Ánh sáng trong bóng tối
Căn phòng sinh hoạt câu lạc bộ Thiên văn nghiệp dư nằm khép mình ở góc chái tầng thượng khu nhà ngoại khóa Trường THPT Hải Vân, ngập chìm trong thứ ánh sáng xanh lơ lành lạnh phả ra từ chiếc màn hình tinh thể lỏng mười bảy inch đã ngả màu ố vàng theo năm tháng. Bên trong khung vỏ kim loại trầy xước của cỗ máy tính để bàn đời cũ, chiếc quạt tản nhiệt bằng đồng rít lên từng hồi ro ro nặng nhọc, thổi luồng hơi nóng âm ấm lẫn mùi nhựa thông cháy khét cùng bụi bặm lưu cữu qua khe tản nhiệt phía sau. Thanh tiến trình màu xám tro của phần mềm xử lý dữ liệu trắc quang nguồn mở Iris nhích từng vạch chậm chạp, như thể đang phải gồng mình nuốt trọn từng megabyte dữ liệu thô được ghi nhận dưới bầu trời đêm lộng gió của bán đảo Sơn Trà.
Bên ngoài khung cửa sổ chấn song gỗ phai sơn, nắng chiều muộn của một ngày cuối xuân miền Trung đang hắt những dải màu hổ phách rực rỡ cắt chéo qua bức tường vôi lở dở. Những tán lá bàng già đung đưa trước làn gió mang theo vị mặn nồng từ bờ vịnh Đà Nẵng thổi xốc vào khe cửa, tạo thành những thanh âm xào xạc bất tận. Căn phòng gác mái từng là nơi chất chứa những thùng các-tông đựng giáo cụ hỏng, những chiếc giá sắt han gỉ và tàn tích của những cuộc tranh cãi vụn vặt suýt đẩy nhóm vào bờ vực giải tán, giờ đây đã được dọn dẹp ngăn nắp lạ lùng. Mặt sàn xi măng được quét sạch bụi vôi; trên chiếc bàn gỗ tạp ghép lại từ hai bàn học sinh hỏng chân, năm chiếc ghế con xếp san sát nhau. Mọi gương mặt, mọi hơi thở trong căn phòng lúc này đều hướng trọn vẹn về từng điểm ảnh xám xịt đang chớp tắt trên nền màn hình tối sẫm.
Khải nghiêng mình tựa lưng vào mép cửa ra vào, tay thoăn thoắt mở nắp chiếc bình giữ nhiệt bằng inox đã móp méo một góc do những chuyến trèo đèo lội suối. Một mùi đậu nành ấm nồng, ngọt lịm phả ra không gian đặc quánh, át đi mùi máy móc khô khốc. Cậu đặt mạnh tay năm hộp sữa đậu nành còn bốc khói cùng một bọc bánh mì ngọt nhân dừa nóng hổi xuống góc bàn trống, cất giọng sang sảng làm rung rinh cả tấm rèm vải bạt cũ:
“Nào nào, tiếp tế năng lượng đặc biệt cho các kỹ sư dữ liệu và nhà nghiên cứu đại tài của chúng ta đây. Ăn chút gì lót dạ đi đã chứ! Từ lúc tiếng chuông tan tiết năm của thầy Giác vang lên đến giờ, tao thấy đứa nào đứa nấy ngồi bất động như mấy pho tượng thạch cao trong phòng Mỹ thuật. Cả buổi chiều mới nhai dở được nửa thanh kẹo cao su vị bạc hà, bụng tao đang biểu tình bằng cả một bản giao hưởng gầm rú rồi đây này.”
“Cậu đặt dịch sang bên mép kia đi Khải, cẩn thận đừng làm rớt nước ra bàn phím cơ của Tùng,” Thư nói mà mắt không hề chớp lấy một lần, đồng tử mở rộng phản chiếu ánh thanh tiến trình đang bò đến con số sáu mươi phần trăm. Giọng cô gái vẫn giữ nét nguyên tắc, nghiêm nghị như mọi khi, nhưng ngữ điệu đã mềm mại hơn rất nhiều, không còn thứ gai nhọn phòng thủ hay vẻ bực dọc cay đắng từng khiến cả nhóm nghẹt thở suốt những tuần căng thẳng vừa qua. “Tập dữ liệu này nặng hơn ba gigabyte, chứa đúng một trăm hai mươi tệp ảnh thô chụp ở tọa độ Bãi Bắc. Đó là tất cả vốn liếng mà câu lạc bộ gom góp được sau một đêm trắng đứng run cầm cập giữa gió núi. Chỉ cần một thao tác ghi đè sai phân vùng, hoặc để nước nhỏ chập cổng USB lúc này thôi, là công sức của cả bọn coi như trôi sông trôi biển hết.”
Bảo ngồi nép sát bên cạnh Thư, hai bàn tay vô thức miết nhẹ lên gáy cuốn sổ tay bọc bìa da màu nâu sẫm—cuốn sổ nhật ký thực địa dày cộp ghi chép chi tiết từng mốc thời gian, trị số áp suất khí quyển, độ ẩm không khí và góc nghiêng của xích đạo nghiêng mà cậu đã tỉ mỉ ghi lại đêm hôm trước. Dưới lớp giấy ráp sột soạt, Bảo cảm nhận được từng vết lằn của ngòi bút bi in hằn qua các trang giấy. Cậu khẽ nhìn sang Thư, nhìn vẻ tập trung căng thẳng trên vầng trán thanh tú của cô, rồi lại nhìn bờ vai rắn rỏi của Khải và đôi mắt mệt mỏi nhưng sáng ngời của Tùng.
Sau tất cả những rạn nứt tưởng chừng không thể hàn gắn, sau cú sốc khi dự án suýt bị đình chỉ và bản thỏa thuận nguyên tắc đầy nhượng bộ nhưng chân thành được ký kết bên chiếc bàn gỗ cũ ở quán nước Cô Hạnh, cảm giác được ngồi lại cùng nhau trước một màn hình duy nhất mang lại cho Bảo một sự bình yên sâu thẳm. Cậu không còn phải gồng mình đóng vai một trưởng nhóm toàn năng, không còn phải cố tỏ ra hiểu biết về mọi phương trình vật lý thiên văn để che giấu nỗi tự ti vụng về của một học sinh lớp mười. Cậu cũng không còn bị ám ảnh bởi bóng ma của Minh Quân—người anh trai thủ khoa Đại học Bách khoa với hàng dãy cúp thưởng lấp lánh trong tủ kính phòng khách. Ở góc gác mái này, giữa những con người bình dị và vụn vặt này, cậu hiểu rằng mỗi người bọn họ là một mảnh ghép quang học không thể thay thế trong một cỗ kính thiên văn hoàn chỉnh.
“Tùng ơi,” Bảo nghiêng đầu ghé sát vào màn hình, ngón tay trỏ rụt rè chỉ vào một vệt sáng mờ đục nằm chơ vơ giữa những mảng xám nhiễu loạn lấm tấm như hạt cát, “đây là sao Algol đúng không? Sao trông nó không sắc nét như lúc nhìn qua thị kính Plössl thế nhỉ? Nhìn kìa, xung quanh đĩa sáng có vô số những đốm trắng li ti nhấp nháy, rồi cả bốn góc của khung hình dường như cũng sẫm tối lại một cách kỳ lạ so với vùng trung tâm nữa.”
Tùng khẽ đưa ngón trỏ đẩy gọng kính cận viền đen đã trượt xuống cánh mũi vì mồ hôi. Đầu ngón tay cậu gõ nhịp nhịp lên mặt bàn gỗ theo một thói quen vô thức mỗi khi não bộ phải phân tích một hệ thống thuật toán phức tạp. Cậu không vội trả lời ngay mà dùng chuột nhấp mở một thư mục phụ có tên *Calibration_Frames*, nơi lưu giữ những tệp dữ liệu hiệu chuẩn nền mà cả nhóm đã tỉ mỉ chụp lại ngay trước lúc dựng lều và sau khi thu dọn chân kính ngoài bãi đá Sơn Trà.
“Đó chính là lý do vì sao trong thiên văn học chuyên nghiệp, người ta không bao giờ dùng trực tiếp ảnh thô vừa trích xuất từ thẻ nhớ để đo độ sáng, Bảo à,” Tùng chậm rãi giải thích, giọng nói trầm ấm và từ tốn, không còn vẻ ấp úng, e dè của một cậu học sinh chuyên tin từng thu mình sau chiếc máy tính cá nhân. “Cảm biến CCD mà cô Hà cho chúng ta mượn tuy đã được gắn thêm một cụm làm mát bằng sò lạnh peltier giúp hạ nhiệt độ bề mặt bán dẫn xuống thấp hơn môi trường xung quanh khoảng mười độ C, nhưng chừng đó vẫn chưa đủ để triệt tiêu hoàn toàn sự dao động nhiệt của các nguyên tử silicon. Các electron nhiệt vẫn tự do bứt ra khỏi mạng tinh thể, tích lũy ngẫu nhiên trong từng giếng thế của các điểm ảnh. Chúng tạo thành dòng tối—gọi là *dark current*. Những hạt trắng li ti rải rác khắp nền ảnh mà cậu thấy, hay những điểm sáng rực bất thường sáng chói lên như những mũi kim, chính là *hot pixels*—các điểm ảnh bị rò rỉ nhiệt độ cao do khiếm khuyết vật lý nội tại của cảm biến.”
Thư khẽ nghiêng người, đôi bàn tay gầy gò lướt nhanh trên các phím tắt để mở bảng điều khiển hiệu chuẩn ảnh của phần mềm:
“Còn hiện tượng bốn góc ảnh bị tối dần lại so với vùng trung tâm mà Bảo vừa chỉ ra, trong quang học người ta gọi là hiện tượng tối góc—*vignetting*. Hãy hình dung xem, chùm sáng từ một ngôi sao cách xa chúng ta hàng trăm năm ánh sáng khi đi vào loa chắn sương, dội qua gương sơ cấp parabol, rồi va đập vào hệ thống giá đỡ nhện bốn chân giữ gương thứ cấp trước khi hội tụ lên bề mặt cảm biến phẳng, không bao giờ có thể phân bổ một cách đồng đều tuyệt đối từ tâm ra tới mép biên. Thêm vào đó, bụi mịn bám trên mặt kính bảo vệ cảm biến cũng tạo thành những bóng mờ hình tròn nhỏ li ti. Nếu chúng ta đo thông lượng photon của một ngôi sao nằm gần rìa cảm biến mà không bù trừ cho sự sụt giảm quang học này, giá trị độ sáng thu được sẽ bị kéo tụt xuống một cách giả tạo, làm sai lệch hoàn toàn kết quả trắc quang.”
“Nói một cách dễ hiểu cho dân thể thao như tao thì bước đầu tiên này là phải ‘dọn rác’ thiết bị, đúng không?” Khải vừa nhai trọn miếng bánh mì ngọt vừa gật gù đắc ý, vẻ mặt tràn đầy sự thấu hiểu thực tế. Cậu xoay xoay nắp bình giữ nhiệt trên tay. “Giống như trước khi bước vào một trận chung kết bóng đá liên trường, mặt cỏ sân Chi Lăng phải được lu cho phẳng lì, nhặt sạch từng mảnh sỏi dăm, rồi các chú bảo quản sân phải lấy dây căng vạch vôi trắng tinh tươm thì trọng tài mới bắt chính xác được.”
“Đúng là như vậy đấy, Khải,” Mai Anh khẽ mỉm cười trước lối liên tưởng đậm chất sân cỏ của cậu bạn. Cô đặt chiếc cọ vẽ lông thỏ và hộp màu nước dang dở sang góc bàn bên cạnh, kéo ghế ngồi sát lại gần Bảo để có thể nhìn rõ từng dòng lệnh đang chạy. Đôi mắt trong veo của cô phản chiếu ánh sáng lấp lánh từ màn hình. “Muốn nhìn thấy được ánh sáng chân thật và nguyên bản nhất của một ngôi sao xa xôi, trước hết chúng ta phải hiểu rõ, chấp nhận và trừ đi toàn bộ những vùng tối lẫn bóng mờ của chính thiết bị mà mình đang sử dụng.”
Trên chiếc bàn gỗ, Tùng và Thư bắt đầu bước vào quy trình phối hợp thao tác quen thuộc mà họ đã cùng nhau luyện tập suốt nhiều buổi tối trong căn phòng ngoại khóa này. Không cần nhiều lời trao đổi, hai người dường như đã đạt đến một sự ăn ý kỳ lạ. Ngón tay Tùng thoăn thoắt bấm cụm phím số để nhập đường dẫn của các tệp ảnh cân chỉnh, trong khi ánh mắt Thư sắc sảo rà soát từng dòng mã lệnh siêu dữ liệu trong tiêu đề FITS—từ thời gian phơi sáng, mức nhiệt độ cảm biến ghi nhận tại thời điểm chụp, cho đến giá trị độ lợi electron trên mỗi đơn vị tín hiệu số.
Công đoạn đầu tiên là quy trình trừ ảnh tối (*dark frame subtraction*). Tùng kéo một chuỗi hai mươi tệp ảnh tối vào khung xử lý trung tâm. Đó là những bức ảnh được chụp với nắp ống kính đóng kín mít, thời gian phơi sáng chuẩn xác hai mươi giây—hoàn toàn trùng khớp với thời gian phơi sáng của từng khung ảnh chụp Algol trên đỉnh núi—và được thực hiện ngay trong điều kiện nhiệt độ ban đêm của rừng Sơn Trà. Phần mềm kích hoạt thuật toán lấy trung vị (*median stack*) để kết hợp hai mươi khung ảnh này lại thành một khung ảnh tối chuẩn (*master dark*). Khung ảnh tối này là một bản đồ tĩnh hoàn hảo, ghi lại toàn bộ dấu vết của dòng nhiệt nội tại và vị trí cố định của từng điểm ảnh chết.
“Trừ ảnh tối hoàn tất,” Tùng khẽ thở ra một hơi dài khi thanh trạng thái chuyển sang một màu xanh lục tươi tắn.
Cậu nhấp chuột áp dụng khung ảnh tối chuẩn vào toàn bộ một trăm hai mươi tệp ảnh khoa học. Ngay lập tức, một sự biến đổi kỳ diệu diễn ra trên màn hình máy tính. Hàng ngàn đốm nhiễu hạt trắng li ti, những vệt sáng nhiễu nhiệt li ti lấm tấm như hạt muối rải trên nền vải đen bỗng chốc bị quét sạch hoàn toàn. Nền trời đêm hiện lên một màu đen thẳm, sâu hun hút và tĩnh mịch, để lộ ra những đốm sáng tròn trịa, sắc nét của các thiên thể trong chòm sao Anh Tiên. Từng đĩa sao hiển thị với dạng hình học cân đối—minh chứng rõ ràng cho thấy hệ trục xích đạo điều khiển bằng động cơ bước NEMA-17 và cơ cấu giảm tốc bánh răng trục vít mà Tùng đã thức trắng bao đêm gọt giũa trong xưởng cơ khí của trường đã vận hành chuẩn xác đến mức nào.
Tiếp theo là bước cân bằng trường phẳng (*flat-field correction*). Thư nhanh chóng tiếp quản bàn phím, tải vào ba mươi khung ảnh phẳng mà nhóm đã kiên nhẫn thu nhận vào thời khắc chập tối tại Bãi Bắc. Khi vầng dương vừa lặn sau rặng núi Hải Vân, cả nhóm đã căng một tấm vải lụa trắng tinh, mịn màng không tì vết trước loa thu sáng của ống kính Newton, hướng thẳng lên vùng trời hoàng hôn đẳng hướng để ghi lại một trường sáng đồng nhất tuyệt đối. Khung ảnh phẳng chuẩn sau khi được thuật toán chuẩn hóa sẽ hoạt động như một ma trận nghịch đảo quang học.
Khi lệnh chia ma trận được thực thi, Thư gõ nhẹ một phím cách. Trên màn hình, những vùng tối mờ ở bốn góc ảnh như được một luồng sáng vô hình chiếu rọi, nâng mức sáng lên một cách tuyến tính và hoàn mỹ. Những đốm mờ hình hạt đậu do bụi bám trên kính bảo vệ cũng tan biến không dấu vết. Bề mặt cảm biến giờ đây phẳng lặng như một mặt gương không chút tì vết quang học, sẵn sàng cho phép đo đếm từng hạt photon một cách công bằng nhất.
Gần một giờ đồng hồ trôi qua trong sự im lặng gần như tuyệt đối của căn phòng gác mái. Chỉ có tiếng gõ bàn phím lách cách của Thư, tiếng chuột rê sột soạt dưới tay Tùng và tiếng thở nhè nhẹ của Bảo và Mai Anh. Một trăm hai mươi khung ảnh khoa học chụp chuỗi biến quang của sao Algol đã được dọn sạch hoàn toàn, trở thành những tệp dữ liệu trắc quang chuẩn mực.
Bảo dõi theo từng thao tác lạnh lùng, dứt khoát của Thư và Tùng mà trong lồng ngực dâng lên một nỗi xúc động khó tả. Trước đây, khi nghĩ về thiên văn học, cậu chỉ mường tượng ra những bức ảnh tinh vân rực rỡ sắc màu được NASA hay kính không gian Hubble chụp lại—những bức ảnh rực lửa của khí hydro đỏ rực hay bụi oxy xanh biếc đã qua xử lý đồ họa tinh xảo. Nhưng giờ đây, nhìn vào những đốm sáng trắng xám mộc mạc trên màn hình đơn sắc, nhìn vào những dòng số liệu trần trụi được lọc bỏ qua từng phép trừ pixel, cậu mới thấu hiểu được vẻ đẹp khắc nghiệt của khoa học thực nghiệm. Đó là một vẻ đẹp không cần đến sự tô vẽ, không có chỗ cho những suy diễn viển vông hay những ước lượng cảm tính mơ hồ. Từng hạt photon lặn lội suốt chín mươi ba năm qua không gian tăm tối của vũ trụ để chạm vào lớp tráng nhôm mỏng manh của chiếc gương phản xạ đều phải được tôn trọng bằng những phép tính toán học trung thực nhất.
“Chúng ta đã hoàn thành bước tiền xử lý,” Thư buông tay khỏi bàn phím, khẽ đưa mu bàn tay áo len lau đi một vệt mồ hôi rịn trên trán. Cô quay sang nhìn Bảo và Mai Anh, ánh mắt ánh lên một vẻ kiên quyết: “Bây giờ là công đoạn quan trọng nhất: trắc quang khẩu độ vi sai. Để đo được độ sáng của sao Algol mà không bị ảnh hưởng bởi độ trong suốt của bầu khí quyển thay đổi theo thời gian, chúng ta không thể đo giá trị tuyệt đối. Chúng ta phải đo tỉ số quang thông giữa Algol và các sao so sánh chuẩn trong cùng một trường nhìn.”
Tùng với tay điều chỉnh lại kính, rê chuột kéo ba vòng tròn đồng tâm ảo lên màn hình:
“Chúng ta sẽ thiết lập ba vòng khẩu độ trắc quang tiêu chuẩn: vòng tròn trong cùng ôm khít đĩa sáng của sao Algol để thu nhận toàn bộ photon trực tiếp từ ngôi sao; khoảng không gian giữa vòng tròn thứ hai và thứ ba tạo thành một vành khuyên để đo thông lượng nền trời ngay sát bên cạnh. Bằng cách lấy thông lượng của vòng tròn trong trừ đi thông lượng trung bình của vành khuyên nền trời nhân với diện tích, chúng ta sẽ loại trừ được hoàn toàn ánh sáng tán xạ của khí quyển và ánh sáng hắt lên từ thành phố Đà Nẵng.”
“Chúng ta dùng sao nào làm chuẩn so sánh vậy Thư?” Bảo tò mò hỏi, ngón tay lật nhanh các trang sổ tay tìm sơ đồ chòm sao Anh Tiên mà cậu đã tự tay vẽ lại.
“Chúng ta dùng hai ngôi sao nằm ngay sát Algol trong trường nhìn của cảm biến: Gamma Persei và Rho Persei,” Thư giải thích cặn kẽ, ngón tay chỉ vào hai chấm sáng cố định trên góc trái màn hình. “Gamma Persei là một sao khổng lồ sáng màu vàng cam có độ sáng biểu kiến cực kỳ ổn định ở mức cấp 2,9, đóng vai trò là sao so sánh chính. Còn Rho Persei là một sao biến quang bán đều đặn với biên độ rất nhỏ, chúng ta dùng nó làm sao kiểm chứng để đảm bảo rằng hệ thống đo lường của chúng ta không bị trôi dạt độ nhạy trong suốt phiên quan sát.”
Tùng bắt đầu kích hoạt thuật toán theo dõi và nhận diện tự động của phần mềm Iris. Trên màn hình máy tính cũ, chuỗi lệnh macro bắt đầu duyệt qua từng khung ảnh một theo thứ tự thời gian, bắt đầu từ tệp ảnh đầu tiên chụp lúc hai mươi ba giờ đêm hôm trước đến tệp ảnh cuối cùng chụp lúc gần hai giờ sáng hôm sau.
Ở góc phải phía dưới màn hình, một khung cửa sổ đồ thị tọa độ Descartes phẳng dần dần hiện ra. Trục hoành biểu thị thời gian quan sát được quy đổi sang giờ chuẩn quốc tế UTC; trục tung biểu diễn hiệu số cấp sao tương đối—tức tỉ số giữa thông lượng photon của sao Algol và sao so sánh chuẩn Gamma Persei.
“Bắt đầu vẽ rồi kìa!” Khải hào hứng thốt lên, hai bàn tay to bản đập mạnh lên vai Bảo và Tùng, mắt dán chặt vào những chấm màu xanh lam đang lần lượt hiện ra trên lưới tọa độ.
Từng chấm dữ liệu xuất hiện cách nhau đều đặn, nối tiếp nhau tạo thành một đường nằm ngang khá phẳng ở giai đoạn đầu. Đó là lúc Algol vẫn đang ở trạng thái sáng bình thường. Nhưng khi thời gian nhích dần qua mười một giờ ba mươi phút đêm, các chấm dữ liệu bắt đầu trượt dốc từ từ, thoai thoải đi xuống phía dưới trục tung. Đường dốc ấy chính là dấu vết không thể chối cãi của việc ngôi sao đồng hành mờ hơn bắt đầu lướt ngang qua bề mặt đĩa sáng chói lọi của ngôi sao chính, che khuất dần nguồn phát photon hướng về phía Trái Đất.
Cả căn phòng gác mái chìm vào một trạng thái nín thở tập thể. Tiếng quạt tản nhiệt của cỗ máy tính dường như kêu to hơn trong không gian tĩnh mịch. Mỗi cú nhảy của con trỏ chuột trên thanh tiến trình đều kéo theo một nhịp đập thình thịch trong lồng ngực của năm cô cậu học trò.
Thế nhưng, khi chuỗi xử lý tự động chạy đến khung ảnh số năm mươi tư—tương ứng với thời điểm mười hai giờ hai mươi lăm phút đêm—mặt phẳng tọa độ bỗng nhiên xuất hiện một sự sai lệch quái dị đến sững sờ.
Một chấm dữ liệu màu đỏ chói lọi bất ngờ bắn vọt lên phía trên đồ thị một cách phi lý, lệch hẳn ra khỏi xu hướng thoải đều của toàn bộ chuỗi điểm xung quanh đến gần 0,8 cấp sao. Và rồi ngay ở khung ảnh tiếp theo—khung số năm mươi lăm—chấm dữ liệu lại cắm đầu lao dốc xuống tận đáy đồ thị như một nét đứt gãy sắc nhọn, trước khi quay trở lại quỹ đạo bình thường ở khung năm mươi sáu. Đường cong ánh sáng đang êm ả, mềm mại bỗng chốc bị xé toạc bởi một chiếc gai nhọn hoắt, phá vỡ hoàn toàn tính liên tục vật lý của hiện tượng thiên văn.
“Dừng lại! Dừng thuật toán lại ngay!” Thư thốt lên, giọng lạc đi vì kinh ngạc và hoảng hốt. Đôi lông mày của cô nhíu chặt lại thành một đường gấp gáp, gương mặt tái nhợt đi dưới ánh sáng xanh của màn hình. “Chuyện gì thế này? Tại sao thông lượng ánh sáng lại có một bước nhảy vọt đột ngột đến mức vô lý như vậy? Sao Algol là một hệ sao đôi che khuất thuần túy! Chu kỳ chuyển động của hai ngôi sao quay quanh khối tâm chung được chi phối bởi định luật vạn vật hấp dẫn của Newton và cơ học thiên thể Kepler, mọi sự biến thiên về diện tích che khuất hình học phải diễn ra một cách trơn tru, liên tục! Làm sao một ngôi sao có thể tự nhiên bùng sáng lên gấp đôi trong vòng vỏn vẹn hai mươi giây rồi lập tức sụp đổ độ sáng được?”
Tùng vội vã nhấn phím thoát để dừng chuỗi lệnh tự động. Trán cậu lấm tấm những giọt mồ hôi lạnh, đôi bàn tay run rẩy chạm vào gọng kính:
“Có khi nào... có khi nào bo mạch điều khiển động cơ bước tự chế của tớ lại gặp sự cố không? Lúc mười hai giờ đêm pin dự phòng bắt đầu sụt áp, có thể xung điều khiển vi bước bị trượt, làm ống kính bị giật mạnh khiến vệt sao bị nhòe ra khỏi vòng khẩu độ trắc quang chăng? Hay là lúc đó có một cơn gió núi Sơn Trà thổi tạt qua làm rung chân đế duralumin?”
“Không thể nào có chuyện gió làm rung chân kính được!” Khải lập tức lên tiếng, giọng chắc nịch như đinh đóng cột. Cậu lật phắt cuốn sổ tay bọc vải bạt màu xanh quân đội của mình ra, ngón tay thô ráp dò nhanh qua từng dòng kẻ ngay ngắn ghi bằng bút mực xanh. “Khung số năm mươi tư tương ứng với mốc thời gian mười hai giờ hai mươi lăm phút đêm. Tao nhớ như in thời điểm đó! Tao vừa cầm máy đo gió cầm tay đi kiểm tra bốn góc quanh bãi đo: nhiệt độ không khí lúc đó là mười ba độ C, độ ẩm năm mươi tám phần trăm, vận tốc gió đo được chưa đầy bảy cây số một giờ—chỉ là một làn gió hiu hiu không đủ làm lay động ngọn cỏ tranh! Tấm bạt chắn gió chữ L bằng sợi bạt dù mà tao chằng bốn góc bằng cọc sắt cắm sâu nửa mét xuống nền đất đá đứng im phăng phắc. Chân đế ba chân giằng tam giác của chúng ta vững như bàn thạch, không bao giờ có chuyện dịch chuyển dù chỉ nửa milimet!”
Bảo nhìn chằm chằm vào chiếc gai nhọn dị thường trên màn hình, cảm giác như có một bàn tay vô hình vừa bóp nghẹt lồng ngực mình. Một nỗi sợ hãi quen thuộc, buốt nhói lại trỗi dậy trong tâm can.
Chẳng lẽ toàn bộ dữ liệu mà cả nhóm đã đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt, bằng cả sự đánh cược danh dự của câu lạc bộ trên đỉnh Sơn Trà lại bị phế bỏ chỉ vì một lỗi sai số không rõ nguyên nhân? Nếu chuỗi số liệu này có một khiếm khuyết vật lý nghiêm trọng không thể giải trình, họ sẽ ăn nói thế nào với Tiến sĩ Đặng Hải Yến tại Trung tâm Khoa học vào buổi báo cáo tiến độ tuần tới? Và căn phòng gác mái nhỏ bé này—nơi trú ngụ duy nhất cho những niềm đam mê không tên của họ—liệu có bị thầy Phó hiệu trưởng Nguyễn Đức Phong thu hồi để bàn giao mặt bằng cho Đội tuyển Robotics như lời cảnh báo đanh thép cách đây hai tuần?
“Để em xem khung ảnh đó một chút được không?”
Một giọng nói nhỏ nhẹ, trong trẻo nhưng chứa đựng sự điềm tĩnh lạ lùng bất ngờ vang lên từ phía sau. Là Mai Anh.
Không đợi Thư hay Tùng kịp phản ứng, Mai Anh kéo chiếc ghế gỗ của mình tiến sát lại mép bàn, vươn bàn tay nhỏ nhắn nhưng khéo léo nắm lấy con chuột quang. Cậu nhấp đúp chuột mở trực tiếp tệp ảnh gốc mang mã số *LIGHT_Algol_0054.fits*.
Thay vì để chế độ hiển thị tự nhiên, ngón tay Mai Anh thoăn thoắt bấm tổ hợp phím chuyển bảng màu của phần mềm sang chế độ thang xám đảo ngược (*inverted greyscale*). Nền trời đen thẳm lập tức chuyển thành một màu trắng toát, trong khi các vì sao biến thành những chấm đen thẫm với các sắc độ xám lan tỏa xung quanh. Đây là chế độ hiển thị chuyên dụng mà các họa sĩ đồ họa và các nhà trắc quang học thường dùng để bóc tách tối đa độ tương phản thị giác giữa các dải quang thông liền kề.
Mai Anh lăn bánh xe chuột, phóng to vùng trường nhìn bao quanh ngôi sao so sánh Rho Persei lên mức bốn trăm phần trăm. Khung hình vỡ ra thành từng ô vuông pixel hiển thị sắc nét như một bức tranh ghép gốm mosaic tinh xảo.
“Mọi người nhìn thật kỹ vào góc này xem,” Mai Anh đưa đầu ngón tay trỏ chạm nhẹ lên mặt kính màn hình, chỉ vào rìa ngoài của vòng tròn khẩu độ trắc quang ảo màu xanh lá cây. “Ở các khung ảnh số năm mươi mốt, năm mươi hai và năm mươi ba trước đó, ngôi sao so sánh Rho Persei nằm hoàn toàn cô lập, xung quanh nó là một vùng chuyển tiếp sắc độ xám rất mịn của nền trời. Nhưng ở khung năm mươi tư này, hãy nhìn sát vào vị trí hướng bốn giờ của nó, cách tâm sao khoảng bốn đến năm ô pixel.”
Thư, Bảo và Tùng đồng loạt cúi gập người xuống, dán sát mắt vào điểm mà ngón tay Mai Anh đang chỉ.
Nhờ đôi mắt nhạy cảm bẩm sinh của một người học vẽ từ thuở ấu thơ—đôi mắt có thể phân định rạch ròi hàng chục sắc thái tinh vi của màu mực nho và nhận ra sự xô lệch tỷ lệ hình khối chỉ trong một phần mười giây—Mai Anh đã nhìn thấy một chi tiết mà thuật toán toán học lạnh lùng của cỗ máy vi tính đã hoàn toàn bỏ qua.
Ngay sát cạnh đĩa sáng của sao Rho Persei, lẩn khuất trong quầng sáng khuếch tán ngoài rìa, có một chấm xám mờ nhạt cực kỳ nhỏ bé. Đó là một ngôi sao nền xa xôi vô danh thuộc dải Ngân Hà. Ở các khung ảnh chụp trước đó, do điều kiện khúc xạ khí quyển ổn định, ngôi sao nền yếu ớt này nằm lọt thỏm ngay bên ngoài ranh giới của vòng tròn khẩu độ đo sáng. Nhưng đúng vào thời điểm khung ảnh số năm mươi tư được chụp, một luồng nhiễu động khí quyển thoáng qua (*atmospheric seeing perturbation*) trên tầng đối lưu đã làm đĩa nhiễu xạ của ngôi sao bị bè nhẹ sang một bên, khiến biên dạng ánh sáng của nó bị biến dạng thành một hình elip méo mó.
“Em hiểu ra nguyên nhân rồi!” Mai Anh reo khẽ, ánh mắt sáng bừng lên như bắt được một tia chớp giữa đêm tối. “Thuật toán tìm tâm tự động (*centroid finding algorithm*) của phần mềm bị đánh lừa! Vì ngôi sao nền mờ nhạt này nằm quá sát và bị nhiễu động khí quyển làm nhòe vào đĩa sáng chính, phần mềm đã nhận nhầm trọng tâm quang thông của cả hai ngôi sao gộp lại thành một. Vòng tròn khẩu độ trắc quang tự động nở rộng bán kính ra thêm ba pixel để bao trọn lấy đĩa sáng méo mó đó, vô tình nuốt trọn toàn bộ photon của ngôi sao nền vào phép tính thông lượng của sao so sánh Rho Persei! Mẫu số của phép chia bị đội lên bất thường, kéo theo tỉ số quang thông giữa Algol và sao so sánh bị bẻ gãy, tạo ra chiếc gai nhọn quái dị trên đồ thị!”
Một tiếng thở hắt ra đồng thanh vang lên trong căn phòng gác mái, như thể một tảng đá ngàn cân vừa được nhấc bổng khỏi lồng ngực của từng người.
Tùng kinh ngạc trố mắt nhìn Mai Anh, đôi đồng tử sau tròng kính cận giãn to hết cỡ, gương mặt lộ rõ vẻ thán phục không chút giấu giếm:
“Trời đất ơi... Thuật toán centroid của Iris chỉ là những phép tính tích phân ma trận vô hồn. Nó thấy một cụm pixel có giá trị ngưỡng vượt mức nền là nó tự động gom lại thành một nguồn phát sáng duy nhất. Nếu Mai Anh không dùng trực giác thị giác để soi từng pixel nền, thì dù tớ có ngồi dò lại từng dòng code của tệp cấu hình suốt cả tuần lễ, tớ cũng sẽ đinh ninh rằng phần cứng của mình bị hỏng xung động cơ!”
“Cậu làm tốt lắm, Mai Anh. Thật sự xuất sắc!” Thư nhìn Mai Anh, ánh mắt ánh lên sự khâm phục chân thành và một niềm xúc động khó tả.
Người đội trưởng lớp mười một vốn nổi tiếng nghiêm khắc, người từng lạnh lùng gạt bỏ những nét vẽ minh họa của Mai Anh vì cho rằng chúng mang tính cảm tính vô bổ, giờ đây đang cúi đầu nhìn cô bạn nhỏ bằng tất cả sự trân trọng sâu sắc nhất. Trong khoảnh khắc ấy, Thư nhận ra rằng khoa học không bao giờ là sự độc tôn của những công thức khô khan hay những bảng số liệu vô tri; khoa học cần đến cả sự nhạy cảm tinh tế của nghệ thuật để soi rọi vào những ngóc ngách mà máy móc bỏ quên.
Thư nhanh chóng đặt tay trở lại bàn phím, nhưng lần này những ngón tay cô gõ xuống với một sự cẩn trọng và điềm tĩnh tuyệt đối:
“Chúng ta sẽ không giao phó toàn bộ việc định tâm cho thuật toán tự động nữa. Tớ sẽ chuyển toàn bộ tiến trình sang chế độ tinh chỉnh bán kính khẩu độ thủ công (*manual aperture radius*). Chúng ta sẽ cố định bán kính vòng trong ở mức năm pixel thay vì tám pixel như mặc định, nhằm cô lập hoàn toàn đĩa sáng của sao chuẩn Rho Persei, đồng thời tịnh tiến vành khuyên đo nền trời lùi xa thêm hai pixel để loại trừ hoàn toàn ngôi sao nền gây nhiễu kia.”
Từng thao tác của Thư lúc này chuẩn xác và tỉ mỉ như một bác sĩ đang thực hiện một ca vi phẫu tinh xảo trên từng tế bào quang điện. Cô căn chỉnh lại tâm trắc quang cho từng khung hình từ số năm mươi ba, năm mươi tư đến năm mươi sáu, cẩn thận kiểm tra đồ thị phân bố cường độ sáng (*Point Spread Function*) để đảm bảo rằng hơn chín mươi lăm phần trăm năng lượng photon của sao mục tiêu vẫn được thu nhận trọn vẹn mà không để lọt bất kỳ tạp âm nào từ môi trường xung quanh.
“Tính toán lại toàn bộ chuỗi dữ liệu!” Thư nhấn mạnh ngón tay trỏ lên phím *Enter*.
Chiếc máy tính đời cũ khẽ rùng mình, quạt tản nhiệt rít lên một hồi ngắn rồi trả về kết quả sau chưa đầy ba giây xử lý.
Trên màn hình, chiếc gai nhọn màu đỏ quái dị lập tức biến mất không còn dấu vết. Thay vào đó, chấm dữ liệu số năm mươi tư ngoan ngoãn trượt xuống, xếp thẳng hàng một cách hoàn hảo vào quỹ đạo uốn cong mềm mại của các điểm dữ liệu lân cận.
“Được rồi... Khớp rồi!” Bảo thì thầm trong hơi thở nghẹn ngào, hai bàn tay siết chặt lại bên mép bàn đến trắng bệch các đầu ngón tay.
Tùng tiếp tục bấm phím cho thuật toán xử lý nốt các khung hình còn lại từ số năm mươi bảy cho đến khung hình cuối cùng số một trăm hai mươi. Trên chiếc màn hình tinh thể lỏng cũ kỹ, một kỳ quan tráng lệ của vũ trụ bao la bắt đầu hiện hình rõ nét qua từng chấm sáng nhỏ li ti.
Một đường cong ánh sáng (*light curve*) hoàn chỉnh—chân thực, sống động và đẹp đẽ đến nghẹt thở—hiện ra trọn vẹn trước mắt năm cô cậu học trò trường Hải Vân.
Khởi đầu từ mười một giờ đêm, khi Algol còn ở trạng thái bình thường với cấp sao biểu kiến ổn định quanh mức 2,1, đường biểu diễn trải dài nằm ngang phẳng lặng như mặt nước hồ không gợn sóng. Rồi sau đó, đường cong bắt đầu lượn dốc xuống một cách êm đềm, mềm mại như một triền đồi thoải dưới ánh trăng. Đó là khoảnh khắc kỳ vĩ khi ngôi sao đồng hành mờ hơn thuộc kiểu quang phổ K—một ngôi sao khổng lồ nguội lạnh với sắc cam trầm mặc—bắt đầu che khuất dần đĩa sáng chói lọi của ngôi sao chính kiểu quang phổ B nóng bỏng, xanh ngắt.
Đến khoảng một giờ sáng, đường biểu diễn chạm tới đáy cực tiểu chính (*primary minimum*), tạo thành một đáy cong hình chữ U rộng và sâu hun hút, nơi cấp sao biểu kiến sụt giảm xuống tận mức 3,4—đồng nghĩa với việc thông lượng ánh sáng phát ra từ hệ sao đã suy giảm tới hơn ba lần so với bình thường! Và rồi, sau những phút giây chạm đáy tĩnh lặng giữa đêm sâu, đường cong bắt đầu lượn ngược lên trên, ghi lại những khoảnh khắc đầu tiên khi hai ngôi sao bắt đầu tách rời nhau ra trong vũ điệu quỹ đạo vĩnh hằng, trước khi màn sương mù dày đặc của đỉnh Sơn Trà tràn về buộc cả nhóm phải vội vã che đậy ống kính.
Cả căn phòng gác mái chìm vào một khoảng lặng sững sờ kéo dài suốt cả phút đồng hồ. Không một ai thốt lên lời nào. Tiếng lá bàng xào xạc ngoài khung cửa sổ và tiếng còi xe inh ỏi từ phía đại lộ ven biển dường như đã lùi xa về một cõi vô hình nào đó, nhường chỗ cho tiếng nhịp tim rộn ràng của năm con người trẻ tuổi đang cùng hòa chung một nhịp đập thổn thức.
Trước mắt họ lúc này không còn là những công thức toán học khô khốc trong sách giáo khoa Vật lý lớp 10 nâng cao, không còn là những định luật Kepler trừu tượng hay những phương trình vi phân trắc quang xa lạ trên bảng đen phấn trắng. Đó là dữ liệu thực tế. Đó là dấu chân thực sự của vũ trụ. Những hạt photon ánh sáng đã rời khỏi bề mặt của một hệ sao đôi xa xôi cách Trái Đất chín mươi ba năm ánh sáng—vào cái thời điểm mà ông bà của họ thậm chí còn chưa sinh ra đời—đã vượt qua quãng đường gần chín trăm nghìn tỷ cây số tăm tối của khoảng không gian liên sao, rớt xuống lớp tráng nhôm mỏng manh của chiếc gương phản xạ tự chế trên đỉnh Sơn Trà, đi qua cảm biến CCD lấm lem bụi bặm của cô Hà, và giờ đây tái sinh thành một đường cong toán học hoàn mỹ, mềm mại như một dải lụa trên màn hình máy tính ọp ẹp này.
“Chúng ta... chúng ta đã thực sự làm được rồi,” Bảo khẽ cất lời phá vỡ sự im lặng, giọng run run và nghẹn ngào nơi cuống họng.
“Làm được rồi! Tụi mày ơi, làm được thật rồi!” Khải là người đầu tiên bùng nổ. Cậu nhảy cẫng lên khỏi sàn xi măng, chiếc ghế đẩu dưới chân đổ xoài ra phía sau vang lên một tiếng cắc khô khốc nhưng cậu chẳng thèm ngoái nhìn. Cậu vồ lấy hai vai Tùng lắc mạnh đến mức suýt làm rơi cặp kính của cậu bạn chuyên tin, rồi quay sang đập tay thật mạnh vào lòng bàn tay Bảo: “Nhìn đi! Nhìn cái đáy chữ U kia kìa! Chuẩn từng milimet! Đẹp hơn cả một đường chuyền cong mu lai má ngoài hình quả chuối bay thẳng vào góc chữ A khung thành đối phương!”
“Thành công rồi...” Tùng nở một nụ cười rạng rỡ hiếm thấy, gương mặt gầy gò lấm tấm mồ hôi bỗng bừng sáng lên một vẻ tự tin và kiêu hãnh lạ thường. Cậu quay sang Thư, hai hốc mắt ngân ngấn nước nhưng môi cười thật tươi: “Chị Thư ơi, cơ cấu bám trời NEMA-17 của em vận hành hoàn hảo tuyệt đối! Sai số trôi dạt góc quay trung bình dưới 0,25 pixel trong suốt hai tiếng đồng hồ quan sát liên tục! Độ lệch chuẩn của các điểm đo trắc quang cực kỳ nhỏ, thanh sai số hẹp đến mức gần như dính liền vào các điểm dữ liệu!”
Thư ngồi dựa lưng hoàn toàn vào thành ghế gỗ, hai bàn tay buông lỏng trên đùi. Một giọt nước mắt lặng lẽ trào ra khỏi bờ mi, lăn dài trên gò má cô gái lớp mười một vốn luôn cố khoác lên mình vẻ sắt đá, lạnh lùng để bảo vệ câu lạc bộ. Nhưng đó không phải là nước mắt của sự yếu đuối; đó là giọt nước mắt của sự trút bỏ, của niềm hạnh phúc ngập tràn và sự giải thoát tột cùng. Bao nhiêu đêm thức trắng cặm cụi bên những bản vẽ thiết kế, bao nhiêu áp lực đè nặng từ những lời đe dọa giải thể của ban giám hiệu, bao nhiêu gánh nặng từ sự kỳ vọng khắc nghiệt của gia đình về kỳ thi học sinh giỏi quốc gia sắp tới... tất cả những âu lo ấy dường như đã tan biến thành tro bụi trước vẻ đẹp thuần khiết của đường cong ánh sáng đang hiện diện trên màn hình.
“Cảm ơn mọi người...” Thư nghẹn ngào, nụ cười rạng rỡ nở bừng qua làn nước mắt lấp lánh. “Thực sự cảm ơn tất cả các em. Nếu không có sự kiên trì chế tạo cơ khí của Tùng, nếu không có tính kỷ luật hậu cần nghiêm ngặt của Khải, nếu không có con mắt thị giác tinh tường của Mai Anh... và nếu không có sự kết nối bền bỉ, không bao giờ chịu bỏ cuộc của Bảo... câu lạc bộ của chúng ta có lẽ đã tan rã ngay sau buổi chiều giông bão tuần trước rồi.”
Mai Anh không reo hò, cũng không nói lời nào. Cô gái nhỏ chỉ lẳng lặng mỉm cười, đôi mắt đen láy trong veo lấp lánh niềm vui sướng nguyên sơ và thuần khiết nhất. Cô kéo cuốn sổ ký họa dày cộp đóng bằng giấy xi măng thô ráp lại gần mình, lật sang một trang giấy trắng tinh chưa vướng một vệt chì.
Rút chiếc bút chì kim 0.5mm cài trên túi áo đồng phục, những ngón tay thon nhỏ của Mai Anh bắt đầu lướt thoăn thoắt trên mặt giấy dưới ánh hoàng hôn đang chuyển dần từ màu hổ phách sang sắc tím thẫm của bầu trời Đà Nẵng.
Ở phần lề dưới của biểu đồ tọa độ Descartes vừa được Tùng in ra bằng chiếc máy in phun cũ, Mai Anh không vẽ lại những sơ đồ hình học quang sai hay những mặt cầu tròn khô khan trong sách giáo khoa. Thay vào đó, bằng những nét chì thanh mảnh, mềm mại đầy biểu cảm, cô phác họa hai nhân vật hoạt hình tí hon mang linh hồn của hai ngôi sao trong vũ trụ:
Một vũ công nhỏ nhắn, lộng lẫy khoác chiếc váy xòe tỏa ra những tia sáng trắng lấp lánh, đang kiễng đầu ngón chân xoay tròn trên một trục quay vô hình; và một người bạn nhảy to lớn hơn, mang dáng vẻ trầm tĩnh trong chiếc áo choàng màu cam ấm áp, khẽ nghiêng mình lướt ngang qua phía trước để che chở cho người bạn nhảy nhỏ bé của mình trong một điệu valse bất tận giữa khoảng không gian vô định của dải Ngân Hà.
“Cậu đang vẽ gì thế Mai Anh?” Bảo tò mò ghé sát đầu lại gần, ngắm nhìn từng nét chì uốn lượn sống động dưới bàn tay cô bạn.
“Hệ sao đôi che khuất Algol đấy,” Mai Anh ngẩng đầu lên, khẽ vén lọn tóc mai ra sau vành tai, mỉm cười dịu dàng. Gió chiều luồn qua chấn song cửa sổ làm lay động những sợi tóc mềm mại của cô. “Thầy cô và sách vở thường định nghĩa rằng đây là hiện tượng biến thiên quang thông do sự che khuất hình học thuần túy của hai thiên thể quay quanh một khối tâm. Nhưng tớ nghĩ, sâu thẳm trong không gian, đó thực chất là một vũ điệu tình yêu vĩnh cửu. Hai ngôi sao ấy đã khiêu vũ cùng nhau hàng triệu năm nay trên vòm trời đêm, và đêm qua, trên đỉnh Sơn Trà lạnh buốt, năm đứa chúng mình là những khán giả may mắn và vinh dự nhất được chúng cho phép chiêm ngưỡng một bước xoay tuyệt mỹ.”
Bảo sững sờ nhìn bức vẽ, rồi nhìn sâu vào đôi mắt lấp lánh của Mai Anh. Cậu cảm thấy một luồng hơi ấm len lỏi chảy khắp lồng ngực mình. Trực giác thẩm mỹ và tâm hồn nhạy cảm của cô gái này chưa bao giờ ngừng làm cậu kinh ngạc. Trong khoảnh khắc ấy, Bảo ngộ ra một chân lý giản dị nhưng sâu sắc: khoa học và nghệ thuật chưa bao giờ là hai thế giới đối lập nhau như người ta vẫn lầm tưởng; ngược lại, khi khoa học đạt đến độ chính xác, chân thực và thấu suốt tột cùng, nó chính là tác phẩm nghệ thuật kỳ vĩ nhất của tạo hóa.
“Mai Anh này,” Thư bước chậm rãi đến bên cạnh chiếc bàn, cúi nhìn bức vẽ ký họa bằng ánh mắt trìu mến xen lẫn một nỗi ân hận muộn màng, “cuốn Cẩm nang ngắm sao trực quan mà câu lạc bộ chúng ta chuẩn bị nộp cho dự án nghiên cứu khoa học kỹ thuật cấp trường... nhất định phải dùng toàn bộ những hình vẽ minh họa này của cậu. Sẽ không có một hội đồng giám khảo hay một vị giáo sư khó tính nào có thể chối từ một công trình vừa mang tính chuẩn xác tuyệt đối của số liệu thực nghiệm, lại vừa có khả năng truyền cảm hứng khoa học rung động lòng người đến như thế này.”
Gò má Mai Anh khẽ ửng hồng dưới ánh ráng chiều tím ngắt. Cô bẽn lẽn gật đầu, đón nhận lời công nhận chân thành từ người chị cả của nhóm như đón nhận một món quà quý giá sau bao ngày tháng âm thầm nỗ lực.
Không khí trong căn phòng gác mái sau đó trở nên rộn rã và ấm áp hơn bao giờ hết. Khải xé từng chiếc bánh mì ngọt chia đều cho từng người, rồi cẩn thận rót những giọt sữa đậu nành béo ngậy cuối cùng từ bình giữ nhiệt vào năm chiếc cốc nhựa dùng một lần. Tùng cặm cụi cắm hai chiếc USB màu đen vào cổng sau của cây máy tính, tỉ mỉ sao lưu toàn bộ thư mục dữ liệu đã hiệu chuẩn, các tệp FITS gốc và bảng tính giá trị độ sáng vào hai thiết bị lưu trữ độc lập để đề phòng mọi sự cố bất trắc.
Bên chiếc bàn gỗ dài, năm cô cậu học trò chụm đầu vào nhau, bắt đầu phác thảo đề cương chi tiết cho bản báo cáo khoa học chính thức: Thư và Tùng sẽ đảm nhiệm phần cơ sở lý thuyết, phương pháp trắc quang khẩu độ vi sai và mô hình phân tích sai số ngẫu nhiên; Mai Anh phụ trách toàn bộ hệ thống đồ họa trực quan, sơ đồ đường đi của tia sáng và các bảng thông tin infographic; Khải chuẩn bị phần nhật ký điều kiện khí tượng vi mô, đánh giá độ ổn định của nền địa chất Bãi Bắc và quy trình an toàn quan sát đêm; còn Bảo sẽ là người chắp bút, xâu chuỗi tất cả những mảnh ghép rời rạc ấy lại thành một câu chuyện truyền thông khoa học hoàn chỉnh, giàu cảm xúc để trực tiếp bước lên bục phản biện trước hội đồng nhà trường.
Khi chiếc đồng hồ quả lắc cũ kỹ treo trên góc tường buông những tiếng chuông giòn giã điểm đúng sáu giờ tối, tiếng chuông báo hiệu kết thúc giờ tự học buổi chiều của Trường THPT Hải Vân cũng đồng thời vang lên lảnh lót từ tháp chuông trung tâm, phá tan không gian tĩnh mịch của sân trường bên dưới.
Khải và Tùng nhận phần việc nán lại dọn dẹp mặt bàn, ngắt cầu dao điện tổng của phòng gác mái và mang chùm chìa khóa xuống bàn giao cho phòng bảo vệ ở tầng một. Thư cẩn thận xếp các tập tài liệu in vào chiếc cặp da sờn mép, vội vã chào cả nhóm để đạp xe về nhà cho kịp giờ cơm tối và chuẩn bị cho buổi ôn luyện đội tuyển học sinh giỏi môn Vật lý vào sáng sớm hôm sau.
Bảo cùng Mai Anh chậm rãi bước xuống những bậc cầu thang bộ bằng đá mài cũ kỹ của khu nhà ngoại khóa ba tầng.
Mỗi bậc thang bước xuống dường như đưa họ trở về với nhịp sống bình lặng thường nhật. Sân trường THPT Hải Vân vào thời khắc hoàng hôn buông xuống mang một vẻ tĩnh mịch và thanh bình đến lạ kỳ. Những hàng phượng vĩ cổ thụ và những cây xà cừ tán rộng in những bóng đen thẫm khổng lồ lên nền trời chiều rực rỡ sắc cam cháy và hồng tím—thứ gam màu hoàng hôn đặc trưng, nồng nàn của những ngày trời quang mây tạnh ven dải duyên hải miền Trung.
Phía chân trời xa xăm về hướng tây, rặng núi Bà Nà mờ ảo trong làn sương lam, nhấp nhô như một bức tranh thủy mặc trầm mặc. Làn gió biển mát rượi từ vịnh Đà Nẵng men theo dòng sông Hàn thổi lồng lộng qua những tán lá bàng, xua tan đi tất cả những căng thẳng, mệt mỏi và cảm giác bức bối của một ngày dài làm việc trí óc căng như dây đàn.
Đi bên cạnh Mai Anh dọc theo con đường rải nhựa dẫn ra cổng trường, Bảo bỗng cảm thấy một sự ngập ngừng khó tả dâng lên trong lòng. Cậu khẽ liếc nhìn góc nghiêng thanh tú của cô bạn cùng lớp—mái tóc ngắn ngang vai khẽ lay động theo từng nhịp bước chân, đôi mắt trong trẻo đang dõi nhìn những vệt mây ngũ sắc trôi lững lờ phía trên nóc nhà hiệu bộ.
Bảo biết, đằng sau nụ cười thanh thản và những nét vẽ hồn nhiên kia, Mai Anh đang phải âm thầm gánh chịu những áp lực vô hình nhưng vô cùng nặng nề từ gia đình. Kỳ thi kiểm tra chất lượng giữa học kỳ hai đang cận kề, chỉ còn chưa đầy hai tuần nữa là bắt đầu. Những con điểm của các môn Toán học, Vật lý và Hóa học sẽ là chiếc thước đo khắc nghiệt mà bố Mai Anh dùng để phán xét xem cô có được phép tiếp tục tham gia những hoạt động mà ông coi là “phù phiếm” này hay không.
Chính bản thân Bảo cũng vậy, cậu thấu hiểu sâu sắc cảm giác ấy. Mỗi buổi tối trở về nhà, nhìn thấy mẹ khẽ thở dài khi gom những tờ bản đồ sao chép tay rơi ra từ cuốn sách giáo khoa Giải tích lớp 10, trong lòng cậu lại quặn lên một cảm giác áy náy khôn nguôi.
“Mai Anh này,” Bảo khẽ lên tiếng khi hai người bước ngang qua khoảng sân bóng rổ đã vắng tanh bóng học sinh, “bài kiểm tra một tiết môn Hóa học vào sáng thứ Sáu tới... cậu đã kịp ôn tập được nhiều chưa? Tớ nghe mấy bạn bên lớp A1 bảo thầy sẽ ra phần bài tập cân bằng phản ứng oxi hóa khử phức tạp của hợp chất sắt và axit nitric đấy, khó nhằn lắm.”
Mai Anh khẽ dừng bước một nhịp, đôi vai nhỏ hơi so lại trong chiếc áo khoác đồng phục rộng thùng thình. Cô thở dài nhè nhẹ, nhưng nơi khóe môi vẫn cố giữ một nét cười dịu dàng, bình thản:
“Tớ mới chỉ giải được một nửa số bài tập cơ bản trong tập đề cương thầy phát thôi, Bảo à. Dạo này tối nào bố tớ cũng pha một ấm trà đặc, ngồi ngay ở chiếc ghế bành ngoài phòng khách để canh giờ học của tớ. Bố bảo thẳng thừng rằng nếu kỳ thi giữa kỳ này điểm trung bình ba môn khối A của tớ tụt xuống dưới tám phẩy năm, bố sẽ tịch thu toàn bộ chìa khóa xe đạp, cấm tiệt tớ bén mảng đến bất kỳ câu lạc bộ ngoại khóa nào trong trường, và việc đầu tiên bố làm sẽ là vứt hết toàn bộ cọ vẽ cùng các tập giấy ký họa của tớ vào sọt rác.”
Cô dừng hẳn bước chân bên gốc cây bàng già sát mép sân, ngước mắt nhìn lên những vòm lá xanh biếc đang xào xạc trong gió chiều. Giọng nói của cô chùng hẳn xuống, chất chứa một nỗi buồn sâu thẳm nhưng ẩn sâu bên trong vẫn là một sự kiên định không gì lay chuyển nổi:
“Nhiều lúc ngồi bên bàn học đối diện với những tập đề thi thử dày đặc, tớ cảm thấy ngột ngạt đến nghẹt thở, Bảo à. Tớ có cảm giác như cả cuộc đời và tương lai của mình đã bị người lớn dùng thước kẻ kẻ sẵn từng vạch vôi cứng nhắc, chật hẹp. Chỉ cần mình bước chệch ra ngoài đường ranh giới ấy dù chỉ một bước chân thôi, mình sẽ lập tức bị gia đình và họ hàng coi là một đứa con hư hỏng, một kẻ thất bại thảm hại. Bố tớ luôn tin rằng hội họa chỉ là trò vẽ vời vô bổ của những kẻ lông bông, không thể nuôi sống nổi bản thân sau này, lại càng không có bất kỳ giá trị thực tế nào đóng góp được cho khoa học hay xã hội.”
Bảo đứng lặng yên bên cạnh cô, hai bàn tay nắm chặt quai chiếc ba lô con cóc trên vai. Từng lời Mai Anh nói như chạm thẳng vào vết thương sâu kín nhất trong tâm hồn cậu. Cậu hiểu quá rõ cái cảm giác ngột ngạt ấy—cảm giác của một đứa trẻ luôn phải sống dưới cái bóng khổng lồ của một người khác, luôn phải cố gắng vùng vẫy để chứng minh sự tồn tại của bản thân nhưng mọi nỗ lực đều bị quy chụp thành sự bồng bột của tuổi mới lớn. Cậu nhớ lại những ngày tháng bị đem ra so sánh với Minh Quân, nhớ những ánh mắt thất vọng của bố mẹ mỗi khi cậu mang về một bài kiểm tra điểm bảy môn Toán.
“Bố cậu chưa có cơ hội nhìn thấy hết tài năng và giá trị thực sự của cậu thôi, Mai Anh à,” Bảo cất lời, giọng nói của cậu không còn vẻ vụng về, ấp úng thường ngày mà trở nên trầm tĩnh, kiên định và chan chứa sự chân thành từ đáy lòng. Cậu xoay người lại, nhìn thẳng vào đôi mắt đen láy của Mai Anh đầy khích lệ: “Hôm nay, nếu không có đôi mắt tinh tường và sự nhạy cảm hình khối đặc biệt của cậu, cả nhóm chúng mình—kể cả sự uyên bác của Thư hay kỹ thuật của Tùng—đã hoàn toàn đầu hàng trước điểm dữ liệu sai lệch số năm mươi tư kia rồi. Khoa học không bao giờ chỉ đơn thuần là những công thức toán học vô hồn hay những dòng mã code lạnh lẽo. Khoa học cần cả trực giác, cần sự thấu cảm thị giác và tâm hồn rung động của một người nghệ sĩ như cậu để nhận ra chân lý lẩn khuất giữa những hỗn độn. Tớ tin chắc rằng, khi cuốn cẩm nang ngắm sao của chúng mình hoàn thành, khi những bức tranh minh họa của cậu được in trang trọng trong bản báo cáo gửi lên Sở Giáo dục, bố cậu nhất định sẽ hiểu ra và tự hào về những điều tuyệt vời mà con gái mình đang cống hiến.”
Mai Anh quay sang nhìn Bảo. Dưới ánh sáng dìu dịu, ấm áp của vệt hoàng hôn tím biếc đang dần tàn lụi nơi đường chân trời, đôi mắt cô ánh lên những tia sáng long lanh, ấm áp lạ thường. Nỗi buồn phảng phất nơi khóe môi cô dần tan biến, nhường chỗ cho một nụ cười rạng rỡ và an tâm. Đối với cô, sự đồng cảm sâu sắc, không một chút phán xét hay đòi hỏi của người bạn trai cùng tuổi vụng về nhưng chân thành này chính là bến đỗ bình yên nhất, là điểm tựa vững chãi giúp cô đứng vững giữa những chông chênh, áp lực của lứa tuổi mười sáu.
Hai người sóng bước bên nhau, cùng bước qua cánh cổng sắt sơn xanh to lớn của Trường THPT Hải Vân.
Bên ngoài, con đường nhựa thênh thang chạy dọc bờ biển đã bắt đầu lên đèn. Những ngọn đèn đường cao áp màu vàng nhạt lần lượt bật sáng, trải dài thành một vệt sáng lung linh uốn lượn theo bờ vịnh. Dòng xe cộ tan tầm bắt đầu thưa thớt dần, nhường chỗ cho một màn đêm êm đềm, mát rượi đang từ từ buông xuống bao trùm lên toàn bộ thành phố biển Đà Nẵng.
Bảo tiễn Mai Anh ra cổng trường dưới bóng hoàng hôn; Mai Anh mỉm cười nói rằng đây là lần đầu tiên cô thấy những con số vật lý khô khan lại đẹp như một bức tranh.