Bản gốc đã sống hết đời
Đỗ Yến Nhi đập mạnh tập tài liệu bọc nhựa chống ẩm lên mặt bàn An, giọng đanh thép đòi gặp người có thẩm quyền cao nhất có mặt trong ca trực.
Cú đập dứt khoát đến mức làm chiếc máy bấm kim bằng thép đúc của An nảy lên một nhịp trên mặt gỗ công nghiệp dán simili màu xám tro, phát ra một tiếng *cạch* khô khốc, sắc lẹm. Xung quanh Bàn Tiếp Nhận Số 8, tiếng gõ phím lách cách của hàng chục chuyên viên thụ lý ở các quầy bên cạnh đột ngột chững lại nửa nhịp, một khoảng lặng ngắn ngủi tựa như một nốt nghỉ lạc lõng trong bản hòa tấu đơn điệu của bộ máy công quyền, rồi rất nhanh chóng, âm thanh rào rào vô cảm lại tiếp tục trỗi dậy. Những ngón tay lại miệt mài lướt trên bàn phím, những con dấu cao su lại nện đều đặn xuống mặt giấy, những luồng hơi nén từ ống chuyển thư từ trên trần nhà vẫn xì ra từng chặp buốt lạnh. Cả sảnh tiếp nhận trung tâm của Cục Quản Lý Các Vũ Trụ Rắc Rối dường như đã quá quen thuộc với những cơn thịnh nộ định kỳ, tuyệt vọng và bất lực của những cư dân trôi dạt từ các vùng rìa không gian.
Phía sau lưng Nhi, một ông lão gầy gò, lưng còng rạp xuống như một thân tre khô sau những mùa bão liên miên, đang luống cuống đưa hai bàn tay gầy guộc, chằng chịt gân xanh để giữ chặt mép áo khoác sợi thô của con gái. Đó là Đỗ Văn Hòa. Ông mặc một chiếc áo len màu cháo lòng đã sờn rách ở cả hai cổ tay, những sợi len tuột ra vặn xoắn vào nhau như mạng nhện cũ. Đôi mắt ông đùng đục, phủ một lớp màng mệt mỏi xám xịt—thứ dấu vết không thể xóa nhòa của những sinh linh đã phải ngồi hàng nghìn giờ dưới ánh đèn huỳnh quang nhấp nháy ở các phòng chờ liên chiều lạnh lẽo, hít thở thứ không khí nhân tạo nồng mùi cồn sát trùng và bụi giấy lưu trữ.
“Bình tĩnh đã, cô Nhi,” An khẽ nói, giữ cho giọng mình thật trầm và ổn định. Anh dùng hai ngón tay nhẹ nhàng đẩy tờ phiếu số thứ tự bằng giấy bóng mờ về phía góc bàn, tránh để nó bị gió từ quạt thông gió thổi bay. “Hồ sơ của Vũ Trụ Mọi Thứ Đều Tạm Thời, mã đăng ký ngoại vi TT-103 đúng không ạ? Tôi nhớ bộ hồ sơ này. Rất rõ là đằng khác.”
“Anh nhớ thì có ích gì chứ?” Nhi nghiến chặt quai hàm, hai cánh mũi phập phồng dữ dội sau lớp áo khoác gió đã bám đầy bụi đỏ của những dặm đường viễn xứ. “Đây là lần thứ tư trong năm nay các anh trả hồ sơ về cho cha tôi! Lần thứ nhất, các anh bảo thiếu dấu giáp lai của Hội đồng Cố vấn địa phương, trong khi chúng tôi đã giải thích rằng hội đồng đó chỉ họp ba năm một lần. Lần thứ hai, các anh đòi bổ sung biên bản thẩm định tác động môi trường khi luân chuyển kim khí xuyên màn chắn thực tại, chúng tôi lại phải lặn lội xin từng chữ ký của trạm quan trắc. Lần thứ ba, các anh bảo phông chữ trong bản kê khai kỹ thuật không đúng quy chuẩn ban hành hồi tháng Tư—chỉ vì một cái chân chữ hoa bị lệch hai mi-li-mét! Đến lần này, sau ba tháng ròng rã ăn chực nằm chờ ở khu trọ giá rẻ ngoài cổng trung chuyển, các anh lại gửi cho chúng tôi một tờ thông báo từ chối vỏn vẹn hai dòng chữ in sẵn: *‘Không đáp ứng yêu cầu kiểm định đối chiếu văn bản gốc’*. Các anh đùa giỡn với tuổi thọ của cha con tôi đấy à?”
Ông Hòa vội vàng kéo giật gấu áo con gái, giọng khản đặc và yếu ớt như tiếng lá khô cọ vào thềm đá: “Nhi à... khẽ thôi con. Ở đây là cơ quan công quyền trung ương... Người ta có nội quy, có trật tự của người ta... Cán bộ người ta làm việc cũng chỉ theo luật thôi mà con...”
“Luật gì cái thứ luật hành hạ người ta đến kiệt cùng thế này hở cha?” Nhi quay phắt lại, viền mắt cô đỏ hoe vì thiếu ngủ và phẫn uất, nhưng ánh nhìn thì quắc lên dữ dội, rực cháy thứ tia lửa của một kẻ không còn gì để mất. “Mười lăm năm rồi! Từ ngày con còn là một đứa trẻ thắt bím tóc đuôi sam lếch thếch đi theo cha bốc từng số thứ tự ở cái sảnh cũ dưới tầng hầm B, cho đến tận bây giờ khi con đã thay cha đứng tên làm người đại diện pháp lý, cái cổng thương mại ấy vẫn chỉ là một cái vòng sắt rỉ sét nằm trơ trọi ngoài thềm đá hoang vu! Quê hương mình thì thiếu thốn từng cây đinh mười phân, từng cái cuốc thép, người dân phải dùng đá cuội ghè sắc để gọt từng củ mài, rễ cây... còn các vị ngồi trong phòng máy lạnh ở đây thì cứ đòi hết thứ giấy tờ này đến thứ con dấu khác!”
Tiếng quát của Nhi vang dội khắp góc sảnh tiếp nhận, va đập vào những vách kính chống đạn ngăn cách giữa các bàn thụ lý, làm vài công chức ở Bàn Số 6 và Số 7 ngẩng đầu lên nhìn với ánh mắt khó chịu pha lẫn thương hại lười lĩnh.
Đúng lúc đó, một bóng người cao gầy, đĩnh đạc trong bộ âu phục màu xám tro cắt may phẳng phiu, không một nếp nhăn, bước chậm rãi ngang qua lối đi ngăn cách giữa Bàn Số 8 và dãy bàn hướng dẫn thủ tục. Từng bước chân của ông ta đều đặn, chuẩn xác như được đo bằng thước dây. Trên ve áo người đàn ông cài một chiếc huy hiệu hình thước cặp mạ bạc sáng loáng—biểu trưng quyền lực tối cao của Vụ Chuẩn Hóa Thực Tại, cơ quan nắm giữ sinh mệnh kỹ thuật của mọi cánh cổng liên chiều.
Phó vụ trưởng Phạm Đức Khang dừng bước.
Ánh mắt sắc lạnh, sâu hoắm sau gọng kính titan không viền của Khang quét qua gương mặt bừng bừng tức tối của Nhi, dừng lại nửa giây trên tấm lưng còng run rẩy của ông lão Đỗ Văn Hòa, rồi hạ xuống tập hồ sơ bọc nhựa dán kín mép đang nằm chỏng chơ trên bàn An. Khang là một chuyên gia chuẩn hóa kỳ cựu của Cục, người nổi tiếng từ tầng hầm kỹ thuật cho đến các phòng họp của Hội đồng Tối cao bởi sự chính trực đến mức tàn nhẫn, một bộ óc sắt đá tôn thờ chủ nghĩa duy lý và niềm tin tuyệt đối rằng chỉ có các con số đo lường chuẩn xác, không dung thứ sai số mới ngăn chặn được thảm họa sụp đổ cấu trúc cho toàn bộ mạng lưới đa vũ trụ.
“Có chuyện gì mà ồn ào ở khu vực tiếp nhận công dân thế này?” Giọng Khang trầm, phẳng lặng và tuyệt đối không vướng một chút cảm xúc thừa thãi nào, tựa như một dòng lệnh vừa được nạp vào hệ thống điều hành.
An vội vàng đứng thẳng dậy, hai tay khép sát đùi, hơi cúi đầu theo đúng nghi thức công vụ đã ăn sâu vào tiềm thức: “Báo cáo Phó vụ trưởng, đây là công dân đại diện cho Thực tại TT-103, nộp lại đơn xin cấp phép mở cổng giao thương loại ba cho nhóm hàng kim khí và nông cụ cơ bản.”
Khang không đáp lời An ngay. Ông bước tới cạnh Bàn Số 8, dừng lại ở khoảng cách đúng một sải tay. Bằng một động tác dứt khoát, thanh lịch và vô cùng thành thục, ông đưa ngón tay trỏ—vốn được bọc trong một chiếc găng tay bằng lụa trắng cách điện mỏng—khẽ lật mép tập hồ sơ bọc nhựa mà Nhi vừa đập xuống. Đôi mắt sau tròng kính quét qua các dòng chữ in kim lem nhem trên biểu mẫu, lướt qua các con dấu tròn, dấu vuông phủ đầy mực đỏ đã phai, rồi dừng lại ở mục danh mục tài liệu đính kèm.
“Văn bản số 12/QCKT về quy chuẩn chịu lực và hệ số co giãn của vật liệu thềm cổng đâu?” Khang ngước mắt lên, lạnh lùng hỏi, ánh nhìn găm thẳng vào Nhi.
Nhi lập tức chỉ tay vào xấp giấy nằm ngay sau trang thứ ba, nơi có những biểu đồ ứng suất ngoằn ngoèo: “Nó nằm ngay ở đó! Có đầy đủ chữ ký của kỹ sư trưởng thực địa và bản vẽ thiết kế mặt cắt ngang thềm cổng!”
“Đây là bản sao chụp điện tử được in lại trên loại giấy trung tính khổ tiêu chuẩn của Cục,” Khang dùng đầu móng tay gõ nhẹ hai tiếng *cốc, cốc* xuống trang giấy mỏng, thanh âm khô khốc vang lên giữa không gian tĩnh mịch. “Hồ sơ xin mở cổng thương mại loại ba theo Thông tư hướng dẫn chuẩn hóa số 40 bắt buộc phải có *bản gốc* của văn bản quy chuẩn kỹ thuật. Bản gốc đó phải có đóng dấu ướt bằng mực phản quang và chữ ký sống của người đứng đầu cơ quan quản lý thực tại sở tại. Trong toàn bộ tập tài liệu này hoàn toàn không có bản gốc. Chuyên viên thụ lý ca trước trả hồ sơ là hoàn toàn chính xác theo đúng quy chuẩn kỹ thuật đã ban hành. Có gì sai sót mà cô phải lớn tiếng khiếu nại ở đây?”
Nhi nghe xong những lời đó thì toàn thân khẽ run lên bần bật vì một cơn uất nghẹn nghẹt thở. Cô bước dấn lên nửa bước, hai bàn tay gầy guộc nhưng rắn rỏi vì lao động bấm chặt xuống mép bàn kính, trừng mắt nhìn thẳng vào vị Phó vụ trưởng đạo mạo đang đứng cách mình chỉ một lớp kính mỏng:
“Bản gốc ư? Ông mở miệng đòi bản gốc ở một nơi như quê hương chúng tôi sao? Ông có từng đọc luật nền cơ bản của Thực tại TT-103 trước khi ngồi vào cái ghế Phó vụ trưởng quyền uy ấy không, thưa ông Khang?”
Khang khẽ nhíu mày, nét mặt không hề biến sắc trước sự thịnh nộ của người đối diện: “Vụ Chuẩn Hóa chỉ làm việc trên cơ sở các tiêu chí kỹ thuật và an toàn tương thích mạng lưới, không phân biệt đối xử và không có nghĩa vụ phải học thuộc lòng đặc thù văn hóa của từng thế giới ngoại vi.”
“Đó không phải là văn hóa! Đó là quy luật vật lý tự nhiên của trời đất quê tôi!” Giọng Nhi vút lên, đanh thép, cay đắng và chất chứa nỗi đau đớn tích tụ qua hàng chục năm ròng rã. Cả góc sảnh chợt im ắng đến rợn người. Những công dân đang ngồi chờ ở các hàng ghế nỉ phía sau ngơ ngác ngước nhìn. “Ở Vũ Trụ Mọi Thứ Đều Tạm Thời, mọi vật thể do bàn tay con người chế tạo ra—từ một viên gạch nung để xây tường, một lưỡi cày bằng sắt non, một cái bát ăn cơm bằng gốm sứ, cho đến từng tờ giấy viết, từng giọt mực in và từng con dấu bằng cao su—đều sẽ tự động rã thành tro bụi sau đúng ba mươi ngày địa phương! Không có bất kỳ thứ gì do con người làm ra tồn tại được quá một tháng tròn! Đó là luật nền, là bản án tự nhiên mà đồng bào chúng tôi sinh ra đã phải gánh chịu trên lưng!”
Cô nuốt một ngụm nghẹn ngào, chỉ tay vào tập hồ sơ nằm dưới ngón tay bọc lụa của Khang:
“Chúng tôi lập xong bản quy chuẩn kỹ thuật ấy, kỹ sư trưởng ký tên, đóng dấu ướt bằng thứ mực làm từ nhựa cây bản địa. Đem được văn bản ấy ra khỏi trạm kiểm soát ranh giới địa phương mất đứt năm ngày đường. Cha con tôi phải đi bộ qua ba thung lũng đá tai mèo hiểm trở để đến được trạm trung chuyển mất thêm mười ngày. Ngồi chực chờ ở phòng đợi của trạm trung chuyển để xin được tấm vé thông hành liên chiều qua Cục mất thêm mười lăm ngày ròng rã nữa. Đến được cái Bàn Tiếp Nhận Số 8 này của các anh, tờ giấy gốc ấy đã tự mủn ra thành một vốc bột xám vô dụng ngay trong lòng bàn tay chúng tôi rồi! Các anh đòi bản gốc... Làm sao chúng tôi có thể mang một bản gốc còn nguyên vẹn đến nộp cho các anh, khi bản thân tờ giấy ấy đã sống hết một đời của nó ngay trên đường đi tìm công lý?”
Bên cạnh cô, ông Đỗ Văn Hòa run rẩy đưa hai tay ôm lấy ngực. Ông cúi gầm mặt xuống, những giọt mồ hôi đục ngầu rịn ra trên vầng trán nhăn nheo, chảy dài theo những rãnh sâu hoắm như những luống cày cằn cỗi trên gương mặt già nua. Bờ vai ông rung lên từng chặp, nhưng ông không dám khóc thành tiếng, chỉ có tiếng thở dốc nhọc nhằn phập phồng trong lồng ngực lép kẹp.
An ngồi sau bàn làm việc, lồng ngực thắt lại như có một sợi dây thép gai siết chặt. Là một công chức hợp đồng chuyên ngồi ở tuyến đầu tiếp nhận, hàng ngày phải đọc từng dòng chữ in nhỏ li ti dưới chân các biểu mẫu hành chính, An hiểu sâu sắc và trọn vẹn bi kịch tàn nhẫn ấy. Trụ sở của Cục là một vùng không gian trung tính tuyệt đối, vật chất ở đây được bảo tồn vĩnh cửu bởi các trường ổn định nhân tạo; giấy tờ in tại đây sẽ không bao giờ mục nát. Nhưng những gì sinh ra từ thế giới TT-103 lại mang theo số mệnh ngắn ngủi, mong manh của chính vùng đất ấy. Việc các thông tư của Cục đòi hỏi một bản gốc còn nguyên vẹn trong vòng ba mươi ngày tại một cơ quan có quy trình thụ lý và thẩm tra kéo dài ít nhất bốn mươi lăm ngày làm việc thực chất không phải là một yêu cầu kỹ thuật—nó là một bản án tử hình vô hình, một cánh cửa đóng sầm vĩnh viễn trước mọi nỗ lực kết nối của một thế giới đang hấp hối.
Thế nhưng, Phạm Đức Khang vẫn đứng đó, sừng sững và lạnh lùng như một cột đá hoa cương trong sảnh lớn. Gương mặt ông ta không lộ ra một tia dao động nào trước những lời gan ruột của Nhi.
“Tôi hiểu hoàn cảnh đặc thù của địa phương cô,” Khang cất giọng, đều đều và bình thản đến mức tàn nhẫn. “Nhưng an toàn kỹ thuật của mạng lưới cổng liên vũ trụ không thể và không bao giờ được phép xây dựng trên nền tảng của sự cảm thông hay lòng trắc ẩn. Bản gốc có dấu ướt và chữ ký sống là căn cứ pháp lý duy nhất để bộ phận chuẩn hóa chúng tôi xác định tính chân thực của các thông số áp suất ngưỡng và độ bền kéo của vật liệu thềm cổng. Một bản sao chép điện tử có thể bị can thiệp kỹ thuật số, có thể bị làm giả, hoặc đơn giản là xuất hiện sai số ngẫu nhiên qua các thấu kính quét quang học. Nếu chúng tôi cấp phép mở cổng dựa trên một văn bản sao chép không có bản gốc đối chiếu, chỉ cần sai số một phần nghìn áp suất dao động giữa hai chiều không gian, cánh cổng ấy sẽ biến thành một hố đen cục bộ và nổ tung ngay khoảnh khắc kích hoạt dòng hạt.”
Khang dừng lại một nhịp, ánh mắt ông sắc lẹm nhìn thẳng vào mắt Nhi:
“Ba năm trước, tại Thực tại KB-12, mười bốn thanh niên tình nguyện của đoàn cứu trợ liên chiều đã rơi thẳng vào vực sâu phân rã vĩnh viễn chỉ vì một sai số kỹ thuật bị bỏ qua trong biên bản nghiệm thu thềm cổng. Mười bốn sinh mạng biến mất không còn một mẩu xương vụn. Kể từ ngày đó, tôi đã thề sẽ không bao giờ ký duyệt bất kỳ một hồ sơ mở cổng nào thiếu bản gốc đối chiếu chuẩn mực. Đó không phải là sự quan liêu, cô gái ạ. Đó là nguyên tắc bảo vệ sự tồn vong của toàn bộ hệ thống.”
“Nguyên tắc của các anh thực chất chỉ là một bức tường giam cầm chúng tôi trong sự nghèo đói vĩnh viễn!” Nhi nghẹn ngào thốt lên, giọng cô khản đặc đi vì nước mắt chực trào. “Quê hương chúng tôi không cần các anh thương hại! Chúng tôi chỉ muốn mua nông cụ bằng sắt thép bền vững từ thế giới bên ngoài—thứ sắt thép trung tính không bị luật nền của chúng tôi làm tan rã—để người dân có cái cày ruộng, có cái xẻng đào giếng lấy nước ngọt mà uống! Chẳng lẽ một quy chế chết tiệt trên giấy lại có giá trị cao hơn mạng sống và tương lai của hàng triệu con người đang chết dần chết mòn vì thiếu công cụ sản xuất sao?”
“Quy chế bảo vệ sự an toàn chung cho toàn thể mạng lưới đa vũ trụ,” Khang lạnh lùng đáp trả, không lùi một bước. “Không có bất kỳ ngoại lệ nào cho bất kỳ ai.”
Không khí xung quanh Bàn Số 8 đặc quánh lại, ngột ngạt và căng thẳng như trước một cơn dông sét. Những lời phán quyết của vị Phó vụ trưởng mang sức nặng của một định mệnh không thể đảo ngược. Khang khẽ thở dài một hơi rất nhỏ, đưa bàn tay đeo găng lụa trắng toan gập mép tập hồ sơ bọc nhựa lại để đẩy trả về phía Nhi. Động thái ấy, theo đúng quy trình tinh giản hồ sơ tồn đọng mà Ban Tinh Gọn vừa ban hành tuần trước, đồng nghĩa với việc hồ sơ của Thực tại TT-103 sẽ bị đóng vĩnh viễn, mã định danh sẽ bị xóa khỏi hệ thống tiếp nhận trực tuyến và họ sẽ không bao giờ được phép nộp lại đơn xin mở cổng trong vòng mười năm tới.
“Khoan đã, thưa Phó vụ trưởng Khang!”
Tiếng gọi bất ngờ của An vang lên, xé toang bầu không khí ngột ngạt.
Khang dừng tay lại trên không, đôi lông mày hơi nhướng lên sau cặp kính titan. Ông quay sang nhìn chàng công chức hợp đồng trẻ tuổi đang ngồi phía sau bàn làm việc: “Cậu có ý kiến gì sao, cậu An? Quy chế kỹ thuật đã được quy định rất rõ ràng tại Điều 8 của Thông tư 40. Bàn Tiếp Nhận không có thẩm quyền giải thích luật theo hướng nới lỏng tiêu chuẩn.”
“Xin Phó vụ trưởng cho tôi đúng hai phút để kiểm tra lại hệ thống dữ liệu lưu trữ nội bộ,” An nói nhanh, giọng anh dứt khoát lạ thường. Không đợi Khang đồng ý hay từ chối, mười đầu ngón tay của An đã bắt đầu gõ thoăn thoắt trên bàn phím cơ cũ kỹ.
Tiếng gõ phím *lách cách, lách cách* dồn dập vang lên như tiếng mưa rào quất mạnh trên mái tôn rỉ sét. An không truy cập vào cổng thông tin dịch vụ công trực tuyến thông thường—nơi mà những bộ hồ sơ bị nghẽn thủ tục thường bị các thuật toán tự động quét sạch dấu vết sau mỗi chu kỳ tài khóa. Thay vào đó, anh nhấn tổ hợp phím tắt để mở ra giao diện dòng lệnh màu xanh lá cây nguyên thủy của hệ điều hành lõi, truy cập thẳng vào kho dữ liệu kỹ thuật dùng chung của Cục—một kho lưu trữ sâu thẳm được lập trình từ những ngày đầu thành lập cơ quan, nơi chứa đựng hàng triệu terabyte dữ liệu khảo sát thực địa mà các thế hệ chuyên viên đi trước đã thu thập.
An gõ mã định danh thực tại: `TT-103`. Anh không tìm kiếm trong phạm vi năm năm hay mười năm gần đây. Anh thiết lập bộ lọc thời gian lùi sâu về quá khứ đúng mười lăm năm trước, thời điểm mà cánh cổng sắt han rỉ ngoài thềm đá của quê hương Nhi lần đầu tiên được đo đạc.
Màn hình CRT mắt cá lồi xanh lè khẽ chớp giật liên hồi, những dòng mã quét nhị phân chạy dọc như thác đổ, rồi một tệp dữ liệu dạng vi phim quét cổ bỗng nhiên bật sáng trên màn hình.
“Thưa Phó vụ trưởng,” An xoay nhẹ góc màn hình máy tính về phía Khang, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào một chuỗi mã số kiểm định dài ngoằng có đóng một con dấu số hóa màu xanh lục bảo ở góc phải. “Mười lăm năm trước, đoàn thanh tra kỹ thuật liên bộ phận của Cục từng đích thân đến Vũ Trụ Mọi Thứ Đều Tạm Thời để khảo sát địa chất thềm đá và đo đạc thông số dao động của cánh cổng. Đây là bản lưu điện tử của chính văn bản quy chuẩn kỹ thuật số 12/QCKT được số hóa bằng máy quét phân giải cao trực tiếp tại hiện trường vào thời điểm đó. Con dấu quét quang học, chữ ký của cố kỹ sư trưởng tiền nhiệm Trần Mộc, cùng toàn bộ ma trận thông số áp suất ngưỡng... tất cả đều còn nguyên vẹn một trăm phần trăm trong kho dữ liệu số của Cục chúng ta.”
Đôi mắt đẫm lệ của Nhi chợt sáng rực lên một tia hy vọng cuồng dại: “Đúng rồi! Đúng là năm đó! Năm đó chính cha tôi đã dẫn đoàn chuyên viên của Cục đi thực địa suốt một tuần lễ ròng rã trên các triền núi đá! Cha tôi đã cõng từng can nước ngọt cho họ uống! Họ đã lưu lại mọi thứ!”
Khang hơi cúi người xuống, đôi mắt sau tròng kính nheo lại nhìn chằm chằm vào những dòng thông số kỹ thuật cổ điển đang hiển thị trên màn hình xanh lét. Một thoáng dao động cực kỳ hiếm hoi lướt qua đôi mắt màu thép nguội của ông, hàng chân mày khẽ giật nhẹ. Nhưng sự cứng nhắc, giáo điều của một chuyên gia chuẩn hóa đã ăn sâu vào tủy não lại nhanh chóng chiếm lấy quyền kiểm soát. Khang đứng thẳng dậy, lắc đầu một cách dứt khoát:
“Tệp dữ liệu vi phim này tôi biết rất rõ. Nhưng cậu An này, cậu làm việc ở bộ phận tiếp nhận hồ sơ mà lại không nắm vững Thông tư 14 về quy chế lưu trữ hay sao? Quy trình hành chính hiện hành quy định rất rành mạch: Toàn bộ bản lưu nội bộ trong hệ thống của Cục chỉ có giá trị tham khảo thuần túy trong công tác hậu kiểm và nghiên cứu lịch sử kỹ thuật, tuyệt đối không được phép sử dụng để *tự chứng thực* thay thế cho nghĩa vụ xuất trình bản gốc của đương sự khi họ nộp hồ sơ mới. Người nộp hồ sơ phải tự mình mang bản gốc đến đối chiếu tại thời điểm nộp. Cơ quan công quyền không thể tự tiện lấy tài liệu trong kho lưu trữ của mình ra để hợp thức hóa giấy tờ cho công dân. Làm như vậy là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc khách quan, lẫn lộn thẩm quyền thụ lý và phá vỡ cấu trúc kiểm soát độc lập.”
Từng lời nói của Khang rơi xuống như những tảng băng buốt giá, đập tan tành chút hy vọng mỏng manh vừa mới nhen nhóm trong lòng hai cha con người thỉnh cầu. Nhi cắn chặt môi dưới đến mức bật máu, vị tanh nồng lan tỏa nơi đầu lưỡi. Hai bàn tay cô buông thõng xuống bên hông, run rẩy trong sự bất lực đến tột cùng.
Đó là sự bế tắc hoàn hảo của một cỗ máy quan liêu khổng lồ: nó nắm giữ toàn bộ sự thật trong lòng bàn tay, nó lưu trữ chính xác từng con số và chữ ký mà người dân cần, nhưng nó lại tự đẻ ra một điều luật nghiệt ngã để cấm chính bản thân nó sử dụng sự thật ấy nhằm cứu giúp một thế giới đang lụi tàn.
Giữa không gian im lìm như tờ, một âm thanh sột soạt yếu ớt, ngập ngừng bỗng vang lên từ góc bàn.
Ông Đỗ Văn Hòa run rẩy thò bàn tay khẳng khiu, đen đúa vào sâu bên trong lớp áo len cháo lòng. Ngón tay ông lần mò hồi lâu bên dưới lớp áo lót sợi thô bạc phếch, ngay sát lồng ngực gầy guộc nơi có trái tim già nua đang đập những nhịp nhọc nhằn, mệt mỏi. Sau một hồi ngập ngừng, ông chậm rãi rút ra một bọc vải nhỏ màu chàm, mở từng lớp nút thắt đã mòn vẹt, để lộ ra một mảnh giấy gấp tư nhỏ bằng bàn tay.
Mảnh giấy ấy không phải là loại giấy xơ vỏ cây dễ mủn nát của quê nhà ông. Nó được làm bằng chất liệu bột gỗ ép phủ nhựa bóng đặc trưng của Cục Quản Lý Các Vũ Trụ Rắc Rối—thứ vật chất trơ lỳ, nhân tạo và trường tồn với thời gian, được sinh ra từ chính vùng không gian trung tính này. Mép giấy đã ngả sang màu vàng ố của thời gian, các đường gấp nứt toác ra và nhăn nheo vì mồ hôi muối cùng hơi ấm cơ thể người suốt bao nhiêu năm trời được ấp ủ trong túi áo ngực.
“Cán bộ ơi... cán bộ xem giùm tôi cái này...” Ông Hòa bước run rẩy lên một bước, hai tay nâng niu mảnh giấy ố vàng ấy như nâng niu một mảnh linh hồn, cẩn trọng đặt nó lên mặt bàn kính sáng loáng ngay trước mặt An và Khang. Giọng ông run rẩy, nghẹn ngào và khẩn khoản: “Hồi đó... cái hồi bảy năm về trước... tôi cũng gom góp tiền nong để lên đây nộp hồ sơ xin mở cổng. Lần đó, tôi đã cố gắng đem được cái bản gốc có con dấu đỏ ấy sang tận đây nộp cho cơ quan... Nhưng rồi đúng đợt đó các cán bộ chuyển văn phòng từ cái tầng hầm B lên sảnh lớn này... Người ta tìm mãi, tìm mãi không thấy hồ sơ của tôi đâu cả... Rồi có một cô cán bộ tốt bụng nào đó đeo kính trắng, thấy tôi ngồi khóc ở hành lang, cô ấy mới đưa cho tôi mảnh giấy này... bảo tôi cứ cầm lấy làm tin, sau này có gì đem ra đối chiếu... Tôi... tôi già cả lại không biết chữ nhiều, cứ tưởng nó chỉ là một tờ giấy xin lỗi của cơ quan thôi... nên tôi cất mãi trong người suốt bảy năm nay...”
An vội vàng chồm người tới, cầm lấy mảnh giấy ố vàng bằng cả hai tay.
Mặt giấy đã phai nhạt những vệt mực tím đánh máy, các nếp gấp nứt nẻ vì thời gian và mồ hôi, nhưng ở góc trên bên trái vẫn còn nguyên dòng quốc hiệu chạm nổi của Cục Quản Lý Các Vũ Trụ Rắc Rối, và ở chính giữa trang giấy là dòng tiêu đề in hoa bằng mực đen đậm nét, rõ mồn một:
**PHIẾU XÁC NHẬN THẤT LẠC TÀI LIỆU LƯU TRỮ TRONG QUÁ TRÌNH DI CHUYỂN CÔNG SỞ** *Số hiệu văn bản: 884/XN-VP* *Ngày lập: 14 tháng 9, bảy năm trước.*
Nội dung bên dưới ghi rõ từng chữ: *Trong đợt chuyển đổi trụ sở làm việc từ Tầng Hầm B sang Tòa Nhà Trung Tâm, Bộ phận Tiếp nhận và Lưu trữ đã sơ suất làm thất lạc một (01) bộ hồ sơ gốc mang mã hiệu thực tại TT-103 của công dân Đỗ Văn Hòa, trong đó bao gồm bản gốc duy nhất của Văn bản quy chuẩn kỹ thuật số 12/QCKT. Văn bản này có giá trị xác nhận trách nhiệm của cơ quan.* Ở góc dưới là chữ ký tươi sắc sảo của Phó Chánh Văn phòng Cục thời kỳ đó, cùng con dấu tròn màu đỏ thắm của Văn phòng Cục dập đè lên mép chữ ký.
Nhi tròn xoe mắt nhìn cha mình, sững sờ đến mức không thốt nên lời: “Cha... sao suốt ngần ấy năm trời cha chưa từng kể với con về tờ giấy này?”
“Cha... cha già rồi, có biết chữ nghĩa luật lệ gì đâu con,” ông Hòa quệt một vệt nước mắt nơi khóe mắt kèm nhèm, nở một nụ cười méo mó, tội nghiệp. “Cha cứ tưởng giấy người ta viết ra để xin lỗi vì làm mất đồ của mình thì mình giữ lại làm kỷ niệm, để nhớ rằng mình từng đến đây... chứ cha có biết là nó có thể dùng được vào việc gì đâu con...”
Trong khoảnh khắc ấy, trong đôi mắt của An bỗng lóe lên một tia sáng sắc bén phi thường. Toàn bộ các nơ-ron thần kinh trong não bộ của người công chức hợp đồng như bừng tỉnh. Ký ức về những đêm dài miệt mài ngồi đọc cuốn *Sổ tay Quy chế Thủ tục Hành chính Đa chiều Cổ điển*—một cuốn sách bìa da dày cộp, phủ đầy bụi bặm trong kho tư liệu cũ mà hầu như không một chuyên viên hiện đại nào thèm ngó ngàng tới—bỗng chốc sống dậy, từng trang, từng điều khoản hiện lên rõ mồn một trước mắt anh.
An ngẩng phắt đầu lên, lưng thẳng tắp, ánh mắt nhìn thẳng vào đôi mắt lạnh lùng của Phó vụ trưởng Phạm Đức Khang. Khí chất của An lúc này không còn là sự rụt rè của một nhân viên hợp đồng sợ mất việc, mà là sự tự tin tuyệt đối của một người nắm chắc chân lý tối thượng trong tay. Anh cất giọng, dõng dạc và đanh thép từng chữ một, vang dội khắp sảnh tiếp nhận:
“Báo cáo Phó vụ trưởng Phạm Đức Khang! Căn cứ theo Điều 42, Khoản 3 của Quy định Quản lý Hồ sơ và Thủ tục Hành chính Liên Thực Tại ban hành từ thời kỳ thành lập Cục, văn bản pháp quy nền tảng chưa từng bị bãi bỏ: *‘Trong trường hợp tài liệu gốc của đương sự bị thất lạc, hư hỏng hoặc tiêu hủy do lỗi trực tiếp từ phía cơ quan thụ lý và đã được xác nhận bằng Phiếu xác nhận của Văn phòng Cục, thì toàn bộ thời hạn giải quyết hồ sơ bắt buộc phải được tạm dừng—nghĩa là đóng băng thời hiệu—kể từ thời điểm phát hành phiếu xác nhận cho đến khi cơ quan thụ lý khôi phục lại được tài liệu đó cho đương sự’*!”
Khang khựng người lại. Bàn tay đang định thu về của ông bỗng bất động giữa không trung.
Không để vị Phó vụ trưởng kịp định thần, An lập tức tung ra những lập luận sắc bén tiếp theo, dồn dập và chuẩn xác như những nhát búa nện xuống đe:
“Điều khoản này dẫn đến hai hệ quả pháp lý mang tính bắt buộc không thể chối cãi! Thứ nhất: Hồ sơ xin cấp phép mở cổng của công dân Đỗ Văn Hòa chưa bao giờ bị quá hạn, chưa bao giờ bị từ chối hợp lệ, mà nó đã và đang nằm trong trạng thái pháp lý *‘Tạm dừng thủ tục do lỗi của cơ quan tiếp nhận’* suốt bảy năm qua! Toàn bộ các thông báo từ chối của các ca trực trước đó đều hoàn toàn vô hiệu về mặt thủ tục!”
An hít một hơi thật sâu, dằn từng tiếng một:
“Thứ hai: Vì tình trạng tạm dừng xuất phát hoàn toàn từ việc Cục chúng ta làm mất bản gốc của công dân, nên theo đúng nguyên tắc khắc phục hậu quả hành chính quy định tại Điều 43, Cục có nghĩa vụ pháp lý tối cao phải tự mình trích xuất bản lưu vi phim số hóa trong kho dữ liệu kỹ thuật nội bộ để thay thế cho bản gốc đã mất, và tuyệt đối không có quyền đòi hỏi đương sự phải nộp lại bản gốc lần thứ hai!”
Anh nhìn thẳng vào đôi mắt đang dao động dữ dội sau tròng kính titan của Khang:
“Và điều quan trọng nhất, thưa Phó vụ trưởng: Chiếu theo quy định bảo lưu thứ tự ưu tiên của hồ sơ bị tạm dừng do lỗi công vụ, vị trí ưu tiên giải quyết của bộ hồ sơ mang mã hiệu TT-103 này vẫn được giữ nguyên vẹn từ thời điểm bảy năm trước! Ban Tinh Gọn hay bất kỳ hội đồng thẩm định nào hiện nay cũng không có quyền áp dụng Mục 4.2 của quy chế tinh giản để từ chối, đình chỉ hay xóa sổ bộ hồ sơ này khỏi hệ thống!”
Một sự im lặng tuyệt đối, ngột ngạt bao trùm lên toàn bộ khu vực Bàn Tiếp Nhận Số 8.
Lê Quốc Bình ở Bàn Số 7 bên cạnh há hốc mồm kinh ngạc đến mức đánh rơi chiếc bút bi xuống sàn, viên kẹo bạc hà ngậm trong miệng suýt chút nữa trôi tuột xuống khí quản làm anh ta sặc sụa. Ba nhân viên an ninh trật tự của sảnh đứng gần đó trố mắt nhìn nhau, không ai dám tin rằng một chuyên viên hợp đồng quầy bậc thấp lại có thể dùng chính những điều luật cổ lỗ sĩ bị lãng quên từ thời lập Cục để bẻ gãy hoàn toàn lập luận của một Phó vụ trưởng Vụ Chuẩn Hóa đầy quyền uy.
Phạm Đức Khang đứng bất động như một bức tượng đồng.
Đôi mắt sau gọng kính titan của ông dán chặt vào mảnh giấy ố vàng mang số hiệu 884/XN-VP đang nằm trên mặt bàn, rồi từ từ chuyển sang nhìn gương mặt khắc khổ, nhăn nheo cùng đôi bàn tay chai sần đang run rẩy vì sợ hãi của ông lão Đỗ Văn Hòa. Khang là một kẻ cứng nhắc, một chuyên gia tôn thờ sự chuẩn hóa và các nguyên tắc kỹ thuật đến mức cực đoan, nhưng bản chất sâu xa nhất trong con người ông là một trí thức chính trực. Ông căm ghét những lời cầu xin ủy mị, ông coi thường những nỗ lực dùng tình cảm để phá vỡ quy trình, nhưng đứng trước những quy tắc pháp lý chuẩn mực, được dẫn giải một cách chính xác, sắc bén đến từng dấu chấm dấu phẩy từ chính nền tảng lập pháp của Cục, ông buộc phải khuất phục.
Một tiếng thở dài rất khẽ, gần như không thể nghe thấy, thoát ra từ lồng ngực của vị Phó vụ trưởng.
Khang đưa tay lên túi áo ngực, chậm rãi rút ra cây bút máy thân kim loại mạ crom sáng loáng, vặn nhẹ nắp bút. Ông không nhìn An, cũng không nhìn Nhi, mà ánh mắt dừng lại thật lâu trên gương mặt già nua của người cha:
“Mảnh giấy xác nhận này... có giá trị pháp lý đầy đủ và hợp lệ.” Giọng Khang trầm xuống, chậm rãi vang lên giữa sự im phăng phắc của cả sảnh. “Cậu An đã dẫn giải hoàn toàn chính xác các quy định cổ điển chưa bãi bỏ. Lỗi làm thất lạc tài liệu gốc thuộc về trách nhiệm công vụ của Cục, và thời hiệu xử lý hồ sơ này đã được bảo lưu hợp pháp. Tôi, với tư cách là Phó vụ trưởng Vụ Chuẩn Hóa Thực Tại, chấp thuận ký xác nhận vào phiếu yêu cầu trích xuất dữ liệu kỹ thuật số, cho phép Bàn Số 8 sử dụng bản lưu vi phim mười lăm năm trước làm căn cứ kỹ thuật tương đương để đối chiếu thay thế cho bản gốc.”
Nhi bụm chặt lấy miệng, một tiếng nấc nghẹn ngào vỡ òa ra từ lồng ngực. Nước mắt cô tuôn rơi lã chã, chảy dài trên đôi gò má rám nắng phong trần. Cô quỳ sụp xuống một nửa, ôm chầm lấy cánh tay gầy guộc của cha mình, cả cơ thể run rẩy dữ dội trong một niềm hạnh phúc quá đỗi bất ngờ, một sự giải thoát sau cả một đời người chìm trong tuyệt vọng.
Khang cúi xuống, đặt ngòi bút máy bằng vàng lên góc tờ phiếu hẹn mới mà An vừa in ra, ký xoẹt một chữ ký sắc nhọn, dứt khoát như một nhát kiếm. Xong xuôi, ông ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc như dao nhìn thẳng vào An:
“Hồ sơ này tạm thời được bảo lưu thứ tự ưu tiên cao nhất theo diện xử lý tồn đọng đặc biệt. Nhưng cậu An, cậu hãy nhớ cho thật kỹ lời tôi: tôi chỉ chấp thuận đối chiếu bản lưu kỹ thuật trong quá khứ theo đúng luật định. Còn việc thẩm định độ an toàn thực tế của trường lực khi kích hoạt dòng thông quan qua cổng thương mại loại ba vẫn phải tuân thủ tuyệt đối mọi bước kiểm tra nghiêm ngặt của Vụ Chuẩn Hóa. Nếu sau này cánh cổng ấy được dựng lên mà xảy ra bất kỳ sự cố rò rỉ áp suất hay sụp đổ không gian nào, cả cậu và tôi đều sẽ phải đứng trước Hội đồng Kỷ luật Tối cao để chịu trách nhiệm bằng toàn bộ danh dự và sinh mệnh công vụ của mình.”
Nói dứt lời, Khang dứt khoát cài lại nắp bút máy, cất vào túi áo ngực, xoay người rảo bước rời đi. Tà áo âu phục màu xám tro của ông khẽ bay nhẹ theo từng bước chân chuẩn mực, bóng lưng thẳng tắp khuất dần sau những hàng cột đá hoa cương đồ sộ của sảnh chính.
An thở phào một hơi dài, cảm giác như toàn bộ sức lực trong cơ thể vừa bị rút cạn sau một ván cờ sinh tử nghẹt thở. Hai bả vai anh chùng xuống, nhưng một cảm giác nhẹ nhõm kỳ lạ dâng lên trong ngực. Anh vươn tay cầm lấy chiếc máy dập dấu bằng thép nặng trịch trên bàn, hít sâu một hơi rồi nện một tiếng thật mạnh.
*CỘP!*
Thanh âm dứt khoát, giòn giã vang lên. Con dấu tròn màu mực đỏ tươi rói in hằn lên góc trên của tờ biên nhận thụ lý mới, bên cạnh dòng chữ in hoa sắc nét: *Hồ sơ chuyển trạng thái: Đang khôi phục tài liệu gốc theo Phiếu xác nhận số 884/XN-VP. Ưu tiên xử lý đặc biệt.*
“Của bác và cô đây,” An mỉm cười, đôi mắt ánh lên niềm vui chân thành khi anh đưa cả tập hồ sơ dày cộp cùng tờ biên nhận mới qua khe kính cho hai cha con. “Hồ sơ đã được hệ thống khóa cứng thứ tự ưu tiên trên mạng lưới toàn cục. Từ giờ trở đi, không một ai, kể cả Ban Tinh Gọn, có thể tự tiện trả về hay xóa tên thế giới của bác khỏi danh mục xét duyệt mở cổng được nữa.”
Nhi nghẹn ngào cúi gập người sát mặt bàn, liên tục nói những lời cảm ơn đứt quãng trong tiếng khóc. Nụ cười rạng rỡ, bừng sáng như ánh bình minh sau cơn bão quét qua gương mặt trẻ trung vốn đã sớm hằn sâu những vết rạn nứt của sự hoài nghi và cay đắng. Cô nắm chặt lấy tay cha, lay mạnh: “Cha ơi! Chúng ta làm được rồi! Quê mình sắp có nông cụ rồi cha ơi!”
Thế nhưng, giữa niềm vui sướng vỡ òa của con gái, ông Đỗ Văn Hòa vẫn đứng lặng người bên mép bàn kính.
Đôi bàn tay già nua, gầy guộc như những rễ cây khô của ông cẩn thận run rẩy đón lấy tập phiếu hẹn mới. Ông áp nó vào mảnh giấy xác nhận đã ố vàng suốt bảy năm trời đằng đẵng, rồi chậm rãi vuốt phẳng từng nếp gấp đã nứt toác. Đôi mắt đùng đục, mờ căm của ông cụ nhìn trân trân vào những vết mực tím lem nhem, nhìn con dấu đỏ tươi vừa mới được dập đè lên lớp giấy cũ kỹ.
Mười lăm năm trời ròng rã chờ đợi. Cả một thời thanh xuân tươi đẹp của đứa con gái duy nhất đã trôi qua trong những chuyến xe đò liên chiều bụi bặm, và toàn bộ phần đời già nua, tàn tạ của chính bản thân ông... tất cả những cay đắng, nhọc nhằn, mồ hôi và nước mắt của một kiếp người dường như chỉ thu nhỏ lại vừa vặn trong mấy mảnh giấy mỏng manh, lạnh lẽo này.
Hòa nhìn tập phiếu hẹn đã ố vàng, tự hỏi liệu đời mình có kết thúc trước khi một tờ giấy phép kịp ra đời.