Cục Quản Lý Các Vũ Trụ Rắc RốiCh.13 / 30
Chapter 13

Ngoại lệ có người nhận trách nhiệm

Mùi cồn khử khuẩn nồng gắt trộn lẫn với vị tanh kim loại của hệ thống lọc khí tuần hoàn tạo nên một bầu không khí lạnh lẽo, xơ cứng bên trong phòng họp số 3 của Vụ Chuẩn Hóa Thực Tại. Dưới ánh đèn tuýp trắng lóa không một bóng mờ hắt xuống từ trần thạch cao ghép tấm, từng nếp nhăn xếp lớp trên vầng trán dồ của Phó vụ trưởng Phạm Đức Khang như bị khắc sâu thêm vào da thịt. Đó là những đường rãnh hằn học của một người đã dành hơn ba mươi năm cuộc đời để đo đạc từng milimét dung sai, một kẻ canh gác tôn sùng tuyệt đối tính bất biến của các hằng số.

Trên chiếc bàn dài bằng hợp kim mạ crom mờ phẳng lì không một vết xước, tách trà bạc hà của Khang đã nguội ngắt từ lâu. Một lớp váng mỏng màu lục nhạt đóng lại sát mép men sứ trắng, tĩnh lặng và cô lập. Căn phòng này tuyệt nhiên không có lấy một hạt bụi thừa, giống như chính bản thân vị Phó vụ trưởng: chiếc cà vạt xám thắt nút tam giác cân xứng tuyệt đối, nếp gấp tay áo ủi thẳng tắp, gọng kính titan nằm ngang bằng chằn chặn trên sống mũi. Mọi vật thể xuất hiện trong tầm nhìn của ông ta đều phải tuân thủ nghiêm ngặt góc chín mươi độ, có thước cặp đo độ dày và giấy kiểm định dung sai còn hiệu lực.

Sáng sớm hôm nay, ngay sau đêm còi báo động áp suất rền vang làm chấn động toàn bộ phân vùng ngoại vi, Nguyễn Minh An và Trưởng phòng Trần Thu Dung đã có mặt trước cánh cửa gỗ sồi cách âm gắn biển đồng sáng bóng này. Cánh cửa nặng trịch khép lại sau lưng họ, cắt đứt hoàn toàn tiếng ồn ào hỗn tạp của sảnh đón tiếp bên ngoài, chỉ chừa lại tiếng vo ve đều đặn, nhức óc của cuộn cảm biến áp suất đặt ngầm dưới sàn.

Trên hai bàn tay hơi lạnh của An là toàn bộ tập hồ sơ bảo lưu của cha con ông Đỗ Văn Hòa và cô Đỗ Yến Nhi mang mã định danh thực tại TT-103. Tập tài liệu dày cộm, nặng trĩu, bìa các-tông đã ngả sang màu vàng vôi mục vữa vì năm tháng, bên trên kẹp kèm hộp sắt chứa các cuộn vi phim số hóa vừa được nhóm trực kỹ thuật trích xuất khẩn cấp từ kho lưu trữ tầng hầm lúc nửa đêm, và tờ Lệnh rà soát số 108/L-P.TNNH còn tươi rực sắc mực son VP-882 chưa kịp khô mùi dầu hỏa.

Khang nhìn tập hồ sơ vừa được An đặt xuống mặt bàn kính với một ánh mắt không giấu giếm vẻ bài xích. Hai bàn tay khẳng khiu của ông đan chặt vào nhau đặt ngay ngắn trước ngực, các đầu ngón tay hơi bạnh ra, tì sát vào nẹp áo. Đôi mắt sau cặp tròng kính cận dày cộp nheo lại, lộ rõ những quầng thâm thâm tím vì một đêm mất ngủ do sự cố quá tải điện lưới, nhưng ẩn sâu dưới đó vẫn là nét phòng thủ sắt đá, lạnh lùng đến tàn nhẫn của một chuyên gia chuẩn hóa kỳ cựu.

“Tôi đã nghe báo cáo sơ bộ về vụ còi báo động khẩn cấp đêm qua ở phân vùng ngoại vi phía Nam,” Khang mở lời, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch. Giọng ông trầm hạt, đều đặn và khô khốc như nhịp gõ của một chiếc máy đo áp suất cơ học đã cạn dầu bôi trơn. “Tôi cũng biết đích thân Trưởng phòng Dung đã ký phát lệnh phong tỏa tạm thời việc đình chỉ cổng đối với toàn bộ danh mục tồn đọng bảy năm trước. Nhưng thưa chị Dung, thưa cậu An, việc các người can thiệp kỹ thuật để ngăn chặn một vụ sập mạng lưới tại hiện trường là một chuyện, còn việc phá vỡ nguyên tắc thẩm định pháp lý để hợp thức hóa một bộ hồ sơ phi chuẩn lại là chuyện hoàn toàn khác. Hồ sơ TT-103 của cha con ông Đỗ Văn Hòa thiếu bản gốc bằng giấy tờ có đóng dấu ướt của Văn bản quy chuẩn kỹ thuật số 12/QCKT. Đó là một sự thật hành chính rõ ràng, rành mạch và không thể chối cãi.”

Khang vươn tay cầm lấy chiếc thước kẻ kim loại dài ba mươi phân đặt cạnh hộp bút, gõ nhẹ góc thước lên mép tập hồ sơ. Từng nhịp *cạch... cạch...* khô khốc vang lên giữa bốn bức tường tiêu âm, nghe như tiếng kim loại va vào đá tảng:

“Hệ thống quy chuẩn an toàn của Cục Xuyên Thực Tại được xây dựng trên một nền tảng cốt lõi duy nhất: bằng chứng vật lý gốc là chốt chặn cuối cùng để ngăn chặn mọi hành vi gian lận và thâm nhập trái phép giữa các chiều không gian. Nếu hôm nay Vụ Chuẩn Hóa Thực Tại nhượng bộ cho trường hợp này chỉ vì áp lực cảm tính hay vì một sự cố kỹ thuật vừa xảy ra, ngày mai hàng trăm thực tại trôi dạt lậu ngoài luồng sẽ lợi dụng đúng kẽ hở đó. Họ sẽ làm giả dữ liệu số, dựng lên những cuộn phim từ tính không rõ nguồn gốc, tuồn hàng hóa phi chuẩn hoặc mở những đường ống trung chuyển ngầm xuyên qua các lớp màng ranh giới. Một tiền lệ lỏng lẻo sẽ tạo ra sự sụp đổ dây chuyền trên toàn bộ mạng lưới giao thông liên chiều. Tôi không thể ký chấp thuận đưa hồ sơ này vào diện thẩm định thực địa khi không có bản gốc vật lý nằm ngay trên bàn làm việc của tôi.”

Sự kiên định của Khang không xuất phát từ thói hách dịch của một kẻ cửa quyền muốn vòi vĩnh hay gây khó dễ, mà là sự cố chấp thâm căn cố đế của một người tôn sùng tuyệt đối tính đồng nhất. Ông ta thật lòng tin rằng chỉ cần một vết nứt nhỏ bằng sợi tóc xuất hiện trên quy chuẩn, toàn bộ cấu trúc không gian của mạng lưới sẽ vỡ vụn, giống hệt như thảm kịch KB-12 mười hai năm về trước—vụ tai nạn thảm khốc mà Khang vẫn mang theo như một vết sẹo tinh thần nhức nhối, nơi một lỗi dung sai chỉ bằng một phần nghìn milimét trên giấy phép đã xé toạc một toa tàu khách xuyên chiều thành từng mảnh vụn giữa khoảng không vô định.

An hít một hơi thật sâu. Không khí lạnh buốt tràn qua cuống họng giúp anh ghìm lại nhịp tim đang đập dồn dập sau lồng ngực. Anh không vội vã cướp lời, cũng không dùng những câu từ van nài cảm tính. An từ tốn mở kẹp tài liệu màu ghi xám, rút ra một tờ sơ đồ lớn khổ A3 do chính tay anh thức trắng đêm qua để vẽ lại, cùng với các tập trích lục đo đạc vật lý lượng tử nền tảng của Thực tại TT-103.

“Thưa Phó vụ trưởng Khang,” An lên tiếng, giọng nói trầm tĩnh, rành rọt từng âm tiết. “Chúng ta đều đồng thuận rằng quy chuẩn an toàn sinh ra là để bảo vệ tính mạng con người trước các rủi ro biến dạng vật lý, chứ không phải để bắt buộc các quy luật tự nhiên tại địa phương phải tự bẻ cong mình để phục vụ cho các thủ tục giấy tờ hành chính. Tôi xin phép được trình bày bản phân tích quy luật phân rã vật chất đặc thù của Vũ Trụ Mọi Thứ Đều Tạm Thời.”

An đặt tờ sơ đồ phân rã vật chất ngay ngắn trước tầm mắt của Khang, dùng đầu ngón tay trỏ chỉ thẳng vào biểu đồ chu kỳ bán rã của các liên kết hữu cơ nhân tạo:

“Theo Báo cáo khảo sát thực địa số 04 do chính các kiểm định viên kỳ cựu của Cục lập cách đây đúng mười lăm năm—thời điểm cánh cổng TT-103 lần đầu tiên được định vị—định luật vật lý cơ bản tại chiều không gian này quy định rất rõ: Mọi sản phẩm do bàn tay con người chế tác tại địa phương bằng các chuỗi phản ứng liên kết nhân tạo—từ vải vóc dệt, gạch ngói nung cho đến bột giấy ép và mực in hữu cơ—đều có chu kỳ liên kết phân tử tự triệt tiêu và rã thành tro bụi sau đúng ba mươi ngày địa phương. Đó là hằng số phân rã tự nhiên của vũ trụ họ, không một sức mạnh kỹ thuật nào có thể đảo ngược. Ngược lại, các tài nguyên sinh học tự nhiên chưa qua tinh chế, cơ thể sống của sinh vật bản địa và dữ liệu trung tính không mang liên kết nhân tạo địa phương hoàn toàn không chịu tác động của quy luật này.”

An ngước lên, nhìn thẳng vào đôi mắt đang nheo lại đầy căng thẳng phía sau tròng kính của Khang:

“Điều đó dẫn tới một thực tế hành chính tàn nhẫn: một tờ giấy có đóng dấu ướt tại TT-103, dù được bọc trong lồng kính chân không hay bảo quản cẩn mật đến đâu, cũng sẽ tự tan biến thành một nhúm bụi mịn trước khi kịp hoàn tất một chu kỳ luân chuyển công văn giữa các phòng ban tại trụ sở Cục chúng ta. Yêu cầu một bản gốc bằng giấy tờ có dấu ướt tồn tại suốt mười lăm năm để đối chiếu là một yêu cầu đi ngược lại định luật tự nhiên của vũ trụ gốc. Chúng ta đang đòi hỏi người dân phải nộp một thứ vật chất không thể tồn tại theo vật lý học, rồi lại lấy chính sự không tồn tại bất khả kháng ấy làm căn cứ pháp lý để tước bỏ quyền kết nối cổng hợp pháp của họ suốt hai mươi năm. Đó không phải là chuẩn hóa, thưa ông Khang. Đó là một nghịch lý hành chính tự triệt tiêu sự thật.”

Khang khẽ giật mình. Lưng ông hơi cứng lại, chiếc thước kẻ kim loại trên tay ngừng nhịp gõ. Ánh mắt viên Phó vụ trưởng dừng lại rất lâu trên bảng số liệu phân rã phân tử mà An vừa vạch ra bằng những nét mực đen sắc sảo. Từng con số, từng tọa độ suy biến của liên kết carbon-14 và hằng số bán rã hữu cơ đều ăn khớp tuyệt đối với các bản ghi nhật ký đo đạc lưu trữ trong cơ sở dữ liệu lõi của Cục. Khang mấp máy môi, toan dùng Điều khoản An toàn Vật liệu để phản bác, nhưng chưa kịp thốt nên lời thì Trưởng phòng Trần Thu Dung đã tiếp lời.

Giọng bà Dung cất lên, điềm đạm, không một chút gắt gỏng nhưng sắc lạnh như một lưỡi dao mổ bọc nhung:

“Và nghịch lý ấy sẽ lập tức biến thành sự vô trách nhiệm có tính hệ thống của thể chế, nếu như chúng ta cố tình nhắm mắt làm ngơ trước tờ phiếu này.”

Bà Dung mở chiếc túi xách da công vụ màu nâu sẫm, rút ra một tờ phiếu mỏng màu vàng đất. Bốn góc tờ giấy đã sờn rách, mép giấy xơ tơ và ố vàng vì ẩm mốc, nhưng những dòng chữ đánh máy bằng máy chữ cơ học cổ điển và con dấu đỏ thắm ở góc dưới bên phải vẫn còn nguyên vẹn hình hài. Bà đặt tờ phiếu đè nhẹ lên góc bản vẽ của An, ngay trước mặt Khang.

“Phiếu xác nhận thất lạc tài liệu số 884/XN-VP,” bà Dung nhấn mạnh từng từ, giọng nói vang lên đanh thép giữa căn phòng tĩnh mịch. “Do chính Văn phòng Cục Xuyên Thực Tại ban hành vào ngày mười bốn tháng chín của bảy năm trước, mang chữ ký sống của Chánh Văn phòng thời bấy giờ. Tài liệu gốc quy chuẩn kỹ thuật số 12 của ông Đỗ Văn Hòa không hề bị đương sự làm mất, làm hư hỏng hay cố tình che giấu. Chính bộ máy của chúng ta—chính Cục này—đã làm thất lạc nó trong đợt tổng di dời kho lưu trữ từ Tầng Hầm B lên tòa nhà mới.”

Bà Dung nghiêng người về phía trước, hai mắt nhìn xoáy thẳng vào đôi đồng tử đang dao động của Khang:

“Theo Điều 42 và Điều 43 của Quy định Quản lý Hồ sơ Cổ điển được ban hành từ thời lập Cục, trong trường hợp tài liệu gốc bị thất lạc hoặc tiêu hủy do lỗi tác nghiệp của cơ quan thụ lý, thời hạn giải quyết thủ tục phải được tự động tạm dừng, thứ tự ưu tiên của hồ sơ được bảo lưu tuyệt đối và cơ quan thụ lý có nghĩa vụ pháp lý phải tự trích xuất bản lưu nội bộ để thay thế mà không được yêu cầu công dân cung cấp lại. Hiện tại, chúng ta đang nắm giữ bản quét vi phim số hóa nguyên vẹn của chính Văn bản 12/QCKT trong kho dữ liệu lõi, mang chữ ký kiểm định của cố kỹ sư trưởng Trần Mộc. Bản vi phim đó có đầy đủ giá trị đối chiếu tương đương. Vậy tại sao chúng ta lại dùng sự tắc trách, chậm trễ và sự quan liêu của chính bộ máy mình để ép một người cha già và một đứa con gái phải mòn mỏi chờ đợi ngoài hành lang suốt hai mươi năm ròng rã?”

Căn phòng họp rơi tọt vào một khoảng lặng nghẹt thở. Không khí dường như đặc quánh lại, nặng trĩu áp lực của những văn bản pháp lý đang va đập chan chát vào nhau. Tiếng kim giây của chiếc đồng hồ cơ học treo trên tường tiêu âm nhích từng nấc *tạch... tạch... tạch...* đều đặn và tàn nhẫn, như đang đếm từng giọt thời gian sinh học đang cạn kiệt dần của những con người ngoài kia.

Khang nhìn chằm chằm vào bản lưu vi phim đang hiển thị những dải quang phổ mã hóa trên màn hình máy quét cầm tay của An, rồi lại đảo mắt nhìn sang Phiếu xác nhận số 884/XN-VP ố vàng. Những nếp nhăn sâu trên trán ông co rúm lại thành một búi rối rắm. Là một người cả đời tôn sùng luật lệ và các văn bản quy phạm, Khang thừa hiểu giá trị pháp lý không thể lay chuyển của Điều 42 và Điều 43. Đó là những điều luật nền tảng được thiết lập để bảo vệ tính chính danh của nền hành chính. Nhưng nỗi sợ hãi cố hữu về rủi ro chức trách, nỗi ám ảnh vô hình mang tên ‘trách nhiệm cá nhân’ vẫn là một chiếc then cài rỉ sét nhưng kiên cố, khóa chặt tâm thức của người công chức lâu năm này.

“Quy định quản lý cổ điển đúng là có điều khoản đó...” Khang cất giọng, âm thanh khàn đặc như có sạn mắc trong cổ họng. “Nhưng thưa chị Dung, chúng ta hiện đang vận hành dưới sự giám sát ngặt nghèo của Ban Tinh Gọn. Đợt thanh tra liên ngành đang diễn ra ở tất cả các tầng. Nếu Vụ Chuẩn Hóa chấp thuận bản vi phim thay thế cho bản gốc mà không thông qua quy trình thẩm định lại từ đầu, tôi sẽ bị quy vào tội cố ý làm trái quy trình, tự ý nới lỏng rào cản an toàn chiều không gian để chạy theo chỉ tiêu giải tỏa hồ sơ tồn đọng.”

“Chúng tôi không hề yêu cầu ông nới lỏng an toàn hay bỏ qua các bước kiểm tra,” bà Dung ngắt lời, giọng dứt khoát không khoan nhượng. “Phòng Tiếp Nhận đề xuất áp dụng cơ chế ‘thí điểm đối chiếu dữ liệu lưu tại chỗ’. Chúng ta thành lập ngay một hội đồng kiểm định thực địa khẩn cấp, cử đội ngũ kỹ thuật tinh nhuệ xuống tận cổng ranh giới TT-103, trực tiếp đối chiếu tần số dao động của cuộn vi phim với xung lực bức xạ thực tế của cánh cổng. Đồng thời, Đỗ Yến Nhi—với tư cách là người đại diện hợp pháp thế hệ thứ hai—sẽ ký biên bản cam kết nhân thân độc lập trước sự chứng kiến của kiểm tra viên.”

Bà Dung hạ thấp giọng xuống nửa cung, nhưng từng từ thốt ra đều đanh thép như đinh đóng vào cột:

“Một quy tắc ngoại lệ chỉ thực sự an toàn khi nó đáp ứng đầy đủ ba điều kiện: có phạm vi áp dụng rõ ràng, có thời hạn kiểm chứng cụ thể tại thực địa, và có người có thẩm quyền đứng ra ký chịu trách nhiệm cá nhân. Chúng ta không hề tạo ra một tiền lệ mù quáng cho những kẻ gian lận, ông Khang ạ. Chúng ta đang dũng cảm sửa chữa một sai lầm hành chính có địa chỉ rõ ràng.”

Phạm Đức Khang tựa lưng ra sau chiếc ghế xoay bọc da đen, thở dài một hơi nặng nhọc như vừa trút bỏ một khối đá tảng đè nặng lồng ngực. Ông đưa tay tháo chiếc kính cận, rút chiếc khăn lụa xám trong túi áo ngực ra lau đi lau lại hai mặt tròng kính trắng bóng. Lập luận của An quá chặt chẽ, dựa trên những nguyên lý vật lý lượng tử nền tảng không thể bác bỏ. Còn bà Dung thì dùng chính những chiếc then cài pháp lý cổ điển để bịt kín mọi kẽ hở thoái thác. Cỗ máy quan liêu khổng lồ mà Khang tôn thờ bấy lâu nay, dưới sự mổ xẻ rành mạch của hai con người ngồi đối diện, bỗng hiện nguyên hình là một sự trốn tránh trách nhiệm tập thể hèn nhát núp bóng dưới danh nghĩa chuẩn hóa.

Đeo kính trở lại, ánh mắt của Khang không còn vẻ mệt mỏi buông xuôi, mà lóe lên một tia sáng kiên quyết, sắc lạnh:

“Được. Tôi thừa nhận toàn bộ lập luận kỹ thuật và cơ sở pháp lý của anh chị là hoàn toàn chuẩn xác. Tôi có thể ký phê chuẩn cho hồ sơ TT-103 bước vào giai đoạn ‘Thẩm định thực địa thí điểm’. Nhưng với một điều kiện tiên quyết.”

Khang kéo mạnh ngăn kéo bàn làm việc bằng kim loại, tạo ra một tiếng trượt cơ khí khô khốc. Ông rút ra một tờ biểu mẫu đặc biệt được in trên bìa cứng màu xanh đậm viền hoa văn bảo mật: *Biên bản cam kết liên đới trách nhiệm cá nhân đối với quy trình thử nghiệm ngoại lệ.*

Ông đẩy tờ giấy sang mép bàn phía Dung và An, ngón tay trỏ gõ mạnh xuống dòng chữ in hoa đậm nét nằm ở phần chân trang:

“Quy chuẩn an toàn không bao giờ được phép bẻ cong mà không có người đứng ra bảo chứng bằng chính sinh mệnh chính trị của mình. Nếu việc mở cánh cổng TT-103 gây ra bất kỳ sự cố rò rỉ áp suất xuyên chiều nào, gây biến dạng vật lý cục bộ, hoặc phát sinh bất kỳ khiếu nại gian lận nào từ các bên liên quan, toàn bộ trách nhiệm kỷ luật sẽ không dừng lại ở Vụ Chuẩn Hóa. Trưởng phòng Trần Thu Dung và chuyên viên trực tiếp thụ lý Nguyễn Minh An phải cùng ký tên vào mục Người bảo lãnh liên đới đặc biệt này. Nếu xảy ra tai nạn dù là nhỏ nhất, hai người sẽ bị đưa thẳng ra trước Hội đồng Kỷ luật Toàn Cục, tước bỏ vĩnh viễn vị trí công tác và đối mặt với việc chấm dứt hợp đồng ngay lập tức mà không có quyền khiếu nại. Các người có dám đặt cược sự nghiệp của mình vào đây không?”

Lời thách thức của Khang rơi xuống mặt bàn như một khối chì nghìn cân, vang vọng giữa bốn bức tường phòng họp.

An cúi đầu nhìn dòng chữ cảnh báo hậu quả in nghiêng bằng thứ mực đỏ rực như máu dưới đáy trang giấy xanh. Từng con chữ như nhảy múa trước mắt anh. Đó là toàn bộ sự nghiệp mà anh đã chắt chiu gây dựng từ những ngày đầu bước chân vào Cục. Đó là giấc mơ biên chế chính thức mà mẹ Hạnh ở khu tập thể cũ kỹ vẫn hằng đêm chắp tay cầu khấn, là chiếc phao cứu sinh duy nhất giúp gia đình anh không bị gạt ra bên lề xã hội sau những biến cố dồn dập. Ký vào tờ giấy này, anh không chỉ đơn thuần mạo hiểm một công việc văn phòng, mà đang đặt cược toàn bộ tương lai, danh dự và cuộc sống của chính mình vào cánh cổng của một vũ trụ xa lạ—nơi mà ngay cả giấy mực cũng tự tan biến thành hư vô sau ba mươi ngày.

Nhưng trong khoảnh khắc ngột ngạt ấy, bên tai An bỗng văng vẳng tiếng lạch cạch của chiếc mâm nhôm sứt mẻ và lời dặn dò run rẩy của mẹ bên mâm cơm nguội ngắt tối hôm trước: *“Đã làm người ăn lương nhà nước thì phải làm cho trọn vẹn cái việc mình đã hứa với người ta... Cơm có thể ăn bớt một bát, nhưng đừng bao giờ bẻ cong lẽ phải mà sống hèn nhát, nghe con.”* Và trên hết, hình ảnh đôi bàn tay run rẩy, gầy guộc của người cha già Đỗ Văn Hòa ôm khư khư bọc giấy tờ mục nát suốt mười lăm năm trời giữa cái lạnh cắt da của sảnh chờ lại hiện lên rõ mòn mọt trong tâm trí anh.

Không một giây do dự, An rút cây bút bi mực đen cài ngay ngắn trên túi áo ngực. Bàn tay anh không hề run rẩy.

“Tôi ký.”

Đầu bút bi miết mạnh lên mặt giấy bìa cứng ráp rạp, nét mực đen sắc sảo, dứt khoát rạch một đường thẳng thắn vào ô Chuyên viên thụ lý bảo lãnh. Từng nét chữ của An gãy gọn, kiên định như một lời thề danh dự.

Ngay bên cạnh, bà Dung khẽ nghiêng đầu nhìn người cấp dưới trẻ tuổi, khóe môi điểm một nụ cười kín đáo và đầy kiêu hãnh. Bà không nói một lời thừa thãi, rút cây bút máy ngòi mài mạ vàng quen thuộc, vặn nắp bút rồi dập mạnh chữ ký uốn lượn sắc sảo bằng dòng mực tím truyền thống vào ô Trưởng phòng chủ trì phê duyệt. Hai chữ ký—một mực đen cẩn trọng của tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, một mực tím kiên cường của người đàn bà đã nếm trải đủ thăng trầm của chốn công quyền—nằm song song bên nhau, tạo thành một tấm lá chắn thép che chở cho số phận của một thế giới sắp bị lãng quên.

Thế bế tắc kéo dài đằng đẵng hơn hai mươi năm của hồ sơ TT-103, rốt cuộc, đã bị bẻ gãy hoàn toàn không phải bằng một điều luật mới ban hành, mà bằng chính sự dũng cảm dám nhận trách nhiệm cá nhân của những con người cụ thể bằng xương bằng thịt.

Phạm Đức Khang nhìn trân trân vào hai chữ ký còn ướt nước mực trên mặt giấy xanh. Đôi con ngươi sau tròng kính rung động dữ dội. Trong một khoảnh khắc hiếm hoi suốt mấy chục năm làm việc, vẻ mặt sắt đá, lạnh lùng như pho tượng thạch cao của viên Phó vụ trưởng bỗng chùng xuống, để lộ một sự chấn động sâu sắc và nét kính nể chân thành dành cho hai đồng nghiệp đối diện.

Khang không nói thêm một lời nào. Ông đứng thẳng dậy, với tay lấy con dấu kiểm định chuyên ngành bằng đồng nguyên khối của Vụ Chuẩn Hóa Thực Tại đặt trên khay nhung. Ông ấn mạnh mặt dấu vào khay mực son đỏ tươi, nhấc lên, rồi giáng một phát đanh gọn, dứt khoát xuống góc trên cùng của bộ hồ sơ TT-103.

*CỘP!*

Tiếng dấu đập xuống mặt gỗ vang lên giòn giã, dứt khoát như một phát súng lệnh giải phóng cho số phận của cả một thế giới.

***

Nửa giờ sau, tại sảnh chờ Bàn Tiếp Nhận Số 8.

Khu vực sảnh đón tiếp công dân của Tầng Một lúc này đã bắt đầu bước vào giờ cao điểm buổi sáng. Dòng người từ các chiều không gian khác nhau đổ về nườm nượp, tiếng bước chân xào xạc, tiếng rầm rì của hàng trăm thứ ngôn ngữ xen lẫn tiếng chuông ding-dong cơ học phát ra từ máy lấy số tự động ở đầu dãy hành lang: *“Số thứ tự 402, xin mời đến Bàn Số 3... Số thứ tự 403, xin mời đến Bàn Số 12...”* Những mẩu giấy in nhiệt mỏng dính, chứa đựng những con số vô cảm cứ thế tuôn ra, rơi vào những bàn tay đang thấp thỏm đợi chờ.

Thế nhưng, tại góc Bàn Số 8 nằm khuất sau dãy cột bê tông chịu lực, bầu không khí dường như đang ngưng đọng lại, tách biệt hoàn toàn khỏi sự ồn ã của thế giới xung quanh.

Đỗ Yến Nhi ngồi thẳng lưng trên chiếc ghế sắt sơn tĩnh điện đã tróc sơn từng mảng. Hai bàn tay cô nắm chặt lấy vạt áo khoác mỏng đã sờn rách ở mép chỉ, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực quá mạnh. Ngồi ngay bên cạnh cô, ông Đỗ Văn Hòa tựa lưng vào bức tường ốp gạch men lạnh ngắt. Chiếc túi vải bạc màu được ông ôm ghì trước ngực như một báu vật bất ly thân. Từng nhịp thở của ông cụ đứt quãng, nặng nhọc và khò khè sau chuyến đi dài vượt qua các tầng chênh lệch áp suất xuyên chiều từ rạng sáng.

Khi An bước nhanh qua dãy hành lang, cầm trên tay tập hồ sơ dày cộm và đặt nhẹ nhàng xuống mặt bàn gỗ thông của Bàn Số 8, ánh mắt của Nhi lập tức dán chặt vào trang bìa hồ sơ như bị nam châm hút chặt.

Ngay chính giữa tờ trình xử lý, một con dấu hình chữ nhật màu đỏ tươi rói, viền răng cưa bảo mật sắc nét hiện lên rực rỡ dưới ánh sáng vàng nhạt của ngọn đèn sảnh: **“HỒ SƠ ĐÃ ĐỦ ĐIỀU KIỆN — ĐANG THẨM ĐỊNH THỰC ĐỊA THÍ ĐIỂM”**. Nằm ngay ngắn bên dưới con dấu là ba chữ ký sống sắc sảo của Khang, Dung và An.

Nhi trừng trừng nhìn vào con dấu đỏ ấy. Đôi mắt cô mở to hết cỡ, bờ môi mỏng run rẩy bần bật, lồng ngực phập phồng dữ dội. Bất thình lình, bao nhiêu sự kìm nén, bao nhiêu nỗi uất ức và tủi nhục tích tụ suốt mười mấy năm qua bỗng vỡ tung ra. Cô gục hẳn mặt xuống mặt bàn tiếp nhận, hai vai rung lên bần bật, rồi bật khóc nức nở.

Đó không phải là tiếng khóc của sự yếu đuối hay tuyệt vọng, mà là sự vỡ òa kinh hoàng của một đứa trẻ đã buộc phải gồng mình khoác lên tấm áo người lớn quá sớm, của một người con gái đã phải tận mắt chứng kiến cha mình hao mòn, khô kiệt từng ngày qua những tờ giấy hẹn vô tri và những cái lắc đầu lạnh lùng của bộ máy hành chính. Những giọt nước mắt nóng hổi, mặn chát rơi lã chã xuống mặt kính bàn làm việc, làm nhòe đi cả hình ảnh phản chiếu của chiếc màn hình máy tính cũ kỹ.

“Được rồi... Được rồi thật rồi cha ơi...” Nhi nghẹn ngào thốt lên qua những tiếng nấc xé lòng, hai bàn tay run rẩy vội vã tìm lấy bàn tay khô héo, nổi đầy gân xanh của cha mình. “Người ta chịu đóng dấu rồi cha ơi... Người ta không đòi bản gốc giấy nữa rồi... Người ta cho kiểm định rồi...”

Ông Hòa ngồi bên cạnh, khẽ chớp chớp đôi mắt đục ngầu, phủ một màng sương mờ trắng đục—hậu quả của chứng thoái hóa giác mạc do hàng trăm lần chịu đựng sự chênh lệch thời gian liên chiều mà không có thiết bị bảo hộ đạt chuẩn. Nghe thấy tiếng con gái khóc nấc lên, ông lóng ngóng đưa bàn tay gầy guộc, thô ráp như một nhánh củi khô vụng về vỗ về lên bờ vai đang run rẩy của con. Khóe miệng móm mém của ông run run, nở một nụ cười ngơ ngác nhưng ấm áp đến lạ thường:

“Nín đi con... Cán bộ thương... Cán bộ thương tình giúp đỡ cha con mình rồi mà... Đừng khóc ở chỗ công quyền thế này, người ta nhìn vào... người ta cười cho đấy con gái...”

An đứng ở phía bên kia bàn làm việc, cổ họng anh như có vật gì chẹn ngang, lồng ngực thắt lại vì xúc động. Anh vội rút hộp khăn giấy trên bàn đưa sang cho Nhi, giọng nói cố gắng giữ vẻ ấm áp, chuyên nghiệp nhưng vẫn không giấu được sự nghẹn ngào:

“Hai bác cháu chuẩn bị tinh thần thật tốt nhé. Đúng một giờ chiều ngày mai, Tổ Kiểm tra Sau Cấp Phép do kiểm tra viên Đặng Thảo Vy phụ trách sẽ cùng tôi xuống trực tiếp cửa cổng TT-103. Chúng ta sẽ tiến hành đo xung lực bức xạ thực tế và hoàn tất biên bản kiểm định đối chiếu tại chỗ. Chỉ cần mọi thông số kỹ thuật trùng khớp với bản ghi vi phim, cánh cổng giao thương loại ba sẽ được kích hoạt tạm thời trong vòng bốn mươi tám giờ tiếp theo.”

Nhi ngẩng đầu lên, gương mặt ướt đẫm nước mắt, đôi mắt đỏ hoe nhưng sâu trong con ngươi lại ánh lên một tia hy vọng mãnh liệt chưa từng thấy. Cô vội vã gật đầu lia lịa, hai bàn tay lau vội những vệt nước mắt trên má:

“Vâng! Vâng ạ! Tôi sẽ về ngay chiều nay để dọn dẹp lại toàn bộ hành lang trung chuyển, chuẩn bị sẵn nhật ký trực cổng mười lăm năm qua để các cán bộ kiểm tra. Cảm ơn anh An... Cảm ơn chị Trưởng phòng... Cảm ơn cơ quan nhiều lắm...”

Thế nhưng, ngay giữa khoảnh khắc niềm vui đang vỡ òa ấy, An bất chợt nhận thấy những biểu hiện vô cùng kỳ lạ trên gương mặt già nua của ông Đỗ Văn Hòa.

Ông cụ hoàn toàn không nhìn vào con dấu đỏ tươi trên mặt giấy. Đôi mắt đục mờ của ông ngơ ngác ngước nhìn lên trần nhà cao vút của sảnh tiếp nhận, nhìn vào những đường ống dẫn khí chằng chịt và những bảng điện tử LED đang nhảy số liên hồi. Ánh mắt ông trống rỗng, mông lung và lạc lõng, như thể tâm trí ông vừa bị bứt ra khỏi thực tại, trôi dạt về một miền không gian xa xăm, mù mịt nào đó ngoài rìa vũ trụ.

“Bác Hòa ơi,” An khẽ gọi, hơi nghiêng người về phía trước bàn làm việc. “Bác nhớ về uống nước ấm và nghỉ ngơi thật sớm nhé. Ngày mai chuyến đi thực địa sẽ rất cần bác trực tiếp xác nhận vị trí mốc ranh giới của cánh cổng đấy ạ.”

Ông Hòa khẽ giật bắn mình như vừa bị ai đó đánh thức khỏi một cơn mê sảng. Ông chậm chạp quay đầu sang nhìn An. Đôi con ngươi đục mờ nhìn thẳng vào mặt người chuyên viên trẻ tuổi nhưng hoàn toàn không có tiêu cự, vô hồn và xa lạ. Ông ngập ngừng xoa hai bàn tay khô ráp vào nhau, các ngón tay cọ vào nhau sột soạt như hai mảnh gỗ mục, rồi cất giọng thều thào, ngơ ngác:

“Cán bộ... Cán bộ cho tôi hỏi nhờ một câu... Mình... mình đang ở tầng mấy của trụ sở Cục vậy cà? Cửa ra trạm xe điện xuyên chiều... nó nằm ở hướng đông hay hướng tây hả con gái?”

Nhi sững sờ. Toàn thân cô như bị đông cứng lại giữa không trung. Nụ cười rạng rỡ vừa mới chớm nở trên môi cô vụt tắt ngấm, nhường chỗ cho một nỗi bàng hoàng tột cùng dâng lên trong đáy mắt. Cô quay phắt sang nhìn cha, giọng nói lạc hẳn đi:

“Cha... Cha nói gì vậy? Mình đang ở Tầng Một mà cha! Bàn Tiếp Nhận Số 8 mà cha con mình đã đến suốt mười lăm năm nay đấy... Cha... cha quên rồi sao?”

Ông Hòa không trả lời con gái. Ông chớp chớp mắt, rồi chầm chậm cúi đầu xuống, nhìn vào tập hồ sơ đang mở ra trước mặt. Đôi bàn tay già nua run rẩy lần sờ trên mặt giấy láng bóng của mẫu đơn thẩm định. Những ngón tay thô ráp, sần sùi cẩn thận sờ nắn từng đường viền của con dấu đỏ tươi rói, đầu ngón tay khẽ miết nhẹ lên vệt mực son vẫn còn thơm nồng mùi dầu phụ gia chống bay màu.

An đứng lặng đi sau bàn làm việc, trái tim anh như bị bóp nghẹt. Anh hiểu ra tất cả.

Cái giá tàn khốc của hai mươi năm ròng rã chờ đợi, của hàng trăm chuyến tàu xuyên không gian vượt qua các vùng dị thường thời gian để theo đuổi một tờ giấy phép, rốt cuộc không chỉ là những tập hồ sơ mục nát hay những tờ biên nhận rách bươm. Cái giá đắt nhất chính là những tế bào thần kinh, là những mảnh ký ức nguyên vẹn đang dần tan rã, mục ruỗng trong bộ não già cỗi của người cha. Thời gian của thể chế hành chính có thể là vô tận, các thủ tục có thể kéo dài từ năm này qua năm khác, từ thế hệ công chức này sang thế hệ công chức khác mà không hề suy suyển. Nhưng thời gian sinh học của một con người bằng xương bằng thịt thì lại vô cùng hữu hạn, tàn nhẫn và không bao giờ biết chờ đợi ai.

Giữa ánh đèn tuýp trắng lóa của sảnh tiếp nhận, người cha già vẫn chăm chú sờ nắn con dấu mực son đỏ thắm trên văn bản, rồi run run ngước nhìn con gái, thều thào hỏi trong hơi thở đứt quãng liệu đây có phải lại là một giấc mơ đẹp đẽ nữa sắp sửa tan biến thành tro bụi hay không.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories