Cuộc họp tiết kiệm thời gian
Chiếc đồng hồ treo tường vỏ đồng cũ kỹ tại góc đông bắc của phòng họp lớn số 1 nhích từng giây chậm chạp, tiếng bánh răng cơ khí kim loại khô khốc gõ vào không gian mệt mỏi từng nhịp khô khốc qua mốc mười chín giờ ba mươi. Phía trên bục trung tâm, tấm màn chiếu kỹ thuật số rộng mười hai mét vẫn sáng rực một thứ ánh sáng xanh lam lạnh lẽo, hắt bóng tiêu đề được bôi đậm bằng phông chữ hành chính chuẩn hóa: *“Hội nghị sơ kết giai đoạn một: Sáng kiến tối ưu hóa thời gian xử lý văn bản và tinh giảm quy trình tiếp nhận liên chiều.”* Phía trên trần cao, bốn dãy bóng đèn huỳnh quang công suất lớn phát ra tiếng vo ve trầm đục không ngừng nghỉ, thứ âm thanh đặc thù của những tòa nhà công vụ được xây dựng từ thời kỳ bành trướng thứ ba, nơi mọi thứ từ lớp sơn tường bong tróc cho đến hệ thống thông gió tuần hoàn đều đã ngấm sâu thứ bụi mịn màu xám nhạt của hàng triệu trang hồ sơ mục nát.
Không có gì mỉa mai và tàn nhẫn bằng việc một cuộc họp có mục tiêu tối thượng là tiết kiệm thời gian và triệt tiêu lãng phí lại kéo dài quá giờ đóng cổng liên vũ trụ gần hai tiếng đồng hồ.
Trong túi vải thô đặt nép dưới chân ghế sắt của An, chiếc hộp cơm hai ngăn bằng thiếc mạ kẽm mà anh cẩn thận chuẩn bị từ sáu giờ sáng để mang về ăn cùng mẹ Hạnh lúc này đã hoàn toàn mất nhiệt. Hơi ấm của mấy khúc cá trê đồng kho dưa chua cháy cạnh cùng phần cơm gạo đỏ dẻo thơm hẳn đã tan biến từ lâu trong cái lạnh khô của điều hòa trung tâm, đông cứng lại thành một khối mỡ váng đục, bết dính chặt vào thành hộp. Ở túi quần âu bên phải, chiếc máy nhắn tin công vụ kiêm điện thoại cầm tay cứ cách mười lăm phút lại rung lên từng đợt ngắn ngủi, nhè nhẹ nhưng dai dẳng như một vết châm. Màn hình tinh thể lỏng phát sáng mờ mờ qua lớp vải sợi tổng hợp thô ráp:
*“Mẹ: Cơm mẹ hâm lại lần hai rồi đấy, nồi đất sắp cạn cả nước dừa.”*
*“Mẹ: Chuyến tàu hàng trung chuyển số bốn chuẩn bị khóa rào chắn đường ray, con có kịp qua trạm kiểm soát không?”*
*“Mẹ: Thôi, mẹ đậy lồng bàn rồi cất vào chạn. Đừng nhịn đói mà đau bao tử nghe con.”*
An khẽ thở dài, luồn những ngón tay khô ráp vào túi quần, bấm nút tắt màn hình để chấm dứt những xung rung vô vọng. Giờ này ở trạm trung chuyển kỹ thuật số bốn thuộc phân khu hạ lưu—nơi đặt cánh cổng dân sinh duy nhất nối về miền quê bán sơn địa cằn cỗi của hai mẹ con anh—rào chắn từ trường chắn tuyến dân sinh có lẽ đã hạ xuống quá nửa. Thứ ánh sáng cảnh báo màu vàng cam nhấp nháy trên đường ray chuyển tải hẳn đang rít lên những hồi còi giục giã cuối cùng. Một khi cổng chính sập chốt cơ khí vào lúc hai mươi giờ đúng, toàn bộ dòng luân chuyển vật chất sẽ bị cô lập hoàn toàn cho đến ca mở sớm ngày hôm sau. Cách duy nhất để một công chức tập sự như anh về đến căn tiệm may nhỏ nồng mùi vải vụn và dầu máy của mẹ là chấp nhận nộp phạt nửa ngày lương để xin một suất quá cảnh trên chuyến tàu kỹ thuật rạng sáng, hoặc tệ hơn, co quắp ngủ vùi trên chiếc ghế xếp vải bạt ọp ẹp sau tấm vách ngăn ép mùn cưa của Bàn Số 8.
“... và như các đồng chí đã thấy trên biểu đồ phân rã chu kỳ tải lượng quý ba,” một giọng nói thanh thoát, vang rền nhưng nhuần nhuyễn đến mức có thể ru ngủ bất kỳ tâm trí tỉnh táo nào vang lên từ bục trung tâm, cắt đứt dòng suy tưởng của An.
Vũ Thành Phúc bước lên bục thuyết trình.
Người đứng đầu Ban Tinh Gọn Liên Vũ Trụ xuất hiện trước hội trường trong bộ âu phục cắt may tinh tế bằng thứ vải sợi trung tính ngoại vi—loại sợi cao cấp được dệt từ hạt vi nhựa phân rã chậm, không bao giờ nhăn nhúm và tuyệt đối không bám một hạt bụi liên chiều nào dù có phải đi qua hàng chục vùng xáo trộn áp suất. Trên ve áo trái của Phúc, chiếc huy hiệu biểu tượng ba vòng tròn lồng vào nhau bằng hợp kim mạ bạch kim lấp lánh dưới ánh đèn huỳnh quang, đại diện cho ba nguyên tắc cốt lõi mà ban của ông ta tôn thờ: Tinh giản, Tự động hóa và Triệt tiêu độ trễ.
Phong thái của Phúc luôn đĩnh đạc, ung dung, từng bước đi khoan thai và cái xoay người nhịp nhàng đều toát ra vẻ lịch thiệp không tỳ vết của một nhà cải cách kỹ trị thế hệ mới—hình mẫu của những công chức tinh hoa tin rằng họ mang trong mình sứ mệnh cứu vớt bộ máy cồng kềnh, già nua này khỏi bờ vực tự sụp đổ dưới chính gánh nặng giấy tờ của nó.
Phúc dừng lại sau bục gỗ sồi, mỉm cười dịu dàng. Đôi mắt sáng sau cặp kính không gọng lướt một vòng bao quát khắp hội trường lớn gồm hơn bốn trăm công chức đang ngáp ngắn ngáp dài, hai vai sụp xuống sau một ngày làm việc mười hai tiếng liên tục. Ông ta nâng bàn tay thon dài, ngón tay đeo chiếc nhẫn ấn khắc chìm biểu trưng hành chính, khẽ bấm chiếc điều khiển từ xa bằng gốm sứ trắng.
“Chúng ta thường tự hỏi, bằng một thứ cảm thức bảo bọc mang đậm tính gia trưởng truyền thống, rằng liệu sự hiện diện dày đặc của Cục có thực sự mang lại phúc lợi tối ưu cho các thực tại thành viên?” Giọng Phúc trầm ấm, nhịp nhàng và giàu tính truyền cảm, như thể ông ta không phải đang báo cáo số liệu mà đang giãi bày nỗi lòng thao thức của một người cha đầy bao dung trước đàn con thơ dại. “Hay chính sự bao bọc hành chính kéo dài từ năm này qua năm khác, những hàng rào kiểm định tầng tầng lớp lớp, những thủ tục thụ lý dập khuôn máy móc, đã vô tình tước đoạt đi năng lực tự thích ứng, bóp nghẹt tính chủ động sinh tồn của chính họ? Hôm nay, thay mặt Ban Tinh Gọn, tôi trân trọng công bố giai đoạn hai của đề án tái cơ cấu toàn diện: Chiến dịch *Trả lại quyền tự chủ cho các thế giới*.”
Cả hội trường rộng lớn khẽ xao động. Những cái đầu đang gục gặc vì buồn ngủ bắt đầu nhổm dậy. Tiếng sột soạt của tài liệu giấy, tiếng cựa mình của hàng trăm con người mỏi mệt tạo nên một làn sóng âm thanh mơ hồ. Cụm từ “trả lại quyền tự chủ” nghe vừa cao thượng, vừa đậm tính nhân đạo, lại phảng phất tinh thần khai phóng của thời đại công nghệ số. Nó khiến những người ngồi trong căn phòng ngột ngạt này có cảm giác họ sắp sửa trút bỏ được một gánh nặng đạo đức vô hình.
Phúc bấm chuyển trang trình chiếu. Tấm màn chiếu khổng lồ lập tức đổi tông màu, hiện lên một biểu đồ hình tháp ngược với các chỉ số đo lường hiển thị bằng sắc xanh lam dịu mắt, được thiết kế theo tỷ lệ đồ họa hoàn hảo.
“Để chiến dịch đạt hiệu quả thực chất, chúng ta không thể tiếp tục điều hành bằng cảm tính hay sự mủi lòng vụn vặt,” Phúc tiếp tục, từng ngón tay thon dài chỉ vào một thông số được đóng khung nổi bật bằng viền nét đứt màu đỏ cam ở đáy tháp ngược. “Thước đo chuẩn xác nhất, khách quan nhất và khoa học nhất cho mức độ sẵn sàng tự chủ của một thực tại chính là: *Chỉ số tần suất phát hành phiếu hẹn bổ sung hồ sơ*. Nếu một tuyến cổng trong suốt chu kỳ đánh giá mười hai tháng liên tục phải yêu cầu công dân bổ sung giấy tờ từ bốn lần trở lên, điều đó chứng minh điều gì? Nó chứng minh sự không tương thích sâu sắc về mặt luật nền giữa thực tại đó và hệ thống quy chuẩn trung ương. Nó chứng minh rằng chi phí vận hành hành chính, nhân lực bảo trì trường lực và băng thông thụ lý đã vượt quá xa giá trị kinh tế phục vụ thực tế.”
Phúc dừng lại một nhịp, ánh mắt tràn ngập vẻ cương nghị đầy thuyết phục:
“Đối với những tuyến cổng kém hiệu quả, cù nhầy, làm hao tổn tài nguyên công và biến các bàn tiếp nhận thành những bãi rác hồ sơ không hồi kết, giải pháp văn minh nhất, nhân văn nhất và tiến bộ nhất chính là đưa vào diện hoàn tất lộ trình: đình chỉ kết nối kỹ thuật, thu hồi định danh thụ lý và trả trọn vẹn quyền tự quyết lại cho chính quyền địa phương.”
“Tuyệt vời thật chứ!” Bình, ngồi ngay sát bên cạnh An, mắt sáng rực lên. Cậu ta vừa nghe vừa thoăn thoắt bấm chiếc bút bi kim loại lách cách, ghi chép lia lịa từng đề mục vào cuốn sổ tay bìa da bò bóng lộn. Cậu nghiêng đầu sang, phả vào tai An hơi thở nồng mùi cà phê hòa tan đặc quánh: “Mày thấy tầm nhìn chiến lược của anh Phúc chưa? Quá gãy gọn, quá sắc sảo! Cắt bớt mấy cái tuyến rắc rối cù nhầy, hồ sơ nát bét ấy đi thì Bàn Số 7 của tao với Bàn Số 8 của mày mới mong có ngày ngẩng mặt lên thở được. Mày thử tính xem, cứ mỗi sáng mở mắt ra kéo cửa chớp lên là thấy một hàng dài những người thiếu đủ thứ giấy tờ đứng chầu chực, van nài, giải thích mỏi cả mồm từ sáng đến tối mà chẳng xong nổi một mã vận đơn. Dẹp được cái đám hồ sơ tồn đọng đó, chỉ tiêu xử lý sáu mươi bộ một ngày của tao chỉ là chuyện nhỏ trong lòng bàn tay, mà năng suất thi đua quý này của mày cũng được kéo thẳng lên vùng an toàn. Đôi bên cùng có lợi, hệ thống sạch bóng!”
An không đáp lại một lời nào. Bàn tay anh đặt trên mặt bàn gỗ dán công nghiệp siết chặt lại, những đốt ngón tay trắng bệch ra dưới ánh đèn huỳnh quang.
Dưới ánh sáng phản chiếu từ máy chiếu, mặt bàn gỗ bóng loáng in mờ bóng lưng thẳng tắp, cô độc của chính anh đối diện với vóc dáng tự tin của Vũ Thành Phúc trên bục cao. Trong mắt Bình, trong mắt Phúc, và có lẽ trong mắt của chín mươi chín phần trăm những công chức đang ngồi kín các dãy ghế bọc nỉ ở đây, việc “trả lại tự chủ” chỉ đơn thuần là một thao tác kỹ thuật gọn gàng trên phần mềm quản lý: xóa một mã định danh khỏi cây thư mục, vô hiệu hóa một cổng dữ liệu trường lực, giảm bớt vài chục gương mặt lam lũ đứng xếp hàng trước quầy tiếp nhận để bảng chấm công năng suất chuyển từ màu cam cảnh báo sang màu xanh lục an toàn.
Nhưng An biết. Anh ngồi ở Bàn Số 8 đủ lâu, lật từng trang giấy ố vàng đủ nhiều để hiểu rằng một cánh cổng bị đóng lại chưa bao giờ là một tập hồ sơ được giải quyết.
Đó là sự cắt đứt. Đó là một nhát kéo lạnh lùng cắt phăng sợi dây rốn mỏng manh duy nhất nối một vùng đất bên lề với dòng chảy sinh tồn của liên chiều.
Tấm màn chiếu kỹ thuật số rung nhẹ một cái rồi chuyển sang bảng thống kê chi tiết dạng lưới ma trận: *“Danh mục các thực tại có chi phí phục vụ cao đưa vào diện rà soát ưu tiên chuyển giao tự chủ – Đợt 1.”*
Từng hàng chữ, từng dãy mã số ma trận bắt đầu trượt từ từ trên nền phông trắng toát như những dòng mã lệnh vô cảm. Ánh mắt An lướt nhanh qua các cột phân loại, đọc lướt qua những thông số về lưu lượng hàng hóa, mức tiêu hao năng lượng trường duy trì, rồi đột ngột khựng lại ở góc dưới bên trái của bảng rà soát.
Mã thực tại: **TL-004-X**.
Trái tim An như đập hẫng một nhịp, rơi tõm vào một khoảng không buốt giá. Cả người anh cứng đờ, từng thớ thịt lạnh toát như vừa bị dội một gáo nước đá giữa mùa đông.
Dãy ký tự đó in hằn sâu vào tâm trí anh suốt nhiều tháng trời. Đó chính là mã căn cước thực tại trên tờ thông báo từ chối vô thừa nhận nằm dưới đáy ngăn kéo sâu nhất của Bàn Số 8 mà anh đã nhặt được ngay trong buổi sáng đầu tiên nhận việc—tờ giấy mỏng dính rách mép, mực in kim đã phai mờ nhưng vẫn đọc rõ nội dung thu đủ 450 Liên Phiếu phí thẩm định kỹ thuật theo chứng từ CT-450-LP, có dấu giáp lai của phòng tài vụ. Thế nhưng, chỉ đúng ba ngày sau khi người nộp hoàn tất nghĩa vụ tài chính, toàn bộ hồ sơ của thực tại đó đã biến mất hoàn toàn khỏi cổng tra cứu công cộng, bị khóa toàn phần dưới giao thức bảo mật Cấp độ 4, không một lời giải thích, không một đường dẫn khiếu nại.
Trên màn hình của Vũ Thành Phúc lúc này, dòng ghi chú bên cạnh mã TL-004-X được thể hiện ngắn gọn bằng một hàng chữ in nghiêng màu xám tro:
*“Đã hoàn tất quy trình chuyển giao tự chủ. Chi phí duy trì băng thông nền: 0 Liên Phiếu. Tỷ lệ tồn đọng: 0%. Đánh giá: Kiểu mẫu tinh gọn.”*
Một thế giới với hàng trăm ngàn sinh mệnh đã bị xóa sổ vĩnh viễn khỏi bản đồ dịch vụ công cộng chỉ để làm đẹp một con số không tròn trĩnh trên báo cáo tài chính của Ban Tinh Gọn.
Cơn bàng hoàng nghẹn thắt nơi lồng ngực chưa kịp lắng xuống thì những dòng tiếp theo đập vào mắt An như một chuỗi búa tạ giáng thẳng xuống màng nhĩ. Anh nheo mắt lại, cố ngăn cho hai tròng mắt khỏi run rẩy, đọc từng ký hiệu viết tắt trên danh sách ưu tiên rà soát đợt một đang từ từ lăn qua màn ảnh:
Dòng thứ tư: **VV-09** – Tần suất yêu cầu bổ sung: 6 lần. *Lý do phân loại: Không đáp ứng quy chuẩn truyền dẫn âm thanh hai tần số theo Thông tư 42; xung đột cơ chế an toàn ngoại vi.*
Dòng thứ bảy: **HT-07** – Tần suất yêu cầu bổ sung: 8 lần. *Lý do phân loại: Phát sinh nợ phí duy trì trường lực lũy tiến; đơn thư khiếu nại kéo dài; rủi ro đình chỉ kỹ thuật do suy kiệt áp suất.*
Dòng thứ mười một: **TT-103** – Tần suất yêu cầu bổ sung: 14 lần. *Lý do phân loại: Thiếu bản gốc kiểm định kỹ thuật cổ điển; thời gian thụ lý kéo dài vượt khung 15 năm; tài liệu lưu trữ không bảo toàn nguyên trạng.*
An thấy cổ họng mình nghẹn đắng lại, vị đắng chát của sự bất lực trào lên tận cuống lưỡi.
Cả ba bộ hồ sơ mà anh vừa dốc toàn bộ sinh lực, thức trắng bao đêm để rà soát và tháo gỡ trong những ngày qua—tuyến vận tải chuyên chở sách giáo khoa và giáo cụ trực quan của cô giáo Tống Ngọc Mai; tuyến nhập khẩu khẩn cấp máy thở tạo áp suất dã chiến cho đứa con gái sáu tuổi của người tài xế xe tải Hoàng Văn Sơn; và tuyến mở cổng thương mại loại ba kéo dài dằng dặc qua cả một đời người của cha con ông lão Đỗ Văn Hòa—tất cả đều nằm chình ình trong nhóm dẫn đầu của danh sách đen chuẩn bị bức tử.
Theo hệ thống tiêu chí mới mà Vũ Thành Phúc vừa nhân danh sự tiến bộ để xướng lên, những lần An kiên nhẫn ngồi lại ngoài giờ để hướng dẫn người dân viết lại đơn, những biên bản ghi nhận hiện trạng dã chiến mà anh chạy vạy khắp các phòng ban để xin xác nhận tạm thời nhằm cứu vãn một mạng người, những nỗ lực phối hợp thầm lặng cùng Đặng Thảo Vy bên Tổ Kiểm Tra Kỹ Thuật để dựng biển báo thủ công, hay việc anh lật tung các văn bản lưu trữ từ ba mươi năm trước để tìm ra điều khoản bảo lưu thời hạn cho ông lão Đỗ Văn Hòa... tất cả những hành động đó tuyệt nhiên không được hệ thống tính là nỗ lực phụng sự hay trách nhiệm công vụ.
Trong mắt cỗ máy tinh giản lạnh lùng, chúng chỉ đơn giản là những “lần phát hành phiếu hẹn bổ sung hồ sơ”.
Mỗi một lần anh mềm lòng, mỗi một lần anh cố gắng mở ra cho người dân cùng khổ một khe cửa hẹp để họ có cơ hội sống sót và tiếp tục hy vọng, thì thuật toán đánh giá của Ban Tinh Gọn lại tự động cộng thêm một điểm số định mệnh vào bản án tử hình dành cho cánh cổng kết nối của quê hương họ. Anh tưởng mình đang ném cho họ một chiếc phao cứu sinh, nhưng hóa ra chiếc phao ấy lại được gắn sẵn một quả tạ chì của quy trình chuẩn hóa.
“Như các đồng chí đã thấy rất rõ trên biểu đồ phân tích đa biến,” giọng Phúc vẫn vang lên đều đặn, nhịp nhàng, tròn vành rõ chữ và ngập tràn tinh thần xây dựng tích cực, “đây chính là những điểm nghẽn nghiêm trọng nhất, những 'vùng trũng hành chính' đang trực tiếp làm tê liệt tốc độ xử lý cơ học của khối tiếp nhận ban đầu. Bằng việc kiên quyết chuyển giao tự chủ cho nhóm đối tượng này trước ngày ba mươi tháng sau, chúng ta sẽ lập tức cắt giảm được bốn mươi hai phần trăm chi phí duy trì trường lực dự phòng, đồng thời giảm tải ngay lập tức áp lực hàng đợi cho các bàn số lẻ và số chẵn từ mười lăm đến hai mươi lăm phần trăm. Bộ máy của chúng ta sẽ trở nên thanh thoát, tinh gọn, tốc độ và hiệu quả hơn bao giờ hết.”
Một tràng pháo tay rộ lên từ hàng ghế đầu—nơi các trưởng phòng chuyên môn và chuyên gia cao cấp của Cục đang ngồi—rồi nhanh chóng lan rộng ra khắp bốn bề hội trường như một phản xạ có điều kiện. Tiếng vỗ tay ròn rã, đều đặn, rập khuôn của hàng trăm công chức đang mỏi mệt, những người chỉ mong mỏi màn hình tắt đi, cánh cửa hội trường mở ra để họ kịp bắt chuyến tàu đêm trở về nhà. Bình bên cạnh vỗ tay nhiệt tình nhất, hai lòng bàn tay đập vào nhau bôm bốp, khuôn mặt tròn trịa rạng rỡ như thể vừa trút bỏ được một khối đá tảng ngàn cân đang đè nặng lên chỉ tiêu thi đua biên chế cuối năm của Bàn Số 7.
An ngồi chết lặng giữa những đợt sóng vỗ tay râm ran ấy. Anh trơ trọi như một mỏm đá ngầm giữa dòng nước xiết. Đôi mắt anh dán chặt lên góc màn hình, nơi dòng mã **TT-103** đang nhấp nháy một màu đỏ gạch cảnh báo.
Mười lăm năm chờ đợi mòn mỏi của ông lão Đỗ Văn Hòa; mảnh giấy xác nhận thất lạc rách nát, ố vàng vì mồ hôi và nước mưa mà ông đã bọc trong ba lớp nilon, cất giữ như báu vật dưới đáy rương suốt bảy năm trời; giọt nước mắt vỡ òa lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo của cô con gái Đỗ Yến Nhi khi ngỡ rằng chuyến xe chở phân bón và nông cụ cải tiến sắp sửa lăn bánh qua cổng biên giới để cứu lấy vụ mùa của cả một ngôi làng... tất cả những mồ hôi, nước mắt và niềm hy vọng bền bỉ suốt nửa đời người đó sắp sửa bị nghiền nát thành tro bụi bởi một quyết định hành chính ngắn gọn, nhân danh “sự tinh giản”.
“Hội nghị của chúng ta kết thúc tại đây. Cảm ơn sự tập trung và đồng thuận cao độ của toàn thể các đồng chí,” người chủ trì tuyên bố dứt khoát vào micro.
Ngay lập tức, âm thanh kim loại của ghế sắt va chạm, tiếng lách cách thu dọn tài liệu, tiếng khóa kéo cặp táp và tiếng bước chân rầm rập hướng về phía các cửa thoát hiểm vang lên ầm ĩ. Ánh đèn huỳnh quang chớp nháy hai lần báo hiệu tòa nhà chuẩn bị chuyển sang chế độ tiết kiệm năng lượng ban đêm.
Vũ Thành Phúc thong thả bước xuống khỏi bục gỗ, kẹp tập hồ sơ bọc da đen sang trọng dưới nách. Trên môi ông ta vẫn giữ nguyên nụ cười hòa nhã, vừa đi vừa gật đầu chào hỏi, bắt tay những trưởng phòng và chuyên gia đang vây quanh tán thưởng sáng kiến xuất sắc.
Một luồng máu nóng bốc thẳng từ ngực lên hai bên thái dương An, rần rần như lửa đốt. Lồng ngực anh nghẹn lại vì phẫn uất. Không thể kìm nén được nữa, An đẩy mạnh chiếc ghế xếp kim loại ra phía sau, tạo nên một tiếng rít chói tai trên sàn đá mài. Anh bước nhanh ra lối đi giữa hai dãy bàn, toan tiến thẳng về phía bục trung tâm để chặn đường Vũ Thành Phúc.
Anh muốn đứng trước mặt Phúc, muốn lôi tập hồ sơ dày cộp của Bàn Số 8 ra và hỏi xem bản báo cáo đánh giá tác động dân sinh của những thế giới bị cắt cổng nằm ở ngăn kéo nào trong cái đề án bóng bẩy kia. Anh muốn hỏi Phúc có biết rằng phía sau cánh cổng HT-07, đứa con gái sáu tuổi của người tài xế Hoàng Văn Sơn chỉ có thể duy trì nhịp thở bằng từng bình dưỡng khí nén được cấp phép định kỳ qua đường biên giới hay không. Rằng việc cắt cổng không phải là trả quyền tự chủ, mà là một bản án bức tử không qua xét xử!
Thế nhưng, vừa bước ra đến hành lang phụ mờ tối dẫn sang dãy Bàn Tiếp Nhận, một bàn tay gầy gò, khô ráo nhưng mang một lực siết lạnh ngắt và chuẩn xác đến kinh ngạc đã bất ngờ túm chặt lấy cổ tay anh, kéo giật mạnh anh lùi sâu vào khoảng tối ẩm ướt dưới gầm cầu thang bộ dẫn lên kho lưu trữ.
An giật mình giằng mạnh tay ra theo phản xạ, nhưng lực kẹp của năm ngón tay kia không hề lay chuyển. Anh quay phắt lại, hơi thở dồn dập.
Trần Thu Dung đứng đó.
Trưởng phòng Tiếp Nhận và Hướng Dẫn vẫn mặc chiếc áo khoác len dệt kim màu xám tro quen thuộc đã sờn hai bên cổ tay áo. Gương mặt bà chìm một nửa trong bóng tối của hốc cầu thang, phẳng lặng và điềm tĩnh đến mức lạnh lùng, chỉ có đôi mắt sau cặp kính gọng kim loại mỏng là lóe lên những tia nhìn nghiêm khắc và sắc nhọn như dao cạo.
“Cậu định làm cái trò hề gì ở đây?” Dung hỏi, giọng bà trầm, khô và hạ thấp đến mức tối đa, vừa đủ để lọt vào tai An giữa những tiếng cười nói ồn ào của đám đông đang túa ra cổng lớn ở đằng xa.
“Thưa Trưởng phòng,” An thở dốc, hai bả vai phập phồng sau lớp áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi lạnh, “những chỉ số trên màn hình đó... toàn bộ danh sách rà soát đóng tuyến của Ban Tinh Gọn là một sự loại bỏ có chủ đích! Cả ba bộ hồ sơ ở Bàn Số 8 vừa được thụ lý hợp lệ, vừa được Vụ Chuẩn Hóa và Tổ Kiểm Tra phê duyệt điều kiện dã chiến tạm thời, tại sao lại bị gom vào diện ưu tiên đóng kết nối ngay trong đợt đầu? Cắt cổng của họ đồng nghĩa với việc đẩy họ vào đường cùng, cắt luôn đường sống của—”
“Cậu câm ngay cái miệng lại cho tôi,” Dung ngắt lời anh dứt khoát. Giọng bà không hề cao lên nửa tông, nhưng từng âm tiết nhả ra đều lạnh buốt và nặng trịch như đá tảng. Bàn tay bà siết chặt lấy cổ tay An thêm một chút, mạnh đến mức khiến lớp da thịt dưới cổ tay áo anh hằn lên những vệt đỏ tía. “Cậu tưởng ở cái Cục này chỉ có một mình cậu biết đọc chữ nhỏ trên biểu mẫu chắc?”
An sững sờ. Anh nhìn người phụ nữ trung niên đã ngồi ở chiếc bàn trưởng phòng đối diện quầy tiếp nhận suốt hai năm qua—người mà hàng ngày chỉ lặng lẽ ký duyệt những xấp giấy chuyển giao, lạnh lùng từ chối những lá đơn viết sai thể thức và chưa bao giờ nở một nụ cười với bất kỳ nhân viên hợp đồng nào.
Dung không buông tay anh ra ngay. Đôi mắt sau tròng kính của bà liếc nhanh ra hành lang vắng ngắt bên ngoài, nơi những bóng áo sơ mi trắng cuối cùng đang khuất dần sau cánh cửa kính tự động của sảnh chính, rồi quay lại nhìn thẳng vào đáy mắt An:
“Cậu là cái gì ở đây, Nguyễn Minh An? Cậu là một nhân viên hợp đồng ngắn hạn bậc một tại bàn tiếp nhận sơ cấp. Thẩm quyền pháp lý của cậu bắt đầu từ mép kính Bàn Số 8 và chấm dứt đúng ở mép kính Bàn Số 8: tiếp nhận hồ sơ, đối chiếu tính hợp lệ của con dấu, kiểm tra danh mục giấy tờ niêm yết, in phiếu hẹn và chuyển hồ sơ lên các bộ phận nghiệp vụ cấp trên. Hết! Quyết sách trên tấm màn chiếu kia là nghị quyết liên tịch của Ban Tinh Gọn phối hợp cùng Thường trực Cục và đại diện Hội đồng Ngân sách. Nó là định hướng vĩ mô. Cậu mang cái thứ lòng trắc ẩn bốc đồng, nông nổi của một đứa trẻ con chưa ráo mực biên chế đi chất vấn một kế hoạch đã được thông qua ở cấp Thường vụ, cậu nghĩ cậu sẽ cứu được ai? Cứu được ông già Đỗ Văn Hòa? Cứu được đứa bé thở máy? Hay người đầu tiên bị tước thẻ công vụ, bị tống cổ ra khỏi cổng trung chuyển ngay trong đêm nay chính là cậu?”
“Nhưng thưa cô, người dân không thể gánh chịu—”
“Người dân cần một hệ thống vận hành đúng luật để bảo vệ họ, chứ người ta không cần một thằng nhân viên tiếp nhận mất việc vì phát ngôn bừa bãi ngoài hành lang!” Dung gằn giọng.
Bàn tay bà cuối cùng cũng buông cổ tay anh ra, nhưng ngón tay trỏ khẳng khiu, chai sần vì cầm bút ký hàng chục năm trời lại điểm thẳng vào ngực áo An, ngay vị trí trái tim đang đập loạn xạ:
“Cậu nghe cho rõ đây. Tôi kéo cậu vào góc này không phải để nghe cậu diễn thuyết về đạo đức công vụ hay lòng thương người. Đạo đức trong cái tòa nhà này là thứ xa xỉ phẩm rỗng tuếch nếu nó không đi kèm với một thủ tục hợp thức.”
An im bặt. Cơn giận dữ bốc hỏa ban nãy dần bị đè nén xuống, nhường chỗ cho một cảm giác ngột ngạt, căng thẳng đến tột cùng dưới chân cầu thang tối tăm.
Dung khoanh hai tay trước ngực, kéo vạt áo len xám lại cho đỡ gió lùa, ánh mắt sắc sảo nhìn sâu vào những viên gạch đá hoa cương mờ xỉn dưới sàn:
“Chiến dịch của Phúc đã khởi động, guồng quay của nó đã vào khớp lệnh, không ai có thể dùng vài ba lời nói miệng hay sự phản đối cảm tính ở chốn đông người để chặn đứng nó lại được. Cậu bước ra đó chất vấn, ông ta chỉ cần mỉm cười, viện dẫn ba điều khoản trong quy chế phát ngôn nội bộ là đủ để tống cậu ra đường mà không cần bồi thường một cắc hợp đồng. Mục tiêu thực sự của Ban Tinh Gọn lúc này là gì? Là gom toàn bộ các hồ sơ tồn đọng lâu năm, dán cho chúng cái nhãn 'không tự cân đối' rồi dùng các chỉ đạo miệng, các thông báo nội bộ không lưu vết để ép các bàn tiếp nhận tự động rút hồ sơ, tự động đình chỉ thụ lý nhằm làm đẹp số liệu trước kỳ đại hội bổ nhiệm sắp tới.”
Dung bước lên nửa bước, ghé sát tai An, giọng bà thì thầm nhưng sắc lạnh như một lưỡi dao mổ rạch qua từng lớp cơ chế hành chính:
“Muốn bảo vệ hồ sơ của người ta, và quan trọng nhất, muốn giữ cái đầu của cậu còn ngồi được ở Bàn Số 8 để mà tiếp tục đọc từng dòng chữ nhỏ, cậu phải khắc cốt ghi tâm lấy một nguyên tắc thép: Kể từ sáng ngày mai, mọi chỉ đạo rút hồ sơ, mọi yêu cầu đình chỉ tuyến hay hủy kết quả thụ lý chuyển sang từ Ban Tinh Gọn, tuyệt đối không được thực hiện theo thông báo miệng, không được thực hiện theo ghi chú viết tay, và càng không được thực hiện theo thư điện tử nội bộ không có thẩm quyền ký số.”
Bà ngừng lại một giây để lời nói ngấm sâu vào tâm trí anh:
“Cậu phải ép bọn họ ban hành văn bản giải trình chính thức. Văn bản đó phải ghi rõ căn cứ pháp lý của việc ngắt kết nối kỹ thuật, phải có dấu đỏ tươi của Ban Tinh Gọn và chữ ký sống của đích thân Vũ Thành Phúc. Không có chữ ký sống chịu trách nhiệm cá nhân của người có thẩm quyền cao nhất, cậu kiên quyết không bàn giao hồ sơ gốc ra khỏi tủ sắt lưu trữ của Bàn Số 8. Bọn họ muốn lập thành tích bằng số liệu ảo trên màn hình chiếu, nhưng bọn họ sợ nhất là phải đặt bút ký tên vào một văn bản hành chính cụ thể có thể trở thành chứng cứ trước Hội đồng Kỷ luật mai sau. Cậu hiểu rõ tôi đang nói gì chưa?”
Sống lưng An chợt thẳng lại, một luồng điện chạy dọc tủy sống.
Lời nhắc nhở của Dung như một nhát búa đập tan màn sương mù bế tắc, hoảng loạn đang bủa vây lấy tâm trí anh.
Đúng vậy. Hệ thống này được dựng lên bằng giấy tờ, vận hành bằng những con dấu, và cách duy nhất để chống lại sự nghiền nát tàn bạo của nó không phải là những tiếng gào thét phẫn uất ngoài hành lang, mà là dùng chính những ràng buộc pháp lý chặt chẽ nhất của giấy tờ để trói tay những kẻ ra lệnh. Một khi không một ai trong Ban Tinh Gọn dám đặt bút ký tên chịu trách nhiệm cá nhân cho cái chết của một cánh cổng dân sinh, cánh cổng đó vẫn còn cơ hội để tồn tại dưới sự bảo hộ của quy trình tiếp nhận sơ cấp.
“Em hiểu rồi, thưa Trưởng phòng,” An khẽ gật đầu, giọng anh đã lấy lại được sự bình tĩnh, chắc nịch.
Dung thở dài một hơi rất khẽ, khóe mắt nhăn lại, vẻ mặt nghiêm nghị, sắt đá thường ngày hơi chùng xuống trong thoáng chốc. Bà liếc nhìn chiếc đồng hồ đeo tay mặt tròn mạ bạc đã sờn rách cả dây da của mình:
“Bảy giờ năm mươi rồi. Cổng dân sinh tuyến nhà cậu chỉ còn đúng mười phút nữa là khóa chốt từ trường. Cầm lấy cái hộp cơm nguội ngắt của cậu rồi chạy thục mạng ra trạm trung chuyển số bốn ngay đi, nếu không muốn mẹ cậu phải thức trắng đêm ngồi chờ cửa bên cái mâm cơm đậy lồng bàn.”
Nói dứt lời, không đợi An kịp đáp lại một tiếng cảm ơn, Dung dứt khoát xoay người. Tà áo khoác len màu xám tro phất nhẹ trong luồng gió lạnh từ hệ thống thông gió, bà chậm rãi rảo bước về phía căn phòng làm việc tĩnh lặng của mình ở cuối hành lang.
An đứng lặng giữa bóng tối của hốc cầu thang mất vài giây để định thần. Anh cúi xuống, xách chiếc túi vải thô đựng hộp cơm thiếc đã lạnh ngắt lên, kẹp chặt dưới cánh tay rồi rảo bước thật nhanh ra phía sảnh chính.
Hội trường lớn lúc này đã vắng tanh. Hầu hết đèn chiếu sáng đã tắt, chỉ còn lại chiếc máy chiếu trên bục trung tâm vẫn đang phát lại chu kỳ quét của danh sách rà soát các thực tại kém hiệu quả, ánh sáng xanh lơ hắt lên những hàng ghế trống trơn như một bãi tha ma công vụ.
Bước chân vội vã của An đột ngột khựng lại ngay trước ngưỡng cửa kính trượt dẫn ra sân ga trung chuyển.
Dưới ánh sáng xanh nhạt của màn hình đang cuộn chậm từng trang phụ lục kỹ thuật số hai—nhóm các tuyến giao thương thứ cấp chuẩn bị nhận thông báo cắt giảm quyền tự chủ qua đường bưu điện hành chính trong đợt tiếp theo—ánh mắt An vô tình chạm vào nhóm danh mục cuối cùng ở chân trang.
Ở hàng thứ tư mươi tám.
Nằm lọt thỏm giữa hàng trăm dãy mã số kỹ thuật khô khốc, vô hồn, là một tuyến cung ứng lương thực và vải sợi dân sinh có lưu lượng thấp.
Đó là một cái tên thân thuộc đến nhói lòng, nơi gắn liền với mùi cá kho dưa cháy cạnh trong căn bếp nhỏ, tiếng lách cách nhịp nhàng của chiếc máy may con bướm cũ kỹ mà mẹ Hạnh vẫn cặm cụi đạp chân mỗi tối, và những chuyến tàu hàng muộn màng chạy về miền quê bán sơn địa nghèo xơ xác của hai mẹ con anh.
Trên bảng danh sách các tuyến rà soát đóng cổng, An chợt nhận ra có cả những tuyến cung ứng thiết yếu nuôi sống hàng triệu con người.