Kho chưa từng tồn tại
Không khí dưới tầng hầm Kho Những Hồ Sơ Chưa Từng Tồn Tại đặc quánh mùi giấy mục, băng phiến và hơi ẩm kim loại, hoàn toàn tách biệt khỏi nhịp gõ phím rộn rã trên tầng tiếp nhận.
Cầm trên tay phiếu yêu cầu tra cứu nghiệp vụ được Trưởng phòng Dung phê duyệt với lý do rà soát hồ sơ tồn quá hạn, An lần theo cầu thang thoát hiểm xuống kho lưu trữ bí mật dưới tầng hầm sâu nhất của Cục. Lối đi này không có thang máy cơ học. Bậc thang bằng xi măng xám xịt xoắn ốc sâu hun hút, tay vịn sắt hoen rỉ bám một lớp bụi mịn như bột than, lạnh buốt và ram ráp dưới lòng bàn tay mỗi khi anh lần bước qua từng nhịp gấp. Càng xuống sâu, tiếng bước chân nện trên nền đá càng dội ngược lại tai anh những âm vang khô khốc, trơ trọi, nghe như tiếng gõ vào một lòng giếng cạn bị lãng quên.
Ở độ cao ba mươi mét phía trên đỉnh đầu anh, tại sảnh Bàn Số 8, thế giới được vận hành bằng những con số nhảy nhót trên màn hình LED phẳng lì, những câu chào khách cài sẵn trong máy lấy số tự động phát ra giọng kim khí rành rọt, cùng tiếng phàn nàn dai dẳng của những người chờ đến lượt trong căn phòng ngột ngạt mùi mồ hôi và cà phê rẻ tiền. Ở đó, người ta tranh nhau từng phút giây của hạn ngạch, từng dấu mộc kiểm định để hợp thức hóa một chuyến hàng hay một lượt di trú liên không gian. Nhưng ở độ sâu ba mươi mét dưới lòng trụ sở trung tính này, mọi sự ồn ã của đời sống hành chính đều bị dập tắt hoàn toàn. Chỉ còn lại sự im lặng chết chóc của hàng triệu trang giấy đang âm thầm phân hủy trong bóng tối dày đặc, nơi từng thớ cellulose mục rữa nhả vào không gian thứ mùi chua nồng của thời gian bị giam cầm.
Cánh cửa sắt ngăn cách kho lưu trữ với chân cầu thang dày đến gang tay, lớp sơn xanh quân đội đã bong tróc từng mảng lớn để lộ lõi thép ố vàng vì rỉ sét và nước ngầm rỉ qua khe nứt địa tầng. Trên bề mặt thép sần sùi ấy, những vết hàn thô kệch chằng chịt như những vết sẹo chưa bao giờ lành. An đứng lại trước cánh cửa, lồng ngực hơi thắt lại vì bầu không khí thiếu dưỡng khí. Anh hít một hơi sâu, đưa tay gõ ba tiếng cộc lốc vào tấm biển đồng xỉn màu gắn chìm bằng bốn chiếc đinh tán to bản, nơi khắc dòng chữ gần như đã mất hết nét viền: *Tổ Quản lý Hồ sơ Đình chỉ và Lưu trữ Ngoại ngạch*.
Tiếng gõ kim loại đanh lại, chìm nghỉm vào khoảng không vô tận phía sau cánh cửa. Phải mất gần nửa phút sau, bên trong mới phát ra tiếng chốt xích kim loại lách cách vang lên chậm rãi. Từng khớp xích rít lên ken két, khô dầu, tựa hồ hàng tháng trời chưa từng có ai kéo ra.
Cánh cửa nặng nề hé mở một khe hẹp vừa đủ một luồng gió lạnh thấu xương lùa ra ngoài, mang theo luồng chướng khí của giấy ẩm và nấm mốc lâu năm táp thẳng vào mặt An. Một gương mặt xương xẩu, xám ngoét dưới ánh đèn tuýp nhấp nháy hiện ra từ khoảng tối hẹp hòi ấy.
Nhân viên lưu trữ Bùi Văn Lộc tiếp đón An bằng thái độ lầm lì, săm soi từng chữ ký và con dấu trên phiếu yêu cầu trước khi càu nhàu dẫn anh đi qua những dãy kệ sắt cao ngút tầm mắt. Lộc trạc ngoài năm mươi, vóc dáng lòng khòng nhưng hai vai hơi so lại như thói quen của người cả đời phải né tránh những góc kệ nhọn hoắt. Ông mặc chiếc áo gi-lê bảo hộ nhiều túi may bằng vải thô dày đã sờn rách ở mép cổ áo, hai bên ngực áo cài lúc lắc mấy chiếc bút chì mòn vẹt và một cuộn dây đo bằng thép. Đôi bàn tay ông được bọc trong đôi găng vải trắng đã ngả sang màu cháo lòng, những đầu ngón tay đen sì vì muội than và bụi giấy lưu trữ.
Ông ta không buồn cất lời chào hỏi. Ánh mắt đùng đục sau cặp lông mày rậm rạp chỉ liếc qua ngực áo An—nơi gắn tấm thẻ công chức tập sự màu xanh lơ—rồi giật phắt lấy tờ phiếu tra cứu trong tay anh. Lộc kéo cọc kính lão có sợi dây cước buộc vòng qua gáy trễ xuống tận sống mũi, xoay người nghiêng một góc bốn mươi lăm độ để giơ tờ giấy lên sát bóng đèn huỳnh quang duy nhất đang chập chờn trên trần hành lang.
"Trần Thu Dung ký nháy à?" Giọng Lộc khàn đặc như tiếng hai mảnh ngói vỡ cọ vào nhau, nghe bức bối và mệt mỏi cùng cực. "Lại cái bài rà soát hồ sơ tồn quá hạn. Tháng nào cũng có đứa ôm cái lý do này xuống đây quấy rầy. Tưởng tôi rảnh lắm chắc?"
Ngón tay trỏ chai sần của Lộc miết mạnh lên vết mực dấu đỏ tươi của Phòng Tiếp Nhận và Hướng Dẫn. Móng tay ông cáu bẩn, ấn lún cả mặt giấy pơ-luya mỏng tang. Ông ta không dừng lại ở việc nhìn; Lộc đưa mép giấy lên gần chóp mũi, ghé mũi hít một hơi dứt khoát dường như để kiểm tra xem mùi dung môi của mực dấu có đúng là loại mực bảo mật đặc chủng pha bột khoáng của Cục hay không, rồi lại lật mặt sau tờ giấy kiểm tra vết hằn của ngòi bút bi và độ sâu của vết dập nổi. Sau gần hai phút soi mói không tìm ra một lỗi chính tả, một vết sửa tẩy hay bất kỳ sai sót thể thức nào, Lộc tặc lưỡi một tiếng đầy vẻ thất vọng. Ông hạ tờ giấy xuống, quay lưng lết đôi dép nhựa mòn vẹt vào bên trong, bỏ mặc cánh cửa sắt tự trôi lại một nửa.
"Đi theo. Giữ chân cho khéo, vấp vào đống hồ sơ mẫu năm chín mươi tư gãy cổ ráng chịu."
An lặng lẽ bước theo sau tấm lưng còng của người thủ kho già, cẩn thận né những góc bàn sắt kê sát lối đi và những bọc tài liệu buộc dây dù đang xếp chồng chất dưới chân tường.
Không gian kho lưu trữ rộng đến mức kinh ngạc, mở ra thành một mê cung hun hút những dãy giá sắt cao chạm trần bê tông hình vòm cuốn. Đó là một kết cấu kiến trúc thời kỳ đầu của Cục, với những thanh dầm thép chữ I đồ sộ đỡ lấy trần vòm loang lổ vết muối kết tinh màu trắng đục. Hàng vạn chiếc hộp các-tông màu nâu sẫm nằm ken đặc trên các tầng kệ, mỗi hộp đều buộc dây dù gai và dán một dải băng niêm phong bằng sáp đỏ sẫm màu máu khô. Những bóng đèn dây tóc công suất thấp treo lơ lửng bằng những sợi dây điện bọc vải giữa các lối đi hẹp, đung đưa nhè nhẹ theo luồng khí đối lưu nhân tạo yếu ớt, tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, tù mù, chỉ vừa đủ soi rõ những hạt bụi lơ lửng kết mảng trong không khí tĩnh mịch.
Càng đi sâu, tiếng đế dép nhựa của Lộc càng rời rạc. Tiếng thở dốc của ông hòa lẫn với tiếng vo ve buồn ngủ của các cuộn chấn lưu điện tử cũ kỹ gắn rải rác trên vách tường. Ở đây không có tiếng chuông bấm số, không có tiếng máy in kim rít lên từng tràng cơ khí quen thuộc của sảnh giao dịch, cũng không có ánh mắt van nài hay giận dữ của những cư dân từ các chiều không gian xa xôi. Nơi này là điểm tận cùng của chu trình hành chính, nơi chôn vùi những gì hệ thống muốn quên đi.
Lộc dừng lại trước dãy kệ số 44, ngước mắt nhìn lên tầng kệ thứ bảy, nơi những chiếc hộp phủ một lớp bụi dày đến nửa đốt ngón tay, mờ mịt đến mức các mã vạch in bằng mực than gần như đã biến thành những vệt xám đồng màu.
"Mã trên phiếu là TL-004-X đúng không?" Lộc càu nhàu, hai tay đút sâu vào túi áo gi-lê, không buồn quay đầu lại nhìn An.
"Vâng, thưa bác," An lễ phép đáp, ngước mắt nhìn theo những hàng số được dập nổi sơ sài trên thanh ray kim loại của dãy kệ. Anh cố gắng nhìn lướt qua các nhãn ký hiệu xung quanh để định hình cách thức lưu trữ. "Cháu thấy dãy ký hiệu này dường như được phân theo khu vực địa lý liên chiều cũ. Bác cho cháu hỏi, các hộp có dải băng xanh bên cạnh kia là thuộc diện phân loại nào ạ? Chúng được chuyển về đây từ bao giờ?"
Lộc thử thách tính kiên nhẫn của An bằng việc chỉ đưa ra đúng hồ sơ mang mã số ghi trên giấy, từ chối trả lời mọi câu hỏi mở rộng về cách phân loại tài liệu của kho. Thay vì giải thích, ông ta liếc xéo An bằng ánh mắt xoi mói, kéo lê chiếc thang nhôm gấp từ góc tường đối diện lại. Chiếc thang cũ kỹ rên lên những tiếng rùng mình khi Lộc đặt chân lên từng bậc. Ông trèo lên một cách nặng nhọc, từng khớp xương khớp gối kêu lách cách dưới sức nặng của cơ thể, vươn cánh tay gầy guộc rút phắt một tập bìa kẹp cứng màu vàng nghệ từ mép trong cùng của tầng bảy, rồi chậm chạp tụt xuống.
Bụi giấy lâu ngày bị xáo trộn bay mù mịt trong quầng sáng của bóng đèn dây tóc, tỏa ra mùi ngai ngái nồng nặc khiến An phải cắn chặt môi dưới để cố nén một cơn ho khan đang chực trào lên lồng ngực.
"Phiếu của cậu chỉ có thẩm quyền tra cứu đúng một mã này," Lộc đặt phịch tập hồ sơ lên chiếc bàn sắt gỉ sét kê đơn độc giữa lối đi hẹp, phủi mạnh hai bàn tay bọc găng vào vạt áo gi-lê, làm bụi bay lên thành một làn khói mờ. "Cậu không phải thanh tra Cục, tôi không phải hướng dẫn viên du lịch. Hỏi thừa không tăng lương, chỉ tăng rắc rối. Ngồi đó mà đọc. Đọc xong thì trả nguyên trạng. Mất một góc giấy là cậu tự đi mà giải trình với Ban Giám đốc."
Nói xong, Lộc kéo một chiếc ghế đẩu ba chân bằng gỗ mộc ngồi xuống cách đó vài bước chân, dựa lưng vào một cột bê tông chịu lực. Ông rút từ túi áo ra một bao thuốc lá sợi nhàu nát, dùng ngón tay run rẩy vê một điếu thuốc cuốn tay khét lẹt, châm lửa bằng một chiếc bật lửa xăng vỏ đồng cũ mòn. Đốm lửa đỏ lập lòe soi rõ những rãnh nhăn sâu hoắm như vết chém trên trán người thủ kho già. Ông ngả đầu ra sau, mắt đăm đăm nhìn vào khoảng không tối tăm phía cuối hành lang, nhưng khóe mắt đục ngầu kia vẫn ngầm ghim chặt vào từng cử động của ngón tay An.
An nuốt khan một ngụm nước bọt, kéo chiếc ghế sắt gỉ sét lại gần bàn rồi ngồi xuống. Mặt thép lạnh ngắt truyền qua lớp vải quần âu mỏng khiến anh khẽ rùng mình.
Bìa tập tài liệu đã ngả sang màu nâu nhạt của lá khô mục, bốn góc bìa bị sờn rách để lộ các lớp giấy bồi ép chặt bên trong. Bên ngoài bìa, dòng mã hiệu được viết bằng thứ mực đen dùng cho bút chấm ngấm nước đã phai nhạt theo năm tháng: *TL-004-X*. Đính kèm phía góc trên bên phải là một dải ruy-băng vải màu đỏ điều đã mục sợi, được giữ chặt bằng một dấu mộc hình chữ nhật dập bằng mực son đậm nét: *LƯU TRỮ HẠN CHẾ – RÚT KHỎI HỆ THỐNG TRA CỨU CÔNG CỘNG THEO QUYẾT ĐỊNH TINH LƯỢC*.
Khi mở tập hồ sơ tương ứng với mã số bí ẩn nhặt được từ hộc bàn, An phát hiện một sự thật lạnh người: các hồ sơ bị chuyển sang diện 'lưu trữ hạn chế' không hề được giải quyết dứt điểm mà chỉ bị ngắt liên kết tìm kiếm trên cổng công cộng để làm đẹp biểu đồ tồn đọng.
Mọi thứ hiển hiện rõ ràng, lạnh lùng và tàn nhẫn dưới ánh đèn vàng vọt của kho lưu trữ.
Trên hệ thống dịch vụ công tích hợp mà anh và Bình thao tác hàng ngày tại Bàn Số 8, quy trình xử lý luôn được gắn với các màu sắc biểu thị hiệu năng rất trực quan. Một khi cán bộ tiếp nhận ấn nút chuyển hồ sơ sang trạng thái "Đã đóng", toàn bộ biểu đồ hiệu năng trên màn hình trung tâm của Cục sẽ lập tức nhảy số xanh mướt. Thời gian chờ xử lý trung bình của đơn vị lập tức hạ xuống vài phần trăm giây, tỷ lệ giải quyết đúng hạn được đẩy vọt lên tiệm cận mức hoàn hảo, và Ban Tinh Gọn của Vũ Thành Phúc có thể tự hào giương cao những bản báo cáo số liệu trước các hội nghị liên ban rằng tỷ lệ tồn đọng của toàn Cục đã tiệm cận mức 0%.
Nhưng ở đây, ngay dưới ngón tay trỏ đang run lên của An, trong tập hồ sơ bằng xương bằng thịt này, dòng thời gian hành chính thực chất đã bị bóp nghẹt một cách man rợ.
Không hề có một văn bản chấp thuận cấp phép kết nối nào được ban hành để mở tuyến lưu thông. Càng không hề có một quyết định từ chối chính thức nào mang tính pháp lý, có viện dẫn các điều khoản luật định cụ thể để phía đương sự có quyền khiếu nại hay yêu cầu phân xử lên cấp trên theo đúng trình tự tố tụng hành chính.
Thứ duy nhất nằm chình ình ở trang đầu tiên của tập tài liệu là một lệnh kỹ thuật nội bộ ngắn gọn, vỏn vẹn ba dòng lệnh lạnh lùng được đánh máy bằng mực tím than: *Cắt chỉ mục tìm kiếm trên máy chủ tra cứu công dân; chuyển luồng dữ liệu sang máy chủ lưu trữ ngoại vi; ngừng phát hành thông báo trạng thái qua bưu điện*.
Nói cách khác, thế giới bên kia cánh cổng kết nối không hề nhận được bất kỳ câu trả lời nào. Họ không biết đơn xin của mình bị bác bỏ hay đang được thụ lý. Họ bị cắt đứt hoàn toàn đường dây liên lạc, bị cô lập trong vùng mù thông tin, và trên bình diện thủ tục, họ đã bị biến thành một "bóng ma" hành chính trôi dạt bên ngoài hệ thống. Hồ sơ vẫn ở đây, từng tờ giấy xác nhận nhân thân, từng bản kê khai tài sản và nhu cầu dân sinh vẫn nằm im lìm trong bóng tối ẩm thấp của tầng hầm này, nhưng trên biểu đồ báo cáo thành tích của Cục gửi lên Hội đồng Tối cao, nó đã bốc hơi không để lại một tỳ vết. Nó đã bị xóa sổ trên bề mặt số liệu, như thể nó chưa từng tồn tại trên cõi đời này.
Những ngón tay của An bắt đầu run rẩy rõ rệt khi anh lật sang phần tài liệu đính kèm nằm ngay bên dưới lệnh điều chuyển kỹ thuật.
Biên bản khảo sát kèm theo hồ sơ lưu cho thấy một vũ trụ nông nghiệp nhỏ sau khi bị đóng tuyến sáu tháng trước đã hoàn toàn đứt gãy nguồn cung kháng sinh và hạt giống lai, dẫn đến khủng hoảng y tế địa phương, nhưng báo cáo tổng kết của Cục lại ghi trạng thái 'đã giải quyết dứt điểm nhu cầu'.
Tập biên bản khảo sát thực địa được lập bởi một kiểm tra viên kỹ thuật tiền nhiệm cách đây ba năm, mang mã hiệu thanh tra TT-19. Từng trang giấy đánh máy chi tiết đến mức trần trụi, ghi lại sự sụp đổ dây chuyền của một cấu trúc xã hội mỏng manh.
Theo hồ sơ, thực tại TL-004-X là một thế giới nông nghiệp đất ngập nước trũng thấp, bao gồm hàng nghìn cù lao nhỏ liên kết với nhau bằng mạng lưới đầm lầy và kênh rạch chằng chịt. Cư dân ở đó chuyên canh các loại ngũ cốc hạt tròn vùng nước lợ và duy trì nghề chăn nuôi gia cầm, thủy cầm liên không gian qua nhiều thế hệ. Đổi lại, do đặc thù sinh thái khép kín và đất đai bị nhiễm phèn nặng, họ phụ thuộc hoàn toàn vào mạng cổng kết nối trung chuyển của Cục để nhập khẩu định kỳ hai mặt hàng sống còn mà thổ nhưỡng địa phương không bao giờ có thể tự tổng hợp được: hạt giống lúa lai F1 kháng nấm đen mốc sương, và các dòng kháng sinh phổ rộng dùng chung cho cả đàn gia súc lẫn hệ thống y tế cộng đồng.
Khi cánh cổng trung chuyển số 4 bị đóng đột ngột ba năm trước với lý do vỏn vẹn trong một bản thông báo nội bộ: "chi phí duy trì băng thông nền không tương xứng với lưu lượng giao dịch thực tế", nguồn cung ứng huyết mạch ấy đã bị chặt đứt hoàn toàn chỉ sau một đêm duy nhất.
Bản báo cáo khảo sát bổ sung sau đó sáu tháng—được thực hiện bí mật bởi kiểm tra viên TT-19 trước khi vị này bị điều chuyển công tác—đã vẽ nên một bức tranh kinh hoàng. Thiếu hạt giống kháng nấm, toàn bộ các cánh đồng ngũ cốc ngập nước của TL-004-X bị dịch nấm đen mốc sương tàn phá sạch trơn trong vụ mùa đầu tiên. Lúa thối rữa ngay trên thân cây, biến các đầm nước thành những bãi sình lầy bốc mùi hôi thối. Đàn gia cầm thiếu thức ăn và bị nhiễm khuẩn đường ruột bắt đầu chết hàng loạt, xác nổi trắng các triền sông. Ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng đã kéo theo một đợt bùng phát dịch khuẩn hô hấp và tiêu chảy cấp tính trên diện rộng, quét qua tất cả các thị trấn ven sông.
Không có kháng sinh nhập khẩu, các trạm y tế địa phương hoàn toàn bất lực. Những người thầy thuốc ở đó chỉ biết dùng các loại thảo mộc bản địa vô hiệu để đắp lên ngực những đứa trẻ đang co giật vì sốt cao.
Trang cuối cùng của tập khảo sát là một bức ảnh chụp bán sắc mờ nhạt, được đính vào góc giấy bằng một chiếc ghim sắt đã rỉ sét hoen ố: đó là một góc quảng trường thị trấn ven sông vắng tanh không một bóng người, những dãy cửa hàng đóng cửa im ỉm bằng những tấm ván gỗ thô sơ, và mặt kênh phủ đầy xác bèo tây thối rữa.
Kèm theo bức ảnh là một bức thư tay tuyệt vọng của Hội đồng Xã thôn TL-004-X, được gửi qua trạm bưu điện trung tính trước khi cổng kết nối tắt ngấm ánh sáng lượng tử. Nét mực xanh học trò run rẩy, nhòe nhoẹt vì những giọt nước vô tình hay nước mắt của người viết:
*"Kính gửi quý Cục... Xin hãy cho chúng tôi biết chúng tôi còn thiếu loại giấy tờ nào trong danh mục? Chúng tôi đã điền đủ năm mươi hai biểu mẫu, đã xin đủ chữ ký của trạm kiểm dịch, và đã đóng đủ bốn trăm năm mươi Liên Phiếu lệ phí duy trì theo đúng thông báo số mười hai. Xin đừng ngắt tín hiệu. Thuốc men của bệnh xá trung tâm chỉ còn đủ dùng cho ba ngày nữa..."*
An thấy lồng ngực mình thắt nghẹn lại, một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng lên tận chân tóc. Đôi mắt anh cay xè.
Anh nhớ lại slide trình chiếu rực rỡ sắc màu của Vũ Thành Phúc tối hôm qua tại Hội trường số 1. Trong biểu đồ hình cột bóng bẩy được thiết kế tinh vi của Ban Tinh Gọn, thực tại TL-004-X không hề mang màu xám của sự đổ nát, càng không có màu đỏ của cảnh báo thảm họa. Nó được bôi màu xanh lá cây đậm—màu của sự thành công rực rỡ, màu của những chỉ số thi đua xuất sắc nhất—kèm theo dòng chú thích in hoa trang trọng: *Thực tại kiểu mẫu: Đã hoàn tất chuyển giao quyền tự chủ toàn diện, giải quyết dứt điểm 100% nhu cầu kết nối*.
"Giải quyết dứt điểm nhu cầu..." An lẩm bẩm trong miệng, từng từ rơi ra khỏi môi nghe đắng ngắt như vừa ngậm phải một viên thuốc độc bọc đường.
Đúng là họ đã giải quyết dứt điểm. Khi anh cắt đứt dây thanh quản của một con người, người đó sẽ vĩnh viễn không bao giờ có thể mở miệng kêu đau được nữa. Khi anh bẻ gãy chiếc bút của người nộp đơn, sẽ không còn lá đơn khiếu nại nào rơi vào hòm thư thụ lý. Và một hệ thống quan liêu mù lòa, điếc đặc trước tiếng rên siết của tha nhân sẽ tự mãn vỗ tay kết luận rằng mọi vết thương đều đã lành lặn, mọi nhu cầu đều đã được thỏa mãn tròn trịa trong những trang báo cáo thành tích bóng bẩy.
Cố nén cơn phẫn nộ đang trào dâng làm lồng ngực run lên từng chặp, An lật sâu hơn vào phần kẹp chứng từ pháp lý ở đáy tập hồ sơ. Anh cần tìm câu trả lời xác đáng cho cơ chế vận hành của sự tàn nhẫn này. Hệ thống không thể tự mình đưa ra một quyết định tàn độc như vậy nếu không có một mắt xích pháp lý cụ thể kích hoạt nó.
An phát hiện dấu vết nhật ký sử dụng con dấu xác nhận chuyển hồ sơ vào kho lưu trữ hạn chế, chứng minh hệ thống không hề bị lỗi kỹ thuật mà có sự can thiệp có chủ đích của con người.
Theo luật nền của trụ sở Cục—thứ luật bất thành văn nhưng chi phối mọi quy trình hành chính từ thời lập quốc—con dấu hợp lệ là thực thể duy nhất có quyền năng kích hoạt, điều phối hoặc đình chỉ các quyền truy cập trong toàn bộ mạng lưới cổng liên chiều. Dấu không thể bị làm giả bằng bất kỳ phần mềm mô phỏng nào, và mỗi lần mặt kim loại của con dấu chạm vào thớ giấy, cơ chế cơ học vi mô tích hợp bên trong lõi đồng sẽ tự động dập chìm một mã vi định danh độc bản vào nhật ký sử dụng nội bộ ở mép văn bản.
Ở mép trái của tờ lệnh điều chuyển hồ sơ TL-004-X sang diện lưu trữ hạn chế, vết hằn của con dấu đồng hiện lên rõ mồn một qua lớp giấy xơ xác. Mực dấu đỏ tươi, sắc cạnh, không lem một milimét: *DẤU THẨM DUYỆT ĐIỀU PHỐI – MÃ SỐ CON DẤU: VP-882*.
Mã số này không thuộc về bất kỳ thuật toán tự động nào của Hệ Thống Tinh Lược Thời Gian Thực. Nó là một con dấu cơ học bằng đồng thau nguyên khối, có tay cầm bằng gỗ mun, được cất giữ cẩn mật trong két sắt ba lớp khóa của Văn phòng Cục. Nó chỉ có thể được lấy ra, chấm mực và dập xuống mặt giấy bằng bàn tay của một con người bằng xương bằng thịt, sau khi đã cân nhắc, tính toán và ký tên chịu trách nhiệm.
Nhưng điều khiến An chết lặng, cả người như rơi vào một hầm băng sâu thẳm, hai mắt mở trừng trừng nhìn vào dòng chữ ký nháy nằm ngay sát bên cạnh con dấu, chính là nét mực quen thuộc đến mức ám ảnh.
Một chữ ký dứt khoát, thanh mảnh ở phần đầu nhưng dằn rất sâu xuống thớ giấy ở nét gạch ngang cuối cùng, làm rách nhẹ một sợi xơ cellulose. Kèm theo chữ ký là một hàng chữ viết tay nắn nót, chuẩn mực theo lối viết chân phương của các công chức kỳ cựu: *Chuyển kho bảo lưu ngoại ngạch theo chỉ đạo rà soát tinh giản*.
Người ký nháy lệnh điều chuyển số mệnh của toàn bộ thực tại TL-004-X ba năm trước không phải ai xa lạ.
Đó chính là Trần Thu Dung.
Những mảnh ghép rời rạc, mơ hồ trong đầu An suốt mấy ngày qua đột nhiên va đập vào nhau chan chát, tạo nên những tia lửa lạnh buốt trong tâm trí anh.
Lời cảnh báo lạnh lùng của Dung tối qua dưới gầm cầu thang thoát hiểm... vẻ mặt thản nhiên đến tàn nhẫn khi bà yêu cầu anh hủy các phiếu yêu cầu giải trình của công dân... sự am hiểu rợn người của bà về cách Ban Tinh Gọn dùng các chỉ đạo miệng, các công văn không lưu vết để ép các bàn tiếp nhận tự động rút hồ sơ... và cả ánh mắt trĩu nặng mệt mỏi, trống rỗng của bà mỗi chiều muộn khi ngồi một mình trong phòng làm việc, ngắm nhìn chiếc đồng hồ cơ cũ kỹ chạy sai nhịp.
Dung không phải là một nạn nhân thuần túy của hệ thống mới. Bà càng không phải là một người quan sát vô can đứng ngoài rìa cuộc chơi số liệu. Bà đã từng là một phần máu thịt của guồng quay tàn nhẫn này. Bà đã từng ngồi vào vị trí quyền lực đó, đã từng cầm lấy con dấu đồng *VP-882*, đã từng đặt bút ký nháy vào bản án khai tử của một thế giới để đổi lấy sự yên ổn cho chiếc ghế của mình, để căn phòng tiếp nhận không bị trừ điểm thi đua, để các chỉ tiêu tinh giản biên chế và hồ sơ được hoàn thành đúng tiến độ. Và có lẽ... bà đã tự huyễn hoặc bản thân rằng việc hy sinh một thực tại nhỏ bé, không có tiếng nói ở vùng biên viễn là cái giá chấp nhận được để bảo vệ một trật tự lớn hơn.
Một giọt mồ hôi lạnh từ trán An bất giác nhỏ xuống, rơi trúng vào mép tờ biên bản khảo sát ố vàng. Vết nước lập tức loang ra trên thớ giấy khô khốc, làm nhòe đi một góc chữ số của mã căn cước thực tại.
"Đọc kỹ chưa?"
Tiếng nói khô khốc của Bùi Văn Lộc vang lên đột ngột ngay sát bên tai khiến An giật thót người, suýt nữa làm rơi cuốn sổ tay trên đùi.
Người thủ kho già đã rời chiếc ghế đẩu từ lúc nào, bước đi không một tiếng động trên đôi dép mòn vẹt và hiện diện bên cạnh chiếc bàn sắt như một bóng ma bước ra từ lòng đất. Mùi thuốc lá sợi khét lẹt nồng nặc phả ra theo từng hơi thở dồn dập của ông, nóng rực và ngột ngạt lấn át cả mùi ẩm mốc xung quanh.
Lộc nhìn An đang run rẩy lật từng trang biên bản, lặng lẽ khép chiếc cặp tài liệu lại nhưng không ngăn anh ghi chép lại các số liệu đối chiếu quan trọng vào sổ tay cá nhân.
Bàn tay gầy guộc đầy những đốm đồi mồi của Lộc từ từ vươn ra, đặt phẳng lên bề mặt bìa tập hồ sơ TL-004-X. Những ngón tay bọc vải thô của ông ấn nhẹ xuống mép bìa, chậm rãi kéo tập tài liệu về phía mình. Động tác của ông không hề thô bạo, không có vẻ giật giành hay đe dọa của một kẻ canh gác bắt quả tang kẻ gian, mà nó trầm tĩnh, cẩn trọng và nặng nề như một nghi thức khép nắp một cỗ quan tài sau giờ hạ huyệt.
Nhưng ánh mắt đùng đục của ông không hề nhìn vào xấp tài liệu đang thu lại. Ông ghim thẳng ánh nhìn sắc lạnh của mình vào cuốn sổ tay bìa da nhỏ màu đen mà An đang mở sẵn trên đùi, nơi ngòi bút bi của chàng công chức trẻ vừa kịp vội vã vạch ra ba dãy số cốt tử bằng nét mực run rẩy: mã chứng từ thu nộp ngân sách *CT-450-LP*, mã định danh con dấu *VP-882*, và số hiệu tọa độ của tuyến cổng vật lý dẫn về trạm trung chuyển nông nghiệp ngập nước.
An nín thở. Tim anh đập dồn dập vào lồng ngực như muốn vỡ tung. Ngón tay anh siết chặt lấy thân bút bi đến mức các đốt ngón tay trắng bệch ra, nhói buốt.
Anh hiểu rất rõ mức độ nghiêm trọng của hành vi mình vừa thực hiện. Đây không còn là một lỗi vi phạm quy chế tác nghiệp thông thường. Sao chép các mã kiểm định nội bộ của kho hồ sơ đình chỉ là hành vi vi phạm nghiêm trọng nhất trong Quy chế Bảo mật Thông tin của Cục. Chỉ cần Lộc quay lưng bước ra cửa, nhấc ống nghe của chiếc máy điện thoại bàn quay số cũ kỹ kia lên và gọi một cuộc về Phòng Trật tự Nội bộ, đội bảo an sẽ có mặt tại tầng hầm này trong vòng chưa đầy hai phút. Thẻ công chức hợp đồng của anh sẽ bị bẻ đôi ngay tại chỗ, mã sinh trắc học sẽ bị xóa vĩnh viễn khỏi cổng vào, và anh sẽ bị trục xuất ra khỏi khu vực trung tính mà không cần bất kỳ một phiên họp kỷ luật hay một lời giải trình nào.
Nhưng Lộc không hề nhúc nhích.
Ông ta chỉ đứng yên đó, bóng lưng gầy guộc và còng xuống in một vệt dài ngoằng, đen thẫm trên nền xi măng ẩm ướt dưới ánh đèn dây tóc lay lắt. Bàn tay ông vẫn giữ chặt lấy tập hồ sơ trên mặt bàn sắt, ngón trỏ khẽ gõ nhẹ ba nhịp xuống mặt kim loại hoen rỉ.
*Cộc. Cộc. Cộc.*
Những âm thanh kim loại trầm đục, khô khốc vang lên đều đặn giữa sự tĩnh mịch ngột ngạt của căn hầm, nghe như nhịp đếm tàn nhẫn của một chiếc đồng hồ cát cổ xưa sắp sửa trút hết những hạt cát cuối cùng.
Ánh mắt người thủ kho già từ từ trượt từ cuốn sổ tay lên khuôn mặt đang cắt không còn giọt máu của An. Trong đôi mắt đục ngầu, mệt mỏi vì hàng chục năm chôn vùi tuổi trẻ và sinh lực dưới tầng hầm giấy mục này, An không nhìn thấy sự đe dọa, không thấy vẻ hách dịch của một kẻ gác cổng quan liêu, và cũng không hề có sự thù ghét của một kẻ bảo vệ chế độ.
Ở đó, ẩn sâu dưới những lớp mí sụp và những nếp nhăn nheo khắc nghiệt của thời gian, là một nỗi buồn sâu hoắm không đáy. Đó là nỗi buồn câm lặng của một người đã chứng kiến quá nhiều sự thật bị biến thành tro bụi, quá nhiều thế giới bị xóa sổ chỉ bằng một nét mực, nhưng bản thân lại hoàn toàn bất lực, không thể làm gì khác ngoài việc cặm cụi đánh số thứ tự, buộc dây dù và dán sáp niêm phong cho những nấm mồ hành chính ấy qua ngày này sang tháng khác.
Lộc thở hắt ra một làn khói mỏng từ khóe miệng, tàn thuốc rơi lả tả xuống mặt bàn sắt. Giọng ông hạ thấp xuống, trầm đục và run rẩy, chỉ vừa đủ cho hai người nghe giữa không gian mênh mông, lạnh lẽo của kho lưu trữ:
"Ở dưới này có mười hai dãy kệ như thế này. Mỗi dãy có bảy tầng. Mỗi tầng có sáu mươi hộp. Cậu nghĩ một mình cậu với cái Bàn Số 8 thì đọc được bao nhiêu dòng chữ nhỏ?"
An không thể trả lời. Cổ họng anh nghẹn ứ lại như có một khối chì chặn ngang. Không gian xung quanh dường như co rút lại, đè nặng lên đôi vai anh sức nặng của hàng triệu sinh mệnh vô danh đang mục rữa trên các giá sắt.
Lộc chậm rãi thu tay về, kẹp tập hồ sơ TL-004-X vào nách áo gi-lê. Ông quay người lại, bước từng bước nặng nề về phía chân chiếc thang nhôm đang dựng đứng trong bóng tối. Tiếng dép nhựa lại lết trên sàn xi măng, chậm chạp và cô độc.
Bóng tối của kho lưu trữ dường như dài hơn khi Lộc khẽ nhắc: "Biết mã thì tìm được giấy, nhưng biết rồi thì không thể vờ như chưa từng đọc."