Bếp ăn không phải chiến dịch truyền thông
Ngọn lửa than củi reo tí tách lúc nửa đêm soi bóng My đứng lặng bên chảo đồng, tay đảo nhẹ đều như ru từng lát gừng mỏng bốc khói cay dịu.
Không gian chái bếp sau của ngôi nhà rường An Cựu chìm vào cõi tịch mịch sâu thẳm, chỉ còn nghe tiếng gió mùa đông bắc rít từng cơn qua hàng chè tàu và tiếng hạt mưa dầm rả rích gõ nhịp trên những phiến ngói âm dương rêu phong. Căn bếp này vào những đêm tháng Chạp thường là nơi ấm áp nhất của cả khuôn viên cổ kính, nơi mùi bùn non sông Hương bám vào chân tường gạch vồ hòa quyện với mùi bồ kết khô, mùi vỏ bưởi phơi trên giàn bếp và khói củi mù u cay nồng. Nhưng đêm nay, cái lạnh của đợt gió mùa từ phương Bắc tràn về quất từng luồng buốt nhói qua khe liếp nứa, thổi bạt những sợi khói lam mảnh dẻ, khiến hai bờ vai My co rút lại dưới lớp áo len cổ lọ đã sờn mối chỉ.
Sau hai lần thất bại cay đắng làm khét hai mẻ mứt vì thói quen hấp tấp, My đã thôi không còn nhìn đồng hồ. Chiếc điện thoại thông minh nằm im lìm trong góc tủ gỗ chè, tắt sạch mọi kết nối, dứt khỏi những bảng biểu tiến độ, những thông báo réo rắt từ văn phòng Sao Nam tại Sài Gòn. Ở thành phố hoa lệ phương Nam ấy, một ngày của cô từng được chia nhỏ đến từng phần tư giờ, bị băm nát bởi các cuộc họp giao ban chiến lược, những báo cáo hiệu suất tiếp thị đa kênh, các chỉ số chuyển đổi số liệu khô khốc và tiếng chuông hối thúc của hội đồng quản trị. Ở đó, thời gian là kẻ thù cần phải bị bóp nghẹt, tốc độ là thước đo duy nhất để định danh sự tồn tại và tài năng của một giám đốc tiếp thị trẻ tuổi. Nhưng trong gian bếp lạnh giá này, mọi thước đo thành bại của một giám đốc tiếp thị bỗng trở nên vô nghĩa trước một chiếc chảo đồng thau và nắm than hoa đượm hồng.
Học cách kiềm chế sự sốt ruột, My giữ lửa than liu riu, kiên trì đảo đều tay cho đến khi những hạt đường mía mịn màng từ từ kết tinh, bám đều thành lớp áo phấn trắng như sương tuyết trên từng lát gừng vàng ruộm.
Đó là mẻ gừng sẻ Kim Long cuối cùng mà cô chắt chiu giữ lại. Thứ gừng củ nhỏ thó, vỏ nâu xỉn bám đầy lớp đất sỏi phù sa cằn cỗi của doi đất bãi bồi ven sông Hương, chẳng mỡ màng, mập mạp như giống gừng trâu lai cao sản mà người ta bón đẫm thuốc kích thích để bán theo cân ở chợ đầu mối. Gừng sẻ tuy nhỏ nhưng đanh chắc, thớ thịt vàng sậm dẻo quánh, cay đến rát lưỡi nhưng mang trong mình một luồng hương thảo mộc nồng hậu không loài nào sánh kịp. Nhờ ngâm trọn một đêm dài trong âu nước vo gạo đặc quánh rồi luộc xả hai lần nước sôi vắt chút chanh tươi theo lời dặn kín đáo dưới chân trang sổ của bà Lành, từng lát gừng mỏng như cánh ve sầu giờ đây đạt đến độ dẻo mềm kỳ diệu, trong trẻo như hổ phách, gạn lọc bớt cái cay nồng xé họng của đất cằn bãi bồi mà chỉ giữ lại hương thơm ấm áp, thanh tao.
Khi đổ bát đường mía vàng ươm vào ướp, My đã ngồi lặng hàng giờ nhìn từng hạt đường tan chảy, thẩm thấu tận vào thớ ruột của từng lát gừng. Cô nhớ lại từng cử chỉ của bà nội thuở trước. Ngày ấy, mỗi bận giáp Tết, bà Lành thường ngồi trên chiếc đòn gỗ thấp sát vách bếp, lưng hơi còng xuống nhưng đôi mắt thì phẳng lặng như mặt nước hồ Tịnh Tâm. Bà bảo: “Làm mứt gừng là rèn cái tính. Đứa mô nông nổi, ruột để ngoài da, hễ thấy nước đường cạn là muốn vội vội vàng vàng thúc lửa cho mau khô thì chỉ có nước nuốt đắng, ngậm khét. Nước đường đặc là lúc nó đòi hỏi người ta phải mềm mỏng nhất, nhẫn nại nhất.”
Giờ đây, trên ngọn than củi đã được gạt bớt tro xám để giữ nhiệt độ ở mức êm ả nhất, chảo đồng bắt đầu cất lên thứ thanh âm kỳ diệu của ẩm thực xứ Huế. Nước đường lúc đầu sôi lăn tăn, sủi những bọt bong bóng nhỏ li ti như mắt cua, tỏa ngát mùi ngọt ngào lẫn vị cay the ấm nồng. Đôi bàn tay My cầm đôi đũa cả bằng tre già đảo nhẹ nhàng, nhịp nhàng từ mép chảo vào lòng chảo, tuyệt đối không giục giã, không hấp tấp. Mỗi vòng đảo là một nhịp thở chậm. Cô cảm nhận được độ nặng của cổ tay khi nước đường cạn dần, chuyển từ dạng lỏng sang dạng keo dẻo quánh, kéo thành từng sợi chỉ mỏng manh bám lấy sống đũa.
Khoảnh khắc quyết định đã đến. Ở hai lần trước, chính sự bồn chồn muốn mau chóng thấy đường khô đã thúc ép My cời than bùng cháy, khiến đường bị caramel hóa cục bộ, bốc khét đen sì chỉ trong chớp mắt. Lần này, My ghìm chặt bàn tay lại. Khi thấy hơi nước bốc lên thưa dần, mặt chảo bắt đầu nặng trịch và những bọt đường khô se lại, cô lập tức nhắc chảo đồng ra khỏi kiềng than, đặt lên một chiếc rế mây đã chuẩn bị sẵn bên cạnh bàn đá. Tay cô vẫn tiếp tục đảo đều, không ngừng nghỉ.
Kỳ diệu thay, dưới nhiệt lượng còn tích tụ sâu trong đáy đồng dày dặn và làn gió đêm lạnh buốt ùa qua khe cửa liếp, hơi ẩm cuối cùng thoát đi trong thầm lặng. Những hạt đường mía mịn màng bắt đầu biến chuyển: chúng không vón cục lổn nhổn, cũng không sẫm màu đắng ngắt, mà từ từ khô ráo, bung nở thành một lớp áo phấn trắng mịn như sương tuyết đầu mùa, bao phủ trọn vẹn, đồng đều trên từng lát gừng vàng ruộm. Từng lát mứt gừng cong nhẹ tự nhiên, rời nhau thoăn thoắt, không hề dính bết, thơm lừng một mùi thơm tinh khiết, dịu ngọt và đầm ấm lạ lùng.
My buông đôi đũa cả xuống bàn sơ chế. Lồng ngực cô khẽ phập phồng, thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Đôi mắt thâm quầng vì thức trắng nhiều đêm bỗng cay xè, nhưng khóe môi lại nở một nụ cười rạng rỡ. Cô cúi xuống sát miệng chảo, hít căng lồng ngực mùi hương thanh tịnh ấy. Đúng là hương vị của căn nhà rường này mỗi bận giáp Tết thuở cô còn thơ bé, cái mùi hương từng ngỡ đã tan biến vĩnh viễn theo sự ra đi của bà nội. Đó là mùi của sự ấm cúng, của sự bao bọc che chở, mùi hương từng xua tan đi cái rét cắt da cắt thịt của những mùa đông cơ hàn nơi xóm nhỏ An Cựu.
*
Sáng sớm, sương mù từ dòng sông An Cựu bảng lảng trôi qua những mái ngói rêu phong, phủ một màu bàng bạc lên khắp các ngả kiệt. Trời rét ngọt, thứ rét căm căm đặc trưng của mùa đông xứ Huế làm tê buốt từng đầu ngón tay. Mặt nước sông An Cựu phẳng lặng như một dải lụa xám tro, thỉnh thoảng khẽ gợn sóng bởi mái chèo xuôi ngược của một chiếc thuyền nan chở mớ rau tập tàng hay mớ ốc gạo sớm.
My xếp từng lát mứt gừng khô ráo, thơm ngát vào chiếc hộp thiếc tròn mang hoa văn hoài niệm của bà Lành để lại. Chiếc hộp thiếc sạch bóng, lót dưới đáy một lớp giấy bản mỏng. Từng lát mứt cong cong phủ phấn trắng như hoa tuyết được cô cẩn thận xếp ngay ngắn, lớp nọ đè nhẹ lên lớp kia thành hình vòng tròn đồng tâm, thơm ngan ngát vị cay nồng của gừng sẻ và ngọt lịm của mía đường. Cầm chiếc hộp thiếc trên tay, My khoác thêm chiếc áo len dày, kẹp xấp tài liệu dự án vào chiếc túi vải bố rồi dắt chiếc xe đạp cũ ra khỏi cổng.
Tiếng xích xe đạp khô dầu khẽ rít lên trên con đường rải đá dăm ẩm ướt. Đường phố thức dậy trong tiếng chuông chùa xa xa và tiếng rao sớm của những gánh hàng rong. Tiếng rao "Ai ăn bánh canh bột lọc không..." khàn đặc, lẫn vào màn mưa phùn lất phất giăng mắc khắp ngõ ngách. My đạp xe qua cầu An Cựu, men theo con đường rợp bóng cây cổ thụ hướng về phía chợ Đông Ba. Những tán cây long não, xà cừ cổ thụ trút lá vàng sũng nước xuống lòng đường nhựa. Đi qua bờ nam sông Hương, nhìn sang bên kia kinh thành mờ ảo trong sương sớm, My bỗng thấy lòng mình chùng xuống. Bao nhiêu năm bôn ba nơi phồn hoa đô hội, tranh đoạt từng tấc đất tiếp thị, chạy theo những dự án triệu đô, cô chưa từng thấy lòng mình tĩnh lại như lúc này, khi đang mang trên ghi-đông chiếc hộp mứt gừng nhỏ bé đi tìm một sự thừa nhận từ người cố nhân của bà.
Chợ sáng họp sớm ven bờ sông Hương ngập tràn hơi ẩm và thanh âm rộn rã của cuộc mưu sinh. Mùi tôm cá tươi rói, mùi rau thơm Dạ Lê, củ nén, mùi mắm ruốc ngấu nồng quyện lẫn vào sương mai. Khu chợ như một trái tim khổng lồ phập phồng đập những nhịp đập bền bỉ, nhẫn nại suốt hàng trăm năm qua. Những người phụ nữ Huế gầy guộc, quấn khăn rằn quanh cổ, chân đi guốc gỗ hoặc ủng nhựa, tiếng nói rổn rảng mà lại nhẹ tênh như tiếng nước chảy qua khe đá. My len lỏi qua những dãy sạp hàng san sát, băng qua khu hàng cá tanh nồng, khu hàng rau cải xanh mướt còn đọng hạt sương đêm, tìm đến góc khuất quen thuộc phía gian hàng khô—nơi có biển hiệu bằng gỗ mộc mạc: *Sạp Thảo Mộc Gia Truyền Tôn Nữ*.
Dì Tôn Nữ Bích Mến đang ngồi ngay ngắn trên chiếc phản gỗ nhỏ sau những bao tải gừng sẻ, sen khô và quế chi. Dì mặc chiếc áo dài chần bông màu tím than đã sờn mép cổ, mái tóc hoa râm búi gọn gàng sau gáy, đôi mắt phượng sắc sảo lướt qua dòng người qua lại với vẻ nghiêm nghị thường thấy. Trên chiếc bàn con cạnh phản gỗ, một chiếc ấm gốm da chu lấm tấm hoa văn hoa mai đang bốc khói nghi ngút. Khói trà quyện với mùi quế thanh tao, mùi cam thảo ngọt lịm và mùi hoa hồi nồng ấm tạo thành một không gian biệt lập, thanh nhã kỳ lạ giữa sự xô bồ, ồn ã của chợ búa chung quanh.
Thấy bóng My bước vào sạp với chiếc hộp thiếc trên tay, ánh mắt dì Mến khẽ nheo lại, thoáng vẻ dò xét nhưng không còn gay gắt như buổi chiều hôm trước.
"Con chào dì Mến," My cúi đầu lễ phép, giọng ấm áp và chân thành. "Đêm qua con đã ngào xong mẻ mứt gừng từ mớ gừng sẻ Kim Long dì gả cho con. Con mang đến xin dì nếm thử và chỉ bảo."
Dì Mến không vội đáp lời. Dì chậm rãi với lấy chiếc chén sứ hoa lam không quai, châm một ngụm trà sen ấm bốc khói thơm dìu dịu. Hương sen ngạt ngào lan tỏa trong góc sạp xua đi cái buốt giá của gió chợ. Dì nhấp một ngụm trà nhỏ, nhắm mắt đón nhận vị chát thanh nơi đầu lưỡi rồi mới mở mắt nhìn chiếc hộp thiếc My đặt trang trọng trên mặt phản. Chiếc hộp thiếc tròn đã cũ, mép nắp hơi mòn vẹt để lộ màu kim loại xám xịt, nhưng được lau chùi sạch bóng, phản chiếu ánh sáng nhờ nhợ của buổi sớm mai.
Bàn tay gầy guộc với những ngón dài xương xẩu của người đàn bà Huế sành sỏi mở nắp hộp thiếc. Một thoáng ngạc nhiên lướt qua đáy mắt dì khi nhìn thấy lớp phấn trắng mịn như tuyết bao phủ đều đặn trên những lát gừng vàng ươm, khô ráo, cong mình kiêu hãnh. Từng lát gừng mỏng tang, không hề có một vệt đường cháy hay một đốm xơ thô kệch. Dì dùng hai ngón tay nhón lấy một lát mứt gừng đưa lên ngang tầm mắt, khẽ lắc nhẹ để kiểm tra độ giòn dẻo, rồi đưa lên mũi ngửi thật sâu.
Dì Mến cắn khẽ một miếng mứt gừng. Tiếng gãy giòn tan *rắc* nhẹ vang lên rất êm.
Gian sạp bỗng chốc như rơi vào khoảng lặng. Tiếng ồn ào của chợ búa, tiếng trả giá của người mua kẻ bán, tiếng xủng xoảng của rổ rá ngoài kia dường như dạt hết ra ngoài rìa tai. My nín thở, hai bàn tay đan chặt vào nhau sau vạt áo len, tim đập thình thịch như hồi còn ngồi chờ kết quả bảo vệ chiến dịch trước hội đồng quản trị Sao Nam. Khi ấy, đối diện với những ông chủ đầu tư khó tính, cô chưa từng run rẩy dường này. Nhưng lúc này, đứng trước một người phụ nữ cả đời gắn bó với cỏ cây, thảo mộc đất thần kinh, My hiểu rằng một chút xảo thuật hay lời nói hoa mỹ cũng không thể qua mắt được chiếc lưỡi tinh tế của dì.
Dì Mến nhai chậm rãi, mi mắt khẽ lay động. Vị đường mía ngọt thanh tan ra trước, tiếp đến là thớ gừng dẻo giòn tỏa ra chất cay nồng đượm nhưng không hề gắt cổ, không hề để lại hậu vị đắng khét của đường cháy hay xơ bã của củ gừng non lai tạp. Mọi thứ hòa quyện, ấm sực nơi cuống họng, rồi đọng lại ở hậu vị một sự ngọt ngào, trầm ấm sâu lắng. Cái cay ngấm vào từng chân răng, làm ấm lồng ngực đang run rẩy vì sương sớm.
Dì Mến nhấp thêm một ngụm trà sen để nuốt trọn vị ngọt cay ấy. Đặt chiếc chén sứ xuống đĩa con, dì ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào My, gương mặt nghiêm nghị giãn ra thành một nụ cười kín đáo, rồi khẽ gật đầu:
"Được lắm. Đường chín tới, phấn nổ mịn đều mà ruột gừng vẫn trong, không bị chai sượng. Cái cay này là cay ấm, cay để người ta thấm thía mà thấy lòng ấm lại giữa mùa đông, chớ không phải thứ cay xé họng để trừng phạt người ăn. Mi đã biết nghe lời dặn của bà Lành rồi đó."
Nghe câu nói ấy, My cảm thấy bao nhiêu mệt mỏi, buốt giá sau những đêm thức trắng bỗng chốc tan biến sạch trơn. Một niềm xúc động ấm áp trào dâng, khiến sống mũi cô cay cay. Cô cúi đầu, thấy hai bàn tay mình vẫn còn vương chút vụn phấn đường trắng muốt.
"Dạ, con cảm ơn dì," My khẽ nói. "Nếu không có bài học về nhánh gừng sẻ ngoài bãi bồi của anh Thiện chỉ cho, và nếu không bị dì mắng đuổi về để tự nhìn lại sự sốt ruột của mình, chắc con đã phá hỏng cả cuốn sổ của nội."
*
Dì Mến thở dài một tiếng thật êm, ánh mắt nhìn ra khoảng sân chợ lất phất mưa phùn, như thể đang nhìn ngược về một miền ký ức xa xôi nào đó đã phủ bụi thời gian. Dì với tay kéo chiếc ghế đẩu con dưới gầm phản gỗ, bảo My ngồi xuống rồi tự tay rót cho cô một chén trà sen ấm nóng. Chiếc chén sứ ấm ran truyền hơi nóng vào lòng bàn tay My, xua bớt cái giá buốt ngấm từ sáng sớm.
"Ngồi xuống đây uống miếng nước cho ấm bụng," dì Mến cất giọng trầm buồn, không còn vẻ sắc lạnh nơi thương trường. "Mi có biết vì răng mệ Lành lại ghi tên dì vào trang sổ mứt gừng ni không?"
My đón lấy chén trà bằng cả hai tay, lắc đầu thật thà: "Dạ, con chỉ biết trong sổ nội ghi làm mứt gừng cho dì Mến ở chợ Đông Ba kèm lời dặn: 'cay vừa thôi, lòng người đã đắng đủ rồi'. Chuyện ngày xưa nội ít khi kể cho chúng con nghe."
Dì Mến bùi ngùi kể lại trận đại hồng thủy năm xưa cuốn trôi sạch hàng họ, chính bà Lành đã đứng ra vận động bà con xóm kiệt gom đơn mứt gừng Tết ứng tiền trước để dì có vốn dựng lại sạp hàng.
"Năm đó là mùa lũ năm Thìn," dì Mến khẽ chép miệng, giọng chùng xuống rưng rưng. "Trời đất Huế ni có năm mô mà không mưa dầm lụt lội, nhưng trận đại hồng thủy năm nớ nước sông Hương lên nhanh như quỷ dữ. Chỉ trong một đêm, nước tràn bờ, cuốn phăng toàn bộ hàng họ trong chợ Đông Ba. Sạp thuốc Nam và kho thảo mộc của gia đình dì trôi sạch ra biển Thuận An, không còn vớt vát được một manh chiếu rách. Tiền của tích cóp bao năm đổ xuống sông xuống biển hết. Lúc nớ dì còn trẻ, tay bế con thơ, tay trắng nợ nần bủa vây, chủ nợ đến xiết từng đồng, dì tuyệt vọng đến mức chỉ muốn ôm con nhảy cầu Tràng Tiền cho rảnh nợ."
Dì Mến dừng lại, đôi bàn tay gầy gầy miết nhẹ lên thành chén trà sứ, ánh mắt ngấn lệ. Những nếp nhăn nơi khóe mắt dì như hằn sâu thêm bởi nỗi đau thương của quá khứ dội về:
"Đúng cái hôm dì cùng quẫn nhất, trời vẫn mưa tầm tã, mệ Lành lội nước ngập tới ngang thắt lưng sang tận túp lều rách của mẹ con dì. Mệ không nói những lời an ủi sáo rỗng, mệ mang cho dì một âu cháo gừng nóng hổi, rồi móc trong túi áo bà ba ra một bọc tiền gói kỹ trong vải nhựa. Mệ bảo: 'Dì Mến, đây là tiền gom đơn mứt gừng Tết của bà con trong xóm kiệt An Cựu và bạn bè quanh vùng. Mọi người tin tay nghề làm mứt truyền thống của dì nên đặt cọc trước toàn bộ tiền hàng Tết, nhờ dì đứng ra mua gừng bãi bồi, mua đường mía về sên mứt giúp xóm'. Mệ chìa tờ danh sách dài dằng dặc những chữ ký, người năm cân, người mười cân, người vài lạng."
Dì Mến nhìn sâu vào mắt My, giọng nghẹn ngào:
"Mãi sau ni dì mới biết, làm chi có bà con mô trong xóm gom đơn nhiều đến rứa giữa lúc nhà mô cũng ngập lụt cơ hàn! Đó là toàn bộ số tiền dưỡng già, tiền mệ Lành dành dụm phòng thân suốt bao nhiêu năm trời. Mệ đem hết ra, nhưng mệ sợ dì mang mặc cảm vay nợ, sợ dì tủi hổ vì lòng tự trọng của con người xứ Huế, nên mệ đã lặn lội đội mưa đi gõ cửa từng nhà trong xóm kiệt, bảo mọi người ký tên vào tờ đơn đó để dì có cái cớ đường hoàng mà nhận vốn làm lại từ đầu. Nhờ đợt mứt gừng Tết năm nớ, dì không chỉ trả được nợ mà còn có vốn dựng lại cái sạp hàng Thảo Mộc Gia Truyền ni cho đến tận ngày hôm nay. Dì mang ơn mệ Lành suốt một kiếp người, món nợ ân nghĩa nớ, dì trả răng cho hết được hả My?"
Nghe câu chuyện của dì Mến, My bàng hoàng lặng đi. Cổ họng cô nghẹn ắng. Chén trà sen trên tay khẽ run rẩy, từng làn hơi nước mờ ảo bốc lên làm nhòa đi bóng hình người phụ nữ trước mặt. Hóa ra đằng sau mỗi món ăn trong cuốn sổ của bà nội không chỉ là những kỹ thuật nấu nướng tinh xảo của đất cố đô, không chỉ là chuyện phân biệt lửa non hay lửa già, chọn gừng sẻ hay gừng lai, mà là cả một mạng lưới sinh kế, là cách đối nhân xử thế bao dung, tế nhị đến thắt lòng. Bà không bao giờ ban phát lòng tốt một cách trịch thượng; bà luôn bọc sự cứu giúp bằng thể diện và sự tôn nghiêm của người nhận. Món mứt gừng của bà có vị cay the ấm áp, ngọt lành, bởi nó được nêm nếm bằng sự thấu cảm sâu xa với nỗi đau của kiếp người, để kẻ lỡ bước không phải nuốt thêm cay đắng vào tâm can.
*
Trong lúc xúc động mở chiếc túi vải bố để lấy khăn giấy chấm nhẹ khóe mắt, My vô tình làm rơi xấp tài liệu in màu bóng bẩy mang theo ban sáng ra mặt phản gỗ. Tập tài liệu rơi đập nhẹ xuống tấm chiếu cói, những trang bìa cứng bung ra, để lộ những dòng chữ in hoa nắn nót và các biểu đồ đa sắc.
Đó là tập hồ sơ đề án mà My đã dày công thiết kế trong những ngày đầu mới về Huế: *“Bếp Của Bà – Chiến lược định vị thương hiệu chuỗi ẩm thực di sản và nhượng quyền trải nghiệm cố đô”*. Trên trang bìa cứng in hình ảnh đồ họa cách điệu lộng lẫy, kèm theo những biểu đồ tăng trưởng, các mục tiêu truyền thông mạng xã hội, những thuật ngữ marketing đao to búa lớn như *“Tái cấu trúc trải nghiệm khách hàng cao cấp”*, *“Kể chuyện thương hiệu độc bản”* và *“Tối ưu hóa chuỗi giá trị nông sản bản địa bằng hình ảnh hóa câu chuyện truyền thống”*.
Dì Mến liếc nhìn xấp tài liệu với dòng tiêu đề hoa mỹ in mực nhũ lấp lánh. Đôi mày lá liễu của dì khẽ cau lại. Dì đưa ngón tay lật qua vài trang giấy bóng loáng, mắt lướt qua những khẩu hiệu giật gân và bảng dự trù doanh số.
Ánh mắt dì Mến đanh lại, sự xúc động ban nãy nhường chỗ cho vẻ sắc sảo, nghiêm cẩn của một bậc tiền bối từng nếm trải mọi thăng trầm nơi chợ đời.
Nhìn thấy xấp tài liệu My cầm theo có in tiêu đề hoa mỹ về dự án định vị thương hiệu Bếp Của Bà, dì Mến thẳng thắn phê bình rằng món ăn Huế tồn tại nhờ tấm lòng tử tế và giá mua công bằng cho người nông dân chứ không nhờ những khẩu hiệu rỗng tuếch.
"Mi định dùng căn nhà rường của mệ Lành, dùng mấy món ăn trong cuốn sổ ni để làm cái thứ kinh doanh ồn ào ni đó hả My?" Dì Mến gõ nhẹ đầu ngón tay lên tập hồ sơ, giọng lạnh băng nhưng từng lời nói ra lại nặng như chì.
My lúng túng, gò má ửng đỏ vì ngượng ngùng: "Dạ... thưa dì, con vốn làm nghề truyền thông ở Sài Gòn. Khi nghĩ đến việc giữ lại căn nhà của nội và trả nợ viện phí, con đã nghĩ mình phải xây dựng một mô hình tiếp thị chuyên nghiệp, định vị thương hiệu thật bắt mắt thì mới thu hút được khách du lịch thượng lưu, mới bán được giá cao để nhanh chóng có lợi nhuận bù đắp chi phí..."
"Sai rồi con!" Dì Mến cắt ngang lời cô, giọng dứt khoát nhưng không hề cay nghiệt mà chất chứa nỗi xót xa. "Mi quen thói buôn bán chữ nghĩa nơi phố thị, tưởng rằng gắn cái mác 'di sản', thêu dệt dăm ba câu chuyện lâm ly bi đát rồi dán nhãn bóng bẩy lên là thành món ăn Huế sao? Đồ ăn xứ Huế ni sống được qua hàng trăm năm, vượt qua bao nhiêu tao loạn lũ lụt, không phải nhờ mấy cái khẩu hiệu rỗng tuếch vẽ ra trên giấy bóng!"
Dì Mến chỉ tay ra hướng cổng chợ, nơi những người phụ nữ gánh rau, gánh gừng đang cặm cụi dưới mưa phùn:
"Món mứt gừng hay tô bún bò tồn tại được là nhờ củ gừng sẻ cay nồng trồng trên đất sỏi Kim Long, là nhờ giọt mồ hôi của người nông dân dầm mưa dãi nắng cuốc từng tấc đất bãi bồi. Mi muốn mở bếp ăn, mi tính bán một hộp mứt, một bữa cơm với giá trên trời bằng cách kể chuyện bà mi, nhưng mi đã tính đến chuyện trả cho người nông dân trồng gừng bao nhiêu chưa? Mi có ép giá người ta sát ván để 'tối ưu hóa lợi nhuận' như mấy cái biểu đồ trong giấy ni vẽ ra không?"
My sững sờ. Từng câu từng chữ của dì Mến như những nhát búa giáng thẳng vào sự ngạo mạn nghề nghiệp mà bấy lâu nay cô vẫn ôm giữ. Cô đã quen với tư duy của một nhà làm tiếp thị hiện đại: dùng câu chuyện cảm xúc để nâng giá trị vô hình của sản phẩm lên gấp mười, gấp trăm lần giá trị nguyên liệu thực tế, đồng thời tìm mọi cách cắt giảm chi phí đầu vào để làm đẹp bảng báo cáo tài chính. Cô từng nghĩ đó là sự khôn ngoan, là sự sắc bén của một chuyên gia kinh doanh. Nhưng trước mặt một người phụ nữ cả đời sống bằng hạt thảo mộc chân chất, thứ tư duy ấy bỗng trở nên trần trụi, nhẫn tâm và ích kỷ biết bao.
"Mệ Lành của mi cả đời nấu ăn cho xóm, chăm sóc từng người, mệ chưa từng tính toán thiệt hơn," dì Mến tiếp tục, ánh mắt nhìn thẳng vào đáy mắt My. "Món ăn Huế là sự tử tế. Tử tế từ cách chọn nhánh gừng cằn cỗi cho đúng giá trị của nó, tử tế trong việc trả một cái giá công bằng cho người làm đất, người bán than, cho tới việc nâng niu cái miệng ăn của người thưởng thức. Nếu mi biến ký ức của bà mi thành một thứ công cụ tiếp thị hào nhoáng để kiếm tiền nhanh, thì mi đang làm nhục mệ Lành, chớ không phải tiếp nối di nguyện của mệ mô!"
Khoảng không gian nhỏ giữa sạp thảo mộc bỗng trở nên ngột ngạt. Tiếng mưa rơi ngoài mái tôn nghe lộp độp như gióng vào lòng My những hồi trống cảnh tỉnh. Lời phê bình thẳng thắn, không chút kiêng nể của dì Mến khiến My bừng tỉnh hoàn toàn. Cô nhìn lại tập hồ sơ bóng bẩy nằm trơ trẽn trên phản gỗ, bên cạnh hộp mứt gừng mộc mạc và chén trà sen thanh khiết. Những con số ROI (tỷ suất hoàn vốn), những biểu đồ phân khúc khách hàng cao cấp, những chiến dịch truyền thông lan tỏa mà cô từng tự hào là đỉnh cao của sự chuyên nghiệp, bỗng hiện hình như những tấm áo rách lòe loẹt, kệch cỡm và vô hồn.
Cô đã từng mải mê lập kế hoạch để "bán" câu chuyện của bà, mà quên mất rằng bà chưa từng bán điều gì cả. Bà chỉ sống trọn vẹn, công bằng và nâng đỡ những người xung quanh bằng từng bữa ăn tử tế. Nếu biến căn bếp của bà thành một cỗ máy kiếm tiền dựa trên sự bóc lột thầm lặng những người trồng trọt nghèo khó, thì cô có khác chi những kẻ buôn đất đang dòm ngó xâu xé mảnh vườn An Cựu?
*
Thấm thía từng lời chỉ bảo, My hít một hơi thật sâu. Lồng ngực cô căng tràn luồng khí lạnh thoảng hương quế hồi. Lòng cô không còn cảm giác tự ái hay hụt hẫng, chỉ còn lại sự sáng tỏ và một lòng biết ơn sâu sắc.
Cô vươn tay cầm lấy tập hồ sơ bóng bẩy in tiêu đề dự án hoa mỹ ấy. Trước ánh mắt ngạc nhiên của dì Mến, My kiên quyết xé đôi tập tài liệu. Tiếng giấy tráng bóng xé rách roạt vang lên dứt khoát. Rồi cô xé tiếp làm tư, làm tám, gom toàn bộ những biểu đồ, những khẩu hiệu tiếp thị rỗng tuếch bỏ gọn vào chiếc túi rác bên hông sạp hàng. Đôi bàn tay cô dứt khoát, không một chút ngập ngừng, như thể vừa trút bỏ được một lớp áo giáp nặng nề đã giam hãm linh hồn mình suốt bao nhiêu năm nơi thương trường đô hội.
Dì Mến nhìn hành động của cô gái trẻ, khóe môi khẽ giật giật, ánh mắt ánh lên vẻ hài lòng sâu kín.
My mở ba lô, lấy ra một cuốn sổ tay bìa cứng mới tinh, hoàn toàn bằng giấy mộc chưa viết dòng nào, cùng một cây bút mực. Cô đặt cuốn sổ lên mặt phản gỗ, nắn nót viết dòng tiêu đề đầu tiên ở trang bìa trong:
*“Bếp Của Bà — Mạng lưới nông sản công bằng và liên kết cộng đồng kiệt An Cựu.”*
Từng nét chữ mực đen ngấm sâu vào thớ giấy thô ráp, không hào nhoáng, không bóng bẩy, nhưng chắc nịch và vững chãi. Ngẩng đầu nhìn dì Mến, My nói bằng tất cả sự chân thành và khiêm nhường:
"Dì Mến, con sai rồi. Con cảm ơn dì đã mắng cho con tỉnh ngộ. Con muốn xin phép dì làm người đầu tiên ký vào cuốn sổ này. Bếp Của Bà sau này nếu mở được, con cam kết sẽ không bao giờ ép giá tiểu thương hay người trồng nông sản. Con xin được nhập gừng sẻ bãi bồi loại một từ sạp của dì quanh năm, theo đúng mức giá công bằng mà dì và người nông dân đưa ra để đảm bảo công sức lao động của mọi người được đền đáp xứng đáng."
Dì Mến nhìn những nét chữ nắn nót, rắn rỏi của My trên trang sổ mới, rồi bật cười thành tiếng—một tiếng cười sảng khoái, đôn hậu làm bừng sáng cả gương mặt khắc khổ:
"Được! Mi biết bỏ cái vỏ ngoài bóng bẩy để giữ lấy cái ruột chân thật, rứa mới đúng là cháu nội của mệ Lành! Cứ ghi tên dì vào trang đầu tiên. Dì sẽ giữ mối gừng sẻ Kim Long ngon nhất cho mi, nhưng dì nói trước, hàng xấu là dì không giao, mà mi nấu ẩu là dì qua mắng vốn liền đó nghe chưa!"
Dì vươn bàn tay gầy guộc cầm lấy cây bút mực, ký một nét chữ dứt khoát bên dưới cam kết của My. My mỉm cười gật đầu, cẩn thận ghi lại thông tin liên lạc của dì Mến, quy chuẩn chọn gừng sẻ và cam kết giá mua minh bạch vào cuốn sổ mới. Món ăn thứ năm trong di nguyện của bà nội—món mứt gừng Huế—đến đây chính thức hoàn thành trọn vẹn, không chỉ ở hương vị cay ngọt đượm nồng trong hộp thiếc, mà ở sự chuyển hóa tận sâu bên trong tâm thức của chính cô. Cô không còn là một cô giám đốc tiếp thị lạc lối giữa những thủ thuật kiếm tiền, mà đã bắt đầu bước những bước chân vững vàng trên con đường di sản của người bà quá cố.
Thế nhưng, niềm vui chưa kịp lắng xuống thì dì Mến bỗng nghiêng người lại gần My, giọng hạ thấp đầy vẻ lo lắng:
"À My ni, dì có chuyện ni phải cảnh báo cho mi biết trước để mà liệu đường xoay xở. Sáng hôm qua dì thấy chú Vinh của mi dẫn một thằng cha bận đồ vest bảnh bao, nghe đâu là môi giới đất đai lớn từ ngoài Đà Nẵng vào, đi đi lại lại quanh mép sông An Cựu rồi chỉ trỏ vào căn nhà rường của bà mi. Dì nghe lỏm người ta nói họ đang thẩm định giá đất để chuẩn bị làm dự án phân lô bán nền chi đó. Chú mi đang kẹt tiền dữ lắm, nghe đâu cuối tuần ni gia đình mi họp chốt hạn thời gian sáu tuần buộc mi phải chứng minh tính khả thi, nếu không là chú mi ký giấy bán đứt căn nhà cho bên nớ liền đó!"
Tim My thắt lại. Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng, buốt nhói hơn cả cơn gió đông bắc thổi qua cửa chợ. Khoản nợ thuốc men, căn nhà đang xuống cấp rệu rã và cái hạn chót sáu tuần mà chú Vinh sắp đưa ra như một tảng đá ngàn cân lại đè nặng lên vai cô. Chú Vinh vốn là người thực tế, thậm chí có phần cay nghiệt sau những vấp ngã làm ăn thất bại. Đối với chú, căn nhà rường cổ kính của bà chỉ là một đống gỗ mục và mảnh đất vàng bên mép sông có thể đổi ra tiền mặt để trang trải nợ nần. Chú không tin vào những hoài niệm, càng không tin vào những giá trị vô hình mà My đang cố công gầy dựng.
"Dạ, con cảm ơn dì đã báo trước. Con sẽ tìm cách nói chuyện với chú," My cố giữ giọng bình tĩnh, dù những ngón tay đang siết chặt mép cuốn sổ tay.
"Phải cẩn thận nghe con," dì Mến dặn thêm, ánh mắt đầy vẻ ái ngại. "Người đời khi túng quẫn thì họ làm liều lắm. Mi có lòng với căn nhà thì phải giữ cho vững, đừng để người ta dồn vào chân tường."
Tạm biệt dì Mến, My cất chiếc hộp thiếc rỗng và cuốn sổ mới vào ba lô, bước ra khỏi chợ Đông Ba. Mưa dầm đã tạnh bớt, nhưng bầu trời xứ Huế vẫn xám xịt một màu chì ảm đạm. Gió từ sông Hương thốc lên từng cơn buốt giá, lay giật những cành phượng vĩ trơ trụi ven bờ. My đạp xe qua cầu, đầu óc căng như dây đàn. Sáu tuần—bốn mươi hai ngày ngắn ngủi để xoay chuyển một định kiến, để chứng minh rằng căn bếp di sản này có thể tự nuôi sống nó và cứu lấy mảnh đất thiêng liêng của gia đình. Đó là một canh bạc khắc nghiệt mà cô không được phép thất bại.
*
My đạp xe về đến đầu kiệt An Cựu khi đồng hồ điểm mười một giờ trưa. Khói bếp nhà ai bay lơ lửng trên những rặng tre, phảng phất mùi củi ướt nồng nồng. Dòng sông An Cựu đục ngầu phù sa lững lờ trôi dưới chân cầu đá.
Vừa quẹo xe vào ngõ dẫn về căn nhà rường cổ kính, My đã cảm nhận thấy một bầu không khí khác lạ bao trùm lên con ngõ nhỏ. Tiếng chim hót ríu rít mọi ngày dường như biến mất, chỉ còn lại sự ngột ngạt, căng thẳng đè nén giữa hai hàng rào chè tàu xanh mướt.
Một chiếc xe máy lạ đời mới dựng chỏng chơ bên hàng rào dâm bụt. Dưới bóng cây khế già trước sân, bóng dáng quen thuộc của chú Vinh đang đứng tựa lưng vào cột cổng gỗ lim, nét mặt đăm chiêu, căng thẳng tột độ. Khói thuốc lá từ điếu thuốc trên môi chú bay mù mịt trong làn không khí ẩm ướt, tàn thuốc rơi vãi lả tả trên nền gạch rêu phong.
Nhìn thấy My đạp xe vào, chú không nói một lời chào, chỉ gõ gõ những đốt ngón tay thô ráp lên tập giấy tờ đang kẹp dưới nách.
Tiếng gõ cửa gấp gáp ngoài ngõ: Chú Vinh xuất hiện trước hiên nhà cùng tập hồ sơ địa chính dày cộp.