Cục Quản Lý Các Vũ Trụ Rắc RốiCh.11 / 30
Chapter 11

Một đường về cũng bị rà soát

Chiếc vé cổng liên thực tại khứ hồi kẹp trong chiếc bao nhựa dẻo đã sờn rách bốn góc mép khẽ rung lên từng nhịp tê rần nơi túi ngực khi An bước chân qua vòm quét trung tính để kịp bắt chuyến tàu muộn cuối cùng về lại quê nhà.

Đó là chuyến tàu kiểm định kỹ thuật chạy vào khung giờ thấp điểm nhất của ca đêm, thứ âm thanh rít khô khốc, rợn người của bánh thép ma sát trên đệm từ trường vang lên rời rạc, dội lại từ những vách bê tông xám xịt dọc theo đường hầm hành lang dẫn sâu hun hút xuống các tầng ngầm trung chuyển. Toàn bộ sảnh chính thênh thang của Cục Quản Lý Các Vũ Trụ Rắc Rối giờ này đã bị ngắt bớt hai phần ba số bóng đèn trần huỳnh quang dài ngoằng. Những bảng điện tử ma trận màu hổ phách hiển thị những khẩu hiệu hành chính khô khan nhằm động viên tinh thần cư dân chỉ còn chớp tắt lẻ loi, yếu ớt giữa những khoảng tối nhờ nhờ; mùi giấy lưu trữ ẩm mốc, mùi mực in phôi thẻ chức danh hăng hắc và thứ mùi điều hòa trung tâm cũ kỹ tích tụ qua hàng chục năm vận hành dường như vẫn bám riết lấy từng thớ vải trên chiếc áo sơ mi công chức ngả màu cháo lòng của An.

Sau chuỗi ngày vắt kiệt từng chút sinh lực cuối cùng ở Tổ Cải Tiến Quy Trình tại căn phòng 602 trên tầng sáu — cái không gian ngột ngạt nơi từng cú nhấp chuột chuẩn xác, lạnh lùng của Lê Quốc Bình có thể biến hàng trăm ngàn số phận thực thể thành những chỉ số tiêu chuẩn ảo, nơi nụ cười hòa nhã, mực thước đến rợn gáy của Vũ Thành Phúc giấu kín phía sau lưng những chiếc bẫy bưu chính ngặt nghèo ba mươi ngày nhằm bóp nghẹt quyền khiếu nại của thường dân — An cảm thấy từng khớp xương của mình rệu rã hệt như vừa bị một cỗ máy nghiền tài liệu khổng lồ cán qua cán lại. Những con số, những ký tự vô hồn trong bản dự thảo cải cách vẫn không ngừng chập chờn nhảy múa trước võng mạc cay xè của anh: ba mươi ngày hiệu lực niêm yết, bốn mươi lăm ngày bưu điện vận chuyển liên chiều, và hàng thứ bốn mươi tám oan nghiệt nằm trong Phụ lục 5 định mệnh.

Con tàu trượt êm ru qua khe nứt hẹp của ranh giới không gian, mang theo tiếng ù tai quen thuộc mỗi khi các hằng số vật lý nền tảng bắt đầu dao động và đổi ngôi. Trọng lực đột ngột chùng xuống trong tíc tắc khiến lồng ngực hẫng đi một nhịp, rồi luồng không khí nồng đượm mùi khói rơm rạ ẩm mục cùng hơi nước mát lành mang theo phù sa của một dải đồng bằng ven sông dần dần ùa qua khe gió, thế chỗ cho thứ khí quyển nhân tạo vô trùng, nhạt nhẽo ở trụ sở Cục.

An bước xuống sân ga xép lát gạch đỏ đã bong tróc từng mảng vôi vữa loang lổ rêu xanh. Cánh cổng sắt hoen gỉ dẫn vào thị trấn thợ may nhỏ bé hiện ra mờ ảo dưới bóng những rặng tre bờ ao đang xào xạc trong gió đêm lành lạnh.

Con ngõ đất gồ ghề đầy những vết lồi lõm của rễ cây và vệt bánh xe thồ đưa anh men theo con mương nước chảy chậm rì, nơi những vạt hoa lục bình tím ngắt dập dềnh ken đặc dưới ánh trăng mờ. Khác hẳn với vẻ tĩnh mịch tối om, lặng ngắt như tờ của xóm nghèo đã chìm sâu vào giấc ngủ vất vả sau một ngày lam lũ, gian nhà cấp bốn lợp ngói bạc màu phía trước vẫn hắt ra một vệt sáng vàng vọt, ấm áp qua khung cửa sổ chấn song gỗ.

Tiệm may nhỏ bé của bà Nguyễn Thị Hạnh vẫn chưa hề tắt đèn.

Từ ngoài sân gạch rải rác những cánh hoa xoan rụng, tiếng máy may con bướm đạp chân đã cũ mòn lách cách đều đặn vọng ra, nhịp nhàng và kiên nhẫn như một chiếc đồng hồ quả lắc bằng kim loại cần mẫn gõ nhịp qua bao thăng trầm năm tháng.

An khẽ nâng then cửa gỗ đã mòn vẹt kêu lên một tiếng cọt kẹt quen thuộc, cẩn thận bước qua ngưỡng cửa cao:

"Mẹ, con về rồi đây."

Tiếng bánh đà máy may và nhịp bàn đạp sắt đột ngột dừng bặt lại giữa chừng.

Người phụ nữ đã bước qua tuổi năm mươi giật mình ngẩng đầu lên khỏi tấm vải lụa màu xanh thiên thanh đang may dở mép gấu. Đôi kính lão cũ kỹ buộc dây thun đen vòng qua sau gáy trễ xuống tận sống mũi gầy gò, mái tóc đã điểm nhiều sợi bạc búi vội bằng chiếc kẹp xước nhựa để lộ vầng trán hằn sâu những nếp nhăn nhọc nhằn của sự lo toan cơm áo.

Nhìn thấy An đứng sững ở bậu cửa với chiếc cặp tài liệu bằng giả da căng phồng một bên hông, gương mặt khắc khổ của bà Hạnh dãn ra trong một nụ cười vừa mừng rỡ khôn xiết, vừa xen lẫn chút trách móc muôn thuở của người mẹ:

"Rõ khéo vẽ chuyện cơ đấy. Mẹ đã dặn đi dặn lại là công việc trên cơ quan bận rộn thì cứ chờ đến cuối tuần hẵng tạt về, đi lại qua cổng liên chiều đêm hôm tàu xe tốn kém, lại mệt xác ra. Đã ăn hột cơm nào vào bụng chưa? Nhìn cái mặt hốc hác, bợt bạt như người mất hồn thế kia thì chắc lại nhịn bữa chiều ở phòng làm việc rồi chứ gì?"

"Con xong việc sớm nên tranh thủ bắt chuyến tàu vét về ăn với mẹ một bữa," An gượng nở nụ cười, cởi chiếc áo khoác đồng phục công chức sờn vai treo lên chiếc đinh sắt đóng chặt trên vách ván ép, rồi mệt mỏi thả người ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ mộc cạnh chiếc bàn cắt may bằng gỗ thông tạp.

Trên chiếc bàn tròn thấp đặt ở góc nhà, mâm cơm đậy chiếc lồng bàn bằng nan tre đan tay đã thủng vài mắt nan vẫn lặng lẽ nằm đợi tự bao giờ. Khi An đưa tay nhấc chiếc lồng bàn lên, mùi thơm đằm thắm, thân thương xộc thẳng vào khứu giác: một đĩa cá bống kho tiêu ớt đã keo lại thành màu cánh gián đậm đà, vài lát ớt chỉ thiên đỏ au xen lẫn những hạt tiêu sọ vỡ đôi cay nồng, cùng âu canh rau ngót nấu suông đã nguội bớt nhưng bề mặt vẫn lấp lánh ánh dầu thanh đạm. Cơm trắng nấu trong nồi gang ủ kỹ dưới lớp khăn bông dày vẫn còn âm ấm.

Đó là mùi vị mộc mạc của sự bình yên sót lại ngoài tầm với của những bản thông tư, chỉ thị và biên bản thẩm định vô cảm mà ban ngày anh phải đối mặt.

"Để mẹ đem xuống bếp hâm lại cho nóng sốt mà ăn," bà Hạnh chống tay vào mép bàn máy khâu đứng dậy, tháo chiếc thước dây da mềm quấn quanh cổ đặt xuống mặt bàn gỗ đã mòn bóng lớp véc-ni.

"Thôi mẹ, canh nguội một chút ăn lại mát ruột, ngọt giọng. Con đói cồn cào từ lúc trên tàu rồi đây," An xua tay ngăn lại, tự mình cầm chiếc muôi gỗ xới một bát cơm đầy có ngọn.

Ánh mắt anh lơ đãng nhìn quanh gian phòng nhỏ quen thuộc chứa đầy những ký ức tuổi thơ, nhưng rồi chợt khựng lại ở góc vách ván phía sau cánh cửa buồng ngủ.

Nơi ấy, trong suốt bao nhiêu năm ròng, vốn là vị trí ngự trị của chiếc máy may chạy mô-tơ điện đời cũ — tài sản cơ giới hóa duy nhất mà mẹ anh luôn nâng niu như báu vật, coi là chiếc phao cứu sinh dự phòng quý giá nhất mỗi khi bước vào mùa đơn hàng áo dài, áo lễ Tết dồn dập đổ về. Giờ đây, khoảng trống ấy chỉ còn trơ trọi một vệt bụi vuông vức, sạch sẽ trên nền gạch tàu đỏ thẫm.

"Mẹ mang chiếc máy chạy điện kia đi xưởng bảo dưỡng thật đấy à?" An hỏi khẽ, đầu ngón tay vô thức mân mê vành bát sứ đã sứt một mẩu men nhỏ.

Bà Hạnh thoáng giật nảy mình, vội vã quay lưng về phía chiếc giá gỗ treo đầy mắc áo để giấu đi ánh mắt bối rối đang dao động:

"Ừ... cái máy cũ ấy dây curoa nó nhão nhoét ra rồi, với lại mô-tơ xẹt lửa khét lẹt, mẹ gửi nhờ ông thợ sửa máy bên phố huyện căn chỉnh lại cho an toàn. Cứ cắm cúi mà ăn cơm đi, hỏi han mấy chuyện lặt vặt ấy làm gì. Đợt này ở trên Cục nhiều việc lắm hay sao mà trông cái mặt gầy rộc, mắt thâm quầng đi thế hả con?"

An không đáp lời, chỉ cắm cúi lùa một miếng cơm lớn vào miệng. Vị béo ngọt, dai chắc của cá bống đồng quyện với vị cay the nồng đượm của hạt tiêu sọ làm cho sống mũi anh đột ngột cay xè.

Anh biết thừa. Anh biết quá rõ chiếc máy may điện ấy chẳng hề nằm ở bất kỳ tiệm sửa chữa hay xưởng cơ khí nào bên phố huyện cả. Nó chắc chắn đã nằm im lìm trong kho đồ cầm cố bụi bặm của gã chủ hiệu vàng ngoài đầu thị trấn từ tháng trước, đổi lấy khoản tiền mặt ít ỏi mà mẹ đã gói ghém cẩn thận trong giấy báo gửi lên thành phố đóng nốt học phí kỳ kiểm định cuối cùng cho anh.

Sự chịu đựng và đức hy sinh của mẹ anh bao giờ cũng lặng lẽ, kín đáo như vậy, hệt như cách bà luôn giấu nhẹm đôi bàn tay chai sạn vì hàng ngàn mũi kim châm cùng những vết sẹo cứa ngang dọc do lưỡi kéo cắt vải để lại qua hơn ba mươi năm mưu sinh nuôi anh khôn lớn.

Ăn xong nửa bát cơm, An đặt đũa xuống mép mâm, đứng dậy đi về phía góc bàn cắt may ngổn ngang:

"Để con dọn dẹp phụ kiện với mấy cuộn chỉ rơi vãi giúp mẹ rồi vào ăn tiếp. Đống vải vụn này mẹ cứ để bừa bãi dưới gầm bàn thế này, chuột bọ vào làm tổ bụi bặm lắm."

"Cứ để đấy chốc nữa mẹ dọn một thể! Tay chân công chức quen cầm bút mực, đóng dấu đỏ, đụng vào mớ chỉ rối lại mất công gỡ ra mệt người," bà Hạnh hấp tấp bước tới định đưa tay gạt anh ra, giọng nói có phần bồn chồn, hoảng hốt khác thường.

Nhưng An đã khom người, cúi hẳn xuống khoảng không gian mờ tối dưới gầm bàn cắt.

Dưới ánh sáng vàng nhạt hắt từ bóng đèn tròn lơ lửng giữa nhà, anh bắt đầu gom những cuộn chỉ ống nhựa đủ màu sắc — đỏ thẫm, vàng chanh, xanh cánh chả — và cẩn thận xếp gọn các xấp vải lụa vụn, vải lót hồ cứng vào một chiếc thùng các-tông cũ.

Khi vươn cánh tay kéo chiếc hộp đựng phụ kiện may mặc bằng thiếc tráng men in hình bánh quy đã gỉ sét loang lổ ở tận góc khuất tối tăm nhất sát chân tường, ngón tay trỏ của An chợt va phải một vật thể cộm lên bất thường nằm lót dưới đáy hộp.

Đó hoàn toàn không phải là những chiếc kéo bấm gỉ sét, những chiếc khóa kéo đồng hay những gói kim may số 11 bọc giấy bạc.

Đầu ngón tay An nhận diện được ngay lập tức một thứ chất liệu quá đỗi quen thuộc, thứ vật chất mà anh chạm vào hàng ngàn lần mỗi tuần tại phòng làm việc: chất giấy kraft định lượng dày cộp, ram ráp thô ráp, có viền mép dập gân nổi hình răng cưa và mùi keo dán công nghiệp nồng nặc đến nghẹt thở.

Một chiếc phong bì niêm phong hành chính màu vàng đất.

Trái tim An đập thót lên một nhịp đầy bất an. Dự cảm chẳng lành kéo giật toàn bộ dây thần kinh của anh căng như dây đàn.

Anh rút chiếc phong bì ra khỏi đáy hộp thiếc gỉ sét, từ từ đứng thẳng dậy dưới ánh đèn điện sáng rực. Những dòng mực in typo công nghiệp màu đỏ thẫm sắc cạnh lập tức đập thẳng vào mắt anh, lạnh lùng và tàn nhẫn:

CỤC QUẢN LÝ CÁC VŨ TRỤ RẮC RỐI — BAN TINH GỌN LIÊN VŨ TRỤ Mã bưu chính: BG-204/TN Nơi gửi: Tổ Rà Soát Danh Mục Hạ Tầng Ngoại Vi Người nhận: Đại diện Cư dân Khu Vực Đầu Mối Dân Sinh Ngoại Vi Số 4 (DX-04)

Góc phải của chiếc phong bì đã bị xé mép một cách nham nhở, vội vã, nhưng dấu sáp niêm phong màu đỏ bầm vẫn còn dính chặt một nửa trên nắp gập. Bên trong là một tờ biểu mẫu in trên giấy khổ A4 mỏng tang, dòng tiêu đề in hoa đậm nét, căn giữa trang giấy một cách cơ học:

THÔNG BÁO VỀ VIỆC RÀ SOÁT LƯU LƯỢNG VÀ XEM XÉT ĐIỀU CHỈNH QUY CHẾ VẬN HÀNH TUYẾN CỔNG DX-04

Từng dòng chữ in theo phông chữ hành chính chuẩn hóa vô hồn nhảy múa điên cuồng trước mắt An như những vết rạch sắc lẹm:

"Căn cứ Đề án Tinh gọn Mạng lưới Cổng Giao thương Liên Chiều; Qua kiểm tra dữ liệu băng thông thực tế trong 12 tháng qua, Tuyến Cổng Dân Sinh Ngoại Vi Số 4 (DX-04) chỉ đạt 18% định mức lưu lượng chuẩn, liên tục phát sinh yêu cầu bù đắp chi phí năng lượng duy trì tầng trung tính; Ban Tinh Gọn xin thông báo: Tuyến cổng DX-04 đã được đưa vào danh mục xem xét chấm dứt phục vụ công cộng để chuyển giao quyền tự chủ hoàn toàn cho địa phương. Thời gian hoàn tất rà soát: 30 ngày kể từ ngày phát hành thông báo. Hết thời hạn trên, nếu không có phương án tự cân đối ngân sách hoặc hồ sơ bảo lãnh đặc thù được duyệt, cổng sẽ chính thức ngắt kết nối kỹ thuật."

An đứng chết trân ngay giữa gian phòng khách kiêm tiệm may nhỏ hẹp, hai bàn tay run rẩy dữ dội cầm tờ giấy mỏng manh. Hơi thở anh nghẹn ứ lại nơi thanh quản, biến thành một cục nghẹn đắng ngắt.

Ánh mắt anh dán chặt vào con dấu mộc tròn mực tím đóng chìm ở góc chân trang giấy: Ngày phát hành được đóng dấu từ *hai mươi mốt ngày trước*.

Nghĩa là toàn bộ thời gian ba mươi ngày đã trôi qua gần hết. Chỉ còn trơ trọi đúng chín ngày nữa.

Chín ngày ngắn ngủi nữa thôi, cánh cổng sắt hoen gỉ bên bờ kênh phủ đầy hoa lục bình kia sẽ bị cắt nguồn năng lượng duy trì tầng trung tính, biến thành một khối kim loại phế liệu vô tri vô giác, vĩnh viễn cô lập và cắt đứt cái thị trấn thợ may nghèo nàn này khỏi mạng lưới liên thực tại.

"Mẹ..."

An quay phắt người lại, giọng anh lạc hẳn đi vì kinh hoàng tột độ xen lẫn nỗi nghẹn ngào uất ức:

"Cái này... cái này ở đâu ra hả mẹ? Sao mẹ lại có tờ thông báo này giấu dưới đáy hộp thiếc?"

Bà Hạnh đứng sững sờ bên cạnh bàn ăn, chiếc vá xới cơm bằng gỗ cầm hờ hững trên tay bà buông thõng xuống bên hông. Gương mặt người mẹ già tái nhợt đi trong giây lát, đôi môi run rẩy mím chặt lại, nhưng rồi rất nhanh, nét bàng hoàng ấy chuyển dần sang vẻ bình thản đến đau lòng — thứ vẻ mặt cam chịu, nhẫn nhục của những kiếp người nghèo khổ nơi đáy cùng xã hội, những con người đã quá đỗi quen thuộc với việc đón nhận những tai ương, nghịch cảnh giáng xuống từ tầng lớp trên cao.

"Thằng bé đưa thư bên bưu điện huyện chuyển sang từ tháng trước," bà Hạnh thở dài một hơi thật khẽ, chậm rãi bước lại gần, giật lấy tờ giấy mỏng trên đôi tay đang run bần bật của An. Bà cẩn thận gấp nó làm tư theo nếp gấp cũ, rồi nhét sâu vào trong chiếc túi trước ngực của tấm tạp dề vải thô đã phai bạc. "Mẹ đã dặn kỹ thằng bé là tuyệt đối không được hé răng nói với anh một lời nào. Mẹ định bụng giấu cho êm chuyện, để anh yên tâm mà làm việc trên ấy."

"Giấu cho êm chuyện?"

An không tài nào kìm nén nổi cảm xúc đang trào dâng, giọng anh vỡ ra, cao vút lên trong nỗi bức xúc và phẫn uất tột cùng:

"Mẹ có biết tờ giấy này thực chất là cái gì không? Đây là bản án khai tử tuyến cổng của quê mình đấy! Đây là biểu mẫu hành chính của Ban Tinh Gọn, của chính cái bộ phận mà ngày nào con cũng phải nhìn thấy mặt bọn họ trên tầng sáu! Sao mẹ nhận được từ tháng trước mà không báo ngay cho con biết?"

"Nói cho anh thì giải quyết được cái gì hả An?"

Bà Hạnh đột ngột ngẩng phắt đầu lên, đôi mắt mờ đục nhìn thẳng tắp vào gương mặt bàng hoàng của con trai. Giọng bà đanh thép lại, dù nơi khóe mắt những nếp nhăn đang giần giật từng hồi:

"Nói để anh mang cái danh công chức tập sự quèn ra để cúi đầu van xin người ta à? Nói để anh chạy chọt ngược xuôi, xin xỏ một cái chữ ký đặc cách của các ông lớn cho cái xóm nghèo này, rồi để cả cái cơ quan ấy người ta chỉ trỏ vào mặt anh mà khinh bỉ, bảo anh là chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng, vừa mới chân ướt chân ráo vào Cục đã vội vã lợi dụng quyền hành để vun vén cho gia đình, cho quê hương mình à?"

"Con không hề vun vén cho bất kỳ ai cả!"

An nghẹn giọng, lồng ngực phập phồng dữ dội sau từng lời nói buốt nhói:

"Đây là quyền lợi dân sinh hoàn toàn chính đáng của bà con! Tuyến cổng này là con đường đi lại duy nhất, là mạch máu duy trì sự sống của cả cái thị trấn này suốt mấy chục năm qua! Con đang ngồi ngay bên trong Tổ Cải Tiến, con nắm trong tay từng quy trình, con biết rõ từng kẽ hở kỹ thuật trong hệ thống văn bản của bọn họ! Con hoàn toàn có thể lập hồ sơ phúc tra khẩn cấp, con có thể viện dẫn Điều 42 của quy chế cổ điển để tạm đình chỉ quyết định ngắt kết nối kỹ thuật, con có thể gom hồ sơ ưu tiên đặc thù để chuyển đổi trạng thái bảo hộ cho tuyến cổng DX-04..."

"Anh câm miệng ngay đi!"

Bà Hạnh đập mạnh cả bàn tay gầy guộc, xương xẩu xuống mặt bàn gỗ cắt vải.

*Bốp!*

Tiếng va chạm khô khốc vang dội giữa không gian chật hẹp, tĩnh mịch của căn nhà, khiến cho chiếc kéo sắt và những cuộn chỉ nhựa trên bàn giật nảy lên rồi lăn lóc sang một bên.

Người mẹ run rẩy chỉ thẳng ngón tay chai sần vào mặt An, từng lời thốt ra nghẹn ngào, cay đắng như rút từ tận đáy tâm can:

"Anh tưởng mẹ chắt bóp từng đồng tiền công sửa từng cái khóa quần, vá từng đường chỉ rách, bán cả cái máy may điện là cần câu cơm duy nhất để nuôi anh ăn học, để anh thi đỗ vào cái Cục danh giá ấy, là để hôm nay anh trở về đây đứng trước mặt mẹ dạy mẹ cái thói luồn lách cửa sau ấy à? Hợp thức hóa hồ sơ? Chuyển trạng thái ưu tiên? Anh dùng mấy cái danh từ chữ nghĩa hoa mỹ ấy nghe thì sang mồm lắm An ạ! Nhưng bản chất thực sự của nó là cái gì? Bản chất là anh đang muốn dùng cái ghế công chức của anh để đi xin một cái ân huệ riêng tư mà những nơi khác không thể có được!"

"Mẹ không hiểu đâu..." An ôm chặt lấy hai bên thái dương, cảm giác bất lực bóp nghẹt lấy trái tim anh. "Họ đang âm thầm cắt cổng hàng loạt ở khắp các thế giới ngoại vi! Họ cố tình gài bẫy thời hạn bưu chính liên chiều để dân chúng không kịp trở tay làm đơn khiếu nại! Con không hề đi xin xỏ đặc ân vô lý, con chỉ đang tìm cách cứu lấy cánh cổng của nhà mình thôi..."

"Vậy còn những nơi khác thì sao hả con?"

Bà Hạnh ngắt lời anh, giọng bà bỗng chùng hẳn xuống, run rẩy và nghẹn ngào trong ngấn nước mắt đục mờ nơi khóe mắt già nua:

"Những cái xứ sở khác người ta cũng có mẹ già mắt kém, cũng có con thơ nheo nhóc, mà họ không có người nhà ngồi làm việc ở cái Bàn Tiếp Nhận Số 8 như anh thì người ta phải chết hết à? Một người làm công chức mà muốn giữ được cái chỗ ngồi, giữ được cái bát cơm ăn hàng ngày bằng cách bẻ cong lẽ phải, bằng cách đi cửa sau xin xỏ đặc quyền cho người nhà mình, thì cái việc làm ấy, cái chức danh cán bộ ấy còn chút giá trị danh dự nào để giữ nữa hả An?"

Từng lời nói mộc mạc mà nghiêm khắc của người mẹ như một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào tâm can An, dập tắt ngọn lửa hoảng loạn, bốc đồng đang thiêu đốt lý trí anh.

An lảo đảo lùi lại một bước, tựa hẳn lưng vào vách gỗ ép lạnh lẽo sau lưng.

Lời dạy bảo của bà Hạnh thô mộc, thẳng thắn hệt như chính những đường kim mũi chỉ mà bà đã cặm cụi may vá suốt một đời lam lũ: đường may có thể thô vụng, miếng vải có thể rẻ tiền bạc màu, nhưng tuyệt đối không bao giờ được phép giấu mối chỉ lỗi hay đường may gian dối vào bên trong nếp gấp để lừa gạt người mặc.

Bà Hạnh thở dốc từng cơn nặng nhọc, đôi vai gầy run lên bần bật. Bà chậm rãi bước lại gần chiếc bàn ăn tròn, kéo chiếc ghế đẩu gỗ ngồi xuống, hai bàn tay thô ráp xoa mạnh lên bề mặt chiếc tạp dề như để tìm kiếm một điểm tựa tinh thần.

"Mẹ đâu phải người mù mà không biết..." Giọng bà chùng xuống thật sâu, xót xa đến quặn thắt ruột gan. "Mẹ sống ở đây cả đời, mẹ làm sao không biết cái cổng ấy nó hệ trọng đến dường nào. Không có chuyến tàu hàng tuần chạy qua cổng, mẹ lấy đâu ra mấy cuộn chỉ sợi tơ bóng chuyên dụng để may đồ tế lễ cho làng trên xóm dưới? Mấy xưởng dệt thủ công ngoài thị trấn lấy đâu ra nguồn phẩm nhuộm thực vật an toàn không độc hại để dệt vải hoa? Rồi còn bà cụ Tứ ở xóm dưới bị suy thận giai đoạn cuối, ông Bảy thợ rèn bị hen suyễn mãn tính nghẹt thở từng đêm... cứ cách hai tuần một lần, họ lại phải gom góp tiền để đón chuyến xe khách trung chuyển chạy qua cổng DX-04 sang bệnh viện liên thực tại bên kia để lọc máu, chiếu chụp phổi. Ở cái vùng trũng hoang vu này, trạm xá xã quanh năm chỉ có mấy vỉ thuốc cảm với cồn đỏ bông băng, nếu cắt phăng cái cổng ấy đi, thì các cụ già yếu ấy biết bấu víu vào đâu để sống tiếp đây?"

Từng lời kể rành rẽ của mẹ như từng nhát búa tạ giáng mạnh vào tâm trí đang căng như dây đàn của An.

Những cuộn chỉ tơ bóng chuyên dụng. Những thùng phẩm nhuộm thủ công an toàn. Những liều thuốc chạy thận và bình thở oxy cho người già neo đơn.

Tất cả những thực tế sống còn, máu thịt ấy hoàn toàn vắng bóng trong những bảng thống kê định mức khô khốc, bóng bẩy của Vũ Thành Phúc.

Trong mắt của vị Trưởng Ban Tinh Gọn quyền uy ngồi trên tầng sáu máy lạnh rù rì, DX-04 chỉ đơn thuần là "hàng thứ bốn mươi tám", là "tỷ lệ lưu lượng chỉ đạt mười tám phần trăm so với công suất thiết kế", là "khoản thâm hụt ngân sách năng lượng cần phải cắt tỉa để làm đẹp báo cáo quý".

Phúc và bộ máy tinh giản chưa bao giờ nhìn thấy những cuộn chỉ màu, không nhìn thấy những bệnh nhân nghèo còng lưng ngồi chờ xe lọc máu, và càng không bao giờ nhìn thấy mâm cơm đậy chiếc lồng bàn tre thủng nan của bà Hạnh. Đối với cỗ máy hành chính khổng lồ và vô cảm ấy, mọi nỗi đau khổ, nhọc nhằn của kiếp người nơi hạ tầng đều đã được chuyển đổi gọn gàng thành những biểu đồ chi phí sạch sẽ, vô hồn trên màn hình máy tính.

Lưỡi hái tinh giản hành chính của Vũ Thành Phúc quả thực không hề chừa một ai.

Nó không chỉ đè bẹp những con người xa lạ ở các thế giới xa xôi — như người cha Đỗ Văn Hòa ở Vũ Trụ Mọi Thứ Đều Tạm Thời mòn mỏi chờ đợi một quyết định cứu vãn nền đất lún sụp, như Hoàng Văn Sơn ở Vũ Trụ Hơi Thở Có Giá phải cắn răng đếm từng nhịp thở để trả phí duy trì sự sống, hay cô thủ thư Tống Ngọc Mai ở Vũ Trụ Vần Vè ôm chồng sách bị tước đoạt âm điệu.

Giờ đây, cái lưỡi hái tàn nhẫn ấy đã vươn thẳng tới tận bậc thềm nhà anh, đặt dấu chấm hết lạnh lùng lên kế sinh nhai duy nhất của mẹ anh và đe dọa trực tiếp đến mạng sống của những người hàng xóm cơ hàn đã bế ẵm anh từ thuở lọt lòng.

Gian phòng khách nhỏ bé lại chìm sâu vào một khoảng lặng nặng nề, u uất.

Chỉ còn tiếng gió đêm xào xạc luồn qua rặng tre bờ ao và tiếng dế, tiếng côn trùng rả rích kêu lên từng hồi từ con mương nước phù sa trước cửa.

An hít một hơi thật sâu, từng bước chân nặng trĩu bước lại gần chiếc bàn ăn tròn. Anh lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện với mẹ. Đôi bàn tay không còn run rẩy nữa, anh cầm lấy đôi đũa tre mộc, và một thìa cơm nguội cùng miếng cá kho đã nguội ngắt vào miệng.

Cơm nguội ráp khô nơi đầu lưỡi, vị tiêu sọ cay xè xộc thẳng lên sống mũi và hốc mắt, nhưng An vẫn kiên nhẫn nhai chậm rãi, cố gắng nuốt trọn từng hạt gạo thơm mùi đồng nội. Anh nuốt từng miếng cơm thấm đượm mồ hôi, nước mắt và cả sự hy sinh thầm lặng của người mẹ nghèo suốt nửa đời người.

Mẹ anh nói hoàn toàn đúng. Không sai một ly nào.

Nếu như anh lợi dụng vị trí công chức của mình ở Tổ Cải Tiến để lén lút rút tờ trình của tuyến cổng DX-04 ra khỏi tập hồ sơ rà soát, nếu anh dùng vài thủ thuật câu chữ hành chính tinh vi để ngấm ngầm tạo ra một ngoại lệ riêng biệt cho mảnh đất quê hương mình, thì rốt cuộc anh có khác gì Lê Quốc Bình? Anh sẽ chỉ là một kẻ đê tiện dùng những nút bấm ảo để tự cứu lấy bản thân và người nhà, mặc kệ cả thế giới phía sau lưng chìm dần vào vực thẳm sụp đổ.

Làm như thế, anh sẽ vĩnh viễn đánh mất đi tính chính danh đạo đức tối thiểu, đánh mất tư cách của một người đại diện cho lẽ phải và công lý dân sinh khi đứng trước Liên Minh Những Người Đã Bổ Sung Đủ.

Anh không thể và không bao giờ được phép đi xin xỏ một đặc ân cá nhân. Bởi vì trong một hệ thống bất công, đặc ân dành cho một người chính là sự tước đoạt tàn nhẫn giáng lên đầu những người khác.

Đặt ngay ngắn bát cơm xuống mặt mâm tre, An từ từ ngẩng đầu lên.

Ánh mắt anh lúc này không còn sót lại bất kỳ sự hoang mang, sợ hãi hay nét bốc đồng của một kẻ bị dồn vào chân tường nữa. Nơi đáy mắt sâu thẳm ấy đã hoàn toàn lấy lại vẻ kiên định, sắc sảo, lạnh lùng và chính xác tuyệt đối của người chuyên viên từng ngày đêm soi xét từng dòng chữ nhỏ nơi Bàn Tiếp Nhận Số 8.

"Mẹ nói rất đúng," An cất tiếng, giọng nói trầm tĩnh, rành rọt nhưng chắc nịch như từng nhát đinh đóng chặt vào ván gỗ. "Con sẽ không đi xin xỏ bất kỳ ai một ân huệ nào cả. Con cũng sẽ tuyệt đối không tìm cách luồn lách cửa sau để cầu xin một ngoại lệ bất minh cho xóm mình."

Bà Hạnh ngước đôi mắt ngấn lệ lên nhìn con trai, thoáng ngỡ ngàng trước sự biến chuyển thần thái đột ngột, chững chạc đến lạ kỳ trong ánh mắt của anh.

"Con sẽ đưa hồ sơ của tuyến cổng DX-04 này vào thẳng danh mục đánh giá tác động dân sinh độc lập," An tiếp tục nói, đầu ngón tay anh gõ nhẹ, dứt khoát xuống mặt bàn theo từng luận điểm đanh thép. "Bình đẳng tuyệt đối như tuyến tàu vận chuyển sách giáo khoa của cô Mai, như tuyến vận chuyển màng lọc máy trợ thở của anh Sơn, như bộ hồ sơ khiếu nại suốt mười lăm năm ròng rã của bác Đỗ Văn Hòa. Con sẽ dùng chính các quy chuẩn kỹ thuật ngặt nghèo của Cục, dùng số liệu người chạy thận nhân tạo thực tế, số liệu cung ứng nguyên liệu của các làng nghề tiểu thủ công nghiệp và các biên bản khảo sát an toàn thực địa để đối chất công khai, sòng phẳng với Ban Tinh Gọn trước toàn thể cơ quan. Bọn họ muốn dùng những chỉ số vô cảm, giả dối trên giấy tờ để đóng cổng, thì con sẽ buộc bọn họ phải mở lại cổng bằng chính những dữ liệu thực tế không thể chối cãi của đời sống con người."

Anh nhìn sâu vào đôi mắt mờ đục của mẹ, giọng nói khẽ run lên vì xúc động nhưng chan chứa một ý chí sắt đá:

"Con sẽ chiến đấu một cách đàng hoàng, công khai trước Hội Đồng Thẩm Phán Liên Vũ Trụ. Nếu như con thất bại, con sẵn sàng chấp nhận bị tước thẻ công chức, bị đuổi việc, con sẽ về lại đây ngồi vào chiếc máy may con bướm này phụ mẹ vá áo, đạp chỉ qua ngày. Nhưng nếu như con chiến thắng, cánh cổng sắt bên bờ kênh kia sẽ được mở lại một cách đàng hoàng, ngẩng cao đầu, có văn bản pháp lý bảo hộ vĩnh viễn cho bà con, chứ dứt khoát không bao giờ phải tồn tại nhờ vào sự bố thí hay một cái nháy mắt lén lút qua khe cửa hẹp của bất kỳ ai."

Bà Hạnh lặng người nhìn con trai thật lâu.

Dưới ánh đèn điện vàng vọt, trong đôi mắt đã mờ đục vì năm tháng nhọc nhằn của người mẹ già, một tia sáng lấp lánh lạ thường khẽ ánh lên, vừa chan chứa nỗi lo âu thắt ruột của tình mẫu tử, vừa đong đầy niềm tự hào khôn xiết.

Bà không nói thêm bất kỳ một lời nào nữa. Đôi bàn tay gầy guộc run rẩy vươn ra, lặng lẽ bưng lấy âu canh rau ngót đã nguội tanh trên mâm cơm, rồi chậm rãi quay người bước về phía gian bếp nhỏ phía sau nhà để nhóm lửa hâm lại cho nóng.

Bát cơm nguội trên bàn vẫn còn vương mùi thơm mộc mạc của hạt gạo quê hương, nhưng An hiểu rất rõ rằng nếu cánh cổng kia bị đóng lại, những bữa cơm ấm áp tình người này sẽ vĩnh viễn chỉ còn là một ký ức đau thương.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories