đỏ bừng lên vì nghẹn và gắt.
"Sao... sao ngọt dữ thần thiên địa vậy nè trời!"
Người thợ ngồi kế bên Nam không giữ kẽ được như đội trưởng. Ông ta buông chiếc muỗng nhôm đánh *keng* một tiếng chát chúa xuống mép chén sành, thẳng thừng lè lưỡi ra rồi lắc đầu quầy quậy: "Ngọt hắc, ngọt khé cả cổ họng luôn á bay ơi! Đường gì mà nấu kẹo quẹt như thắng đường làm bánh tráng vậy? Đã vậy cái miếng bưởi này nhai trúng nó cứ the the, đắng nghét ở cuống họng chứ đâu có giòn ngọt, thanh mát cái con mẹ gì đâu! Ăn vô một miếng chè mà tao khát nước muốn khô cháy cả cổ họng luôn hà!"
"Phải rồi đó anh Nam, chuối xiêm này chuối non luộc hay sao mà ăn nó vừa chua lè lại vừa chát ngắt, hổng có hợp rơ với cùi bưởi chút nào ráo trọi!" Một người thợ trẻ khác phụ họa theo, khuôn mặt nhăn nhó như vừa uống phải chén thuốc đắng. Anh ta đẩy phắt chén chè còn nguyên vẹn ra xa mép bàn: "Tui tưởng chè bưởi da xanh hái tại cây nấu đường phèn thanh tao mát ruột, ai dè ăn vô nặng bụng, the lưỡi quá xá! Thôi dẹp đi, nuốt hổng vô!"
Không khí trên bờ liếp bỗng chốc chùng hẳn xuống, ngột ngạt đến nghẹt thở.
Mấy người thợ khác thấy vậy cũng chỉ cầm muỗng múc lơ đãng một hai miếng nước cốt dừa cho phải phép rồi đồng loạt buông muỗng. Tiếng muỗng nhôm va vào chén sành lách cách rời rạc như những tiếng gõ chôn vùi sự kỳ vọng. Họ lục tục đứng dậy, túa ra quanh chiếc lu da lươn đựng nước trà đá của ghe để múc từng ca nước lớn tu ừng ực, cốt để súc cho trôi đi cái vị ngọt gắt và đắng chát đang bám chặt nơi cuống họng.
Duyên đứng chết lặng dưới mé sông, toàn thân lạnh ngắt dù mặt trời đang dội nắng chang chang xuống đỉnh đầu. Từng lời chê bai thẳng thừng của những người thợ như những mũi dao cứa vào da thịt cô.
Nam nhìn Duyên đang đứng trơ trọi dưới mé nước, rồi anh đưa mắt nhìn hai mươi lăm chén chè còn thừa mứa la liệt trên mặt bàn dừa, lớp nước cốt dừa đã bắt đầu vữa ra, loang lổ trên nền chè nâu xỉn.
Nam gượng nở một nụ cười trừ, bước lại vỗ vai mấy người thợ đang đứng uống trà đá để đỡ lời cho ghe bếp: "Thôi mấy cha nội, có chén chè tráng miệng ngọt giọng giữa trưa nắng là tụi nó có lòng dữ lắm rồi, đòi hỏi như đi ăn tiệc cưới nhà hàng năm sao vậy! Thôi ra gốc dừa ngồi hút điếu thuốc nghỉ ngơi đi, lát một giờ còn vô liếp tỉa cành tiếp."
Đám thợ tản mác đi tìm bóng râm dưới rặng dừa nằm ngả lưng. Lúc này, Nam mới chậm rãi bước xuống mép bến dừa trơn tuột.
Nhưng ánh mắt Nam khi nhìn Duyên lúc này đã hoàn toàn thay đổi. Không còn sự hào sảng, vỗ đùi khen ngợi hay ánh mắt tin cậy tuyệt đối như bữa cơm cá kho hôm trước. Ánh mắt anh giờ đây lộ rõ vẻ hụt hẫng, ngao ngán và một chút dè chừng của một người làm ăn vừa đặt niềm tin vào một lời hứa hẹn đao to búa lớn nhưng nhận lại một kết quả chắp vá, nửa vời và cẩu thả.
Nam thọc tay vào túi quần, móc bọc tiền nilông quen thuộc ra. Anh đếm từng tờ tiền polymer năm mươi ngàn phẳng phiu, đủ một triệu đồng chẵn rồi chìa ra trước mặt Duyên.
Giọng Nam trầm hẳn xuống, không còn cái âm vang sang sảng thường ngày: "Tiền hai mươi lăm suất cơm bữa nay đây Duyên. Anh đưa đủ một triệu chẵn nghen em."
Duyên run rẩy đưa hai tay nhận lấy xấp tiền, lí nhí không ra hơi: "Dạ... em cảm ơn anh Nam..."
Nam đứng lặng một thoáng, nhìn mũi chiếc ghe bếp cũ kỹ đang dập dềnh theo con nước lớn bắt đầu nhảy bờ, rồi buông một câu nhẹ tênh nhưng nặng ngàn cân: "Còn... cái vụ tiệc cá tai tượng chiên xù với gỏi bưởi bên rạch Ba Càng mấy bữa nữa... để anh bàn kỹ lại với ông chủ vườn bên đó đã rồi tính sau nghen em. Bên đó ổng là dân Sài Gòn về mua đất làm vườn sinh thái, tánh ổng khó dữ dằn lắm, kỹ tính từng cọng rau miếng ớt. Anh sợ ghe tụi em mần ăn cập rập, thiếu trước hụt sau rồi lỡ phật ý ổng thì kẹt cho uy tín của anh với bên đó."
Nói dứt câu, Nam không đợi Duyên kịp mở miệng thanh minh lấy một lời. Anh quay lưng bước thoăn thoắt lên bờ liếp đất thịt, bóng lưng áo xanh khuất dần sau rặng dừa rậm rạp, không một lần ngoái đầu nhìn lại.
Duyên đứng trơ trọi bên mạn ghe, nắm chặt xấp tiền một triệu đồng trong tay mà nghe sống lưng lạnh toát từ đốt sống đến tận gót chân.
Hết rồi. Mối tiệc lớn bên rạch Ba Càng – cái phao cứu sinh mà cô ngày đêm trông đợi để kéo chiếc ghe bếp thoát khỏi vũng lầy nợ nần – coi như đã vuột khỏi tầm tay chỉ vì một lời hứa bốc đồng và một nồi chè chín ép, vội vàng.
Suốt hơn một tiếng đồng hồ sau đó, không gian trên chiếc ghe bếp chìm trong sự im lặng nặng nề. Không ai nói với ai câu nào. Tiếng sóng vỗ ì oạp vào be gỗ nghe như tiếng thở dài của dòng sông.
Bình và Duyên lặng lẽ thu dọn chiến trường. Hai mươi lăm chén chè gần như còn nguyên vẹn được thu gom về sàn sau của ghe.
Theo quy định vệ sinh nghiêm ngặt của chính quyền địa phương dọc các tuyến sông du lịch sinh thái và nguyên tắc sinh tồn của ghe bếp, toàn bộ rác thải sinh hoạt, bã trà và thức ăn thừa tuyệt đối không được phép hất thẳng xuống dòng sông rạch. Họ phải dùng muỗng cạo từng chén chè ngọt lừ, đặc quánh đổ dồn vào một cái bao nilông đen dày cùi rồi cột chặt miệng lại.
Duyên cúi gập lưng, khom người vác cái bao rác nặng trĩu, sặc sụa mùi chuối lên vai. Dưới cái nắng chang chang của buổi trưa muộn, đôi chân trần của cô bấm từng ngón xuống con đường đất khô nứt nẻ, gồng mình khuân bao rác đi bộ gần ba trăm mét ra tận điểm tập kết rác dân sinh bên bờ lộ lớn. Mồ hôi muối chảy vào khóe mắt xót buốt, rát rạt, hòa lẫn với những giọt nước mắt tủi hờn mà cô cắn răng nuốt ngược vào trong.
Dưới bến ghe, Bình còng lưng dùng từng giọt nước ngọt quý giá còn sót lại dưới đáy can xanh để tráng sạch từng chiếc muỗng nhôm, từng cái chén sành dính đầy thứ đường thốt nốt kẹo quánh. Bàn tay anh đỏ ửng, run rẩy vì mệt mỏi và xót muối.
Khi mọi thứ trên ghe đã được thu dọn tươm tất, chén đĩa úp gọn gàng vào rổ tre, Bình lặng lẽ tháo sợi dây thừng mũi ghe khỏi thân dừa già. Chiếc ghe bếp chầm chậm thả trôi theo con nước lớn bắt đầu ngập mé rễ bần, lững lờ trôi ra giữa ngã ba sông để đón làn gió mát hiếm hoi từ sông Tiền thổi vào.
Bình ngồi thu lu ở góc sau khoang máy, cặm cụi dùng giẻ rách lau chùi những vệt đường nâu dính trên thành chiếc chảo gang. Anh khẽ khàng cúi người xuống, cất nửa bọc đường thốt nốt còn thừa cùng mấy ống vani chưa xài hết vào sâu dưới đáy khoang bếp, nơi cất chiếc túi vải dù riêng của mình. Bình tuyệt nhiên không hé răng nửa lời về số tiền sáu mươi ngàn mà anh đã tự móc túi bù vào, cũng không một lời oán trách sự bốc đồng của bạn.
Duyên ngồi bệt xuống sàn lái, tựa lưng vào be thuyền bằng gỗ sao đã lên nước đen bóng. Cô run rẩy móc chiếc ví vải dính đầy dầu nhớt và mủ bưởi từ trong túi áo bà ba ra.
Cô trải phẳng phiu xấp tiền một triệu đồng mà Nam vừa trả lên đùi. Một triệu đồng tiền polymer mới cứng. Nhưng bên cạnh nó, trong tâm trí Duyên lúc này là một bảng tính nghiệt ngã đang hiện ra từng con số rành rọt, lạnh lùng như những vết dao cứa:
Hai trăm bốn mươi ngàn đồng tiền mặt mua bốn trái bưởi dạt đắt đỏ ở chợ nổi Cái Mít. Bốn mươi ngàn đồng tiền dầu máy chạy ngược xuôi hai bận gầm rú khói mù. Tám mươi ngàn đồng giá trị của hai suất cơm trưa đem đổi lấy hai buồng chuối còi vô dụng. Ba mươi ngàn đồng tiền nước ngọt đóng can tiêu tốn cho việc sơ chế và rửa dọn chén đĩa. Chưa kể tiền thịt ba rọi, tiền cá trê đồng, rau muống, bông súng, mắm hột ban sáng ở chợ đầu mối đã ngốn đứt gần năm trăm ngàn tiền chợ.
Những ngón tay chai sạn của Duyên run rẩy lướt qua những tờ tiền lẻ còn sót lại dưới đáy chiếc ví vải.
Sau khi trừ đi toàn bộ những chi phí thực tế trôi qua kẽ tay trong buổi sáng hôm nay, tổng số tiền mặt cô đang nắm giữ trong tay không những không dư ra được một đồng lời còm cõi nào để bù đắp công sức hai con người làm việc quần quật suốt tám tiếng đồng hồ dưới nắng gắt, mà nó còn bị thâm hụt thẳng vào số vốn lưu động ban đầu gần hai trăm ngàn đồng!
Một bữa cơm phục vụ hai mươi lăm con người, đổ mồ hôi sôi nước mắt, cuối cùng đổi lại là sự mất mát uy tín, tuột mất mối làm ăn lớn, và một khoản thâm hụt vốn liếng đau đớn.
Cuốn sổ tay bìa cứng bọc nilông cũ kỹ vẫn nằm im lìm trong góc tối tăm của khoang ghe, bên cạnh ngọn đèn bão đã cạn dầu. Cuốn sổ ấy ghi chép từng đồng nợ nần, nhưng mấy ngày nay Duyên không dám dũng cảm mở ra để đặt bút viết thêm một dòng nào. Cô sợ phải đối diện với sự thật rằng cái ghe bếp này đang chìm dần, chìm dần theo từng con nước ròng.
Khoản nợ năm trăm ngàn đồng tiền phụ tùng thay trục láp ở xưởng Chú Tư Máy chỉ còn đúng hai ngày nữa là đến hạn kỳ đầu tiên. Tiếng búa đập sắt chan chát và ánh mắt nghiêm nghị, lạnh lùng của người thợ già như đang hiện lên mồn một ngay trước mắt cô giữa trưa nắng chang chang.
Gió sông thổi qua ràn rạt làm bay bay những lọn tóc mai bết mồ hôi bên trán Duyên.
Bình cất túi gia vị riêng dưới đáy khoang bếp, còn Duyên nhìn qua rạch Bưng Sen nơi đội công trường đang vẫy tay gọi một mối làm ăn mới.