Danh tính Người Giữ Bóng
Dưới làn mưa bụi giăng mờ trên đường Lê Lợi, Nam và Bảo Châu lặng lẽ bám theo bóng người phụ nữ mặc áo khoác sẫm màu rẽ vào một quán trà cổ nép mình sau hàng rào chè tàu nhìn ra bờ nam sông Hương.
Mưa xứ Huế về chiều không nặng hạt nhưng dai dẳng, bện thành một màng sương ẩm ướt trùm lên những vòm ngô đồng đang trút lá và dãy lan can đá chạy dọc bờ sông. Gió từ mặt nước phả vào từng đợt buốt lạnh, mang theo vị phù sa ngai ngái cùng mùi bùn non đặc trưng của khúc sông Truồi đổ về hạ lưu. Hơi nước bảng lảng như khói nhang, phủ mờ những nhịp cầu Tràng Tiền phía xa xa, biến bóng người trên phố thành những vệt xám chập chờn trôi vô định. Nam kéo cao cổ chiếc áo khoác dạ đã ngấm sũng hơi ẩm, một tay siết chặt quai chiếc cặp da chứa tập tài liệu sao lục vừa tiếp nhận từ tay Đỗ Ngọc Hà tại phòng lưu trữ. Từng thớ da thuộc của chiếc cặp cọ vào lòng bàn tay anh ráp lạnh, nhắc nhở về sức nặng của những trang chứng từ bốn mươi năm tuổi đang nằm yên bên trong. Bên cạnh anh, bước chân của Bảo Châu có phần gấp gáp, đế giày cao su miết lên mặt vỉa hè lát đá hoa cương phát ra những tiếng rít nhỏ đều đặn; hơi thở cô phả ra khói mờ giữa không khí đặc quánh hơi nước, đôi vai khẽ co lại dưới lớp áo len dày.
Bóng người phụ nữ phía trước đi không nhanh, từng bước khoan thai, tà áo măng-tô màu lam thẫm chấm gót khẽ lay động theo nhịp bước vững chãi. Bà không một lần ngoái đầu nhìn lại phía sau, không có lấy một cử chỉ vội vã hay cảnh giác thừa thãi, nhưng cái cách bà cố ý rẽ vào lối đi lát đá chẻ dẫn qua cổng tam quan bằng gạch vồ rêu phong mách bảo Nam rằng, người này biết rõ họ đang theo sau từng bước chân. Đó là sự thản nhiên của kẻ đã chủ động giăng sẵn một bàn cờ, hoặc giả, là sự buông xuôi đầy kiêu hãnh của một người đã chờ đợi cuộc gặp này từ quá lâu.
Bước qua cánh cổng tam quan, không gian phố xá như bị gạt phắt lại sau bức tường hoa đúc bằng gạch cổ vỡ. Hiện ra trước mắt họ là một ngôi nhà rường ba gian hai chái cổ kính, mái lợp ngói liệt phủ kín rêu xanh từng tầng lớp, rìa ngói xô lệch theo thời gian tạo thành những đường lượn mềm mại như sóng nước. Phía trên khung cửa chính bằng gỗ lim xước đen, bảng hiệu gỗ mun khắc chìm hai chữ “Trầm Hương” thếp vàng đã xỉn màu, chỉ còn hắt lên những tia sáng yếu ớt dưới bóng đèn lồng. Bên trong quán, ánh đèn vàng ấm áp hắt ra từ những chiếc lồng đèn bọc lụa Hà Đông treo lơ lửng giữa những hàng cột gỗ kiền kiền đen bóng, mùi trầm kiến thoang thoảng quyện cùng hương trà sen phảng phất trong không gian tĩnh mịch đến mức nghe rõ từng giọt mưa nhỏ tí tách từ hiên ngói rỏ xuống bể cạn nuôi bèo tây và những cụm hoa súng tím biếc.
Người phụ nữ không bước vào gian giữa nơi có những chiếc sập gụ khảm xà cừ dành cho khách đông, mà chủ động chọn chiếc bàn góc khuất sát khung cửa sổ mắt cáo bằng gỗ kiền kiền ở chái tây. Nơi đó, tầm nhìn mở thẳng ra khúc quanh mờ ảo của dòng Hương Giang đang chìm dần vào bóng hoàng hôn tím thẫm, nhưng lại hoàn toàn tránh được ánh mắt soi mói từ phía quầy pha chế và cửa chính. Bà thong thả cởi chiếc khăn choàng tơ tằm màu xám tro, vắt nhẹ lên thành ghế tựa chạm trổ hoa văn dơi ngậm đồng tiền, rồi đưa tay tháo cặp kính đồi mồi đặt lên mặt bàn đá cẩm thạch trắng vân mây. Từng động tác của bà chuẩn xác, chậm rãi, toát lên phong thái của một phụ nữ từng sống trong nhung lụa hoặc được trui rèn qua một nền nếp gia giáo cực kỳ khắt khe.
Dưới ánh sáng vàng của ngọn đèn lồng treo thấp, Nam bước tới, kéo chiếc ghế đối diện cho Bảo Châu rồi ngồi xuống bên cạnh. Anh không vội lên tiếng, ánh mắt nhà nghề lập tức quét qua người phụ nữ đang ngồi đối diện, ghi nhận từng chi tiết dù là nhỏ nhất trên nhân diện và phục trang của bà.
Chiếc áo len dệt kim cổ lọ màu xám nhạt ôm lấy phần cổ cao gầy guộc nhưng thanh thoát. Dù thời gian đã hằn lên khóe mắt những nếp nhăn sâu hoắm và làn da có phần sạm đi vì sương gió, những đường nét quý phái trên gương mặt bà vẫn không hề bị xóa nhòa. Nhưng trên nền áo xám ấy, nổi bật lên một mặt dây chuyền bằng bạc xưa, chế tác theo hình bông sen cách điệu ba cánh xòe rộng buông hờ hững trước ngực. Thế nhưng, điều khiến con ngươi của Nam lập tức co rút lại chính là phần tâm của bông sen bạc: người thợ kim hoàn không hề đính ngọc bích hay đá quý như thói thường, mà chạm khắc tinh xảo một khung hình ô van ôm trọn lấy một dấu ấn sáp thu nhỏ màu cánh gián sẫm. Hoa văn trên dấu ấn ấy khắc chìm hình ba nhánh cây sơn bao bọc một chiếc lá khuyết mất gân phải—chính là biểu tượng từng xuất hiện trên mảnh sáp niêm phong cổ rơi dưới chân bàn kho bến Cẩm Phô và trong các chứng từ thu mua vỏ trứng vịt Thu Bồn năm 1984 mà họ vừa lần mở tại Hội An cách đây hai ngày.
Người phụ nữ nâng chiếc chén sứ men lam bốc khói nghi ngút, nhấp một ngụm trà sen nhỏ. Hơi nóng phả lên làn da mỏng manh, đôi môi thoa son màu cánh dán khẽ nhếch lên, tạo thành một nụ cười nửa như châm biếm, nửa như thấu suốt mọi cơ sự trần đời.
— Quách Nhật Nam, chuyên gia giám định độc lập lừng danh của giới cổ ngoạn Sài Gòn, — giọng bà trầm ấm, phát âm chuẩn xác ngữ điệu thanh tao của tầng lớp trí thức Huế xưa, từng âm tiết tròn trịa và chậm rãi, nhưng bên dưới lớp vỏ bọc êm ả ấy lại pha chút rắn rỏi, dứt khoát của một người quen nắm quyền sinh sát trong tay. — Và cô Trương Bảo Châu, kỹ sư phục chế đầy nhiệt huyết, niềm tự hào học thuật duy nhất còn sót lại của nhà họ Trương. Hai người bám theo tôi một quãng đường mưa gió như vậy, chắc không phải chỉ để tìm một chỗ uống trà nóng?
Bảo Châu siết chặt hai bàn tay đặt trên đùi, các đầu ngón tay trắng bệch vì căng thẳng. Cô nhìn trân trân vào gương mặt người phụ nữ—khuôn mặt trái xoan góc cạnh, sống mũi cao thanh tú hơi gồ lên ở phần sống, và đặc biệt là đuôi mắt dài thăm thẳm mang một nỗi u uất khó tả. Cảm giác quen thuộc kỳ lạ trào dâng trong lồng ngực khiến Châu nghẹn lời; đó là cảm giác của một người nhìn thấy những nét phác thảo thân thuộc trên một bức chân dung đã thất lạc nhiều năm.
Nam không để sự im lặng kéo dài biến thành bất lợi tâm lý. Anh đặt chiếc cặp da lên đùi, khóa kim loại bật mở một tiếng “tách” khô khốc, xé tan sự tĩnh mịch của góc quán trà. Từ trong xấp hồ sơ được phân loại cẩn thận bằng bìa kẹp không chứa axit, Nam rút ra một tấm ảnh đen trắng khổ 18x24 cm được bọc cẩn mật trong màng polyester bảo quản.
Đó là bức ảnh chụp nhóm thợ và nghệ sĩ tại xưởng thử nghiệm chất liệu Huế vào mùa thu năm 1978, tư liệu mà Đỗ Ngọc Hà vừa trích xuất từ hộp lưu trữ số TL-78/MT-04 cách đây chưa đầy một giờ tại Trung tâm Lưu trữ.
Nam đặt tấm ảnh xuống giữa bàn, dùng đầu ngón tay trỏ đẩy nhẹ về phía người phụ nữ. Ánh sáng vàng của đèn lồng rọi thẳng vào trung tâm bức ảnh, nơi một người phụ nữ trẻ ngoài đôi mươi đang đứng cạnh bàn mài vóc nước, tay cầm thanh đá mài bùn, tóc búi gọn sau gáy, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào ống kính máy ảnh của tiệm ảnh Hương An. Dù bức ảnh đã ngả sang màu nâu đỏ của muối bạc qua gần nửa thế kỷ, vẻ mặt kiên định và đôi bàn tay gầy guộc vấy đầy bùn khoáng vẫn hiện lên sắc nét đến từng đường gân.
— Tấm ảnh này chụp vào tháng 10 năm 1978, tại xưởng mài vóc thực nghiệm số 14 đường Lê Lợi, — Nam nói chậm rãi, giọng điềm tĩnh nhưng từng từ đều mang sức nặng của chứng cứ vật chất không thể chối cãi. — Người phụ nữ trong ảnh là nghệ nhân Nguyễn An, khi đó tròn hai mươi tư tuổi. Bà ấy là người đã tự tay hom đất phù sa sông Truồi, bó ba lớp vải gai thô và kiểm soát buồng ủ ẩm cho bốn bức đại tác phẩm đầu tiên của danh họa Trương Diệp.
Người phụ nữ trước mặt Nam không đưa tay chạm vào tấm ảnh, nhưng ánh mắt bà bỗng chốc đông cứng lại. Con ngươi mở rộng, cơ mặt bà khẽ giật nhẹ một nhịp vô cùng kín đáo, bờ môi thoa son mím chặt lại thành một đường thẳng tắp. Chiếc chén trà trên tay bà dừng lơ lửng giữa không trung.
Nam tiếp tục, ngón tay anh di chuyển từ gương mặt người phụ nữ trong bức ảnh năm 1978 sang khuôn mặt của người đang ngồi đối diện qua làn khói mỏng:
— Cung xương gò má cao, sống mũi hơi gồ ở đốt thứ hai, khóe mắt trái có một nếp gấp mí không đối xứng sâu hơn bên phải 1,5 milimét, và đặc biệt là vết sẹo nhỏ hình lưỡi liềm ở đuôi mày phải—hệ quả của một mảnh vóc tre bật trúng khi bà còn nhỏ xíu chơi quanh xưởng vóc Tương Bình Hiệp. Nét tương đồng nhân trắc học này không thể là sự ngẫu nhiên của tạo hóa.
Nam dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào cặp mắt sâu thẳm sau làn khói trà sen:
— Người Giữ Bóng, kẻ đã đột nhập kho bến Cẩm Phô cạy tủ sắt Thu Bồn, kẻ đã gửi bức thư đánh máy Olympia đến bàn làm việc của tôi ở Hội An, và cũng là người đã dàn dựng cuộc tráo chuyển bức tranh thứ mười ba ngay trong đêm tang lễ tại biệt thự đường Điện Biên Phủ... Tên thật của bà là Lê Tường Vân. Bà là con gái ruột duy nhất của cố nghệ nhân Nguyễn An.
Một khoảng im lặng chết chóc bao trùm góc quán. Bên ngoài cửa sổ mắt cáo, tiếng mưa rơi trên mái ngói ngột ngạt và nặng hạt hơn, gõ những nhịp buồn bã, đều đặn xuống phiến đá xanh bên dưới hiên nhà. Khói trầm quyện lấy hơi lạnh sông Hương, tạo nên một bầu không khí ngột ngạt đến nghẹt thở.
Bảo Châu hít một hơi thật sâu, lồng ngực phập phồng sau lớp áo len dày:
— Bà... bà thực sự là con gái của bà An? Mẹ tôi... mẹ tôi vừa gọi điện, bà ấy thú nhận rằng suốt bốn mươi năm qua đã luôn sống trong mặc cảm tội lỗi vì những gì gia đình tôi đã đối xử với mẹ bà... Mẹ tôi nói bà ấy không hề hay biết chuyện bản hợp đồng năm 1979 bị xé bỏ cho đến tận ngày ông ngoại tôi trăn trối...
Một tiếng cười khẽ, lạnh tanh phát ra từ cổ họng Lê Tường Vân. Tiếng cười không lớn nhưng mang theo một sự khinh miệt buốt giá, khiến Bảo Châu bất giác rụt người lại. Bà Vân ngả người ra lưng ghế tựa, ánh mắt toát lên sự kiêu hãnh pha lẫn cay đắng khôn cùng tích tụ qua bao năm tháng.
— Bà Trương Thanh Mai mà cũng biết mặc cảm tội lỗi sao? — Vân cất giọng, từng lời như nhát dao lam cứa vào bầu không khí ẩm ướt của quán trà. — Bốn mươi năm! Bốn mươi năm mẹ tôi phải sống mai danh ẩn tích ở xưởng mộc Tương Bình Hiệp, ngày ngày ngửi mùi mủ sơn ta nồng nặc, nhìn những bức tranh mà mình đánh đổi cả tuổi thanh xuân, hít bụi sơn đến loét phổi, ngâm tay trong nước lạnh buốt xương đến biến dạng từng khớp ngón tay... được người đời tung hô dưới tên của một mình Trương Diệp! Giới buôn tranh gọi ông ta là 'thiên tài độc bản', bảo tàng xưng tụng ông ta là 'đại thụ sơn mài' của hội họa hiện đại Việt Nam. Còn mẹ tôi là ai? Trên văn bản phân công năm 1979 lưu trữ tại chính mảnh đất này, tên của bà bị cạo sửa bằng dao trổ, viết đè lên bằng thứ mực rẻ tiền để hạ nhục bà thành một đứa 'thợ phục chế' ăn lương nhật trình!
Vân đưa bàn tay thon dài gầy guộc chộp lấy chén trà, nhưng ngón tay bà run lên bần bật khiến nước trà sóng sánh sánh ra mặt bàn đá cẩm thạch trắng, tạo thành một vệt nước loang lổ như vết sẹo cũ:
— Đúng! Tôi là Lê Tường Vân. Tôi mang họ cha tôi, một người lính đã hy sinh ở chiến trường miền Trung, để mẹ tôi không phải chịu thêm những lời đàm tiếu nghiệt ngã của dòng họ Trương quyền quý. Mẹ tôi chấp nhận nuốt đắng cay, chấp nhận mang danh phận một người thợ vô danh chỉ để bảo vệ sự trong sạch của tình yêu nghệ thuật mà bà tôn thờ. Biệt danh 'Người Giữ Bóng' là do giới săn tranh tự gán cho tôi khi tôi lần theo từng vết tích của mẹ suốt mười lăm năm qua. Nhưng tôi nói cho hai người biết, Quách Nhật Nam, Trương Bảo Châu: tôi không bao giờ là một kẻ trộm tranh hèn hạ để trục lợi cá nhân!
Bảo Châu nghiêng người về phía trước, hai mắt rực lên, giọng run rẩy nhưng tha thiết:
— Nếu không trục lợi, tại sao bà lại thuê người đột nhập phòng tranh của ông ngoại tôi? Bức tranh thứ mười ba không chỉ là một bức tranh, nó là lời trăn trối cuối cùng của ông tôi! Ông tôi muốn 'trả tên cho người giữ nền'! Ông đã để lại bức thư sám hối, ông muốn đặt tên bà Nguyễn An bên cạnh chữ ký của ông trước khi nhắm mắt!
— Trả tên? — Vân bật cười chua chát, ánh mắt bà rực lên ngọn lửa giận dữ rực cháy. — Trương Diệp muốn trả tên, hay lương tâm cắn rứt của một ông già gần đất xa trời muốn mua một tấm vé chuộc tội rẻ mạt trước khi xuống mồ? Cô có biết cậu ruột cô, Trương Minh Khang, đã lên kế hoạch gì vào cái đêm tang lễ đó không? Cô có biết đằng sau những vòng hoa trắng và những lời khóc lóc thương tiếc là một vụ buôn bán bẩn thỉu đến mức nào không?
Nam đặt hai tay lên mặt bàn, mắt không rời khỏi từng biến chuyển trên cơ mặt của Tường Vân. Anh bình tĩnh tiếp lời, giọng anh đều đặn như đang trình bày một bản giám định trước tòa:
— Trương Minh Khang đã nợ hơn ba mươi tỷ đồng từ các khoản đầu tư đất đai ở Thủ Thiêm. Chúng tôi đã trích xuất nhật ký máy chủ an ninh tại biệt thự: tài khoản quản trị của Khang đã ngắt nguồn rơ-le camera số 2 và số 3 đúng 45 phút, từ 01:15 đến 02:00 sáng. Khang khai rằng ông ta mở cửa phụ để một chuyên gia thẩm định do Phạm Đức Lâm của mạng lưới Lam Thành phái đến nhằm định giá bức tranh thứ mười ba, chuẩn bị cho một hợp đồng mua nợ thế chấp.
Lê Tường Vân gật đầu, ánh mắt lộ vẻ khinh bỉ tột cùng dành cho kẻ mang dòng máu họ Trương:
— Các người chỉ mới biết một nửa sự thật. Không phải là 'chuẩn bị cho hợp đồng mua nợ'. Thằng Khang đã nhận trước mười tỷ đồng tiền mặt từ Phạm Đức Lâm để ký vào một thỏa thuận ngầm: ngay khi Trương Diệp tắt thở, bức tranh thứ mười ba—chìa khóa duy nhất chứng minh sự tồn tại của xưởng thợ và quyền tác giả của mẹ tôi—sẽ được ngắt camera, đưa ra khỏi phòng tranh, chuyển thẳng ra cảng Cát Lái để lên một chuyên cơ chở hàng bay sang Singapore, bán đứt cho một nhà sưu tập giấu tên trong bộ sưu tập tư nhân vĩnh viễn không bao giờ xuất đầu lộ diện!
Vân hít một hơi dài, lồng ngực bà nghẹn lại vì cơn phẫn uất chực trào:
— Tôi có tai mắt trong giới vận chuyển nghệ thuật của Lam Thành. Khi biết được âm mưu bẩn thỉu đó của Trương Minh Khang và Phạm Đức Lâm, tôi không còn sự lựa chọn nào khác. Bức tranh đó là bằng chứng sống duy nhất về máu thịt và danh dự của mẹ tôi. Nếu nó rơi vào tay nhà sưu tập tư nhân ở nước ngoài, nó sẽ bị cạo sạch lớp sơn then mặt sau, bị đổi tên, hoặc bị giam cầm trong những căn hầm bảo mật vĩnh viễn không ai biết đến. Tôi không thể để một kẻ cờ bạc đê tiện và một tên buôn tranh vô đạo đức đem nó ra nước ngoài bôi xóa vĩnh viễn. Chính tôi đã liên lạc với Mai Quốc Huy.
Cái tên vang lên như một tiếng sét giữa gian phòng trà u tịch. Bảo Châu thảng thốt, bàn tay cô vô thức vịn chặt vào tay ghế:
— Mai Quốc Huy? Cậu ta là bạn học của tôi, một thợ phục chế... Cậu ta từng cùng tôi thức trắng nhiều đêm để phục dựng những mảng sơn cổ...
— Mai Quốc Huy là một kẻ có tài năng thiên bẩm về tay nghề, nhưng lại có lòng tham và sự tự ti mù quáng, — Vân lạnh lùng ngắt lời Châu, ánh mắt không hề có chút thương hại. — Tôi biết Huy nắm giữ hợp đồng bảo trì định kỳ hệ thống tủ hút ẩm trong xưởng vẽ của Trương Diệp. Tôi biết Huy có chìa khóa phòng kho phụ và am hiểu từng ngóc ngách, từng vị trí đặt cảm biến nhiệt trong căn biệt thự. Tôi đã trả cho Huy một tỷ đồng—toàn bộ số tiền tích cóp cả đời tôi từ việc kinh doanh đồ cổ mỹ nghệ—để cậu ta lợi dụng chính khoảng trống 45 phút mà Trương Minh Khang ngắt camera đón người của Lam Thành, đi trước một bước, đưa bức tranh thứ mười ba ra ngoài một cách an toàn.
Nam nheo mắt, chắp nối những mắt xích kỹ thuật mà anh đã khám phá tại xưởng Bình Lợi với lời khai của Vân:
— Kế hoạch ban đầu của bà là gì?
— Huy phải mang bức tranh thật ra điểm hẹn bí mật tại bến đò Bình Quới lúc 02:30 sáng, — Vân nói, ánh mắt lộ vẻ uất hận dồn nén đến run rẩy. — Tại đó, người của tôi đã chờ sẵn một chiếc xe chuyên dụng có kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm để đưa bức tranh ra một nơi an toàn. Tôi chỉ muốn bảo vệ nó cho đến khi di chúc được công bố chính thức, cho đến khi tôi thu thập đủ tài liệu lịch sử để buộc Hội đồng thừa kế nhà họ Trương phải quỳ xuống xin lỗi vong linh mẹ tôi trước công chúng! Tôi muốn một lời xin lỗi công khai, chứ không phải một sự dàn xếp kín kẽ trong bóng tối!
— Nhưng Mai Quốc Huy đã không làm đúng như bà dặn, — Nam tiếp lời, giọng anh chùng xuống, mang sự sắc lạnh của một người đã nhìn thấu toàn bộ màn kịch tráo trở mà kẻ thứ ba đã dựng lên. — Cậu ta đã tự ý chế tác một bản vóc thế chỗ khổ 30x40 cm, dùng bạc lá công nghiệp Đài Loan 10,9x10,9 cm phủ butyl acetate, rồi đặt bản sao đó vào trong hộp gỗ trắc niêm chì của Trương Diệp trước khi mang bức thật rời đi.
Đôi mắt của Lê Tường Vân mở to, chứa đựng một sự sững sờ chân thực không thể giả tạo. Bà bàng hoàng nhìn Nam, chiếc khăn tơ tằm trên thành ghế khẽ tuột xuống sàn gỗ:
— Bản... bản sao thế chỗ? Cậu nói cái gì? Huy đã đặt một bản sao vào két sắt?
Nam và Bảo Châu đưa mắt nhìn nhau. Phản ứng sinh lý học của Vân—đồng tử giãn nở cực độ, lồng ngực thắt lại, hai bàn tay vô thức bấu chặt vào mép bàn đá cẩm thạch đến mức các khớp ngón tay trắng bệch—chứng minh bà hoàn toàn không hề biết về sự tồn tại của tấm vóc giả trong hộp gỗ trắc. Bà hoàn toàn bị gạt ra ngoài rìa mưu mô tự phát của gã thợ phục chế trẻ tuổi.
— Đúng vậy, — Bảo Châu cất giọng chua xót. — Ngày mở niêm phong kiểm kê, cả gia đình tôi và luật sư Hoài Thu đều bàng hoàng khi phát hiện tấm vóc trong hộp là đồ giả mới toanh, lớp sơn then còn chưa khô thấu bên trong lòng vóc. Chính Nam đã dùng kính hiển vi và phương pháp phân tích quang học vạch trần vết dao gọt từ thép nhíp xe lửa độc nhất của Huy. Cậu ta đã lừa cả bà, lừa cả Lam Thành và lừa cả gia đình tôi!
Lê Tường Vân tựa người vào ghế, sắc mặt tái nhợt như tro tàn dưới ánh đèn lồng. Bờ môi bà run rẩy, hơi thở gấp gáp:
— Thằng khốn nạn... Thảo nào... thảo nào đêm hôm đó nó không xuất hiện ở bến đò Bình Quới! Nó đã tính toán tất cả ngay từ đầu...
— Hãy kể cho chúng tôi nghe chuyện gì đã xảy ra sau 02:00 sáng đêm đó, — Nam thúc giục, giọng anh kiên quyết, kéo bà trở lại với thực tại.
Vân nhắm nghiền mắt lại trong giây lát, như đang cố gắng xua đi một cơn choáng váng vừa ập đến:
— Đêm đó, tôi đợi ở bến Bình Quới từ một giờ sáng. Trời mưa tầm tã, nước sông Sài Gòn dâng cao mấp mé mép bến. Đến gần ba giờ, điện thoại của tôi nhận được một tin nhắn ngắn từ một số rác của Huy: 'Có biến. Người của Lam Thành bám quá sát, không thể ra sông. Hàng an toàn, nhưng tôi phải ẩn mình'. Sau đó số máy bị hủy hoàn toàn. Tôi đã cho người lùng sục khắp Sài Gòn, cho người mai phục quanh xưởng của nó ở Bình Thạnh, nhưng xưởng đóng cửa im ỉm. Mãi đến hai ngày sau, tôi mới nhận được một bức thư chuyển phát nhanh không người gửi, bên trong chỉ có một bức ảnh chụp góc nghiêng của bức tranh thật để chứng minh nó vẫn còn nguyên vẹn, kèm theo một lời đe dọa: nếu tôi báo công an hoặc để lộ tung tích của nó cho mạng lưới Lam Thành, nó sẽ tiêu hủy bức tranh ngay lập tức.
— Huy hoảng sợ, — Nam phân tích rành rẽ, từng chi tiết khớp nối hoàn hảo với những gì anh tìm thấy tại xưởng Bình Lợi. — Cậu ta nhận 500 triệu tiền cọc từ công ty bình phong của Phạm Đức Lâm để làm vóc thử nghiệm mô phỏng phong cách Trương Diệp, rồi lại nhận một tỷ đồng của bà để lấy trộm bức tranh thật. Huy tự ý tráo bản sao vào két để trì hoãn việc gia đình phát hiện mất tranh, tạo ra một khoảng đệm an toàn về thời gian. Cậu ta nghĩ rằng Khang ngắt camera nên Khang sẽ không dám làm ầm ĩ khi phát hiện tranh giả vì sợ lộ hành vi bán trộm. Nhưng khi mang bức tranh thật ra khỏi biệt thự, Huy phát hiện đàn em của Lâm phục sẵn ở các ngả đường xung quanh khu vực Điện Biên Phủ. Sợ hãi bị Lam Thành thủ tiêu để cướp tranh, đồng thời sợ bị bà khống chế, Huy đã đưa bức tranh thật đi một nơi khác mà không giao cho bà, tự mình giữ kín biên nhận lưu kho ngoại quan.
— Biên nhận lưu kho? — Ánh mắt Tường Vân lóe lên một tia sắc lạnh, sự cảnh giác cố hữu lại trỗi dậy trong đáy mắt. — Cậu tìm thấy biên nhận lưu kho của nó?
— Chúng tôi tìm thấy một nhãn dán kho ngoại quan quốc tế bằng giấy kraft chống nước giấu dưới gờ bàn làm việc của Huy, — Nam trả lời cẩn trọng, không để lộ toàn bộ thông tin chi tiết về tọa độ. — Nhãn mang biểu tượng mười ba ô cửa sổ vòm cùng mã số 'D.S. - 13/VN - C3'. Đó cũng chính là biểu tượng trên mảnh sáp niêm phong mà bà đã đánh rơi tại kho bến Cẩm Phô ở Hội An hai ngày trước.
Lê Tường Vân khẽ giật mình, rồi bà bật cười cay đắng, tiếng cười nghẹn ngào trong cổ họng:
— Ra là vậy... Các người lần theo dấu vết của tôi từ Hội An ra tận đây. Thảo nào Huỳnh Bảy lại giao cuốn sổ vật tư 1984 cho các người mà từ chối tôi. Nhưng Quách Nhật Nam này, cậu nghĩ cậu là ai? Cậu là một giám định viên làm việc tự do, được cô Trương Bảo Châu đây thuê về bằng tiền của Hội đồng thừa kế. Sau lưng cô ta là ai? Là Trương Minh Khang, là dòng họ Trương giàu sang quyền thế. Các người muốn tìm lại bức tranh thứ mười ba để làm gì? Để bảo vệ cái di sản 'hoàn hảo' của Trương Diệp, để tổ chức những cuộc triển lãm triệu đô, hay để chia chác tài sản cho êm thấm nội bộ gia tộc?
Vân quay ngoắt sang nhìn Bảo Châu, ánh mắt đầy vẻ ngờ vực và thù địch:
— Cô Bảo Châu, cô nói cô muốn khôi phục danh dự cho mẹ tôi. Nhưng nếu sự thật về mẹ tôi làm sụp đổ tượng đài Trương Diệp, làm giảm giá trị thương mại của bộ mười hai bức tranh xuống một nửa, liệu cô và mẹ cô có dám công khai nó trước công luận không? Hay các người sẽ lại dùng tiền và quyền lực để ém nhẹm nó như ông ngoại cô đã từng làm suốt bốn mươi năm qua? Lòng vị tha của những kẻ quyền quý bao giờ cũng có một cái giá được niêm yết rõ ràng trên sàn đấu giá!
Bảo Châu cắn chặt môi, mắt ngấn lệ nhưng ánh nhìn không hề né tránh, đối diện thẳng thắn với đôi mắt đầy thù hận của Tường Vân:
— Tôi không quan tâm đến giá trị thương mại! Cậu Khang của tôi có thể phá sản, bộ tranh có thể không bao giờ được đem ra đấu giá quốc tế, nhưng sự thật phải là sự thật. Tôi là một người làm công tác phục chế, bà Vân à. Nguyên tắc tối thượng của người phục chế không phải là làm cho bức tranh trông lộng lẫy để bán được giá, mà là tôn trọng từng lớp vật chất nguyên bản bên dưới! Nếu không có lớp vóc đất Truồi, không có những đường mài nước của bà Nguyễn An, thì mười hai bức tranh của ông tôi chỉ là những mảng màu vô hồn bong tróc trên gỗ mục! Người ta có thể lừa dối lịch sử bằng những cuốn vinh danh, nhưng lớp vóc sơn thì không thể nói dối!
Không gian quán trà chìm vào tĩnh lặng tuyệt đối. Tiếng nước chảy róc rách từ bể cạn nuôi bèo tây bên hiên dường như càng làm tôn thêm sự trang nghiêm của khoảnh khắc ấy. Lời nói phát ra từ tận đáy lòng của Bảo Châu, chan chứa niềm đam mê nghề nghiệp thuần khiết và lòng kiên định của một người phục chế trẻ tuổi, đã đánh trúng vào điểm mềm yếu nhất trong lớp vỏ bọc kiên cố của người phụ nữ mang biệt danh Người Giữ Bóng.
Nam đặt tay lên xấp hồ sơ niêm phong, cất giọng trầm tĩnh nhưng đanh thép, từng lời chắc nịch như đinh đóng vào gỗ:
— Thưa bà Tường Vân, tôi không làm việc vì lợi ích của Trương Minh Khang, càng không làm việc cho công ty đấu giá Lam Thành của Phạm Đức Lâm. Ba năm trước, tôi từng bị chính Lâm và cỗ máy truyền thông bẩn thỉu của hắn vùi dập sự nghiệp chỉ vì tôi kiên quyết từ chối ký chứng thư xác thực cho một bức tranh giả mang danh Trương Diệp. Tôi bị gạt ra khỏi các hội đồng thẩm định lớn, văn phòng của tôi bị cô lập. Tôi hiểu thế nào là nỗi đau của người bị tước đoạt danh dự và tiếng nói.
Nam kéo chiếc đèn lồng lại gần hơn, soi rõ từng trang tài liệu kỹ thuật có thị thực của Trung tâm Lưu trữ mà Đỗ Ngọc Hà vừa đóng dấu giáp lai:
— Đây là bản sao phân tích quang học và dữ liệu đo cắt lớp đa phổ mà tôi trực tiếp thực hiện trên các bức tranh tại Sài Gòn. Tổng độ dày lớp hom và vải gai: 0,648 milimét. Lớp sơn lót then: 0,121 milimét. Các thông số này trùng khớp hoàn toàn, với sai số dưới 0,002 milimét, so với bản kê công việc năm 1979 của mẹ bà tại xưởng Truồi mà Đỗ Ngọc Hà vừa niêm phong bảo quản. Bằng chứng khoa học vật lý không biết nói dối, bà Vân ạ. Nó không chịu sự chi phối của tiền bạc, của lòng tham hay quyền lực gia tộc họ Trương.
Nam nhìn thẳng vào mắt người phụ nữ đối diện, ánh mắt chứa đựng sự đồng cảm sâu sắc:
— Cách duy nhất để phục hồi danh dự cho nghệ nhân Nguyễn An một cách đàng hoàng, bất khả xâm phạm trước pháp luật và lịch sử mỹ thuật, không phải là giấu bức tranh thứ mười ba trong bóng tối, càng không phải là những cuộc trả thù cá nhân bằng cách tẩu tán hay phá hủy nó. Cách duy nhất là đưa bức tranh thật ra ánh sáng, đặt các chứng cứ kỹ thuật này lên bàn của Hội đồng thừa kế và trước mắt toàn thể công chúng. Chúng tôi đã ngăn chặn được âm mưu bán lẻ bộ tranh của Minh Khang và Lam Thành. Luật sư Hoài Thu đã gia hạn phong tỏa pháp lý đối với toàn bộ di sản. Mẹ của Bảo Châu—bà Trương Thanh Mai—đã đồng ý niêm phong bức thư sám hối dài sáu trang của cụ Trương Diệp dưới sự giám sát của pháp luật. Bây giờ, chúng tôi chỉ thiếu một mắt xích duy nhất: tìm lại bức tranh thật 'Người Giữ Nền'.
Nghe đến ba chữ 'Người Giữ Nền', toàn thân Lê Tường Vân khẽ chấn động. Chiếc chén trà tuột khỏi tay bà, rơi khẽ xuống mặt bàn phát ra một tiếng "cạch" thanh mảnh. Ánh mắt bà nhìn Nam biến đổi hoàn toàn, từ sự phòng thủ nghi kỵ chuyển sang nỗi bàng hoàng sâu sắc:
— Cậu... cậu biết tên thật của bức tranh?
— 'Mười hai mặt, một nền; trả tên cho người giữ nền', — Nam đọc chậm rãi từng chữ, ngữ điệu trầm hùng như một lời tuyên thệ. — Dòng chữ khắc chìm sau lớp vóc then, bên cạnh ký hiệu lá sơn khuyết gân phải của mẹ bà. Đó không phải là bức tranh thứ mười ba cùng cấp trong chuỗi triển lãm thương mại. Nó là chiếc khóa đọc quang học, là văn tự chuộc lỗi mà cụ Diệp dành riêng cho bà An và xưởng thợ. Nếu không có bức tranh đó, bộ mười hai bức tranh kia sẽ mãi mãi chỉ là một tác phẩm dang dở, thiếu đi linh hồn đích thực của nó.
Những giọt nước mắt lặng lẽ trào ra từ khóe mắt của Lê Tường Vân, lăn dài trên đôi gò má gầy guộc sương gió. Bà đưa hai bàn tay gầy gò lên che mặt, bờ vai run lên từng hồi nghẹn ngào không sao kìm nén được. Bao nhiêu cay đắng, bao nhiêu năm tháng sống chui lủi, sự cô độc cùng cực khi phải một mình đối đầu với cả một đế chế nghệ thuật lẫy lừng... tất cả những gánh nặng đè nặng lên vai bà suốt nửa đời người dường như vỡ òa ra trong tích tắc trước sự kiên định và thấu hiểu đến tận cùng của hai người trẻ tuổi đang ngồi trước mặt bà.
Bên ngoài, tiếng mưa sông Hương vẫn rơi đều đặn, rả rích trên những tàu lá ngô đồng, nhưng không khí ngột ngạt, căng thẳng trong góc quán trà đã hoàn toàn tan biến, nhường chỗ cho một sự tĩnh lặng thanh thản lạ kỳ.
Sau vài phút trấn tĩnh, Vân lấy chiếc khăn tay bằng vải lanh lau khô khóe mắt. Bà hít một hơi dài, phong thái quý phái, điềm đạm thường ngày dần trở lại, nhưng ánh mắt bà giờ đây nhìn Nam và Châu đã không còn một tia thù địch hay ngờ vực nào nữa.
— Các người nói đúng, — giọng bà khàn đi nhưng nhẹ nhõm vô cùng, như vừa trút bỏ được một tảng đá ngàn cân đè nặng trong ngực. — Tôi đã quá đa nghi, đã để nỗi hận thù bốn mươi năm che mờ mắt mình. Tôi cứ ngỡ cả gia đình họ Trương đều là những kẻ cướp công trơ trẽn, chỉ biết đến danh vọng hão huyền và những món tiền kếch xù. Nhưng nghe cô Châu nói, nhìn cách cậu Nam đối chiếu chứng cứ khoa học... tôi biết mẹ tôi dưới suối vàng cuối cùng cũng đã gặp được những người thực sự trân trọng mồ hôi nước mắt của người làm nền.
Vân cúi xuống, kéo chiếc túi xách bằng da thuộc cũ kỹ đặt bên cạnh chân ghế. Đôi bàn tay bà nâng niu chiếc túi như thể bên trong chứa đựng một báu vật thiêng liêng. Bà cẩn thận lấy ra một cuốn sổ tay nhỏ bọc bìa vải gai nhuộm chàm đã sờn rách ở các góc gáy, mép vải tưa ra những sợi chỉ trắng xơ xác. Đó là cuốn sổ tay di vật duy nhất của nghệ nhân Nguyễn An để lại cho con gái trước khi qua đời.
Từ kẹp giữa cuốn sổ tay, Vân rút ra một tờ giấy dó khổ A4 gấp tư, mép giấy đã ngả sang màu vàng rơm của thời gian và hơi ẩm, bốn góc mép giấy mòn vẹt vì qua tay người mở ra gấp vào hàng trăm lần.
Bà cẩn thận mở từng nếp gấp của tờ giấy ra, miết nhẹ lòng bàn tay lên bề mặt thô ráp của giấy dó, rồi đặt phẳng phiu lên mặt bàn đá cẩm thạch, ngay bên cạnh chén trà sen đã nguội ngắt.
Đó là một bản vẽ sơ đồ kiến trúc được dập lại bằng mực than đen từ các nét khắc gỗ nguyên bản, đường nét vô cùng chi tiết, tinh vi và chuẩn xác đến từng milimét.
— Đây là sơ đồ của Biệt thự Mười Ba Ô Cửa tại Đà Lạt, — Vân nói, ngón tay trỏ gầy guộc của bà khẽ chạm vào trung tâm bản vẽ. — Mẹ tôi đã dập lại nó từ bản vẽ tay của Trương Diệp vào mùa đông năm 1982, trước khi bà quyết định dứt áo rời khỏi xưởng vẽ ở Truồi để trở về Bình Dương sinh tôi. Cả đời mẹ tôi chưa từng đặt chân đến Đà Lạt, nhưng bà luôn giữ tờ giấy này bên mình như một lời nhắc nhở cay đắng về nơi mà Trương Diệp đã từng hứa sẽ xây dựng một bảo tàng chung cho cả hai người.
Nam và Bảo Châu lập tức chồm người về phía trước, ánh mắt dán chặt vào từng đường nét sắc sảo trên tờ giấy dó cổ.
Bản vẽ thể hiện mặt bằng tổng thể và thiết diện cắt ngang của một dinh biệt thự cổ thời Pháp nằm ẩn mình giữa đồi thông cô quạnh. Toàn bộ tầng hai của biệt thự được thiết kế như một xưởng sáng tác khổng lồ, bao quanh bởi hệ thống mười ba ô cửa sổ vòm bán nguyệt vươn dài từ sát mặt sàn lên tận trần nhà bằng gỗ thông đỏ. Trên bản vẽ, từng ô cửa đều được đánh số La Mã từ I đến XIII, kèm theo các góc phương vị chi tiết và những mũi tên mảnh chỉ hướng gió, hướng nắng chiếu vào không gian sáng tác vào các thời khắc khác nhau trong năm: từ tiết Lập xuân, Hạ chí cho đến Đông chí.
— Khi còn sống, mẹ tôi từng nói rằng Trương Diệp đã giấu một bí mật tối hậu tại căn biệt thự này, — Vân chậm rãi giải thích, giọng bà thấp xuống như đang chia sẻ một lời nguyền gia tộc đã được phong kín qua nhiều thập kỷ. — Sau bức vách gỗ của ô cửa thứ mười ba hướng về phía tây, nơi ánh hoàng hôn đồi thông rọi thẳng vào những buổi chiều mùa khô, có một khoang ngầm chứa chiếc két sắt cá nhân của ông ta. Tôi luôn tin rằng trong chiếc két sắt đó, Trương Diệp đã cất giữ các văn tự tài sản, vàng bạc và những khế ước thương quyền đền bù cho công sức của mẹ tôi mà ông ta không bao giờ dám công khai trước mặt gia đình.
Nam không rời mắt khỏi những ghi chú viết tay bằng chì than mờ nhạt ở rìa bản vẽ. Những dòng chữ nghiêng nghiêng mang nét bút phóng khoáng quen thuộc của Trương Diệp: *“Độ ẩm 75%, góc nghiêng 28 độ tây nam, sắc then biến ảo theo giờ Thân”*.
Một luồng điện vô hình chạy dọc sống lưng Nam. Linh cảm nghề nghiệp nhạy bén bừng sáng trong tâm trí anh, xâu chuỗi tất cả những chi tiết rời rạc thành một bức tranh hoàn chỉnh. Manh mối về mười ba ô cửa sổ không hề đơn giản là một nơi cất giấu của cải vật chất, vàng bạc hay văn tự chia chác như Vân suy nghĩ. Dấu hiệu này liên quan mật thiết đến cấu trúc ánh sáng tự nhiên và góc chiếu quang học—thứ nguyên lý vật lý đỉnh cao mà Trương Diệp và Nguyễn An đã cùng nhau nghiên cứu để tạo nên sự liên kết thị giác tuần hoàn cho toàn bộ bộ tranh mười hai bức! Ánh sáng hoàng hôn xiên qua ô cửa thứ mười ba chính là góc chiếu duy nhất có thể kích hoạt lớp bột bạc chìm dưới lớp vóc then của bức tranh cuối cùng.
— Mai Quốc Huy đang giữ bức tranh thật, — Nam ngẩng lên, nhìn thẳng vào Tường Vân, giọng nói đanh thép và đầy quyết đoán. — Nhưng chiếc nhãn kho ngoại quan ở xưởng Bình Lợi in hình mười ba ô cửa và mã 'D.S. - 13/VN - C3' chứng minh rằng lộ trình di chuyển tiếp theo của bức tranh, hoặc ít nhất là chìa khóa để giải mã tung tích kho hàng lưu trữ, đang nằm tại chính căn biệt thự này ở Đà Lạt. Huy đang bị mạng lưới Lam Thành ráo riết săn lùng khắp các cửa khẩu, cậu ta không thể giữ bức tranh bên mình mãi được. Cậu ta buộc phải tìm đến căn biệt thự đó để mở khoang ngầm lấy giấy tờ xuất cảnh hoặc mã mở két!
Lê Tường Vân thở dài một tiếng thật sâu, một tiếng thở dài trút bỏ toàn bộ những uất hận dồn nén suốt bốn mươi năm cuộc đời. Rồi bà đưa hai bàn tay khẽ đẩy tờ bản vẽ sơ đồ về phía Nam:
— Bản vẽ này thuộc về các người. Tôi đã mất nửa cuộc đời để tìm kiếm sự công bằng trong vô vọng, chỉ ôm khư khư hận thù và sự nghi kỵ để rồi suýt nữa tiếp tay cho kẻ xấu hủy hoại tác phẩm của mẹ. Nhưng tôi nhận ra rằng, chỉ có phương pháp khoa học và sự chính trực của các người mới có thể đưa sự thật ra ánh sáng mà không làm vấy bẩn thêm linh hồn của những người đã khuất.
Bảo Châu xúc động nghẹn ngào, cô đưa hai tay đón lấy tờ giấy dó thiêng liêng, cẩn thận đặt vào phong bì bảo tồn trung tính làm bằng sợi cellulose nguyên chất không axit:
— Cháu cảm ơn cô Vân. Cháu xin hứa với cô, nhân danh danh dự của một người phục chế và của một đứa cháu ngoại, tên của cụ Nguyễn An sẽ được trả về đúng vị trí trang trọng nhất bên cạnh ông ngoại cháu. Lịch sử sẽ phải ghi nhận công lao của cụ một cách công bằng nhất.
Tường Vân khẽ mỉm cười, một nụ cười thanh thản hiếm hoi làm bừng sáng gương mặt đượm buồn của người đàn bà đã đi qua quá nhiều dông bão. Bà đứng dậy, khoác lại chiếc áo măng-tô lam thẫm chấm gót, quàng chiếc khăn tơ tằm xám tro lên cổ rồi đeo lại cặp kính đồi mồi quen thuộc.
Bà đứng lặng nhìn Nam và Bảo Châu trong giây lát, ánh mắt sâu thẳm như chứa đựng toàn bộ sự trầm mặc và bao dung của dòng sông Hương ngoài khung cửa sổ.
Tường Vân trao cho Nam một bản phác thảo sơ đồ biệt thự tại Đà Lạt và nói:
— Nếu các người muốn biết chiếc chìa khóa mở ra cái gì, hãy đến nơi có mười ba ô cửa.