Cục Quản Lý Các Vũ Trụ Rắc RốiCh.12 / 30
Chapter 12

Chữ ký của người bảo vệ

Tiếng quạt thông gió rít từng hồi khô khốc trên trần bê tông trần trụi của Kho Những Hồ Sơ Chưa Từng Tồn Tại. Âm thanh ấy không đều đặn; cứ sau chừng mươi giây rên xiết trơn tru, trục quay rỉ sét lại khục lên một tiếng lách cách kim loại nghẹn ứ, như thể luồng không khí đặc quánh bên dưới tầng hầm ba mươi mét đang ra sức bóp nghẹt cánh quạt.

Ở góc bàn làm việc đóng một lớp bụi mịn xám tro, Bùi Văn Lộc chậm rãi tháo chiếc kính lão gọng đồi mồi xuống.

Không gian dưới đáy sâu này nồng nặc thứ mùi đặc thù của cái chết hành chính: mùi cellulose thoái hóa bốc lên từ hàng triệu trang giấy rơm mục ruỗng, mùi ẩm mốc ngâm qua nhiều thập kỷ của những chân tường vĩnh viễn không bao giờ thấy ánh mặt trời, và thứ mùi chua nồng, ngai ngái của mực in hóa chất rẻ tiền đã đông kết từ những niên đại trước khi hệ thống chuyển đổi số toàn diện được áp đặt. Phía trên đầu họ, dãy đèn tuýp vàng vọt phát ra tiếng vo ve run rẩy, ánh sáng chập chờn rọi xuống dãy kệ thép số 44. Dãy kệ ấy kéo dài hun hút vào bóng tối sâu thẳm vô tận của tầng hầm, nơi chứa hàng vạn bộ hồ sơ đã bị tước đoạt toàn bộ chỉ mục tra cứu công cộng, biến thành những bóng ma văn bản nằm ngoài mọi cơ sở dữ liệu chính thức.

Lộc không nhìn thẳng vào mắt An. Đôi mắt người thủ kho già đục mờ vì chứng đục thủy tinh thể tuổi xế chiều, giấu sau những vết chân chim chằng chịt như rễ cây khô. Ông rút từ túi áo ngực chiếc khăn tay chắp vá bằng vải thô sờn rách, tỉ mỉ lau từng vệt ố mờ trên tròng kính tròn. Bàn tay ông xương xẩu, da mồi xám ngắt, những khớp ngón tay sưng to vì chứng thấp khớp kinh niên của người cả đời ngồi canh giữ những nấm mồ giấy vụn. Giọng nói của ông trầm đục, khàn đặc như tiếng đá cọ vào đáy giếng cạn, chìm nghỉm giữa tiếng rít lạch cạch của cánh quạt trần:

“Muốn hiểu tại sao một dòng sông cạn nước, cậu đừng nhìn vào khúc đập vừa mới xây. Đập mới xây chỉ là thứ chặn lại những giọt nước cuối cùng thôi. Muốn thấy căn nguyên, hãy tìm khúc đê đầu tiên bị người ta lén khoét một lỗ nhỏ bằng ngón tay để xả lũ tạm thời. Cậu có cày xới nát cái danh mục lưu trữ số hóa của Ban Tinh Gọn thì cũng chỉ thấy những con số đã được gọt giũa tròn trịa của cậu Phúc mà thôi. Trên hệ thống của họ, mọi thứ đều sạch sẽ, tối ưu, không tì vết, không có một giọt máu nào rớt trên các bảng biểu thống kê.”

Lộc ngừng lại, nhét chiếc khăn tay vào túi áo, rồi ngước cặp mắt lờ đờ nhìn An:

“Muốn thấy vết tích thật, hãy đối chiếu tập lệnh chuyển lưu trữ đặc biệt từ bảy năm trước với sổ lưu nhật ký con dấu của chính Phòng Tiếp Nhận và Hướng Dẫn. Mã con dấu cơ học thời đó chưa nối mạng, chưa có hệ thống tự động đồng bộ lên máy chủ trung tâm. Mỗi lần con dấu bằng đồng giáng xuống mặt giấy, người thừa hành đều phải ghi số lưu, ngày giờ và trích yếu nội dung bằng bút mực vào sổ tay bàn giao vật lý. Dữ liệu trên máy chủ có thể bị xóa bằng một dòng lệnh, nhưng mực sắt ngấm vào xơ giấy thì bảy mươi năm sau vẫn còn trơ ra đó.”

Ngón tay gầy guộc đầy đồi mồi của người thủ kho già khẽ đẩy một chồng sổ khổ A3 bọc bìa các-tông xám xịt về phía mép bàn. Bìa sổ loang lổ những vết nước ố vàng và bụi than đen bám chặt vào các góc bọc vải gai.

Lộc không nói thêm một lời nào nữa. Ông chống hai tay lên đầu gối, chật vật đứng dậy, đốt sống lưng kêu rắc một tiếng khô khốc. Chắp hai tay sau lưng chiếc áo bảo hộ màu tro bạc phếch, ông chậm rãi xoay người, bước sâu vào bóng tối mịt mùng của hành lang giữa hai dãy kệ số 44 và 45. Tiếng đế dép cao su mòn vẹt của ông lê thong thả trên nền xi măng ẩm ướt, xa dần, xa dần, cho đến khi bị nuốt chửng hoàn toàn bởi tiếng quạt thông gió vô hồn trên trần cao, để lại cho An một khoảng lặng đặc quánh đến mức có thể nghe thấy cả tiếng tim mình đang đập thình thịch trong lồng ngực.

An hít một hơi thật sâu. Lồng ngực anh nghẹn lại bởi bụi giấy mục xộc thẳng vào cuống họng, đắng ngắt và lạnh buốt.

Anh kéo chiếc ghế gỗ ba chân cập kê lại gần bàn, bật chiếc đèn pin cá nhân loại nhỏ mang theo từ bàn làm việc, đặt nằm ngang lên mép tập tài liệu để ánh sáng trắng gom lại thành một vệt dài rọi thẳng vào mặt giấy. Bàn tay anh khẽ run khi chạm vào lớp bìa các-tông thô ráp của cuốn sổ nhật ký sử dụng con dấu thuộc Phòng Tiếp Nhận và Hướng Dẫn từ bảy năm trước.

Bảy năm trước. Đó là thời điểm An thậm chí còn chưa nộp hồ sơ thi tuyển vào Cục Quản Lý Các Vũ Trụ Rắc Rối, chưa từng biết đến sự tồn tại của chiếc Bàn Tiếp Nhận Số 8 đầy oan khiên. Đó là giai đoạn mà các bậc tiền bối trong cơ quan thỉnh thoảng vẫn nhắc lại bằng giọng thì thào đầy khiếp đảm: cuộc đại khủng hoảng quá tải hồ sơ liên thực tại, khi những biến động đứt gãy không gian kéo dài khiến hàng chục vạn cư dân từ khắp các nhánh vũ trụ tràn về sảnh làm thủ tục, suýt chút nữa đã làm nổ tung toàn bộ bộ máy hành chính cồng kềnh của Cục.

Từng trang giấy kẻ ô vuông ố vàng lật qua lạo xạo dưới ngón tay anh. Mùi lưu huỳnh và axit hữu cơ từ chất liệu giấy cũ phả lên cay xè sống mũi.

Những dòng ghi chép bằng bút sắt nét thanh nét đậm hiện lên ngay ngắn, kỷ luật đến mức lạnh lùng. Mỗi dòng là một lần con dấu tròn mang mã số hiệu lực cơ học VP-882 được dập xuống: phê duyệt gia hạn giấy phép lưu trú tạm thời, chuyển tiếp đơn khiếu nại về biến dạng trường hấp dẫn, xác nhận sai sót kỹ thuật trong cấp phát hạn ngạch năng lượng. Mọi thứ diễn ra với nhịp độ bình thường, đều đặn khoảng vài chục hồ sơ mỗi tuần.

Thế nhưng, khi An lật đến các trang ghi chép của quý ba năm đó, nhịp độ bỗng nhiên thay đổi một cách khủng khiếp.

Nét chữ viết tay trở nên vội vã, nghiêng ngả, các hàng chữ xô lệch vào nhau như thể người ghi chép đang phải chạy đua với một chiếc đồng hồ đếm ngược vô hình. Và dày đặc trên các trang sổ, chiếm trọn toàn bộ các cột mục đích sử dụng, là sự xuất hiện với tần suất dày đặc đến nghẹt thở của một mã lệnh hành chính duy nhất:

*“ĐC-HH/07: Điều chuyển lưu trữ hạn chế ngoại ngạch.”*

Tần suất xuất hiện của mã lệnh này tăng vọt từ vài trường hợp cá biệt lên hàng trăm, rồi hàng nghìn trường hợp chỉ trong vòng chưa đầy hai tháng.

Đầu ngón tay An bắt đầu lạnh ngắt. Anh run run lật sang tập hồ sơ lệnh chuyển gốc được kẹp bằng ghim sắt hoen rỉ đính kèm ngay phía sau cuốn sổ đối chiếu.

Đó không phải là những hồ sơ thẩm định chi tiết dày cộp thường thấy trong quy trình tiếp nhận, mà là hàng trăm quyết định hành chính ngắn gọn, khô khốc. Mỗi tờ chỉ vỏn vẹn một mặt giấy A4 mỏng tang, mang nội dung cô đọng đến mức rợn người:

*“Căn cứ tình trạng tồn đọng hồ sơ kéo dài không thể xử lý dứt điểm do khác biệt luật nền và xung đột hạ tầng kỹ thuật;* *Căn cứ yêu cầu cấp bách về việc bảo đảm an toàn vận hành hệ thống kết nối liên thực tại;* *Tạm thời chuyển giao toàn bộ mã hồ sơ thuộc phụ lục đính kèm sang danh mục lưu trữ hạn chế nội bộ để phân loại, theo dõi ngoại ngạch và tái cấu trúc quy trình tiếp nhận.”*

Phía dưới mỗi văn bản là danh sách dài dằng dặc những cái tên, những mã hiệu bị gạch chân bằng mực đỏ: Thực tại TL-004-X, các phân khu nông nghiệp ngập nước ngoại vi, các cụm dân cư vùng trũng không gian, các thế giới phụ thuộc vào luồng trung chuyển dược phẩm đơn lẻ...

Hàng loạt thế giới khó phục vụ, những nơi có độ chênh lệch luật nền quá lớn, những nơi cần quá nhiều chi phí duy trì băng thông và màng lọc an toàn, những nơi cư dân không có người đại diện pháp lý quyền lực... tất cả đã bị gạt phắt ra rìa hệ thống chỉ bằng một dòng lệnh lạnh lùng, tàn nhẫn. Không có một phiên điều trần nào. Không có bất kỳ thông báo công khai nào được phát ra tại sảnh tiếp nhận. Chúng đơn giản là bị bứng khỏi luồng xử lý chính thức, ném vào bóng tối của kho lưu trữ này, nơi thời gian ngưng đọng và sự sống bị biến thành những tệp giấy mục nát.

An lần giở ngược lại tờ lệnh khung gốc đầu tiên — văn bản pháp lý mẹ mở đầu cho toàn bộ chiến dịch điều chuyển tàn khốc năm ấy.

Tờ giấy đã ngả sang màu vàng sậm của rơm rạ mục, mép giấy rách tơi tả vì ẩm ướt. Ở góc dưới bên phải, nằm ngay bên cạnh vết mực con dấu tròn cơ học VP-882 đã phai sang màu đỏ gạch cũ kỹ, là một chữ ký sống dứt khoát, sắc sảo bằng nét mực tím đậm đà.

Nét chữ nghiêng nhẹ về bên phải chừng mười lăm độ. Đường nét gãy gọn, dứt khoát, với phần móc đuôi kéo dài hình lưỡi dao quen thuộc — một chữ ký mà suốt bao năm qua, mỗi buổi sáng bước vào phòng giao ban, An đều nhìn thấy nằm trang trọng ở góc dưới các bản phân công nhiệm vụ, các phiếu duyệt cấp văn phòng phẩm và các thông tri bảo vệ nhân viên:

*Trần Thu Dung.*

An chết lặng. Toàn bộ cơ thể anh đông cứng lại như bị dội một gáo nước băng giữa mùa đông. Bàn tay anh run rẩy dữ dội đến mức chiếc bút bi đang kẹp giữa các ngón tay tuột khỏi tay, rơi thẳng xuống nền xi măng, phát ra một tiếng *cạch* khô khốc, vang dội giữa không gian câm lặng của tầng hầm.

Tiếng động ấy làm dấy lên những đợt sóng dội ngược từ các vách tường bê tông xa xăm, như thể hàng vạn linh hồn bị chôn vùi dưới những kệ sắt đang đồng thanh thở dài.

Đó không phải là một chữ ký nháy vô thưởng vô phạt của một chuyên viên văn thư thừa hành chạy việc. Đó càng không phải là một con dấu chữ ký khắc sẵn cộp đại trà bằng máy dập tự động. Đó là một chữ ký sống thực sự, được ký bằng chiếc bút máy ngòi mài bơm mực tím thủ công — thói quen cố hữu bất di bất dịch của Trưởng phòng Dung.

Người phụ nữ ấy... người đàn bà có vóc dáng nhỏ nhắn nhưng luôn đứng ở đầu sóng ngọn gió suốt bao năm qua để che chở cho đám nhân viên hợp đồng thấp cổ bé họng tại tầng tiếp nhận; người từng đập bàn trong cuộc họp liên tịch với Ban Tinh Gọn để đòi từng suất bảo hiểm y tế cho nhân sự cấp dưới; người từng nghiêm khắc gõ ngón tay lên mặt bàn Bàn Số 8, nhìn thẳng vào mắt anh mà răn dạy: *“Muốn cứu người nộp đơn, cậu không thể chỉ dựa vào lòng thương hại mù quáng. Cậu phải dùng chính thủ tục hợp thức, dùng từng dấu mộc sống và chữ ký sống để ghì chặt cỗ máy lại, không cho nó nghiền nát họ.”*

Hóa ra... chính bàn tay ấy, chính nét mực tím bao dung ấy, từ bảy năm trước, đã ký bản án khai tử hành chính đầu tiên cho hàng vạn con người.

***

Khi An bước ra khỏi buồng thang máy chở hàng cũ kỹ và trở lại sảnh tiếp nhận ở tầng một, chiếc đồng hồ điện tử treo tường đã điểm gần tám giờ tối.

Tiếng ồn ào hỗn tạp quen thuộc của ban ngày — tiếng khóc ngằn ngặt của những đứa trẻ theo cha mẹ đi tị nạn thực tại, mùi dầu gió ngai ngái trộn lẫn với mùi bánh bao nguội của những người chầu chực từ tờ mờ sáng, tiếng máy bấm số tự động nhả giấy loẹt xoẹt và những tiếng thở dài nặng nề trước các quầy thủ tục — tất cả đã hoàn toàn biến mất.

Sảnh lớn lúc này biến thành một hang đá mênh mông, tĩnh mịch đến rợn ngốc. Để tiết kiệm ngân sách năng lượng theo chỉ thị tối ưu hóa của Cục, toàn bộ hệ thống đèn trần trung tâm đã bị ngắt, chỉ còn lại những bóng đèn huỳnh quang bật so le cách nhau cả chục mét tỏa ra thứ ánh sáng trắng nhờ nhợ, lạnh lẽo như ánh lăng miếu. Dãy bàn tiếp nhận kéo dài từ số một đến số mười bốn đều đã trùm kín bạt ni-lông xám xịt chống bụi, trông từ xa chẳng khác nào những nấm mồ hành chính nằm san sát nhau trong nghĩa địa.

Chiếc Bàn Số 7 bên cạnh vị trí của An trống hoác. Bình đã về từ sớm sau một ngày kiệt sức vì những bảng mã lỗi của hệ thống mới. Trên mặt bàn gỗ ép của Bình chỉ còn sót lại một vệt ố tròn màu nâu sẫm của đáy cốc cà phê mua chung ban sáng chưa kịp lau khô, mép bạt ni-lông phủ hờ bay phất phơ theo luồng gió điều hòa rỉ rả.

An dừng chân trước cánh cửa gỗ lim của phòng Trưởng phòng Tiếp Nhận và Hướng Dẫn nằm ở góc trong cùng của sảnh.

Khe cửa phía dưới sàn nhà vẫn hắt ra một vệt sáng vàng ấm áp. Bên trong, tiếng gõ phím lách cách vang lên đều đặn, nhịp nhàng nhưng chậm rãi và nặng nề, tựa như tiếng gõ mõ cầm canh của một người tu hành đang đày đọa bản thân trong một ngôi chùa hoang phế.

An đứng im lặng hồi lâu trong bóng tối của hành lang. Lồng ngực anh quặn thắt, hơi thở nghẹn ứ nơi cổ họng. Sau cùng, anh giơ bàn tay lạnh ngắt lên, gõ ba tiếng nhẹ nhưng dứt khoát lên mặt gỗ dày.

“Vào đi, cửa không khóa đâu.”

Tiếng bà Dung vọng ra qua lớp gỗ. Giọng bà khàn đặc, lộ rõ vẻ kiệt quệ sau những cuộc họp giao ban căng thẳng kéo dài suốt từ đầu giờ chiều với các thanh tra viên và đại diện của Ban Tinh Gọn.

An vặn quả đấm cửa bằng đồng, đẩy nhẹ bước vào.

Căn phòng nồng đượm mùi trà sen ủ nguội ngắt trong ấm tích bọc vải bông và mùi giấy cũ quen thuộc. Bà Dung đang ngồi sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ gụ đã mòn vẹt các góc cạnh. Đôi kính lão tụt xuống tận sống mũi, mái tóc hoa râm vốn được búi gọn ghẽ nay lòa xòa vài sợi bạc rủ xuống hai bên thái dương.

Bao bọc xung quanh bà là những chồng hồ sơ cao quá đầu người, những tập biểu mẫu Mẫu 02-C mới toanh màu xanh lơ vừa được Ban Tinh Gọn ban hành khẩn cấp đầu tuần này, kèm theo đó là một tập dày cộp các bản in cảnh báo màu đỏ về chỉ số KPI sụt giảm nghiêm trọng của các chuyên viên trong phòng.

Nghe tiếng cửa mở, bà Dung dừng tay gõ phím, đặt chiếc bút máy ngòi mài bằng kim loại xuống chiếc gác bút bằng đồng hình con nghê. Bà ngước đôi mắt thâm quầng nhìn An, khóe miệng khẽ gượng nở một nụ cười mệt mỏi, giọng nói hạ xuống rất dịu dàng:

“Chưa về sao An? Mẹ cậu dưới quê mấy hôm nay thế nào rồi, khớp chân đã đỡ nhức khi trời trở gió chưa? Tôi bảo bao nhiêu lần rồi, hết giờ thì phải tranh thủ về mà cơm nước, nghỉ ngơi cho lại sức. Đừng có ôm việc quá khuya ở cái cơ quan này. Áp lực ở Bàn Số 8 ngày mai sẽ còn nặng nề hơn hôm nay gấp bội đấy, cậu Phúc bên Ban Tinh Gọn vừa gửi công văn hỏa tốc yêu cầu siết thêm chỉ số thanh lọc hồ sơ rồi.”

An không trả lời ngay. Anh đứng sững giữa phòng, hai chân như chôn chặt xuống lớp thảm trải sàn đã bạc màu. Từng bước chân tiến lại gần bàn làm việc của bà nặng nề như thể đang đeo xích sắt. Anh nhìn chăm chú vào người phụ nữ trung niên trước mặt — người mà suốt ba năm qua anh luôn kính trọng như một người thầy, một người mẹ tinh thần, người duy nhất cho anh niềm tin rằng giữa cái guồng máy hành chính nghiệt ngã và vô cảm này, tình người vẫn có thể nảy mầm từ những kẽ hở của quy trình.

Không nói một lời rào đón, An chậm rãi mở chiếc cặp táp da sờn rách, rút ra tập tài liệu vừa photocopy vội vã từ dưới tầng hầm, đặt ngay ngắn xuống khoảng trống duy nhất trên mặt bàn của bà Dung — ngay cạnh tách trà sen nguội ngắt.

Đó là bản sao tờ lệnh khung điều chuyển hồ sơ bảy năm trước.

Dưới ánh đèn bàn tỏa ra màu vàng ấm, vệt mực con dấu VP-882 cùng chữ ký mực tím sắc lẹm hình lưỡi dao hiện lên trơ trọi, sắc nhọn như một vết chém vào sự im lặng.

Bà Dung thoáng sững người. Ánh mắt bà vừa chạm vào tờ giấy liền co rút lại như bị điện giật. Nụ cười gượng gạo trên môi bà tắt lịm trong tích tắc.

An nhìn thấy rất rõ cơ mặt bà khẽ giật giật, hai bàn tay đang đặt trên mặt bàn từ từ siết chặt lại, những đốt ngón tay gầy guộc tì mạnh xuống mặt gỗ đến mức các khớp xương trắng bệch ra không còn một giọt máu. Nhưng bà không hề giật mình thảng thốt, không hề lúng túng làm rơi đồ vật, và tuyệt nhiên không hề buông ra một lời chối bỏ hay thanh minh nào.

Một sự im lặng ngột ngạt, nặng nề như chì đổ ụp xuống căn phòng nhỏ. Chỉ còn tiếng tích tắc khô khốc, lạnh lùng của chiếc đồng hồ quả lắc treo trên vách tường sổ đều đặn cắt xẻ thời gian thành từng mảnh vụn.

Phải mất một hồi lâu sau, bà Dung mới buông lỏng các ngón tay. Bà thở ra một hơi dài thượt, một tiếng thở dài như trút bỏ toàn bộ sinh lực còn sót lại trong cơ thể, rồi từ từ tựa lưng vào thành chiếc ghế da đã nứt nẻ lớp bọc ngoài. Bao nhiêu vẻ sắc sảo, cương nghị, điềm đạm thường ngày của một vị Trưởng phòng kỳ cựu dường như tan biến sạch sẽ trong chốc lát, chỉ còn lại sự rệu rã cùng cực và một nỗi đau đớn câm lặng hằn sâu trên những nếp nhăn nơi khóe mắt.

“Cậu xuống kho dưới hầm của ông Lộc rồi à?”

Bà cất tiếng hỏi. Thanh âm của bà rất nhỏ, trầm và đục ngầu, như thể từng từ ngữ thốt ra đều phải rứt qua một vết thương sâu hoắm trong lòng đã bị mưng mủ suốt nhiều năm trời nhưng chưa từng lành miệng.

“Vâng,” An đáp. Giọng anh run lên một thoáng nhưng anh lập tức cắn chặt răng để giữ cho ngữ điệu của mình được bằng phẳng, cứng cỏi. “Cháu đã xuống đó. Cháu đã mở tủ sắt số 44. Cháu đã đọc toàn bộ hồ sơ của thực tại TL-004-X. Cháu đã thấy những báo cáo tuyệt vọng về thảm kịch dịch nấm đen lan tràn khắp các phân khu ngập nước, thấy những bức thư tay của người dân gửi về Cục cầu xin một chuyến tàu viện trợ dược phẩm — những bức thư gửi đi suốt bảy năm trời mà không một lần nhận được hồi âm. Và cháu đã thấy chữ ký này của Trưởng phòng.”

Bà Dung nhắm nghiền mắt lại. Đôi mi bà rung rinh trong ánh đèn bàn, hai bờ môi mỏng mím chặt vào nhau, run rẩy trong giây lát trước khi bà có thể mở lời:

“Bảy năm trước... Cục Quản Lý Các Vũ Trụ Rắc Rối này đứng trước một bờ vực sụp đổ thật sự, An ạ. Đó là đợt thanh tra toàn diện lớn nhất trong lịch sử kể từ ngày thành lập Cục. Các phòng ban quá tải đến mức hồ sơ chất đầy các lối thoát hiểm, tràn cả ra sảnh thang máy. Hàng nghìn tuyến cổng trung chuyển bị nghẽn mạch cục bộ, năng lượng tiêu hao vượt ngưỡng an toàn. Cư dân các thế giới tràn vào sảnh trung tính biểu tình, đập phá cửa kính quầy tiếp nhận. Khi ấy, đoàn thanh tra liên vũ trụ từ cấp trên giáng xuống một bản tối hậu thư tàn nhẫn: nếu Phòng Tiếp Nhận và Hướng Dẫn không giải phóng được ít nhất 40% lượng hồ sơ tồn đọng trong vòng một tháng, toàn bộ phòng sẽ bị giải thể, tái cấu trúc toàn diện.”

Bà mở mắt ra, nhìn đăm đăm vào khoảng không vô định trước mặt, hai hốc mắt đỏ hoe nhưng ráo hoảnh:

“Cậu có biết giải thể lúc đó nghĩa là gì không? Hơn một trăm nhân viên hợp đồng tại tầng một — những đứa trẻ vừa mới tốt nghiệp đại học chân ướt chân ráo vào nghề, những người phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ, những gia đình nghèo nheo nhóc chỉ biết bấu víu vào đồng lương còm cõi của cái phòng này để trang trải tiền thuê nhà và tiền thuốc men — tất cả sẽ bị tống ra đường ngay lập tức, không một đồng trợ cấp, không một lời giải thích.”

Bà đưa tay lên xoa hai bên thái dương, giọng nghẹn lại:

“Lãnh đạo cấp trên khi ấy... họ triệu tập tôi lên tầng chín vào một đêm mưa bão. Họ đóng chặt cửa phòng họp, pha cho tôi một tách trà hảo hạng, rồi đặt trước mặt tôi bản thỏa hiệp này. Họ nói rằng hệ thống máy tính thời đó chưa đủ năng lực để tính toán các ma trận luật nền dị biệt. Họ bảo tôi rằng ký lệnh điều chuyển tạm thời những hồ sơ phức tạp nhất, những thế giới xa xôi khó phục vụ nhất vào kho hạn chế tra cứu chỉ là một thao tác kỹ thuật thuần túy. Họ hứa danh dự... những kẻ com-lê thắt cà vạt lụa ấy đã nhìn thẳng vào mắt tôi mà thề thốt rằng đây chỉ là một giải pháp tình thế để làm sạch số liệu đón đoàn thanh tra. Họ cam kết rằng sau khi thanh tra rút lui và tình hình êm xuôi, Cục sẽ thành lập một tổ công tác đặc biệt, rót thêm ngân sách kỹ thuật để rà soát, gỡ rối và phục hồi từng tuyến một... Tôi đã tin họ, An ạ. Tôi đã ngu ngốc ký vào bản lệnh đó, vì tôi nghĩ một chữ ký ô nhục của bản thân có thể mua được thời gian cho cấp dưới, có thể giữ lại nồi cơm, giữ lại manh áo cho hàng trăm con người vô tội ở cái phòng này.”

“Nhưng sau đó không có một tổ công tác nào được lập ra cả, đúng không ạ?” Giọng An chùng xuống, đắng ngắt như vừa ngậm phải một ngụm nước ngâm rỉ sắt.

“Không có ai cả,” bà Dung bật ra một tiếng cười cay đắng, khóe mắt ngân ngấn nước. “Ngay sau khi đoàn thanh tra rút lui với một bản báo cáo thành tích sáng chói ngợi ca việc Phòng Tiếp Nhận đã ‘giảm ngoạn mục 40% hồ sơ tồn đọng chỉ trong ba mươi ngày’, những kẻ từng hứa danh dự với tôi đều được nhận huân chương, được thăng chức vùn vụt lên các cơ quan điều hành liên vũ trụ cấp cao hơn. Còn tập hồ sơ kia? Chúng bị khóa chặt dưới tầng hầm ba mươi mét của ông Lộc, bị tước bỏ chỉ mục trên hệ thống số hóa vừa mới manh nha. Mỗi lần tôi làm tờ trình xin kinh phí, xin mở lại danh mục tra cứu để giải quyết cho người dân, các vị lãnh đạo mới đều gạt phắt đi. Họ vỗ vai tôi bảo: ‘Hệ thống đang vận hành rất ổn định, chỉ số lòng tin đang rất cao, đừng có dại dột mà khuấy bùn lên nữa, Dung à. Khơi lại đống hồ sơ chết tiệt đó thì ai sẽ chịu trách nhiệm cho các chỉ số an toàn bị sụt giảm? Ai sẽ chịu trách nhiệm giải trình với cấp trên?’”

Bà Dung dứt lời, chậm rãi đứng dậy. Đôi chân bà hơi lảo đảo vì phải ngồi bất động quá lâu trong tư thế căng thẳng.

Bà bước chầm chậm về phía góc phòng, nơi đặt một chiếc tủ sắt cá nhân sơn màu xanh quân đội cũ kỹ. Bà rút chùm chìa khóa từ thắt lưng, chọn lấy một chiếc chìa khóa đồng cổ lỗ sĩ, tra vào ổ khóa của ngăn kéo dưới cùng. Cánh cửa sắt rỉ sét kêu lên một tiếng *ken két* chói tai khi mở ra.

Bà không lấy ra tài liệu mật đóng dấu tuyệt mật, cũng không lấy ra tiền bạc hay kỷ vật quý giá. Đôi bàn tay run rẩy của bà cẩn thận bưng ra một cuốn sổ tay khổ nhỏ bọc bìa da màu nâu sẫm. Mép da đã sờn rách, nát vụn theo thời gian, những đường chỉ khâu dọc gáy sổ đã bung ra từng đoạn.

Bà quay lại bàn, đặt cuốn sổ vào tay An.

“Cậu mở ra xem đi.”

An đón lấy cuốn sổ. Lớp bìa da lạnh buốt và thô ráp dưới lòng bàn tay anh.

Anh cẩn thận lật giở từng trang giấy đã ngả màu ố vàng. Bên trong không hề có những con dấu hành chính đỏ chót hay các văn bản in ấn theo khuôn mẫu vô hồn, mà toàn bộ đều là những dòng chữ viết tay nắn nót, dày đặc của chính bà Dung qua nhiều năm tháng. Mỗi trang giấy là một vụ việc kỷ luật cụ thể, ghi chép tỉ mỉ từng chi tiết:

*“Ngày 12 tháng 4 năm...: Hồ sơ quá cảnh lô dược phẩm khẩn cấp của tuyến Ngoại Vi 02 bị trễ hạn ba ngày do chuyên viên hợp đồng Nguyễn Văn Nam nhập sai định dạng mã vạch liên thực tại. Đã nhận trách nhiệm cá nhân trước Giám đốc Cục, giải trình do khâu phân công luồng văn bản của Trưởng phòng thiếu bao quát và hướng dẫn chưa sâu sát. Hình thức kỷ luật tự nhận: Khiển trách nội bộ, cắt toàn bộ tiền thưởng thi đua quý II.”*

*“Ngày 09 tháng 10 năm...: Sự cố xung đột áp suất cục bộ tại Cổng Phụ 05 do nhân viên tiếp nhận Bàn Số 4 chưa kịp cập nhật thông tư kỹ thuật mới ban hành trong đêm. Đã trực tiếp đứng tên biên bản xử lý vi phạm, xác nhận lỗi thuộc về quy trình phổ biến văn bản chậm trễ của lãnh đạo phòng. Hình thức kỷ luật: Chịu hình thức Cảnh cáo trước Hội đồng kỷ luật Cục, đình chỉ xét nâng lương trước thời hạn hai năm.”*

Hàng chục, hàng trăm vụ việc tương tự nối tiếp nhau qua từng trang giấy mỏng.

Hàng trăm lần người phụ nữ này đã đem chính uy tín nghề nghiệp của mình, đem sinh mệnh chính trị và những quyền lợi cá nhân ít ỏi ra để làm bia đỡ đạn cho những đứa nhân viên hợp đồng trẻ tuổi thấp cổ bé họng. Bà nhận hết mọi sai sót chuyên môn về mình, nuốt trọn những biên bản khiển trách và những ánh nhìn soi mói của cấp trên, chỉ để bảo vệ những đứa trẻ ngơ ngác khỏi lưỡi hái sa thải tàn nhẫn của thể chế.

Bà Dung nhìn cuốn sổ sờn rách nằm trong tay An, thanh âm nghẹn ngào trong cuống họng:

“Tôi giữ cuốn sổ này suốt bảy năm qua... không phải để ghi công, không phải để sau này mang ra kể lể đòi ai phải mang ơn đội nghĩa. Tôi giữ nó trong ngăn kéo dưới cùng, để mỗi đêm khi cả tòa nhà này tắt đèn, tôi lại lôi nó ra dưới ánh đèn bàn mà tự nhìn vào từng vết mực, tự nhắc nhở bản thân rằng mình đã từng hèn nhát và đớn hèn đến mức nào khi đặt bút ký vào tờ lệnh điều chuyển năm ấy. Tôi đã bán linh hồn mình cho cỗ máy để đổi lấy sự yên ổn giả tạo. Suốt bảy năm qua, tôi cố gắng bù đắp bằng cách giang hai tay ra che chở cho từng đứa nhân viên dưới quyền, gánh thay chúng nó từng biên bản kỷ luật, cố giữ cho cái phòng này không có thêm một ai bị vứt ra ngoài lề đường...”

An đứng lặng người giữa căn phòng tranh tối tranh sáng.

Anh nhìn cuốn sổ tay bìa da sờn rách đầy những vết mực tím loang lổ — những vết loang của mực sắt trộn lẫn với những giọt nước mắt khô cằn qua năm tháng — rồi lại ngước nhìn người phụ nữ đang ngồi gục đầu, kiệt quệ và bất lực trước mặt mình.

Trong lồng ngực An, một ngọn lửa cảm xúc bùng lên dữ dội, xé toạc mọi bức tường phòng thủ tâm lý bấy lâu nay anh cố công dựng lên. Anh thương bà đến thắt nghẽn ruột gan — thương một người công chức già đã vắt kiệt cả cuộc đời để làm một chiếc lá chắn mỏng manh che chắn cho cấp dưới; nhưng đồng thời, một nỗi giận dữ đắng chát cũng dâng trào lên tận khóe mắt, khiến cổ họng anh khô khốc như phải ngậm tro than.

An hít một hơi thật sâu, ngẩng cao đầu. Ánh mắt anh không còn sự rụt rè của một nhân viên cấp dưới, mà nhìn thẳng, trực diện và sắc lạnh vào mắt vị Trưởng phòng:

“Cháu hiểu, Trưởng phòng. Cháu thật sự hiểu nỗi đau và sự hy sinh của cô dành cho tất cả mọi người ở căn phòng này. Cháu và Bình, cùng hàng chục anh chị em khác, nợ cô một sự nghiệp, nợ cô một chỗ đứng dưới mái nhà này.”

Anh ngừng lại một nhịp, giọng nói đanh thép lại, từng thanh âm gằn xuống như búa nện trên đe:

“Nhưng cô có nhận ra không, thưa cô Dung? Chính sự thỏa hiệp nhân danh lòng tốt và sự che chở ngày xưa của cô đã nuôi dưỡng nên con quái vật của ngày hôm nay!”

Bà Dung khẽ run lên, đôi mắt mờ đục mở to nhìn An trong sững sờ.

“Bằng cách giấu những hồ sơ khó khăn vào bóng tối của tầng hầm, bằng cách âm thầm nhận lỗi thay để làm dịu đi những đợt thanh tra gắt gao của cấp trên, cô đã vô tình dạy cho hệ thống này một bài học tàn nhẫn nhất: rằng việc xóa bỏ một thực tại khỏi danh mục phục vụ là một việc hoàn toàn khả thi! Rằng chỉ cần một dòng lệnh hành chính mơ hồ, không cần đổ máu, không gây ồn ào trên mặt báo, người ta vẫn có thể tạo ra những bản báo cáo sạch bóng không tì vết để thăng quan tiến chức!”

An tiến thêm một bước sát mép bàn, đầu ngón tay anh ấn mạnh lên bản sao tờ lệnh cũ, miết chặt đến mức đầu móng tay đỏ rực:

“Vũ Thành Phúc không phải tự nhiên mà nghĩ ra được cái chiến dịch mang tên mỹ miều ‘Trả lại quyền tự chủ cho các thế giới’ đâu! Cậu Phúc chẳng sáng tạo ra điều gì mới cả! Cậu ta chỉ đang sao chép lại một cách hoàn hảo, tinh vi và tàn bạo hơn gấp trăm lần chính những gì mà hệ thống này đã từng làm với cô từ bảy năm trước! Cậu ta dùng cái thuật toán ‘Chờ xác minh độc lập’ của Bình để hợp thức hóa sự bỏ rơi; cậu ta dùng cái bẫy bưu điện 45 ngày giấu trong Phụ lục 3-B để đánh lừa những người dân nghèo không biết đọc chữ nhỏ; và tệ hại hơn cả, cậu ta đang dùng chính chữ ký trong quá khứ của cô để răn đe mọi sự phản kháng, để chứng minh rằng việc cắt bỏ người dân là một thông lệ nghiệp vụ bình thường của Phòng Tiếp Nhận!”

Giọng An run rẩy vì xúc động, nhưng từng lời nói ra lại sắc bén như những nhát dao mổ xẻ vào tận cùng bản chất sự việc:

“Nếu hôm nay cô vẫn tiếp tục im lặng, vẫn tiếp tục lùi bước và thỏa hiệp để bảo vệ sự an toàn tạm bợ cho cái phòng này... thì ngày mai, tuyến đường DX-04 của mẹ cháu dưới quê sẽ bị cắt đứt vĩnh viễn vì không đủ chỉ số lưu lượng! Tuyến vận chuyển insulin và dịch lọc màng bụng của anh Sơn sẽ bị hủy bỏ, đẩy cả gia đình anh ấy vào chỗ chết! Toàn bộ sách vở, tài liệu giáo dục gửi cho lớp học nghèo của cô Mai bên nhánh phụ lưu sẽ biến mất không dấu vết! Và cả cuộc đời mười lăm năm ròng rã mòn mỏi chờ đợi của cha con bác Hòa... tất cả sẽ bị ném thẳng vào lò thiêu rác hành chính chỉ bằng một nút bấm trên máy tính của Ban Tinh Gọn!”

Căn phòng rơi vào một khoảng câm lặng tuyệt đối.

Từng lời, từng chữ của An dội vào không gian, đập thẳng vào tâm can của người phụ nữ trung niên đã dành trọn cả đời mình cho những thủ tục giấy tờ.

Bà Dung lảo đảo như vừa phải hứng chịu một cú đánh trời giáng. Đôi vai gầy guộc của bà run lên bần bật dưới lớp áo sơ mi sờn cổ. Bà nhìn chàng trai trẻ đang đứng sừng sững trước mặt mình — đứa nhân viên hợp đồng Bàn Số 8 luôn cẩn trọng đọc từng dòng chữ nhỏ nơi phụ lục, đứa chuyên viên từng bị đồng nghiệp coi là chậm chạp, ngây ngô vì không nỡ bấm nút từ chối hồ sơ của bất kỳ người nộp đơn nào — giờ đây đứa trẻ ấy đang đứng thẳng lưng, mắt rực lửa, không hề chớp mắt, không hề cúi đầu trước nỗi sợ hãi bị đuổi việc hay những quy tắc ngầm tàn nhẫn chốn công quyền.

Bà Dung ngước nhìn lên trần nhà, nơi những bóng đèn tuýp đang phát ra tiếng vo ve nhức óc.

Trong tâm trí bà, hình ảnh hàng vạn con người co ro trong sương mù của vùng trũng không gian lướt qua; hình ảnh những đứa trẻ ngập ngụa trong dịch nấm đen ở thực tại TL-004-X lướt qua; những bức thư tay tuyệt vọng nằm phủ bụi suốt bảy năm dưới đáy hầm của ông Lộc lướt qua; và gương mặt mộc mạc, nhẫn nhịn của những người dân lam lũ từng ngồi trước Bàn Số 8 nhìn bà với ánh mắt van lơn... tất cả hiện về như một dòng thác lũ cuồn cuộn cuốn trôi đi lớp đê điều giả tạo của sự an toàn bấy lâu.

Bảo vệ một cái phòng làm việc để làm gì, nếu như cái phòng ấy cuối cùng chỉ là một trạm gác trung chuyển, một cánh tay nối dài giúp cỗ máy tước đoạt sự sống của đồng loại một cách êm thấm hơn?

Một luồng hơi thở sâu và chậm rãi thoát ra từ lồng ngực bà Dung. Ánh mắt bà dần dần ngưng đọng lại. Toàn bộ vẻ mệt mỏi rệu rã, vẻ cam chịu sợ hãi từng đeo đẳng bà suốt bảy năm dài đằng đẵng bỗng chốc tan biến sạch sẽ, nhường chỗ cho một sự lạnh lùng, dứt khoát và kiên định đến lạ lùng — vẻ mặt của một người công chức từng thề dưới lá cờ cơ quan, nay quyết định dùng phần đời còn lại để trả món nợ danh dự lớn nhất của đời mình.

Bà Dung đưa tay lau khô giọt nước mắt vừa ứa ra nơi khóe mi. Bà ngồi thẳng lưng dậy, chỉnh lại chiếc kính lão ngay ngắn trên sống mũi.

Kéo mạnh chiếc hộc bàn phía trên ra, bà Dung rút ra một tờ giấy tiêu đề chính thức dày dặn, bên góc trái in nổi hình quốc huy và biểu trưng của Cục Quản Lý Các Vũ Trụ Rắc Rối. Đặt tờ giấy phẳng phiu ngay giữa bàn làm việc, bà vươn tay cầm lấy cây bút máy ngòi mài thân thuộc, mở nắp bút, hút đầy mực tím từ lọ mực thủy tinh đặt cạnh gác bút.

Đầu ngòi bút sắt cào lên mặt giấy lụa ram ráp phát ra những tiếng *sột soạt* đanh thép, dứt khoát:

*“LỆNH RÀ SOÁT VÀ ĐỐI CHIẾU DỮ LIỆU NỘI BỘ LIÊN PHÒNG BAN* *Số: 108/L-P.TNNH* *Người ký: Trần Thu Dung – Trưởng Phòng Tiếp Nhận và Hướng Dẫn.*

*Căn cứ thẩm quyền quản lý nghiệp vụ và lưu chiểu hồ sơ ban đầu được quy định tại Điều 14 Quy chế Hoạt động Liên Thực Tại;* *Căn cứ phát hiện dấu hiệu sai lệch nghiêm trọng giữa dữ liệu số hóa và nhật ký lưu trữ cơ học thực địa;*

*YÊU CẦU:* *1. Tổ Quản lý Hồ sơ Đình chỉ và Lưu trữ Ngoại ngạch trích xuất ngay lập tức toàn bộ các bộ hồ sơ bị chuyển diện ‘lưu trữ hạn chế’ từ bảy năm trước đến nay theo danh mục mã hiệu ĐC-HH/07;* *2. Giao Bàn Tiếp Nhận Số 8 (chuyên viên Nguyễn Minh An làm đầu mối) phối hợp với Tổ Giám sát Quy trình tiến hành đối chiếu chéo toàn diện số liệu thực địa, xác định chính xác mức độ phụ thuộc dân sinh, nhu cầu trung chuyển y tế và các thiệt hại thực tế của cư dân tại các tuyến cổng bị ngắt kết nối;* *3. Tạm thời phong tỏa hiệu lực thi hành đối với mọi lệnh đình chỉ tiếp nhận tự động do Ban Tinh Gọn ban hành đối với các tuyến cổng liên quan cho đến khi có kết luận rà soát chính thức.”*

Bà viết một mạch không hề ngập ngừng, không hề gạch xóa một chữ nào. Từng con chữ tím sẫm hiện lên trên trang giấy trắng tựa như một bản tuyên ngôn độc lập của lương tri hành chính, chặt đứt hoàn toàn sợi dây xích trói buộc của sự thỏa hiệp quá khứ.

Viết xong dòng cuối cùng, bà Dung ký tên mình xuống góc dưới: một chữ ký sống đầy đặn, hiên ngang, nét đuôi vút lên mạnh mẽ như một thanh gươm tuốt khỏi vỏ.

Rồi không một chút do dự, bà mở chiếc hộp gỗ sơn mài nhỏ trên giá sách, nhấc ra con dấu đồng cơ học mang mã hiệu VP-882. Bà ấn mạnh mặt dấu bằng kim loại vào khay mực son đỏ tươi, rồi dập một phát dứt khoát, vang dội như một tiếng súng lệnh xuống mặt giấy lụa.

*CỘP!*

Vết mực đỏ chói lọi phủ trùm lên một phần chữ ký mực tím, tạo nên một văn bản mệnh lệnh hành chính có đầy đủ giá trị pháp lý tối cao và hiệu lực cưỡng chế nghiệp vụ trên toàn hệ thống tiếp nhận.

Bà Dung khẽ thổi nhẹ cho lớp mực đỏ ráo bớt, rồi cầm tờ lệnh bằng cả hai tay, đẩy thẳng về phía An. Ánh mắt bà bừng sáng một ngọn lửa kiên cường mà đã rất nhiều năm rồi anh mới lại được nhìn thấy ở người thủ trưởng của mình:

“Đây là quyền hạn tối cao cuối cùng mà quy chế hoạt động trao cho một Trưởng phòng Tiếp Nhận. Chừng nào tờ lệnh này chưa bị hủy bỏ bởi một quyết định bằng văn bản của Hội đồng Kỷ luật toàn Cục, thì bất kỳ thuật toán hay chỉ thị miệng nào của Ban Tinh Gọn cũng không có quyền tự động chuyển đổi phân loại hồ sơ của Bàn Số 8. Cậu cầm lấy nó ngay đi. Xuống hầm tìm ông Lộc lấy trích lục danh bạ gốc, rồi liên lạc với cô Vy bên tổ kiểm tra nghiệp vụ. Lôi toàn bộ sự thật bị chôn vùi bảy năm qua ra ánh sáng cho tôi. Cậu nói rất đúng, An ạ... Chúng ta đã trốn tránh, đã cúi đầu quá lâu rồi.”

An run run đưa hai tay đỡ lấy tờ lệnh còn thơm nồng mùi mực tím và hương mực dấu đỏ tươi. Từng thớ giấy như truyền thẳng vào da thịt anh một nguồn sinh khí mạnh mẽ, ấm nóng, xua tan đi cái lạnh lẽo buốt giá của tầng hầm vừa bám riết lấy anh suốt buổi chiều.

Họ không còn đơn độc nữa. Bức tường thành thể chế tưởng chừng như bất khả xâm phạm của cỗ máy quan liêu đã bắt đầu rạn nứt từ chính bên trong, từ chính chiếc bàn làm việc cũ kỹ của người đàn bà từng tạo ra vết nứt đầu tiên ấy.

Thế nhưng, tờ lệnh số 108 vừa kịp chạm vào tay An, vệt mực đỏ tươi còn chưa kịp khô hẳn trên bề mặt giấy, thì một âm thanh kinh hoàng, chát chúa bất ngờ xé toạc không gian tĩnh mịch của tòa nhà.

*ÉEEEEEE! OOOOOO! ÉEEEEEE! OOOOOO!*

Tiếng còi báo động khẩn cấp Cấp độ 1 — mức báo động cao nhất của mạng lưới cổng trung chuyển không gian — rú vang inh ỏi khắp các hành lang, dội thẳng vào từng ngóc ngách của căn phòng, làm rung bần bật những ô cửa kính dày cộp.

Trên các vách tường hành lang và ngay trong phòng Trưởng phòng, toàn bộ hệ thống đèn chiếu sáng huỳnh quang vụt tắt ngấm, thay thế vào đó là những dải đèn khẩn cấp màu đỏ rực chớp nháy liên hồi, biến căn phòng thành một không gian hỗn loạn, ngập tràn sắc máu.

Chiếc loa phát thanh nội bộ gắn trên góc tường rung bần bật, tiếng rè cơ học vang lên chói tai rồi nhường chỗ cho giọng đọc tự động dồn dập, thất thanh của trực ban điều hành trung tâm:

*“CẢNH BÁO NGUY HIỂM CẤP ĐỘ 1! CẢNH BÁO NGUY HIỂM CẤP ĐỘ 1! PHÁT HIỆN SỰ CỐ KỸ THUẬT NGHIÊM TRỌNG TẠI PHÂN VÙNG CỔNG NGOẠI VI! ÁP SUẤT THỰC TẠI SỤT GIẢM ĐỘT NGỘT DƯỚI NGƯỠNG AN TOÀN! NGUY CƠ ĐỨT GÃY ĐƯỜNG DẪN LIÊN CHIỀU TRÊN TUYẾN TRUNG CHUYỂN Y TẾ KHẨN CẤP! TOÀN BỘ NHÂN LỰC ỨNG TRỰC VÀO VỊ TRÍ CHIẾN ĐẤU NGAY LẬP TỨC! ĐÂY KHÔNG PHẢI LÀ DIỄN TẬP! NHẮC LẠI, ĐÂY KHÔNG PHẢI LÀ DIỄN TẬP!”*

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories