Khoảng trời quang Sơn Trà
Gió đêm tháng Giêng thổi qua triền dốc Bãi Bắc mang theo hơi lạnh buốt nhưng khô ráo khác thường, xua tan màn mây xám nặng nề đã giam chân cả nhóm suốt hai tháng mùa mưa dầm dề của dải đất duyên hải miền Trung.
Ở độ cao gần năm trăm mét so với mực nước biển, bầu khí quyển của bán đảo Sơn Trà như vừa được một bàn tay vô hình gột rửa sạch bong sau chuỗi ngày dài ngột ngạt. Khối không khí lạnh lục địa cực mạnh từ phương Bắc tràn sâu xuống đèo Hải Vân không mang theo mưa phùn nhầy nhụa hay những màn sương muối bão hòa mù mịt như hồi đầu tháng Mười Hai, mà là một luồng gió khô đanh, sắc lẹm, thổi thốc từ hướng vịnh Đà Nẵng ép thẳng lên các vách đá hoa cương. Từng ngọn cỏ lau khô cằn trên sườn đồi rạp mình xào xạc theo từng cơn gió giật, cọ vào nhau phát ra những âm thanh ràn rạt như tiếng chổi quét trên nền đá nứt nẻ. Bầu trời đêm phía trên đầu đen thẫm và sâu thẳm như một tấm nhung huyền khổng lồ trải dài vô tận, không một gợn mây che khuất, điểm xuyết hàng vạn đốm sáng li ti lấp lánh kéo dài từ đỉnh vòm thiên cầu xuống tận chân trời xa tít tắp ngoài khơi xa, nơi ánh đèn của những đội tàu câu mực đêm chỉ còn là những vệt lân tinh mờ ảo.
Chiếc xe bán tải hai cầu cũ kỹ chở đồ đạc và thiết bị của nhà trường chầm chậm hãm phanh, bánh xe nghiến rào rào trên lớp sỏi vụn trước khi dừng hẳn lại ở khoảng đất trống tương đối bằng phẳng nằm ngay sát trạm khí tượng thủy văn bỏ hoang. Động cơ diesel khẽ rùng mình rồi tắt hẳn, để lại không gian chung quanh chìm vào sự tịch mịch thăm thẳm của khu bảo tồn thiên nhiên lúc nửa đêm.
Cô Vũ Thanh Hà bước xuống từ ghế lái, bàn tay mang găng len kéo cao cổ chiếc áo khoác gió chuyên dụng màu lam sẫm để ngăn luồng gió núi táp thẳng vào gáy. Cô không vội vàng bật đèn chiếu sáng công suất lớn của xe. Dưới ánh đèn pin ánh sáng đỏ le lói gắn trên ve áo khoác, gương mặt cô hiện lên với những đường nét cương nghị nhưng ánh mắt thì tràn ngập sự khích lệ. Cô quay người lại, nhìn lướt qua năm gương mặt học sinh đang ngồi ở băng ghế sau và thùng xe, khẽ gật đầu:
“Vị trí này nằm hoàn toàn bên trong tọa độ đã được Ban Quản lý Bán đảo Sơn Trà ký quyết định cấp phép khảo sát cho trường chúng ta đêm nay. Theo dữ liệu quan trắc vi khí hậu thời gian thực mà cô vừa cập nhật từ đài khí tượng vùng Trung Trung Bộ trước khi mất sóng điện thoại ở chân đèo, chúng ta có một cửa sổ trời quang quý giá kéo dài khoảng bốn tiếng đồng hồ trước khi độ ẩm đại dương bắt đầu dạt ngược vào theo hướng gió chuyển dịch. Bốn tiếng này là cơ hội duy nhất trong cả mùa đông để hoàn thành chuỗi đo. Khải, từ giờ phút này, em nắm toàn quyền điều phối mặt bằng bãi quan sát theo đúng bản kế hoạch tác nghiệp đã phê duyệt.”
“Rõ ạ!”
Phạm Quốc Khải lập tức lên tiếng đáp lời, giọng dứt khoát không một chút ngập ngừng. Giọng cậu đang ở giai đoạn vỡ đôi của tuổi mười sáu, có phần ồm ồm nhưng vang khỏe, mang trọn vẹn sự tự tin và uy lực của một trung vệ đội trưởng đã quen tổ chức, chỉ huy hàng phòng ngự nghẹt thở trên sân cỏ trung học.
Khải nhảy phắt xuống nền đất, đôi ủng dã ngoại đế đinh bám chặt lấy lớp đá dăm lạo xạo. Cậu rút ngay từ túi áo khoác dù ra chiếc còi nhựa màu đen quen thuộc, luồn sợi dây dù qua cổ nhưng tuyệt nhiên không đưa lên miệng thổi để tránh phá vỡ không gian tĩnh lặng của thảm sinh thực vật bán đảo. Thay vào đó, cậu đưa tay bật chiếc đèn pin đeo trán đã được cẩn thận dán đè hai lớp giấy bóng kính màu đỏ thẫm từ chiều. Một vệt sáng đỏ trầm ấm, dịu mắt quét ngang mặt đất, vừa đủ soi rõ từng gờ đá lồi lõm mà không hề gây kích ứng tế bào que trong võng mạc của các thành viên, bảo toàn tối đa khả năng thích ứng bóng tối mà họ đã phải tôi luyện suốt nửa tiếng ngồi trong bóng râm xe tải.
“Toàn đội chú ý, triển khai phương án chắn gió Bãi Bắc cấp độ hai!” Khải khoát mạnh cánh tay ra hiệu, khẩu lệnh trầm, gọn gàng và dứt khoát như một mệnh lệnh hành quân. “Gió đông bắc hiện tại đang thổi chếch khoảng mười lăm độ từ hướng mỏm đá Tiên Sa thốc thẳng lên triền dốc. Với tốc độ gió đo được ở mép vực xấp xỉ cấp bốn, nếu không cản phá luồng xoáy khí động học này, bệ kính thiên văn sẽ bị rung lắc tối thiểu ba giây sau mỗi cơn giật. Chúng ta lập tức dựng lều bạt chữ L ở mép đông bắc để che chắn toàn bộ hướng gió chủ đạo. Tùng với Bảo phụ trách đóng cọc neo chịu lực số một và số hai ở hai đầu góc chữ L. Mai Anh giữ dây căng và khóa tăng đơ. Chị Thư dùng nivô kiểm tra độ nghiêng của nền đất và vạch bán kính an toàn cho chân đế máy tính. Tuyệt đối không ai được phép bật bất kỳ nguồn ánh sáng trắng nào, kể cả màn hình điện thoại. Kỷ luật ánh sáng đỏ bắt đầu có hiệu lực ngay bây giờ!”
Sự chỉ huy rành mạch, đanh thép của Khải lập tức kích hoạt sự vận hành của cả nhóm như một cỗ máy đã được tra dầu mỡ cẩn thận và chạy thử hàng chục lần trong xưởng thực hành. Không còn cảnh lúng túng nhìn nhau, không còn những câu hỏi thừa thãi hay những sự bất đồng vụn vặt từng biến buổi thực địa đầu đông thành một thảm họa chia rẽ.
Bảo bước nhanh tới mép thùng xe, cùng Tùng nhấc hai cọc thép bọc kẽm dài sáu mươi phân xuống đất. Chọn đúng vị trí mà Khải đã đánh dấu bằng bột vôi trắng, Bảo tì chân giữ chặt thân cọc cắm sâu vào lớp đất nén lẫn đá sỏi, hai tay ghì chặt chiếc búa cao su hạng nặng nện từng nhát chắc nịch: *thùm, thùm, thùm*. Âm thanh đục ngầu, trầm đục vang lên đều đặn giữa màn đêm. Ở phía đối diện, Tùng nhanh nhẹn quấn nút dây dù chịu lực theo kiểu thắt nút số tám chuyên dụng—kỹ thuật nút dây cứu hộ mà Khải đã bắt cả nhóm phải thực hành thắt mù trong phòng tối suốt cả tuần trước. Tấm bạt rằn ri chống thấm dày dặn, được tráng một lớp cao su non chống gió lùa, nhanh chóng được kéo căng hết cỡ. Dưới bàn tay chốt tăng đơ điêu luyện của Mai Anh, tấm bạt đứng sững như một bức tường thành kiên cố cao một mét tám, uốn cong theo góc chữ L bao bọc lấy một khoảng không gian vuông vức rộng chừng hai mươi mét vuông, triệt tiêu gần như hoàn toàn những luồng gió xoáy hung hãn cuộn lên từ vực đá Bãi Bắc.
Dựng xong tấm chắn gió, Khải không hề nghỉ tay lấy một giây. Cậu thoăn thoắt bước ngay tới chiếc thùng xốp cách nhiệt cỡ lớn được chằng buộc cẩn thận ở góc đuôi xe bán tải. Mở nắp thùng, Khải lôi ra chiếc ẩm kế điện tử có gắn đầu dò cảm biến độ nhạy cao và một cuốn sổ tay bìa bọc da gáy xoắn dày cộp. Dưới vệt sáng đỏ của đèn đeo trán, ánh tinh thể lỏng hiện lên rõ nét: nhiệt độ môi trường hiện tại là 15,8 độ C; độ ẩm tương đối của không khí đạt mức 56%.
“Độ ẩm cực kỳ lý tưởng, đúng như kịch bản mô phỏng khí tượng tối ưu nhất,” Khải vừa nói vừa dùng ngòi bút bi kỹ thuật ghi nhanh hai con số vào cột đầu tiên của trang nhật ký hiện trường. Cậu ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc sảo rà soát cẩn thận từng chiếc hộp nhựa kín khí bảo quản linh kiện đang được xếp ngay ngắn trên thảm cỏ: “Hai mươi gói hút ẩm silica gel loại hạt chỉ thị màu xanh đặt trong hộp chứa thị kính và lăng kính đảo ảnh vẫn giữ nguyên màu lam sẫm, chưa có hạt nào ngả sang màu hồng phấn hay trắng đục. Khoang chứa ống kính phản xạ và cảm biến CCD vẫn duy trì mức nhiệt độ tương đương nhiệt độ môi trường, không có hiện tượng sốc nhiệt gây đọng sương trên bề mặt quang học. Em phân công lịch trực nhật ký môi trường: cứ tròn mười lăm phút một lần, em sẽ bấm đồng hồ, đo và ghi lại chính xác nhiệt độ và độ ẩm ở ba vị trí trọng yếu: tâm bệ kính xích đạo, mép loa chắn sương của ống kính và bên trong lều điều khiển trung tâm. Nếu độ ẩm tương đối vượt quá ngưỡng bảy mươi phần trăm hoặc hướng gió đột ngột xoay quá ba mươi độ thốc thẳng vào cửa thu sáng, em sẽ lập tức phát tín hiệu cảnh báo cấp một để toàn đội xử lý sưởi nhiệt dự phòng.”
Hoàng Thư đứng lặng bên cạnh, chứng kiến cậu em khóa dưới tỉ mỉ rà soát từng mối nối dây bạt, kiểm tra từng con ốc vít và cặm cụi ghi chép từng chỉ số môi trường với một thái độ nghiêm cẩn tuyệt đối của một kiểm toán viên kỹ thuật. Khóe môi cô khẽ cong lên thành một nét cười nhẹ nhõm, ấm áp. Đã qua rồi cái thời Thư phải một mình ôm đồm mọi việc từ việc vặn từng cái ốc, kiểm tra từng cọng dây điện cho đến việc gắt gỏng nghi ngờ năng lực của từng người chung quanh—thói quen độc đoán từng đẩy cô vào trạng thái kiệt quệ thần kinh và suýt chút nữa khiến câu lạc bộ thiên văn tan rã trong cay đắng. Giờ đây, Thư hiểu rằng sức mạnh của một dự án khoa học không nằm ở sự toàn năng của một cá nhân, mà nằm ở sự phân bổ chuẩn xác trách nhiệm cho những người đồng đội có đủ năng lực và lòng tận tụy.
Cô bước lại gần, vỗ nhẹ bàn tay đeo găng lên vai Khải:
“Hậu cần và an toàn bãi đo giao trọn vẹn cho cậu. Bọn chị bắt đầu bước cân chỉnh hệ thống quang học.”
Tại vị trí trung tâm của khoảng đất đã được che chắn gió kín đáo, Trần Minh Tùng đã cẩn thận hạ cụm chân ba chạc bằng hợp kim duralumin gia cố giằng tam giác xuống ba tấm đệm cao su đặc chống lún và triệt tiêu rung động địa chấn vi mô. Chiếc kính thiên văn phản xạ chuẩn Newton với đường kính gương sơ cấp 150mm, tiêu cự 750mm khoác lên mình lớp sơn kim loại màu xanh thẫm được đặt vững chãi lên đầu bệ đỡ xích đạo kiểu Đức. Toàn bộ kết cấu nặng hơn mười lăm kilôgam đứng sừng sững, đầm chắc như một khối đá tảng, không hề có lấy một ly rung rinh dù ngoài kia, những rặng phi lao cổ thụ cách đó vài chục mét vẫn đang gào rú dưới từng đợt gió rít của biển đêm.
Đôi mắt cận thị nặng của Tùng sáng lấp lánh sau lớp tròng kính dày cộp. Cậu quỳ một chân trên tấm thảm xốp cách ẩm, cẩn thận mở chiếc hộp nhôm phay màu xám bạc vừa được hoàn thiện tại xưởng điện tử Minh Quang của ba cậu cách đây ba ngày. Chiếc hộp nhôm này chính là kết tinh xương máu của hàng chục giờ miệt mài thức trắng, là câu trả lời đanh thép của Tùng sau sự cố chập mạch cháy nổ đầy cay đắng ở chuyến đi trước.
Từng cạnh của hộp nhôm đều được phay rãnh cơ khí tinh xảo, lồng dải gioăng cao su silicone chịu mặn đạt chuẩn kháng nước IP65. Bên trong, các chân linh kiện trên bo mạch đồng hồ thời gian thực RTC DS3231 và mạch điều khiển vi bước chuyên dụng A4988 đã được Tùng dùng mỏ hàn mũi kim tỉ mỉ nới rộng khoảng cách cách điện tối thiểu 1,2 milimét, toàn bộ bề mặt mạch in được phủ quét ba lớp sơn vec-ni cách điện trong suốt bóng loáng nhằm ngăn chặn tuyệt đối hiện tượng ion muối biển ăn mòn hay đoản mạch do hơi ẩm ngưng tụ. Đặc biệt hơn cả, ở đáy khoang nhôm, Tùng đã khéo léo tích hợp một thanh điện trở nhiệt mini công suất 5W nối trực tiếp với cảm biến nhiệt độ kỹ thuật số, được lập trình tự động kích hoạt nhằm duy trì nhiệt độ bên trong hộp luôn cao hơn môi trường bên ngoài từ 3 đến 5 độ C, tạo thành một vùng áp suất dương ngăn chặn hơi ẩm xâm nhập.
Bằng những ngón tay thon dài, khéo léo và nhẫn nại như một người thợ sửa đồng hồ cơ khí cổ điển, Tùng gắn hộp điều khiển vào ngàm trượt trên thân bệ xích đạo, siết chặt hai chiếc ốc vít bằng thép không gỉ M4. Cậu cẩn thận luồn sợi dây đai răng cao su cốt sợi thủy tinh qua rãnh bánh đà của trục cực (Right Ascension - Xích kinh), nối đồng trục với đầu ra của cụm động cơ bước NEMA-17 góc bước 1,8 độ.
“Trục cực đã được ngắm chuẩn trực qua kính ngắm cực, hướng thẳng tắp về cực bắc thiên cầu với độ lệch góc phương vị nhỏ hơn mười phút cung,” Tùng lẩm bẩm trong miệng, giọng nói vẫn mang nét rụt rè, bẽn lẽn thường ngày nhưng bên dưới âm sắc ấy đã là một sự tự tin vững chãi của một kỹ sư trẻ thực sự làm chủ cỗ máy của mình. “Hệ thống truyền động trục vít - bánh vít có tỷ số truyền chuẩn xác một phần một trăm. Thuật toán nhúng trên vi điều khiển đã kích hoạt chế độ điều xung vi bước ở mức một phần mười sáu, tương đương ba ngàn hai trăm xung cho một vòng quay hoàn chỉnh của trục động cơ. Với mật độ bước này, hiện tượng giật bước cơ học sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn dưới ngưỡng nhiễu của mắt kính, tốc độ quay của trục xích kinh sẽ bám sát tuyệt đối theo vận tốc tự quay mười lăm độ mỗi giờ của Trái Đất.”
Bảo và Mai Anh đứng nín thở ngay bên cạnh, chăm chú dõi theo từng cử động nhỏ của Tùng. Bảo nhận thấy những ngón tay của bạn mình khẽ run rẩy khi ngón trỏ đặt lên chiếc công tắc bập bênh bọc vỏ cao su chống nước nằm ở góc hộp điều khiển. Đó không phải là sự run rẩy của nỗi sợ hãi hay thiếu tự tin, mà là sự run rẩy thiêng liêng của một người sáng tạo trước thời khắc đánh thức sinh mệnh cho một tác phẩm cơ điện tử mà mình đã dồn trọn tâm can để chế tác.
*Tách.*
Tiếng công tắc cơ khí bật mở khô giòn, dứt khoát vang lên giữa không gian tĩnh mịch.
Một bóng đèn LED cực nhỏ phát ra ánh sáng đỏ dịu nhẹ bên hông hộp nhôm lập tức bừng sáng. Không có tia lửa điện nào lóe lên trong bóng tối. Không có mùi khét lẹt kinh hoàng của chất bán dẫn bị quá dòng thiêu rụi như trong đêm thực địa tháng trước. Thay vào đó, một tiếng vo ve trầm ấm, êm ả và cực kỳ đều đặn, tựa như nhịp thở khoan thai của một sinh linh tí hon, bắt đầu phát ra từ cụm động cơ bước. Sợi dây curoa răng khẽ siết lại, bánh đà trục cực bắt đầu nhích từng phần nghìn milimét một cách mượt mà, tĩnh lặng và chuẩn xác đến mức nếu không nhìn thật sát vào vạch khắc vi sai, người ta ngỡ như bệ kính vẫn hoàn toàn bất động.
“Hệ thống bám nhật động đã kích hoạt thành công!” Tùng thở phào một hơi thật dài, lồng ngực cậu phập phồng sau chuỗi giây phút nín thở căng thẳng. Cậu ngẩng mặt lên nhìn Bảo, đôi mắt sau tròng kính lấp lánh một niềm kiêu hãnh giản dị, thuần khiết: “Dòng tiêu thụ điện duy trì ổn định ở mức không phẩy tám am-pe. Nhiệt độ khoang mạch sưởi ấm đạt ba mươi mốt độ C. Toàn bộ cơ cấu truyền động đã đồng bộ với nhịp quay của vòm trời rồi, Bảo ơi!”
“Cậu làm tuyệt vời lắm, Tùng!” Bảo thì thầm, bàn tay siết chặt lấy bờ vai rắn rỏi của bạn mình. Một luồng nhiệt nóng ấm dâng trào trong lồng ngực cậu, quét sạch cái giá lạnh buốt giá của gió biển đang gầm gào ngoài kia. Cậu ngước mắt nhìn lên chiếc kính phản xạ thân xanh: giờ đây, cỗ máy bằng kim loại thô ráp, được chắp vá từ những linh kiện cơ khí cơ bản và sự kiên trì phi thường, đã thực sự trở thành một phần nối dài của đôi mắt và trí tuệ con người, sẵn sàng vươn tầm nhìn vượt qua không gian bao la để đón nhận những hạt photon cổ xưa phát ra từ những tinh cầu cách xa Trái Đất hàng triệu triệu cây số.
“Đến phần việc của chúng ta rồi, Bảo,” Thư khẽ nhắc nhở, giọng nói của cô trầm tĩnh nhưng toát lên sự tập trung cao độ của một nhà nghiên cứu bước vào giai đoạn quyết định của thực nghiệm.
Bảo gật đầu dứt khoát, kéo chiếc ghế xếp dã ngoại lại gần bên cạnh bệ kính. Trên chiếc bàn nhôm gấp gọn đặt sát mép bạt chắn gió, Mai Anh đã trải phẳng phiu tập bản đồ sao chi tiết in trên giấy nhám chống chói mà cô và Thư đã cặm cụi đối chiếu, vẽ lại từng tọa độ thiên văn suốt nhiều tuần lễ. Bảo bật chiếc đèn soi ánh sáng đỏ đeo ở cổ tay, vặn núm chiết áp để luồng sáng thu lại thành một quầng tròn nhỏ hẹp, vừa đủ để làm nổi bật các đường lưới tọa độ xích kinh - xích vĩ và các cấp sao mà không làm lóa mắt.
Mục tiêu khoa học tối thượng của đêm quan sát hôm nay nằm ở chòm sao Anh Tiên (Perseus), hiện đang treo lơ lửng ở góc cao gần sáu mươi độ so với đường chân trời phía tây bắc: hệ sao đôi che khuất Beta Persei, hay còn được các nhà thiên văn cổ đại Ả Rập đặt cho cái tên đầy ma mị—sao Algol, nghĩa là “Con Mắt của Quỷ”.
Bảo ghé sát mắt vào ống kính ngắm phụ finderscope 6x30 đã được cân chỉnh đồng trục tuyệt đối với gương sơ cấp từ chập tối. Cậu cẩn thận nhả nhẹ núm hãm trục xích vĩ, hai tay nhẹ nhàng ôm lấy thân ống kính, điều hướng cỗ máy quang học lướt đi êm ái trên bầu trời đêm, băng qua dải sáng mờ ảo của Ngân Hà mùa đông. Dưới trường nhìn rộng của kính tìm kiếm, một chuỗi các ngôi sao sáng màu lam ngọc hiện ra rõ nét, kết nối thành hình một nhánh cây cong cong đặc trưng của chòm sao Anh Tiên.
“Chị Thư, em đã bắt được hình thái chòm sao Anh Tiên,” Bảo thông báo nhỏ nhẹ, mắt vẫn dán chặt vào thị kính chữ thập. “Đang dùng ốc vi chỉnh đưa ngôi sao sáng nhất của nhánh phía nam—Beta Persei—tiến dần vào giao điểm của hồng tâm.”
“Lưu ý đặc biệt việc nhận diện các ngôi sao so sánh trong cùng trường nhìn,” Thư đứng sát ngay sau lưng Bảo, tay lật giở trang bản đồ sao của Mai Anh, cẩn thận soi lại từng thông số đo đạc: “Nguyên lý cốt lõi của phép trắc quang vi sai (differential photometry) là chúng ta không bao giờ được phép đo cường độ sáng tuyệt đối của Algol một cách độc lập, bởi vì sự dao động của độ trong suốt khí quyển và độ ẩm vùng biển sẽ làm sai lệch hoàn toàn giá trị độ sáng thực. Cấp sao biểu kiến của Algol dự kiến sẽ sụt giảm mạnh từ hai phẩy một xuống ba phẩy bốn khi ngôi sao thứ cấp mờ hơn lướt qua che khuất ngôi sao chính sáng hơn. Sự sụt giảm ấy chỉ có giá trị khoa học tin cậy khi chúng ta đặt nó trong tương quan so sánh liên tục với các ngôi sao chuẩn có độ sáng tuyệt đối ổn định nằm ngay trong cùng một khung hình.”
“Em nhớ rất rõ,” Bảo đáp lời, tay chậm rãi xoay nhẹ núm tinh chỉnh trục xích kinh. Cậu cẩn thận đối chiếu từng chấm sáng trên bản vẽ tay tỉ mỉ của Mai Anh với hình ảnh thực tế đang hiện ra sống động qua thị kính thị trường rộng Plössl 25mm.
Trên bản đồ trực quan của Mai Anh, trường nhìn của chiếc kính tiêu cự 750mm khi kết hợp với kích thước cảm biến máy ảnh tương đương với một góc tròn khoảng một phẩy năm độ trên bầu trời. Trong cái vòng tròn giới hạn nhỏ hẹp ấy, Mai Anh đã dùng mực phát quang màu đỏ đánh dấu ba vị trí trọng yếu không thể tách rời: tâm điểm chính là Beta Persei (Algol); chếch về hướng bắc một góc khoảng năm mươi phút cung là sao so sánh chuẩn số một—Gamma Persei, một ngôi sao khổng lồ màu vàng nhạt với cấp sao biểu kiến cực kỳ ổn định ở mức 2,9; và dịch xuống mép dưới của trường nhìn là ngôi sao so sánh kiểm chứng Rho Persei.
Bảo kiên nhẫn dịch chuyển từng vạch khắc vi sai trên bệ đỡ. Cậu không còn sự nôn nóng, vội vã của một cậu học trò mới chập chững bước vào câu lạc bộ thiên văn. Từng cử động của các khớp ngón tay cậu giờ đây trở nên mềm mại, chuẩn xác và mang một sự trân trọng tuyệt đối đối với trạng thái cân bằng cơ học mong manh của cỗ máy.
Đốm sáng màu trắng xanh rực rỡ của Algol từ từ trượt vào vị trí một phần ba bên trái của thị kính. Ngay phía trên nó, đốm sáng vàng cam điềm đạm, vững chãi của Gamma Persei hiện ra sắc lẹm, không một chút nhòe mờ. Và ở góc đối diện bên dưới, ngôi sao kiểm chứng Rho Persei lấp lánh như một người giám sát trung thực, sẵn sàng làm thước đo đối chứng để loại trừ mọi sai số quang học và khí quyển.
“Cả ba ngôi sao mục tiêu đã nằm trọn vẹn bên trong trường nhìn một phẩy năm độ!” Bảo khẽ reo lên, một làn hơi trắng mỏng manh thoát ra từ khóe môi cậu tan nhanh vào không khí buốt giá. “Ảnh điểm của cả ba ngôi sao đều tròn xoe, hội tụ cực kỳ sắc nét, hoàn toàn không có hiện tượng méo hình đuôi sao (coma) ở rìa thấu kính hay hiện tượng biến dạng do lệch tâm gương!”
Thư cúi thấp người, ghé mắt vào thị kính quan sát chăm chú suốt mười giây đồng hồ. Đôi lông mày thanh tú của cô khẽ giãn ra, ánh mắt ánh lên một vẻ thán phục kín đáo xen lẫn niềm tự hào không giấu giếm:
“Kỹ năng định vị và căn chỉnh trường nhìn của em tiến bộ vượt bậc đấy, Bảo. Khoảng không gian xung quanh ba ngôi sao hoàn toàn sạch nhiễu sáng cục bộ, không có bất kỳ sao tối nền nào có nguy cơ làm lẫn quang thông. Khóa chặt các núm hãm chuyển động vi sai lại!”
Bảo nhẹ nhàng siết chặt hai núm khóa bằng đồng thau. Nhiệm vụ định vị quang học trực quan đã hoàn thành mỹ mãn.
Thư cẩn thận nhấc thị kính Plössl ra khỏi bộ giữ tiêu cự, nhường chỗ cho chiếc máy ảnh thiên văn sử dụng cảm biến CCD chuyên dụng làm mát bằng điện tử mà cô Hà đã bảo lãnh mượn từ phòng thí nghiệm quang học của trường đại học. Thân máy ảnh hình trụ bằng hợp kim nhôm sơn đen mờ được vặn chặt vào ngàm chuyển T-ring với một tiếng ren kim loại khít khao. Sợi cáp truyền tín hiệu bọc lưới dù màu đen nối từ đuôi máy ảnh được luồn cẩn thận qua khe hở của vách bạt chắn gió, cắm thẳng vào cổng USB tốc độ cao của chiếc máy tính xách tay chuyên dụng đặt trên bàn dã ngoại trong lều điều khiển.
Cô Hà bước vào bên trong lều bạt, kéo chiếc ghế gấp ngồi xuống bên cạnh bàn điều khiển. Màn hình máy tính xách tay đã được cô cài đặt chế độ lọc sắc tố đỏ thẫm toàn phần nhằm triệt tiêu hoàn toàn ánh sáng xanh có hại cho mắt.
“Hệ thống tản nhiệt điện tử peltier của cảm biến CCD đã hạ nhiệt độ tấm silicon xuống âm mười độ C so với môi trường,” cô Hà kiểm tra thanh trạng thái phần mềm thu nhận hình ảnh, giọng nói điềm tĩnh, ấm áp vang lên qua khe bạt. “Mức nhiệt độ âm sâu này sẽ giúp triệt tiêu gần như toàn bộ dòng tối (dark current) và nhiễu nhiệt nội tại của cảm biến. Tùng, kiểm tra lại nhịp truyền động của hộp bám trời lần cuối trước khi chúng ta bắt đầu kích hoạt phơi sáng.”
Tùng áp sát tai vào lớp vỏ nhôm của hộp điều khiển, lắng nghe từng nhịp xung vi bước gõ đều đặn như tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc: “Cụm truyền động vận hành êm tuyệt đối, không có hiện tượng trượt răng hay rung cộng hưởng ở tần số thấp.”
“Thông số chụp: thời gian phơi sáng cho mỗi khung hình là hai mươi giây, khoảng thời gian chờ ghi dữ liệu vào bộ đệm và tản nhiệt cảm biến là mười giây giữa các khung,” Thư ngồi trước bàn phím máy tính, ngón trỏ đặt hờ lên phím cách (Spacebar). Cô ngẩng lên nhìn lướt qua bốn gương mặt đồng đội đang vây quanh mình dưới ánh sáng đỏ mờ ảo: “Đêm nay, chúng ta sẽ ghi lại trọn vẹn pha cực tiểu chính của sao Algol. Chuỗi đo đạc thực nghiệm bắt đầu: khung hình số một!”
Phím bấm gõ nhẹ một tiếng *tách*.
Cả không gian bãi quan sát Bãi Bắc chìm vào sự im lặng tuyệt đối. Chỉ còn lại tiếng rì rào muôn thuở của sóng biển vỗ vào chân vách đá ngầm dưới vực sâu và tiếng rù rù cực nhỏ, bền bỉ của cụm động cơ bước NEMA-17 đang quay từng vi bước tinh vi. Chiếc kính thiên văn Newton như một pháo đài thép kiên định, kiêu hãnh xoay ngược lại một cách chuẩn xác với chuyển động tự quay của tinh cầu, giữ cho chùm ánh sáng yếu ớt vượt qua hàng triệu tỷ kilômét không gian từ chòm sao Anh Tiên liên tục hội tụ đúng vào từng giếng điện tích trên bề mặt cảm biến silicon.
Hai mươi giây trôi qua dài như một thế kỷ của sự chờ đợi thắc thỏm.
Màn hình máy tính chớp nhẹ một cái. Thanh tiến trình tải dữ liệu chạy vụt qua, và khung hình ảnh thô đầu tiên mang định dạng FITS hiện ra trước mắt cả nhóm.
Bảo nín thở ghé sát đầu vào màn hình. Đó không phải là một bức ảnh thiên văn rực rỡ, lung linh với những dải tinh vân màu mè thường thấy trên các tạp chí khoa học đại chúng. Bức ảnh thô xuất hiện trên nền đen xám xịt, lấm tấm vô số hạt nhiễu li ti màu muối tiêu do bức xạ phông nền khí quyển vùng duyên hải. Nhưng nổi bật giữa nền nhiễu xám xịt ấy, ba đốm sáng hiện lên tròn trịa, sắc nét và cô đọng đến kinh ngạc.
Chúng không hề bị kéo dài thành những vệt gạch mờ căm do bệ kính bị rung hay trôi dạt như trong chuyến đi thất bại lần trước! Cơ cấu bám trời tự chế từ những mảnh nhôm phay ve chai và bo mạch của Tùng đã hoạt động xuất sắc ngoài sức tưởng tượng, ghim chặt ba đốm sáng cố định tại đúng các tọa độ điểm ảnh (pixel) suốt hai mươi giây phơi sáng liên tục.
“Ảnh điểm hoàn toàn đẳng hướng, không bị vệt sao kéo dài!” Tùng khẽ reo lên, hai bàn tay cậu nắm chặt lại run lên bần bật vì xúc động. “Sai số trôi dạt cơ học đo được trên trục xích kinh nhỏ hơn không phẩy hai mươi lăm pixel!”
“Khung hình số một đạt chuẩn khoa học tuyệt đối,” Thư thở phào nhẹ nhõm, một nụ cười rạng rỡ, tươi tắn bừng nở trên gương mặt vốn luôn đăm chiêu, căng thẳng của cô suốt nhiều tuần qua. “Giá trị độ sáng kỹ thuật số (ADU) ở tâm điểm của Algol đạt mức bão hòa bảy mươi phần trăm dung lượng giếng điện tích, Gamma Persei đạt năm mươi lăm phần trăm. Tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu (SNR) cực kỳ lý tưởng cho thuật toán trắc quang khẩu độ vi sai!”
Khải đứng ngay cạnh cửa lều, liếc nhanh ánh mắt xuống chiếc đồng hồ bấm giờ thể thao trên cổ tay: “Thời điểm ghi nhận khung hình số một: hai mươi ba giờ mười lăm phút. Nhiệt độ môi trường mười bốn phẩy hai độ C, độ ẩm năm mươi tám phần trăm. Toàn bộ các thông số kỹ thuật và môi trường hoàn toàn ổn định. Chuyển hệ thống sang chế độ thu thập chuỗi dữ liệu tự động!”
Thời gian trên đỉnh dốc Bãi Bắc như lắng đọng lại, chỉ còn lại nhịp điệu vận hành bền bỉ của cỗ máy quang học và nhịp đập rộn ràng của những trái tim tuổi trẻ.
Cứ đúng ba mươi giây một lần, máy ảnh lại lặng lẽ ghi nhận một khung hình mới. Khung số mười... khung số hai mươi lăm... khung số năm mươi...
Khải thực hiện nhiệm vụ của một người chỉ huy hiện trường với sự chuẩn xác lạnh lùng của một chiếc đồng hồ bấm giờ. Cứ mười lăm phút một lần, không sai lệch một giây, cậu lại cầm đèn pin đỏ đi một vòng quanh bãi đo, kiểm tra từng chiếc cọc neo bạt, dùng chiếc khăn sợi vi mảnh mềm mại lau nhẹ lớp sương mỏng vừa chớm đọng trên lớp vỏ ngoài của ống kính, cẩn trọng tuyệt đối không để ngón tay chạm vào bất kỳ ốc chỉnh quang hay núm lấy nét nào.
Cuốn sổ tay hiện trường của Khải dần dần phủ kín những dòng số liệu nắn nót, ghi chép chi tiết sự sụt giảm từng nửa độ C của nhiệt độ và sự nhích lên từng phần trăm của độ ẩm không khí theo thời gian. Đó không đơn thuần là những trang giấy ghi chép thủ tục, mà chính là bằng chứng đanh thép chứng minh tính trung thực, sự chuẩn mực và kỷ luật khoa học của dự án—những phẩm chất khắt khe mà Tiến sĩ Đặng Hải Yến đã đòi hỏi ở họ trong buổi bảo vệ đề cương hồi đầu năm học.
Ở góc bàn dã ngoại, Mai Anh cặm cụi mở cuốn Nhật ký quan sát trực quan bọc vải dù. Dưới ánh đèn đỏ dịu nhẹ, ngòi bút chì kỹ thuật 0.5mm của cô lướt nhẹ nhàng trên hệ trục tọa độ Descartes đã được kẻ sẵn trên giấy can định lượng dày. Mỗi khi Thư chạy xong thuật toán trắc quang sơ bộ trên máy tính và đọc to lên một giá trị tỷ lệ thông lượng ánh sáng tương đối giữa Algol và Gamma Persei, Mai Anh lại cẩn thận chấm một dấu chấm nhỏ đen nhánh lên mặt giấy.
Bảo đứng tựa vào mép bàn bên cạnh Mai Anh, lặng lẽ dõi theo từng dấu chấm ấy nối tiếp nhau thành hình. Ban đầu, từ hai mươi ba giờ đến nửa đêm, các chấm dữ liệu gần như nằm dàn hàng ngang trên một đường thẳng bằng phẳng—hệ sao đôi Algol vẫn đang ở trạng thái phát sáng toàn phần ổn định. Nhưng khi kim đồng hồ nhích dần sang không giờ ba mươi phút sáng, những chấm đen bắt đầu trượt dốc.
Đường cong ánh sáng (light curve) của sao Algol đang cắm đầu đi xuống một cách rõ rệt, vẽ nên một sườn dốc thoai thoải, mềm mại và tráng lệ trên trang giấy kẻ ô—pha cực tiểu che khuất chính đang diễn biến sống động ngay trước mắt họ! Ngôi sao thứ cấp mờ hơn, lạnh hơn và có kích thước lớn hơn trong hệ sao đôi đang từ từ tiến vào vị trí nằm chắn giữa Trái Đất và ngôi sao chính sáng chói, che khuất dần diện tích phát quang rực rỡ và nuốt chửng một phần quang thông phát ra vào vũ trụ bao la.
“Các cậu nhìn xem này...” Bảo thì thầm, giọng nói của cậu khẽ run lên vì một niềm xúc động choáng ngợp trào dâng từ đáy lòng. Cậu chỉ ngón tay run run vào sườn dốc của đồ thị đang hiện hình dưới ngòi bút của Mai Anh: “Chúng ta đang thực sự nhìn thấy vũ điệu quay quanh nhau của hai ngôi sao nằm cách Trái Đất chín mươi ba năm ánh sáng... bằng một cỗ kính phản xạ cũ kỹ và chiếc hộp điều khiển tự hàn của Tùng.”
Mai Anh ngước mắt lên nhìn Bảo. Dưới ánh sáng đỏ huyền ảo của chiếc đèn bàn, đôi mắt đen láy của cô gái phản chiếu những tia sáng lấp lánh, ấm áp. Cô mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ, trút bỏ hoàn toàn sự dè dặt hay âu lo từng đè nặng tâm trí:
“Và bằng cả sự kiên nhẫn, lòng tin cậy mà chúng ta dành cho nhau nữa, Bảo à.”
Chuỗi đo đạc thực nghiệm kéo dài suốt hai tiếng đồng hồ liên tục mà không gặp phải bất kỳ một sự cố hay sai lệch kỹ thuật nào. Cụm động cơ bước NEMA-17 của Tùng vẫn cần mẫn quay từng vi bước siêu vi, bánh răng trục vít ngâm ngập trong lớp mỡ silicon chịu nhiệt vận hành êm ru, giữ vững tâm trường ngắm của cỗ kính thiên văn như một mỏ neo thép cắm chặt vào bầu trời đêm Sơn Trà.
*Tách... tít.*
Tiếng chuông báo hiệu thanh mảnh của phần mềm thu thập hình ảnh vang lên giữa không gian tĩnh mịch của đêm khuya.
Thư đưa tay ấn nút lưu toàn bộ tiến trình đo đạc. Một hàng chữ màu xanh lá cây đậm nổi bật hiện lên trên nền đen của màn hình máy tính: *Đã hoàn thành 120/120 khung hình phơi sáng chuẩn FITS.*
“Chuỗi dữ liệu thô đã được thu thập trọn vẹn một trăm phần trăm!” Thư đứng bật dậy, giọng cô nghẹn lại vì một niềm vui sướng vỡ òa không thể kìm nén. “Một trăm hai mươi khung hình, độ phơi sáng hai mươi giây mỗi khung, không mất hay hỏng một khung hình nào do rung lắc cơ học hay trôi dạt trường nhìn!”
Một tiếng reo vui bị kìm nén suốt cả đêm lập tức bật ra từ lồng ngực của cả năm thành viên. Tùng nhảy chồm tới ôm chặt lấy Bảo, Khải vung tay đập mạnh vào bả vai Tùng khiến cậu bạn suýt chúi người về phía trước trong tiếng cười rộn rã, còn Mai Anh nắm chặt lấy cả hai bàn tay của Thư, lắc mạnh đầy phấn khích. Cô Hà đứng ở cửa lều bạt, hai tay khoanh nhẹ trước ngực, ánh mắt rạng ngời lấp lánh niềm kiêu hãnh và sự xúc động vô bờ khi nhìn đàn học trò của mình đã thực sự trưởng thành qua ngọn lửa thử thách của khoa học thực nghiệm.
Thế nhưng, Khải vẫn là người đầu tiên kéo cả đội trở lại với kỷ luật hiện trường. Cậu giơ cao chiếc ẩm kế điện tử lên trước mặt, giọng nói lập tức chuyển sang âm sắc đanh gọn, nghiêm nghị:
“Toàn đội chú ý! Hiện tại là một giờ bốn mươi lăm phút sáng. Nhiệt độ môi trường đã tụt dốc xuống mười một độ C, và độ ẩm không khí vừa chạm ngưỡng bảy mươi lăm phần trăm! Gió biển đang đổi hướng, mang theo màn sương ẩm bão hòa tràn qua vách đá Bãi Bắc rồi. Mọi người nhìn lên thân kính kìa!”
Bảo vội vã lia vệt đèn pin đỏ về phía bệ kính xích đạo. Quả nhiên, một lớp hơi ẩm mỏng manh, lạnh buốt như làn khói bạc mờ ảo đã bắt đầu ngưng tụ, bám một lớp màng mờ đục lên lớp sơn kim loại của thân kính Newton và viền ngoài của loa chắn sương. Bán đảo Sơn Trà đang bắt đầu phô bày sự khắc nghiệt đặc trưng của khí hậu duyên hải khi đêm về sáng.
“Toàn đội kích hoạt quy trình thu dọn khẩn cấp và bảo quản dữ liệu gốc!” Thư lập tức ra lệnh, phối hợp nhịp nhàng và chuẩn xác với cảnh báo của Khải.
Không có một giây phút nào bị lãng phí, không có một động tác thừa thãi hay sự hỗn loạn nào xảy ra. Tùng nhanh tay ngắt công tắc nguồn điện trở sưởi và bộ điều khiển bám trời, cẩn thận tháo rời cụm động cơ NEMA-17, đặt vào trong hộp chống sốc lót mút xốp định hình rồi siết chặt nắp khóa. Thư và Bảo phối hợp nhịp nhàng: một người giữ thân máy ảnh CCD, một người vặn mở ngàm T-ring, lập tức lắp nắp che bụi bằng nhôm chuyên dụng để bảo vệ tuyệt đối cửa sổ quang học của cảm biến khỏi hơi nước biển.
Chiếc thẻ nhớ tốc độ cao chứa toàn bộ một trăm hai mươi tệp dữ liệu FITS vô giá—thành quả kết tinh từ hàng trăm giờ lao động miệt mài, những giọt mồ hôi trong xưởng cơ khí và cả những giọt nước mắt thất bại—được Thư cẩn trọng rút ra khỏi khe cắm, trân trọng trao tận tay cho Mai Anh. Mai Anh đặt ngay chiếc thẻ nhớ vào bên trong một chiếc túi zip chống ẩm chuyên dụng có sẵn hạt silica gel, rồi cất gọn gàng vào ngăn chống sốc có khóa kéo an toàn của chiếc vali kỹ thuật số một.
Ở bên ngoài, Khải và Bảo cùng nhau trùm tấm bạt phủ tráng bạc cách nhiệt chuyên dụng phủ kín toàn bộ thân ống kính thiên văn, siết chặt các dây đai bảo hộ quanh bệ đỡ trước khi những giọt sương muối đại dương kịp đọng lại trên bề mặt gương sơ cấp. Từng chiếc cọc thép chữ V, từng cuộn dây dù chịu lực, từng chiếc hộp đựng dụng cụ cơ khí được năm thành viên nhanh chóng thu gom, lau khô, phân loại và xếp đặt ngăn nắp vào thùng xe bán tải trong vòng chưa đầy hai mươi phút đồng hồ.
Khoảng đất trống cạnh trạm khí tượng cũ trở lại nguyên trạng thái ban đầu: sạch sẽ, phong quang và tĩnh lặng, tuyệt đối không để lại một mẩu rác thải, một mẩu đầu dây dù hay bất kỳ dấu vết can thiệp thô bạo nào đối với môi trường sinh thái nguyên sơ của khu bảo tồn bán đảo.
Khi chiếc chốt sắt cuối cùng của nắp thùng xe bán tải được Khải gài chặt với một tiếng *cạch* vang dội, dứt khoát, cả nhóm mới thực sự thở phào một hơi dài, trút bỏ hoàn toàn gánh nặng nghẹt thở đã đè nặng lên tâm trí họ suốt nhiều tháng ròng rã.
Không ai bảo ai, cả năm thành viên cùng chậm rãi bước ra mép khoảng đất trống hướng về phía biển, nơi tấm bạt dã ngoại trải sàn chống thấm vẫn còn nằm lại trên nền cỏ khô ráo, nép mình dưới chân triền đá hoa cương. Cơ thể họ đã mệt nhoài sau một đêm dài căng thẳng vận động và tập trung cao độ, những ngón tay tê buốt vì gió lạnh, nhưng tâm trí của từng người lại nhẹ bẫng, tỉnh táo và thanh thản đến lạ kỳ.
Từng người một—Bảo, Thư, Tùng, Mai Anh và Khải—lặng lẽ ngả lưng nằm xuống tấm bạt dã ngoại dày dặn.
Không còn ánh sáng đỏ nhấp nháy từ màn hình máy tính, không còn những con số nhảy múa của ẩm kế hay tiếng còi lệnh hiện trường. Giờ đây, chỉ còn lại sự bao la vĩ đại và tĩnh lặng vĩnh cửu của vũ trụ trùm phủ lên năm người bạn trẻ.
Gió đêm tháng Giêng vẫn thổi qua triền dốc Bãi Bắc, buốt lạnh nhưng trong lành và tinh khiết vô ngần. Phía trên đầu họ, dải Ngân Hà mùa đông hiện lên mờ ảo như một dải lụa bạc rắc đầy bụi kim cương lấp lánh, vắt ngang qua đỉnh trời từ chòm sao Thiên Hậu hình chữ W kiêu hãnh, xuyên qua chòm sao Anh Tiên sắc sảo rồi đổ dồn về phía chòm sao Lạp Hộ rực rỡ đang ngả dần về phía chân trời tây. Hàng triệu tinh cầu xa xôi đang tỏa sáng trên nền nhung đen sâu thẳm của bầu trời Sơn Trà, tĩnh lặng và kiêu hãnh dõi theo những đứa trẻ dưới mặt đất—những con người nhỏ bé nhưng kiên định, vừa thức trọn một đêm dài để lắng nghe, thấu hiểu và ghi chép lại câu chuyện ánh sáng của một ngôi sao xa xôi cách Trái Đất gần một thế kỷ ánh sáng.
Bảo khẽ nghiêng đầu sang bên cạnh, ngắm nhìn bốn người đồng đội đang nằm kề vai bên mình. Cậu lắng nghe tiếng thở đều đặn, ấm áp và bình yên của họ hòa vào tiếng sóng biển rì rào dưới chân đèo. Bảo biết rất rõ rằng, phía trước họ vẫn còn là một hành trình gian nan đầy thử thách: một trăm hai mươi bức ảnh thô đầy hạt nhiễu kia sẽ đòi hỏi hàng chục giờ miệt mài ngồi trước màn hình để trừ ảnh tối (dark subtraction), chia ảnh phẳng (flat-field division) và tách lọc sai số quang thông; bản báo cáo thực nghiệm chi tiết vẫn đang chờ cậu chắp bút từng trang; và hội đồng phản biện khoa học khắt khe cùng sự cạnh tranh quyết liệt của Đỗ Nhật Nam và Đội Chuyên Nam Phương vẫn đang đợi họ ở phía trước.
Thế nhưng, ngay trong khoảnh khắc này, nằm giữa đất trời Sơn Trà lộng gió, Bảo cảm thấy lồng ngực mình ngập tràn một sự bình yên và kiên định chưa từng có.
Họ đã giành lấy được bầu trời của riêng mình—không phải bằng sự may mắn hay những lời tán dương sáo rỗng, mà bằng chính đôi bàn tay chai sạn, khối óc kiên trì và sự gắn kết không thể tách rời của một tập thể khoa học chân chính.