Căn Bếp Nhỏ Của BàCh.17 / 35
Chapter 17

Làm hòa trong im lặng

Quán Bến Ngự vừa vãn khách buổi ban trưa thì My bước vào, tay bưng chiếc mẹt tre lót lá chuối bốc khói nghi ngút cùng chiếc âu sứ hoa lam đựng chén nước lèo màu nâu sẫm, sánh quyện thơm lừng mùi gan heo và đậu phụng rang vừa độ.

Không gian quán nhỏ lúc này đặc quánh lại trong thứ không khí oi nồng quen thuộc của một gian bếp miền Trung sau buổi chợ đông. Mùi mỡ lợn rán còn đọng lại trên từng thớ gỗ tạp của vách ngăn, quyện chặt lấy hơi nước rửa bát bốc lên từ chái bếp phía sau và thoang thoảng chút tanh nồng ngai ngái của bùn non, tôm cá mạn sông An Cựu theo gió lùa vào. Mấy chiếc bàn gỗ tạp đã được lau qua bằng khăn ướt, trên mặt gỗ nâu xỉn còn loang loáng những vệt nước hình xoắn ốc chưa kịp khô ráo dưới quạt trần quay lờ đờ. Trên chiếc bếp lò đắp bằng đất sét thô ở góc quán, bốn chiếc chảo gang con nằm nghiêng trên giá sắt, lòng chảo đen bóng một lớp mỡ tôi qua bao năm tháng; than đượm trong bụng lò đã được xúc phủ một lớp tro mịn màu xám nhạt để hãm bớt ngọn lửa, ủ hơi nóng âm ỉ chờ cữ khách chiều muộn ghé ăn.

Đỗ Thanh Tâm đang ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp sát chiếc quầy tính tiền ghép bằng ván ép đã sứt sẹo mấy góc. Tay chị thoăn thoắt nhặt từng cuống rau xà lách non, ngắt bỏ những đọt lá úa rồi vớt những lát vả mỏng tang ngâm trong chậu sành pha chút muối loãng và chanh tươi để giữ màu trắng ngà không bị chát xỉn. Nghe tiếng bước chân ngập ngừng trên nền gạch tàu loang lổ những vết dầu mỡ đóng bám theo thời gian, Tâm ngước lên.

Nhìn thấy My, đôi mày rậm của người đàn bà đứng bếp khẽ chau lại thành một nếp gấp sâu hoắm nơi vầng trán hằn in sương gió. Nét mặt chị lập tức dựng lên một vẻ phòng thủ lạnh lùng, xa cách, giống hệt như bức tường thành bằng đá tổ ong rêu phong không một ngọn gió nào lay chuyển nổi. Ánh mắt Tâm trượt từ gương mặt lấm tấm mồ hôi của cô gái trẻ, qua lọn tóc mai bết dính bên thái dương vì hơi nóng than củi, rồi dừng lại trừng trừng trên chiếc mẹt tre con được che đậy cẩn thận bằng chiếc rổ thưa bằng cật tre sạch sẽ.

My không vội vã cất lời. Đứng trước sự im lặng sắc lạnh của người đàn bà đã có hơn ba mươi năm bám trụ bên chiếc chảo gang ven bờ sông, cô hiểu rằng mọi sự lanh lẹ của dân làm văn phòng hay những câu chào hỏi màu mè kiểu xã giao thị thành đều sẽ trở nên lố bịch và vô nghĩa. Cô bước chậm rãi qua từng khoảng sáng tối của gian quán trưa, đến chiếc bàn gỗ gần nhất, nhẹ nhàng đặt chiếc mẹt tre xuống mặt bàn phẳng.

Khi lớp rổ thưa được nhấc ra, một làn khói mỏng mang theo tiếng xèo xèo li ti rất khẽ—dù đã dứt hẳn ngọn lửa nhưng phần viền bánh vẫn còn âm ỉ rạn nở—lập tức lan tỏa trong không khí. Đó là mùi thơm ngào ngạt của bột gạo nướng than hoa, mùi béo ngậy mà tinh khiết của mỡ lợn mới rán, quyện lấy hương the the nhẹ nhàng của gừng sẻ và hành hoa phi giòn. Bốn chiếc bánh khoái hình bán nguyệt nằm ngay ngắn trên nền lá chuối ngự tươi xanh mướt vừa được hơ qua lửa cho mềm và dậy hương. Viền bánh phồng rộp những chấm li ti giòn rụm, màu vàng ruộm của lòng đỏ trứng gà và chút bột nghệ ánh lên sắc sảo dưới luồng ánh sáng ban trưa hắt qua khung cửa sổ. Cạnh đó là chiếc âu sứ hoa lam cũ của bà Lành đựng lưng chén nước lèo màu nâu sẫm, trên bề mặt nổi lên những chấm mỡ màu hổ phách li ti và những hạt mè vàng rang vừa độ, tỏa ra thứ hương thơm đượm nồng mà sâu lắng.

My khép hai bàn tay trước ngực, khẽ cúi đầu chào Tâm theo đúng lễ nghi phép tắc của người nhỏ tuổi đối với bậc đàn chị trong nghề:

"Chị Tâm, em mang bánh sang gửi chị nếm thử như lời chị hẹn hồi sáng."

Tâm không đứng dậy ngay. Chị buông nắm rau vả xuống chậu sành, nước bắn ra sàn gạch mấy giọt đục ngầu. Chị từ từ rút chiếc khăn vải thô vắt ngang vai xuống, lau khô từng ngón tay gầy guộc nhưng chắc nịch—những ngón tay mang dấu vết của một đời đứng bếp than, các đầu ngón chai sạn và móng tay cắt sát. Đôi mắt sắc sảo của người đàn bà Huế buôn bán lâu năm quét một lượt từ mép bánh khoái giòn tróc, màu sắc của con tôm đất đỏ au lấp ló dưới lớp vỏ vàng, cho đến độ sánh mượt của chén nước lèo trong âu sứ hoa lam.

Trong đáy mắt Tâm thoáng qua một tia ngạc nhiên rất khẽ, một sự dao động kín đáo đến mức nếu không quan sát thật kỹ sẽ khó lòng nhận biết. Dường như chị không ngờ một đứa con gái thị thành quen ngồi phòng máy lạnh, gõ bàn phím và vẽ đồ họa tiếp thị như My lại có thể quay trở lại quán sau lời xua đuổi gay gắt đến tàn nhẫn ban sáng. Càng không ngờ rằng, chiếc bánh trên mẹt tre kia lại có hình hài đĩnh đạc, chững chạc và đúng cốt cách của một mẻ bánh khoái cung đình xưa đến nhường này.

Nhưng vẻ mặt Tâm vẫn không giãn ra, chị siết nhẹ chiếc khăn thô trong lòng bàn tay, cất giọng bằng chất giọng Huế rành rọt, từng âm sắc lạnh tanh như nước đáy giếng:

"Tưởng dân Sài Gòn nghe mắng vài câu là tủi thân xách cặp chạy về trỏng rồi chớ? Lại còn kỳ công chiên bánh mang sang đây làm chi? Để chứng minh cái chi? Chứng minh mấy đứa làm quảng cáo các người cái chi cũng nhảy vào làm được, cái chi cũng đem ra kinh doanh kiếm lời được hay răng?"

My hít một hơi thật sâu. Không khí trong lồng ngực cô lúc này có mùi khói than cũ và mùi mỡ rán, thứ mùi vị mà chỉ mới sáu tiếng đồng hồ trước thôi cô còn cảm thấy xa lạ, nhưng giờ đây nó đã thấm vào chân tóc, vào đầu ngón tay còn rát bỏng của chính cô. Cô đón nhận cơn giận còn sót lại của người đối diện bằng sự điềm tĩnh và khiêm nhường tuyệt đối. Cô không còn cảm giác bị tổn thương lòng tự ái như lúc sáng nữa. Đứng trước chiếc chảo gang và đống than hoa đỏ rực suốt buổi trưa cùng Thiện, nếm trải ba lần thất bại cay đắng—lần đầu bánh nhão nhoét vì tham đổ dày bột và lửa non, lần thứ hai viền bánh cháy khét đen sì vì than quá đượm mỡ bốc khói, lần thứ ba nước lèo bị đắng nghét vì rang mè quá tay—cô đã thấm thía sức nặng vô hình đè lên đôi vai những người sống bằng nghề bếp truyền thống.

Để có được một chiếc bánh khoái giòn tan không ngấy mỡ, một chén nước lèo vừa miệng hàng trăm thực khách mỗi ngày, người đầu bếp đã phải trả giá bằng cả tuổi xuân bên ngọn lửa than thiêu đốt da thịt, bằng những cơn đau khớp vì đứng chảo và nỗi lo ngay ngáy mỗi khi mẻ bột ủ bị chua hay mẻ ruốc mua nhầm độ mặn.

"Dạ, em không dám nghĩ rứa mô chị," My nói, giọng chân thành, nhỏ nhẹ nhưng từng lời rõ ràng, ấm áp. "Hồi sáng nghe chị mắng, em mới giật mình hiểu ra mình nông cạn chừng nào. Em nấu mẹt bánh ni không phải để phô trương tài nghệ, lại càng không phải để làm rộn nghề bánh của quán Bến Ngự. Em nấu vì trong cuốn sổ của mệ Lành để lại, tên chị và tiệm Bến Ngự nằm ở trang thứ sáu, kèm theo lời dặn: 'chiên cho giòn vỏ, đừng để khét tiếng nghĩa tình'. Em chỉ là đứa cháu muộn màng, xin phép được thay mệ hoàn thành nốt một món ăn tri ân. Em khiêm tốn xin chị nếm thử một miếng. Dù chị chấm đạt hay chê vụng, em cũng xin ghi lòng tạc dạ để học lại từ đầu."

Tâm im lặng nhìn My hồi lâu. Khoảng im lặng giữa gian quán trưa như dầy thêm lên bởi tiếng gió xào xạc luồn qua hàng cây sứ ngoài bờ sông An Cựu. Tiếng nước sông vỗ bì bõm vào những cọc tre cắm ven bờ hắt lên đều đặn. Đôi mắt sắc lẹm của người chủ tiệm dường như đang lục tìm trong ánh mắt của cô gái trẻ một sự giả tạo, một toan tính thị phi hay một nụ cười xã giao xảo quyệt của dân làm thương mại. Nhưng đáp lại cái nhìn soi mói ấy chỉ là sự trong trẻo, chân thật và đôi bàn tay My đang buông nhẹ bên hông—những ngón tay còn hằn đỏ những vết phồng rộp li ti vì mỡ nóng bắn trúng trong lúc lật trở chiếc bánh trên chảo gang ban nãy.

Chậm rãi, Tâm bước tới bàn. Tiếng dép xốp ma sát trên nền gạch tàu phát ra những âm thanh khô khốc. Chị kéo chiếc ghế gỗ mộc đối diện với mẹt bánh, ngồi xuống. Lưng chị thẳng, hai vai hơi gồng lên theo thói quen của người cả đời gánh vác quán xá một mình.

Chiếc bánh khoái nằm trên tàu lá chuối vẫn còn âm ỉ một luồng nhiệt kín đáo. Tâm đưa tay, những ngón tay rám nắng của người thợ già khẽ chạm vào mép bánh. Ngay khoảnh khắc đầu ngón tay ấn nhẹ xuống, một tiếng rôm rốp tinh tế, giòn tan vang lên rất khẽ dưới đầu móng tay.

Đôi đồng tử của Tâm khẽ co lại.

Là người cả đời làm bánh khoái, Tâm hiểu tiếng động ấy nghĩa là gì. Đó không phải là độ giòn cứng, khô khốc của thứ bột pha hàn the hay chiên ngập dầu công nghiệp như mấy quán phục vụ khách du lịch vãng lai ngoài phố lớn. Đó là độ giòn rộp, xốp nhẹ của bột gạo Khang Dân xay ướt được đánh tơi với lòng đỏ trứng gà ta và nước có ga, được ép chín bằng nhiệt than hoa đượm sâu trên lòng chảo gang dày đã được tôi kỹ bằng mỡ lợn thưng ráo. Lớp vỏ ấy mỏng manh như một lớp lụa khô nhưng đủ sức giữ cho phần nhưn bên trong không bị thoát hơi quá nhanh.

Tâm bẻ một góc bánh. Lớp vỏ bên ngoài nứt ra gọn ghẽ, phát ra tiếng tách giòn rụm, để lộ phần ruột xốp mềm, trắng muốt bên trong đang ôm lấy con tôm đất co tròn đỏ au, miếng thịt ba chỉ mỏng tang thái con chì tươm mỡ trong vắt và vài cọng giá đỗ vẫn giữ nguyên độ mọng nước giòn ngọt. Hơi nóng từ ruột bánh ùa ra, mang theo mùi hạt tiêu đen giã dập thoang thoảng.

Tâm cầm miếng bánh khoái, chấm ngập vào chén nước lèo màu nâu sẫm rồi đưa lên miệng.

Ánh mắt người đàn bà sững lại.

Quai hàm chị chuyển động thật chậm, thật cẩn trọng, như thể không phải chị đang nhai một miếng thức ăn thông thường, mà đang lần giở từng lớp ký ức bị thời gian vùi lấp dưới lớp bụi bặm của những cuộc mưu sinh nhọc nhằn suốt ba mươi năm qua.

Miếng vỏ bánh giòn tan vỡ vụn nơi chân răng, nhường chỗ cho vị ngọt đậm đà của thịt tôm đầm phá tươi rói, vị béo mềm tan biến của mỡ ba chỉ và cái thanh mát của cọng giá đỗ tươi. Nhưng chấn động thực sự nằm ở thứ nước chấm đang bao bọc lấy vòm họng chị.

Vị bùi béo ngầy ngậy của gan heo tươi được băm nhuyễn mịn màng hòa lẫn với đậu phụng rang giã dập lan tỏa ngay trên đầu lưỡi, tạo nên một lớp nền dày dặn, ấm áp. Nhưng điều khiến sống lưng Tâm khẽ rùng mình, khiến chân tóc nơi gáy chị gai lên, chính là cái hậu vị nồng ấm, thanh tao mà sâu thẳm của mè rang vàng quyện chặt vào vị ngọt đượm của mắm ruốc ngấu chín ở đáy chum sành—thứ mắm ruốc Thuận An lâu năm được hòa với nước lạnh, đun sôi lăn tăn trên lửa than rồi để lắng cặn suốt nửa giờ đồng hồ mới gạn lấy phần nước trong vắt để ninh nấu cùng tương đậu nành. Không có chút gắt gỏng của bột ngọt, không có vị ngọt lợ lừa dối của đường hóa học, chỉ có sự cân bằng kỳ diệu giữa hỏa của than củi, thổ của đậu mè, và thủy của phù sa sông nước.

Tâm buông nửa miếng bánh còn lại xuống mép đĩa sứ.

Chị ngồi bất động. Bàn tay buông thõng trên mặt bàn gỗ, những ngón tay khẽ co lại như muốn bấu chặt vào một điểm tựa vô hình. Đôi mắt chị dán chặt vào chén nước lèo nâu sánh đang phản chiếu ánh sáng lấp lánh từ khung cửa sổ nhìn ra dòng An Cựu. Đôi vai gầy gò dưới lớp áo vải thô màu nâu sồng khẽ run lên một nhịp ngắn. Sự im lặng bao trùm lấy gian quán, kéo dài tưởng chừng như vô tận, chỉ có tiếng kim chiếc đồng hồ quả lắc treo tường gõ nhịp *tích tắc, tích tắc* đều đặn và khô khốc.

"Nước lèo ni..." Tâm cất giọng.

Tiếng chị khàn đặc đi, vỡ vụn nơi cổ họng, nghẹn lại như có một tảng đá đè nặng lên thanh quản. Chị hắng giọng một tiếng thật khẽ nhưng âm thanh phát ra vẫn run rẩy:

"Nước lèo ni đích thị là vị của mệ Lành nấu... Ba mươi năm rồi, tui mới lại ngửi thấy cái mùi ni."

My đứng lặng bên cạnh, nín thở lắng nghe. Trái tim cô đập từng nhịp thắt lại trong lồng ngực. Cô nhìn thấy rõ ràng một giọt nước mắt trong suốt đang ngưng tụ nơi khóe mi đầy nếp nhăn của người đàn bà vốn nổi tiếng sắt đá và cay nghiệt nhất cái bến sông này.

Tâm đưa cả bàn tay lên vuốt nhẹ trán, che đi đôi mắt đã bắt đầu đỏ hoe vì ngấn lệ. Khi chị hạ tay xuống và ngẩng đầu lên, bức tường phòng thủ kiên cố, dữ dằn ban sáng đã hoàn toàn sụp đổ, trôi tuột đi như bọt nước. Trên gương mặt sạm đen vì khói than ấy, giờ đây chỉ còn lại nỗi niềm xót xa, hoài niệm và sự ân hận muộn màng của một người con gái nhớ về mẹ mình và những ngày xưa cũ nghèo khó mà nặng trĩu ân tình.

"Em có biết năm xưa, mẹ tui với mệ Lành từng cãi nhau lớn cỡ mô không?" Tâm nghẹn ngào, nhìn My bằng ánh mắt chan chứa tâm sự. Giọng chị chùng xuống, mang âm hưởng của những câu chuyện cổ xưa buồn bã bên dòng sông Hương mùa mưa dầm. "Lúc nớ tui chừng mười lăm tuổi, cái quán Bến Ngự ni còn là cái chòi tranh vách nứa xiêu vẹo sát mép nước, mỗi lần trời mưa to là nước sông dâng mấp mé mép sàn. Mẹ tui kiêu hãnh với nghề gia truyền của bà ngoại để lại lắm. Công thức nước lèo của nhà tui vốn bí truyền, chỉ dùng gan heo với tương đậu nành nguyên chất, không bao giờ pha tạp thêm bất cứ thứ chi khác. Mẹ tui luôn tự hào rằng bánh khoái Bến Ngự đứng đầu xứ này nhờ cái vị mộc mạc nớ. Bữa đó, mệ Lành mang sang biếu mẹ tui một âu nước lèo do chính tay mệ ninh nấu. Mệ bảo mệ thử thêm chút mè rang vàng xay nhuyễn với ruốc ngấu gạn trong, mệ ăn thấy êm bụng, đỡ ngấy mỡ mà dậy mùi thơm nồng nàn hơn hẳn."

Tâm cười một tiếng cay đắng, khóe môi run rẩy theo từng hồi ức ùa về:

"Mẹ tui tính khí nóng như lửa than hầm, lại mang nặng cái tự ái cố hữu của người làm nghề lâu năm xứ Huế. Vừa nếm thử một muỗng nhỏ, thấy cái vị bùi thơm vượt trội hơn hẳn nước lèo của mình, mẹ tui không những không khen mà còn đùng đùng nổi giận. Mẹ tui nghĩ mệ Lành cố ý dòm ngó, học lỏm cái cốt cách nước lèo nhà mình rồi đem biến tấu, thêm thắt để chứng minh mệ giỏi hơn mẹ tui, để dạy đời mẹ tui. Mẹ tui đứng phắt dậy, hất đổ cả âu nước lèo xuống đất, mảnh sành văng tung tóe khắp nền đất. Mẹ tui chỉ tay thẳng ra cửa, mắng mệ Lành là phường trộm nghề, là kẻ giả nhân giả nghĩa muốn sang đây thị uy..."

Tâm dừng lại, ngực phập phồng sau từng câu nói. My cảm nhận được nỗi đau đớn của một ký ức chưa từng lành sẹo qua ánh mắt xa xăm của chị.

"Mệ Lành hồi nớ không nói lại một lời nào," Tâm kể tiếp, giọng nghẹn lại trong nước mắt. "Mệ lặng lẽ cúi xuống, nhặt từng mảnh gốm vỡ gom vào vạt áo, rồi mệ lau sạch vũng nước lèo trên sàn đất giúp mẹ tui, xong xuôi mệ mới quay lưng đi về phía kiệt An Cựu. Bóng mệ đi dưới rặng tre gầy guộc, cô đơn đến thắt lòng. Từ bữa đó, hai nhà xem như dứt tình dứt nghĩa, mẹ tui cấm tiệt tui không được bước chân sang kiệt nhà mệ, hễ thấy mặt nhau ngoài chợ là ngoảnh mặt đi như người dưng nước lã."

Tâm với tay lấy chiếc ấm đất nung đã ngả màu đen bóng trên góc bàn, rót một bát nước chè xanh đặc quánh, bốc khói nghi ngút. Chị nhấp một ngụm nhỏ, hơi chè nóng dường như giúp chị dằn lại cơn nghẹn đang dâng trào nơi lồng ngực.

"Nhưng chuyện đời mô ai học hết chữ ngờ hả em..." Tâm thở dài, ánh mắt nhìn ra dòng sông phẳng lặng như tờ. "Được hơn một năm sau cái bữa cãi vã đó, thị xã quy hoạch lại toàn bộ khúc đường Bến Ngự. Người ta chở đá tảng, cát sỏi về đổ ngổn ngang, rào chắn công trình bằng tôn rỉ sét dựng lên ngay trước cửa tiệm ròng rã suốt nửa năm trời. Lối vào quán bị bít bùng, bụi đất bay mù mịt cả ngày lẫn đêm. Quán mẹ tui rơi vào cảnh ế ẩm cùng cực. Có những ngày từ sáng tới trưa không có nổi một bóng khách ghé chân, chảo gang đỏ lửa rồi lại nguội ngắt, bột xay ra phải đổ cho lợn ăn. Nợ nần tiền mua bột, tiền mua mỡ lợn, tiền mua mắm ngoài chợ Bao Vinh chất chồng ngập đầu ngập cổ."

Bàn tay Tâm run rẩy đặt bát nước chè xuống bàn, những giọt nước chè sóng sánh tràn ra mặt gỗ:

"Tui nhớ hoài những đêm mùa đông lạnh thấu xương, gió bấc thổi thông thốc qua vách nứa, mẹ tui ngồi ôm mặt khóc ròng rã bên chiếc chảo gang lạnh toát. Mẹ tui bế tắc đến mức tính chuyện phải dẹp tiệm, gỡ bỏ cái biển hiệu Bến Ngự, bán luôn cả bốn chiếc chảo gang gia truyền của bà ngoại để lại đặng lấy tiền trả nợ rồi dắt tui đi làm thuê làm mướn kiếm gạo qua ngày."

"Rồi quán vượt qua bằng cách mô hả chị?" My khẽ hỏi. Dù trong lòng đã lờ mờ đoán được câu trả lời từ những dòng ghi chú ngắn ngủi của bà nội, nhưng nghe chính miệng người trong cuộc kể lại, cô vẫn không khỏi bàng hoàng xúc động.

"Đột nhiên, bắt đầu từ giữa mùa đông năm nớ, quán tự dưng có khách trở lại," Tâm nói, giọt nước mắt kìm nén bấy lâu cuối cùng cũng vỡ òa, lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo, sạm đen vì năm tháng. "Ban đầu là mấy đoàn khách quen đi lễ chùa từ trên Kim Long xuôi đò xuống, rồi đến những bạn hàng buôn chuyến lớn dưới chợ Bao Vinh, mấy chủ tiệm may áo dài nức tiếng trong thành nội... Họ cứ nườm nượp kéo tới, mỗi lần ghé quán là gọi năm, bảy cặp bánh, ăn xong lại còn mua cả chục chén nước lèo bọc lá chuối mang về. Họ bảo có người giới thiệu sang đây, khen bánh khoái Bến Ngự là thứ bánh ngon nhứt, đượm vị nhứt xứ này, đến Huế mà không ghé Bến Ngự ăn bánh thì coi như phí cả chuyến đi. Nhờ cái dòng khách kỳ lạ và hào phóng nớ mà mẹ tui gượng dậy được. Mẹ tui trả hết nợ nần tiền bột, tiền mỡ, sửa sang lại cái quán kiên cố hơn, giữ lại được mấy chiếc chảo gang và truyền lại cái nghề ni cho tui đến tận ngày hôm nay."

Tâm ngước nhìn My, đôi bàn tay chị siết chặt lấy nhau trên đùi, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì xúc động:

"Mãi đến tận mười mấy năm sau, khi mẹ tui lâm bệnh nặng sắp mất... Nằm trên giường bệnh mê sảng, hơi thở đã yếu lắm rồi, có một bà cụ bán tơ lụa già bên chợ Đông Ba ghé thăm mẹ tui. Ngồi bên giường, bà cụ mới buột miệng thở dài kể lại: Suốt mấy tháng trời quán mẹ tui bị rào đường ế ẩm sắp sập tiệm năm xưa, chính mệ Lành của em đã ngày nào cũng đi bộ hàng cây số, lặn lội đội nón lá đến từng nhà người quen, từng mối khách buôn lụa, từng gia đình khá giả trong thành để năn nỉ, dặn dò họ: *'Quán con Thơm bên Bến Ngự đang ngặt nghèo lắm, mấy bác mấy chị có ăn bánh khoái thì sang bên nớ ủng hộ giùm tui, bánh hắn đổ khéo mà tội nghiệp hai mẹ con thui thủi.'* Thậm chí... thậm chí mệ Lành còn âm thầm rút tiền túi của mệ, dúi vào tay mấy người nghèo, mấy bác xích lô trong kiệt An Cựu, dặn họ cứ sang quán mẹ tui ngồi ăn cho đông vui, tiền mệ trả hết, cốt để người đi đường thấy quán nhộn nhịp mà ghé vào ăn theo..."

Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má My, rơi xuống mu bàn tay cô. Cô cắn chặt môi để ngăn không cho tiếng nấc bật ra thành tiếng.

Mệ Lành của cô luôn là như thế. Trong ký ức tuổi thơ của My, bà nội chưa bao giờ lớn tiếng tranh biện với ai, chưa bao giờ kể lể công lao hay đòi hỏi một lời cảm ơn. Lòng tốt của bà phẳng lặng và sâu thẳm như dòng sông Hương lúc đêm về—bà nâng đỡ người khác bằng cách bảo bọc lòng tự trọng của họ đến mức tuyệt đối. Bà chấp nhận nhận về mình những lời cay nghiệt, những hiểu lầm chua xót, rồi âm thầm dùng đôi bàn chân gầy guộc đi bộ khắp hang cùng ngõ hẻm để vá víu lại những rạn nứt của số phận, vun vén cho nồi cơm của người khác không bị tắt lửa.

"Mẹ tui nghe xong chuyện nớ thì khóc đến ngất lịm đi trên giường bệnh," giọng Tâm nghẹn ngào, chị lấy vạt áo bà ba thô ráp lau vội những dòng nước mắt đang tuôn rơi. "Mẹ tui ân hận cùng cực, tự trách mình lòng dạ hẹp hòi, lấy bụng tiểu nhân mà đo lòng quân tử. Mẹ tui tính ráng gượng dậy, chống gậy sang kiệt An Cựu quỳ lạy trước thềm nhà để tạ lỗi với mệ Lành... Nhưng cái tôi của người lớn thuở trước nặng nề quá em ơi. Đến khi bệnh trở nặng, mẹ tui đi mà hai mắt vẫn mở trừng trừng nhìn lên trần nhà, bàn tay nắm chặt lấy tay tui trăng trối dặn: *'Bằng mọi giá phải tìm cách trả cái ơn cứu mạng nớ cho nhà mệ Lành, nghe con...'* Nhưng rồi tui... tui cũng ngu muội, vừa mặc cảm tội lỗi của đời trước, vừa sợ thiên hạ đàm tiếu bảo mình thấy nhà mệ giàu sang, con cháu phương trưởng mà bắt quàng làm họ... Hai người lớn năm xưa giữ cái tự ái quá lớn, rốt cuộc chẳng ai kịp nói với ai một lời xin lỗi, một lời cảm ơn trước lúc nhắm mắt xuôi tay."

Tâm nhìn My, ánh mắt đầy vẻ ăn năn, đau đớn và cả sự kính trọng sâu sắc:

"Hồi sáng em tới đây, nhắc tới tên mệ Lành, nhắc tới chuyện mở quán cơm ở căn nhà rường... tui xấu hổ và chột dạ dữ lắm. Tui sợ quá khứ bị lật lại, tui sợ người ta biết mẹ tui năm xưa từng hẹp hòi như rứa, nên tui mới xù lông nhím lên mắng em xối xả đặng đuổi em đi cho khuất mắt. Tui sợ em mở tiệm bánh khoái rồi người ta sẽ lại đem chuyện cũ ra bàn tán, sợ cái tiệm Bến Ngự ni không giữ nổi danh tiếng... Tui sai rồi, My ơi. Tui có lỗi với mệ Lành, có lỗi với cả em nữa."

My bước tới một bước, kéo chiếc ghế đẩu lại gần hơn, nhẹ nhàng đặt bàn tay mình lên mu bàn tay thô ráp, chai sần của Tâm. Hơi ấm từ lòng bàn tay cô gái trẻ truyền sang bàn tay đang run rẩy vì xúc động của người phụ nữ đứng bếp:

"Chị Tâm, chị đừng tự trách mình nữa. Chuyện của đời trước đã qua rồi, và mệ Lành chưa bao giờ để bụng chuyện năm xưa cả. Nếu mệ giận mẹ con chị, mệ đã không nắn nót ghi tên chị vào trang sổ thứ sáu này với lời dặn dò đầy trân trọng như rứa. Và nếu sáng nay em không bị chị mắng, em sẽ mãi mãi là đứa làm marketing ngạo mạn từ Sài Gòn về, tưởng rằng chỉ cần có công thức chuẩn, dùng cân tiểu ly đong đếm từng gam gia vị, chiên cái bánh cho vàng ruộm là có thể thấu hiểu được ẩm thực Huế. Em sẽ không bao giờ hiểu được rằng đằng sau mỗi chiếc bánh khoái giòn rụm, mỗi chén nước lèo thơm bùi là cả một đời chắt chiu, nhẫn nại, là bao nhiêu mồ hôi và lòng tự trọng thiêng liêng của các mệ, các mẹ."

My dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt Tâm, ánh mắt kiên định, chân thành và rành mạch:

"Nhân đây, em cũng xin thưa với chị một điều chắc chắn từ tận đáy lòng em: 'Bếp Của Bà' trong tương lai nếu có thể mở được ở căn nhà rường kiệt An Cựu, tuyệt đối sẽ không bao giờ đưa món bánh khoái vào thực đơn kinh doanh."

Tâm giật mình, ngơ ngác nhìn My như không tin vào tai mình:

"Răng lại không đưa vào? Tay nghề em đổ bánh khéo như ri, vỏ bánh xốp giòn chuẩn mực, nước lèo nấu đúng vị mệ Lành ba mươi năm trước không sai một li... Khách du lịch họ sành ăn lắm, họ chuộng cái vị truyền thống ni vô cùng, em đưa vào thực đơn là bán đắt như tôm tươi đó!"

My lắc đầu, mỉm cười nhẹ nhõm, một nụ cười an yên tự đáy lòng:

"Dạ không chị. Món bánh khoái của mệ Lành để lại trong cuốn sổ ni sinh ra không phải để cạnh tranh buôn bán với quán Bến Ngự, mà là để nối lại cái nghĩa tình đã đứt đoạn giữa hai gia đình suốt ba mươi năm qua. 'Bếp Của Bà' sẽ chỉ là nơi phục vụ những bữa cơm gia đình đạm bạc, ấm cúng theo mùa cho một lượng khách rất nhỏ đặt trước—những người muốn tìm lại hương vị cơm nhà xứ Huế. Còn món bánh khoái, linh hồn và danh tiếng của nó thuộc về tiệm Bến Ngự này, thuộc về đôi bàn tay của chị Tâm. Sau này, bất cứ vị khách nào ghé Bếp Của Bà mà hỏi về bánh khoái, em và mọi người sẽ tự hào chỉ đường cho họ sang đây, bảo họ rằng muốn ăn chiếc bánh khoái chuẩn mực nhất, giòn ngon nhất bên dòng sông An Cựu thì nhất định phải ghé quán chị Tâm."

Nghe những lời chân thành đến từng ruột gan của cô gái trẻ, Tâm sững sờ. Đôi mắt chị hoe đỏ bỗng rạng rỡ hẳn lên, rồi chị bật cười trong nước mắt—một tiếng cười giải tỏa hết mọi u uất, đè nén của mấy mươi năm dằn vặt. Chị đưa cả hai bàn tay nắm chặt lấy bàn tay My. Cái nắm tay siết mạnh mẽ, ấm áp và rắn rỏi của những người lao động chân chính khi tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn:

"Em nói thiệt lòng chứ? Con bé ni... bụng dạ em y hệt mệ Lành năm xưa, khôn ngoan mà tử tế đến thấu tình đạt lý! Mẹ tui dưới suối vàng nghe được những lời ni chắc cũng nhắm mắt ngậm cười được rồi..."

Tâm đứng bật dậy, nét mặt bừng lên vẻ phấn chấn hiếm thấy. Chị đi thoăn thoắt về phía góc bếp phía sau, nơi có những chiếc chậu nhôm lớn được che đậy bằng bao tải ướt. Một lát sau, chị khệ nệ bưng ra một chiếc thau nhôm lớn chứa đầy những con tôm đầm phá Tam Giang còn tươi rói, đang búng tanh tách trên lớp đá lạnh xắt nhỏ. Từng con tôm vỏ mỏng tang, ánh lên sắc xanh trong suốt như ngọc bích, đôi râu dài đỏ tía và cặp càng chắc nịch:

"Chị là dân buôn bán dầm mưa dãi nắng, chị không biết nói lời văn hoa bóng bẩy chi mô. Đã là người một nhà, thấu hiểu cái tình cái nghĩa của nhau rồi, thì từ nay chị em mình đùm bọc lấy nhau. Nhà chị có người chú ruột làm nghề đáy lưới trên đầm Cầu Hai, tôm rảo, tôm đất, tôm bạc chở về bến mỗi sớm mai đều là tôm loại một, tươi ngon nhứt vùng, tôm đánh bắt tự nhiên chưa bao giờ phải qua tay thương lái ướp thuốc ướp đá lâu ngày. Sau này 'Bếp Của Bà' cần tôm tươi nấu canh khế, tôm rim mặn ngọt làm nhưn bánh hay làm mắm tôm chua, em cứ bảo chị một tiếng. Chị dặn chú để lại cho em đúng giá gốc chân thuyền, bao nhiêu chị cũng lấy giùm, bảo đảm tươi rói nhảy tanh tách từng con!"

My nhìn thau tôm đầm tươi ngon lấp lánh dưới ánh nắng trưa, lòng dâng lên một niềm xúc động nghẹn ngào.

Cô nhận ra một chân lý sâu sắc mà không một giáo trình quản trị kinh doanh hay tiếp thị số nào ở giảng đường đại học từng dạy cô: Bằng cách biết dừng lại, biết tôn trọng ranh giới nghề nghiệp và từ bỏ sự tham lam muốn ôm đồm mọi thứ vào thực đơn để thu lợi nhuận tối đa, cô không những không đánh mất khách hàng, mà ngược lại, cô vừa tạo dựng được mối liên kết vững chắc nhất cho chuỗi cung ứng thực phẩm sạch của căn bếp tương lai.

Dì Mến cho gừng sẻ cay nồng và mớ rau thơm tươi tốt nơi góc vườn; cô Hương hỗ trợ quy trình kiểm thực, khử trùng theo chuẩn mực khoa học khắt khe; và giờ đây, chị Tâm tự nguyện sẻ chia nguồn tôm đầm tươi sống loại một từ đầm Cầu Hai. Từng mảnh ghép của "Bếp Của Bà" đang dần thành hình một cách vững chãi, không phải bằng những bản kế hoạch tài chính bóng bẩy hay những chiến dịch quảng cáo rầm rộ trên mạng xã hội, mà bằng chính sự chân thành, đạo đức làm nghề và tình nghĩa keo sơn giữa con người với con người trên mảnh đất Cố đô.

Tâm ngồi lại xuống bàn, vẻ mặt nhẹ nhõm hẳn đi. Chị vui vẻ cầm lấy chiếc bánh khoái thứ hai trên mẹt, bẻ một miếng lớn chấm ngập vào chén nước lèo, vừa ăn một cách ngon lành vừa hào hứng chỉ vẽ thêm kinh nghiệm gia truyền cho My:

"Bột bánh em pha lòng đỏ trứng gà với chút nước có ga là đúng bài của mệ Lành rồi, bánh phồng xốp giòn rụm rất khéo. Nhưng lần sau làm, em nhớ nghe chị dặn điểm ni: cho thêm chừng một muỗng cà phê mỡ nước nguội vào thau bột ngay lúc đánh bột xong, trước khi để bột nghỉ nửa tiếng. Có chút mỡ nước nớ quyện đều trong bột, khi chiên gặp nhiệt gang nóng, vỏ bánh sẽ xốp giòn bền hơn nữa, dẫu em để trên mẹt nguội nửa tiếng đồng hồ đi nữa thì cắn vào vẫn rôm rốp chứ tuyệt đối không bị dai hay ỉu. Còn chén nước lèo ni, em làm được tám phần mười tay nghề của mệ Lành rồi đó. Chỉ thiếu một chút xíu cay the nồng ấm của ớt bột quả khô sấy trên than củi thôi. Thứ ớt bột phơi nắng thường không dậy mùi thơm bằng ớt sấy khói than mô, lần sau qua đây chị xúc cho một hũ ớt sấy chuẩn lò mang về mà dùng."

Tâm chợt dừng đũa, ngẩng lên nhìn My đầy ngụ ý, ánh mắt sâu lắng của người từng trải:

"Mà ni, My ơi. Trang tiếp theo trong cuốn sổ của mệ Lành ghi món chi, em đã giở ra xem chưa?"

My chớp mắt, thành thật lắc đầu:

"Dạ chưa chị, từ trưa đến giờ em với anh Thiện chỉ tập trung toàn tâm toàn ý làm cho xong mẻ bánh khoái với chén nước lèo thứ sáu này để kịp mang sang cho chị nếm thử, em chưa kịp lật tiếp trang sau nữa."

Tâm khẽ gật đầu, đặt chiếc bánh xuống mép đĩa, hạ thấp giọng dặn dò với vẻ mặt đầy nghiêm túc:

"Nếu chị đoán không lầm, thể nào mệ Lành cũng có ghi món cá bống thệ kho tiêu cho ông Võ Đình Cẩn. Hồi xưa, cứ vào cữ mùa ni, khi nước sông An Cựu và sông Hương bắt đầu trong xanh và cạn dòng, là ông Cẩn lại chèo chiếc đò gỗ chở mớ cá bống thệ tươi rói từ mạn thượng nguồn sông Hương về ghé bến biếu mệ Lành. Rồi mệ Lành kho xong niêu cá, lại cẩn thận gói ghém gửi trả ông một niêu đất để ông ăn với cơm nguội trên đò."

"Ông Cẩn đường sông sao hả chị?" My tò mò hỏi, cái tên xa lạ gợi lên trong tâm trí cô hình ảnh một người đàn ông gắn liền với sông nước.

"Ừ, ông Cẩn đường sông," Tâm gật đầu xác nhận, ánh mắt nhìn ra phía dòng nước đang lững lờ trôi. "Ông Cẩn tính tình trầm lặng, khép kín và khó gần lắm em ơi. Ông sống cả đời trên chiếc đò gỗ, gắn bó với nghiệp chèo đò và bắt cá đường sông từ thời còn trai trẻ. Người ngoài nhìn vào tưởng ông gắt gỏng, khó tính, nhưng thực ra ông là người trọng nghĩa khinh tài. Mùa ni nước sông cạn, cá bống thệ mới đanh thịt, bụng đầy trứng và béo ngậy nhất trong năm. Em muốn kho được niêu cá bống đúng điệu Huế xưa để mang biếu ông, em không được vội vàng ra chợ mua cá bống nuôi hay cá bống tạp bán ngoài sạp mô nghe, kho lên thịt bở rệp mà tanh mùi bùn là ông chê liền đó. Em phải tìm cho ra chiếc đò của ông Cẩn ở mạn bến đò Thừa Phủ cũ, hỏi han cách thức chọn cá và xin mớ cá bống thệ đánh bắt tự nhiên từ sông sâu thì mới mong kho ra được cái vị cá bống thệ 'kho ba lửa' của mệ Lành năm xưa."

"Dạ, cá bống thệ kho ba lửa..." My lẩm nhẩm cụm từ ấy trong đầu, từng lời dặn của chị Tâm như in sâu vào trí nhớ. "Em nhớ rồi, em cảm ơn chị Tâm nhiều lắm. May mà có chị chỉ vẽ, chứ không em lại lúng túng không biết bắt đầu từ đâu."

Hai người ngồi trò chuyện thêm rất lâu bên chiếc bàn gỗ mộc mạc. Họ cùng nhau chia sẻ từng mẩu bánh khoái còn lại, nhấp từng ngụm nước chè xanh đượm đà. Ánh nắng trưa gay gắt đã dịu đi tự bao giờ, ngả dần sang màu vàng óng ả như mật ong rừng, rọi qua những kẽ lá của giàn hoa ti-gôn trước hiên quán, dát những vệt sáng lấp lánh như vảy bạc xuống mặt nước sông An Cựu êm đềm.

Khúc mắc hận thù và những mặc cảm tội lỗi kéo dài suốt hai thế hệ, những ấm ức, dằn vặt tưởng chừng như sẽ mãi mãi chìm sâu dưới đáy mồ cùng thế hệ người già năm xưa, nay đã được hóa giải một cách trọn vẹn và thanh thản chỉ trong một buổi trưa tĩnh lặng. Không cần những lời thề thốt đao to búa lớn, không cần những nghi thức cầu kỳ, tất cả được hàn gắn bằng một mẹt bánh giản dị chứa chan mồ hôi, bằng một chén nước lèo đậm đà phong vị cội nguồn, và trên hết là bằng một tấm lòng chân thành biết cúi đầu lắng nghe của thế hệ đi sau.

Khi My thu dọn chiếc mẹt tre và chiếc âu sứ hoa lam bước ra khỏi quán, Tâm đích thân tiễn cô tận ra mép đường kiệt. Người đàn bà đứng bếp vốn lạnh lùng ban sáng, nay ân cần nhét vào tay My chiếc túi cói đựng mớ tôm đầm Cầu Hai còn tươi rói, không quên dặn với theo:

"Chiều mai rảnh thì tạt qua đây, chị để dành cho hũ ớt khô sấy than củi đặng về mà chuẩn bị kho cá nghe My!"

My quay lại, mỉm cười vẫy tay chào:

"Dạ, em cảm ơn chị Tâm, chiều mai em qua!"

Cơn gió đông từ bờ sông thổi qua mang theo hơi lạnh buốt giá của tiết trời Cố đô những ngày giáp Tết, luồn qua làn áo mỏng khiến My khẽ rùng mình. Nhưng sâu thẳm trong lồng ngực cô, một ngọn lửa ấm áp và bền bỉ đang bập bùng cháy sáng. Cô bước đi trên con đường lát đá ven sông An Cựu, lòng ngập tràn một cảm giác nhẹ nhõm vô bờ.

Cô nhận ra rằng, trong cuộc sống bộn bề cũng như trong thế giới kinh doanh khắc nghiệt ngoài kia, sự khôn ngoan đích thực không nằm ở việc triệt hạ đối thủ hay độc chiếm thị trường, mà nằm ở việc biết nhận diện ranh giới của chính mình, biết tôn trọng không gian sống của người khác. Lòng tốt chân thành và sự khiêm nhường luôn là chiếc chìa khóa vạn năng, có thể mở toang những cánh cửa khép kín nhất và bắc được những nhịp cầu vững chãi nhất vượt qua muôn ngàn tự ái, định kiến của lòng người.

Về đến căn nhà rường cổ ở kiệt An Cựu, chiếc đồng hồ cổ treo tường ở gian giữa vừa điểm đúng năm tiếng chuông trầm đục báo hiệu 17 giờ 30 phút.

Không gian ngôi nhà rường đón cô bằng sự tĩnh mịch, trang nghiêm và mùi hương trầm quen thuộc phảng phất trong từng thớ gỗ mít nài. My bước lên thềm đá xanh rêu phong, ngồi xuống bậc thềm trước hiên nhà, tháo đôi giày vải đã lấm lem bụi đất sau một ngày dài bôn ba khắp các nẻo đường. Đôi chân cô mỏi nhừ, các đầu ngón tay vẫn còn vương mùi mỡ rán và than củi, nhưng tâm trí cô thì sáng rõ và minh định hơn bao giờ hết.

My thong thả mở chiếc túi xách, lấy chiếc điện thoại thông minh ra bấm nút khởi động. Đúng khung giờ một tiếng hỗ trợ cố vấn cố định mỗi ngày mà cô đã giao ước dứt khoát với ban giám đốc công ty Sao Nam trước khi rời Sài Gòn.

Màn hình điện thoại vừa sáng lên, ánh sáng xanh le lói lập tức kéo theo hàng loạt thông báo tin nhắn và thư điện tử nhảy lên liên hồi, tiếng chuông báo rung dồn dập trên tay cô. Nhưng lạ lùng thay, không có những dòng tin nhắn hối thúc giận dữ hay hoảng loạn vì khủng hoảng dự án như mọi bận. Đập vào mắt My ở vị trí trên cùng của hộp thư đến là một tin nhắn rất dài gửi từ Nguyễn Hoàng Duy—cậu trưởng nhóm sáng tạo trẻ tuổi đầy tham vọng—được gửi đi vào đầu giờ chiều nay.

My khẽ chạm tay mở tin nhắn ra đọc:

*"Chị My, em nhắn tin này trước hết để chân thành xin lỗi chị. Cuộc họp giao ban trực tuyến hôm trước em đã quá nông nổi, hiếu thắng và nói những lời bốc đồng, không phải phép với chị. Em thực sự ân hận vì thái độ vô lễ của mình. Em báo cáo với chị một tin rất vui: Sáng nay, bên phía đối tác đại diện cho chuỗi bán lẻ Tiên Phong đã chính thức ký duyệt thông qua bản đề xuất chiến dịch Tết sau khi nhóm chúng em tiến hành điều chỉnh lại toàn bộ nội dung. Họ đặc biệt đánh giá rất cao việc em khôi phục lại trọn vẹn khung thông điệp 'Bữa cơm gia đình truyền thống' mà chị đã dày công định hướng và xây dựng cấu trúc từ những ngày đầu tiên.*

*Đại diện khách hàng đã trực tiếp khen ngợi rằng thông điệp này có chiều sâu cảm xúc hiếm thấy, chạm đúng vào tâm lý khát khao sum vầy, đoàn tụ nguyên bản của người tiêu dùng trong dịp Tết cổ truyền, chứ không hề bị hời hợt, lai căng hay phô trương như mấy ý tưởng số hóa giật gân, công nghệ hóa mà trước đó em đã tự ý thêm thắt vào đề án. Nhìn khách hàng mỉm cười gật đầu khi xem lại từng slide thuyết trình mang tinh thần của chị, em mới thực sự nhận ra một bài học lớn trong sự nghiệp: đó là bài học về việc biết lắng nghe, biết khiêm tốn học hỏi và tôn trọng những giá trị cốt lõi bền vững thay vì chạy theo những trào lưu bề nổi nhất thời.*

*Chúc chị ở ngoài Huế giải quyết công việc gia đình thật suôn sẻ và thanh thản. Em và toàn bộ nhóm sáng tạo xin hứa sẽ nỗ lực hết mình để chạy tốt các giai đoạn tiếp theo của chiến dịch này, chị hoàn toàn yên tâm nghỉ ngơi và lo việc riêng nhé. Một lần nữa cảm ơn chị rất nhiều vì đã luôn bao dung và kiên nhẫn định hướng cho tụi em."*

Đọc từng dòng chữ chân thành của người đồng nghiệp trẻ, một nụ cười nhẹ nhõm, thanh thản nở trên môi My. Ánh mắt cô dịu lại. Cô đặt tay lên bàn phím ảo, gõ một dòng phản hồi ngắn gọn nhưng ấm áp:

*"Chị nhận được tin rồi. Làm tốt lắm, Duy. Hãy giữ vững tinh thần tôn trọng giá trị cốt lõi ấy để dẫn dắt cả nhóm đi hết chiến dịch Tết này nhé. Chúc mọi người thuận buồm xuôi gió."*

Gửi xong dòng tin, My không ngần ngại nhấn nút khóa màn hình điện thoại. Chiếc màn hình tối đen lại, cắt đứt hoàn toàn dòng chảy hối hả, gấp gáp của nhịp sống công sở đô thị ngoài kia. Cô cất chiếc điện thoại vào góc sâu của ngăn kéo chiếc tủ chè bằng gỗ gụ cổ kính.

Công việc ở thành phố hoa lệ cách xa hàng ngàn cây số giờ đây không còn là một cái bóng ma ám ảnh bóp nghẹt tâm trí cô từng giờ từng phút nữa. Cô nhận ra một quy luật kỳ diệu của cuộc sống: Đôi khi, chính sự buông bỏ lòng kiểm soát tuyệt đối, sự trao gửi niềm tin đúng chỗ và việc giữ vững giới hạn của bản thân lại là cách tốt nhất để mọi sự việc tự vận hành về đúng quỹ đạo tốt đẹp vốn có của nó.

My đứng dậy, khẽ vươn vai đón nhận luồng gió chiều mát lạnh từ ngoài vườn thổi vào. Cô bước chậm rãi qua dãy hành lang lát gạch hoa, đi vào gian chái sau của ngôi nhà.

Căn bếp nhỏ của bà Lành lúc này đã được quét dọn tươm tất, sạch bong không một hạt bụi nhờ công sức dọn dẹp của Thiện trước khi anh rời đi. Chiếc chảo gang dày vừa được tôi dầu kỹ lưỡng treo ngay ngắn trên chiếc đinh sắt đóng vào vách gỗ mít, bề mặt chảo ánh lên một sắc đen bóng mượt mà. Đống tro tàn trong bếp lò đất sét đã nguội hẳn, nhưng mùi khói than hoa đượm đà, ấm áp vẫn còn phảng phất, quẩn quanh nơi những thanh xà ngang của mái nhà rường.

My bước đến bên chiếc giá gỗ, lấy một nén nhang trầm thơm ngát, châm lửa từ chiếc bật lửa con. Đốm lửa đỏ bừng lên rồi tàn dần thành một chấm than hồng le lói. Cô bưng nén nhang bằng cả hai tay, bước ra gian giữa, trang nghiêm đứng trước bàn thờ gia tiên.

Bức di ảnh của bà Lành đặt trên ngai gỗ chạm trổ hoa văn cúc đại đóa, đôi mắt bà đôn hậu, khóe môi khẽ mỉm cười như đang dõi theo từng bước đi của đứa cháu gái nhỏ. My nâng nén nhang ngang trán, nhắm mắt lại, khẽ cúi mình tạ ơn:

"Mệ ơi, con đã mang bánh sang cho chị Tâm tiệm Bến Ngự rồi. Chị Tâm đã khóc, đã hiểu được tấm lòng của mệ năm xưa. Mọi oán hận, hiểu lầm suốt ba mươi năm qua giữa hai nhà, chiều ni đã tan thành mây khói rồi mệ ạ..."

My cắm nén nhang vào chiếc bát hương bằng đồng cổ kính. Làn khói nhang màu xanh lơ uốn lượn bay lên, tỏa ra hương trầm thơm ngát, hòa quyện vào không gian tĩnh mịch, trầm mặc của ngôi nhà rường cổ kính, mang lại một cảm giác an yên đến lạ kỳ.

Cô ngồi xuống bên chiếc bàn con cạnh chiếc phản gỗ lim bóng loáng, với tay lấy chiếc túi vải thô, cẩn thận rút cuốn sổ tay bọc vải hoa nhí đã sờn mép ra đặt lên bàn.

Cuốn sổ của mệ Lành nằm đó, phẳng phiu và ấm áp dưới ánh đèn vàng dịu nhẹ.

My khẽ lật đến trang thứ sáu. Trên mặt giấy ố vàng màu thời gian, những dòng mực tím thân thương của bà nội viết về món bánh khoái và tên của chị Đỗ Thanh Tâm tiệm Bến Ngự dường như đang ánh lên một nét cười mãn nguyện, rạng rỡ. My cầm chiếc bút máy thân quen, nắp bút mở ra với tiếng tách nhẹ, cô nắn nót gạch một dấu tích đỏ dứt khoát và hoàn hảo bên cạnh tên quán Bến Ngự.

Món ăn thứ sáu đã hoàn tất.

Một nửa chặng đường thực hiện di nguyện mười hai món ăn của bà nội đã chính thức khép lại. Sáu món ăn đi qua là sáu câu chuyện đời, sáu bài học sâu sắc về nhân tình thế thái, về sự khiêm nhường, lòng bao dung và đạo đức làm nghề mà không một trường lớp nào có thể dạy cho cô.

My hít một hơi thật sâu, đôi ngón tay thon thả khẽ khàng lật tiếp sang trang giấy kế bên.

Trang sổ thứ bảy hiện nét chữ mực tím phai màu: Cá bống thệ kho tiêu cho ông Cẩn đường sông - kho ba lửa.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories