Bổn Cung Không Cung Đấu, Bổn Cung Bán Trà SữaCh.7 / 30
Chapter 7

Đổi bình, không đổi phe

Tiếng bình sành va lách cách trong sọt tre đè nặng tâm trí An Trà khi xưởng của Trịnh Mộc báo giá bình mới tăng vọt do thương nhân Vạn Phúc độc quyền nguồn đất sét.

Mặt trời đầu hạ vừa rọi qua kẽ lá trúc sau chái Bếp Đông, rải những vệt sáng lốm đốm lên mặt bàn ván thô mộc. Gió sớm còn vương chút hơi ẩm của bờ hào ven thành, nhưng bầu không khí trong chái bếp hẹp đã bắt đầu ngột ngạt vì mùi tro nguội, mùi rơm rạ ẩm ướt chất ở góc tường và sức nóng âm ỉ bốc ra từ những lò than vừa nhóm.

Người thợ gốm vùng Nam Thành ngồi bệt trên ngạch cửa gỗ mun đã mòn vẹt. Hai ống quần vải thô xắn cao quá bắp chân, để lộ đôi cẳng chân gầy guộc chằng chịt vết xước của củi lửa và đất đá bến sông. Đôi bàn tay thô ráp của ông, những ngón tay bè bè bám đầy bụi lò khô khốc và nứt nẻ từng vệt sâu hoắm quanh kẽ móng, lúc này đang vò chặt lấy nhau đến mức các khớp xương kêu răng rắc. Giọng nói của Trịnh Mộc vừa uất nghẹn vừa bất lực, chìm nghỉm giữa tiếng lách cách của những chiếc bình đất nung chạm vào nhau mỗi khi có luồng gió thổi qua manh cói đậy sọt:

“Nguyễn nữ quan, tôi không dám nuốt lời với cô, nhưng sáng sớm nay lái buôn của Tạ Vinh bên Vạn Phúc đã rải người chặn mua sạch các thuyền chở đất sét trắng từ thượng lưu về. Mấy chiếc thuyền chở đất từ mỏ đá Thượng Cát xuôi dòng vừa cập bến sông rạng sáng thì người của phường buôn Vạn Phúc đã cắm cọc, rải bạc trắng ra bao tiêu trọn mạn thuyền. Các lò nung ở Bến Liễu muốn đỏ lửa đều phải ký giấy nhận phụ gia và mua lại từng tạ đất từ tay chúng. Một chiếc bình miệng nhỏ tráng men xám loại thường, trước đây giao cho cô hai đồng tiền một chiếc, giờ giá lò đã vọt lên bốn đồng rưỡi. Nếu cô không lấy, bọn họ gom sạch để chở đi phủ khác.”

An Trà vươn tay, nhấc một chiếc bình gốm nhỏ từ trong chiếc sọt lót rơm đặt cạnh chân bàn lên ngắm nghía.

Lớp men xám tro trên thân bình thô ráp, không mịn màng như đồ ngự dụng trong nội điện nhưng cầm đầm tay, dày dặn và giữ nhiệt rất tốt. Chiếc bình chỉ cao chừng nửa gang tay, dáng thon, cổ thắt lại để giữ nhiệt và tiện buộc dây cói mang đi, dưới đáy có một vết khắc hình bông hoa trà cách điệu do nàng tự tay rạch dấu từ mẻ gốm đầu tiên bằng một thanh tre vót nhọn. Nàng xoay nhẹ chiếc bình trong lòng bàn tay. Vết rạch nông sâu vừa phải, sau khi phủ lớp men mỏng rồi đưa vào lò lửa rực đỏ ba ngày ba đêm đã chìm hẳn vào xương gốm, trở thành một dấu tích vững chắc, cọ rửa bằng bùi nhùi rơm hay nước sôi cũng chẳng thể nào phai nhạt.

Bốn đồng rưỡi một chiếc vỏ bình.

Con số ấy như một lưỡi dao sắc lẹm cứa ngang vào bài toán kinh tế mà An Trà đang gồng gánh mỗi ngày. Trong đầu nàng, bảng tính toán quen thuộc của đời trước lập tức hiện ra với từng cột số liệu rõ ràng đến tàn nhẫn. Một chén trà sữa củ nhu đầy ắp, ngọt bùi béo ngậy nàng bán ra với giá ba đồng. Ngày hôm qua bán sạch năm mươi suất, doanh thu được một trăm năm mươi đồng, trừ sạch chi phí sữa dê tươi của Vũ Lan, tiền thuê mặt bằng cho Nội đình, than hoa và mật mía, tiền lãi ròng chỉ vỏn vẹn hai mươi ba đồng.

Hai mươi ba đồng tiền kẽm ấy là mồ hôi nước mắt của cả một buổi sớm thức dậy từ canh năm, là đôi tay bị nước sôi làm rát đỏ của Vũ Mai, là những bước chân thoăn thoắt gánh nước của Tống Diệp, và là công sức nàng đứng đảo từng nồi nước củ nhu sánh mịn trên ngọn lửa liu riu. Nếu mỗi người mua mang về đều lấy đi một chiếc bình với giá bốn đồng rưỡi, thì không những chẳng còn một đồng tiền lời nào để gom trả nợ cho Trịnh Mộc, mà quầy trà sẽ lập tức rơi vào cảnh càng bán càng lỗ, vỡ nợ ngay tức khắc. Khởi nghiệp kiểu này chẳng mấy chốc mà biến thành "khởi nợ".

“Không thể tăng giá trà,” An Trà đặt chiếc bình xuống mặt bàn, giọng điềm tĩnh nhưng kiên quyết. Tiếng đáy bình chạm nhẹ vào mặt gỗ vang lên một tiếng cạch dứt khoát. “Khách của chúng ta là thị nữ thêu, phu gánh nước, thư lại trực ca và lính gác cổng thành. Ba đồng tiền là mức họ có thể bấm bụng đổi lấy một bát nước giải nhiệt giữa trưa oi ả sau một ca làm việc quần quật. Tăng lên bốn hay năm đồng, quầy trà sẽ tự tay gạt bỏ chính những người đang nuôi sống mình.”

Nàng hiểu quá rõ tâm lý của những người dưới đáy hệ thống cung cấm này. Với một tiểu cung nữ Ty Châm Khâu, một ngày ngồi còng lưng thêu áo lụa đến mờ cả mắt cũng chỉ nhận được mươi mười lăm đồng tiền công trừ vào khẩu phần ăn uống; với một tên lính canh cổng thành đứng phơi mình dưới nắng hè chói chang, ba đồng kẽm bỏ ra mua một bát nước mát ngọt bùi là cả một sự tự thưởng hiếm hoi sau những giờ thúc quân nghiêm ngặt. Nếu nàng nâng giá lên bốn đồng hay năm đồng chỉ để bù đắp chi phí vỏ bình, họ sẽ lập tức quay gót bước đi, quay trở lại với những gáo nước lã múc vội từ đáy giếng rêu phong để làm dịu cơn khát cháy họng. Mất đi tệp khách hàng cơ sở này, quầy trà sẽ chết yểu trước khi kịp trả xong món nợ bảy quan tiền đang lơ lửng trên đầu.

Tống Diệp vừa từ kho củi bước ra, trên tay ôm một bó thanh củi dẻ khô ráo, nghe vậy liền nhíu mày:

“Nhưng người ta mua mang về các viện, các chái xa thì bắt buộc phải có bình đựng. Chái thêu của Ty Châm Khâu tít mãi bên góc Đông Bắc, dãy chuồng ngựa của Ty Doanh Lực lại nằm sát cổng Nam. Nếu không bán bình, chẳng lẽ bắt người ta bưng chén nước nóng đi băng qua mấy dãy hành lang dài dằng dặc? Đi bộ giữa trưa hè nắng đổ lửa, chưa tới nơi thì nước trà đã nguội ngắt hoặc sánh đổ hết ra vạt áo.”

“Chúng ta không bán đứt bình nữa,” mắt An Trà sáng lên, tư duy quản lý chuỗi cung ứng đời trước lập tức vận hành một cách sắc bén. “Chúng ta cho mượn bình, kèm một khoản tiền bảo lãnh. Ai muốn mang trà đi xa, ngoài ba đồng tiền nước, phải đặt cọc thêm năm đồng tiền bình. Khi uống xong, mang vỏ bình sạch sẽ quay lại quầy trả, ta hoàn trả nguyên vẹn năm đồng tiền cọc, đồng thời trừ bớt một đồng tiền nước cho lần mua kế tiếp.”

Trịnh Mộc trố mắt nhìn nàng, chớp chớp đôi mi bám đầy bụi đất, nét mặt vừa ngỡ ngàng vừa hoài nghi:

“Người ta... người ta có chịu mang cái bình rỗng quay lại không? Trong cung này ai nấy đều vội vã đổi ca, mấy bước chân cũng ngại. Huống chi cái vỏ bình nặng trịch, uống xong rồi tiện tay quẳng vào góc rào hay xó cửa chứ ai hơi đâu tha thẩn xách ngược về Bếp Đông?”

“Năm đồng tiền cọc bằng nửa ngày công của một tiểu cung nữ, lại được bớt một đồng cho cữ trà sau, sao lại không chịu?” An Trà mỉm cười, cầm lấy thỏi mực mài nhẹ vào nghiên đá, từng giọt nước giếng trong vắt hòa tan với sắc mực đen nhánh quánh lại. “Vỏ bình quay về, xưởng của bác Trịnh không cần đốt thêm lò nung mới giữa lúc đất sét bị đội giá, cháu cũng không bị Vạn Phúc bóp nghẹt biên lợi nhuận. Chỉ cần bình không vỡ, một chiếc bình có thể luân chuyển hàng chục lần. Bác chỉ cần chuẩn bị thêm cho cháu năm mươi chiếc bình có khắc dấu hoa trà này để làm đợt xoay vòng ban đầu là đủ.”

Nàng trải phẳng một mảnh giấy dó thô lên mặt bàn, cầm ngọn bút lông chấm đẫm mực rồi nắn nót viết từng nét chữ chân phương, rõ ràng. Quy chế mới lập tức được bổ sung vào tấm bảng gỗ trước hiên:

*Bình có khắc dấu hoa trà – Đổi vỏ sạch nhận đủ năm đồng cọc – Giảm một đồng cho lần mua sau*.

Trịnh Mộc nhìn từng nét chữ đen nhánh hiện lên trên nền gỗ mộc, ngực phập phồng như vừa trút được một gánh nặng ngàn cân. Lão thợ gốm đứng dậy, vỗ mạnh vào bắp đùi còn vương bụi tro lò:

“Được! Nguyễn nữ quan đã tính nước cờ này thì tôi liều theo cô một phen! Chiều nay tôi về Bến Liễu, gom hết số bình còn lại trong lò nướng vét, đích thân khắc đủ năm mươi vết hoa trà rồi gánh sang đây trước giờ đóng cổng thành!”

***

Chỉ sau ba ngày, sáng kiến của An Trà đã tạo nên một cảnh tượng chưa từng có trong các bức tường thành thâm u của nội đình Đại Ninh.

Giờ đổi ca buổi trưa, ánh nắng chang chang như đổ lửa xuống những con đường lát đá xanh dẫn từ các viện về hướng Bếp Đông. Mặt đá xanh hấp thụ hơi nóng suốt từ ban mai, bốc lên những làn sóng nhiệt mỏng manh làm cảnh vật nơi xa méo mó, rung rinh. Bình thường vào giờ này, những dãy hành lang dài hun hút nối giữa các viện phòng chỉ có tiếng bước chân vội vã, nặng nhọc của những con người kiệt sức vì công việc khổ nhọc, ai nấy đều cúi gằm mặt muốn mau chóng chui vào một bóng râm để thở dốc.

Thế nhưng dạo này, dọc theo hành lang dài hun hút, người ta bắt đầu thấy từng tốp cung nhân, thị nữ của Ty Châm Khâu, thợ dệt của Ty Doanh Lực và thư lại từ các viện sách rảo bước đi lại. Không khí bỗng chốc trở nên rộn rã một cách khác lạ. Trên tay mỗi người, kỳ lạ thay, đều xách theo một chiếc bình gốm xám mộc mạc, nơi cổ bình thắt một sợi dây cói mảnh, dưới đáy lộ rõ vết khắc hoa trà thanh mảnh.

Người thì cầm một bình, người nhận mua giùm cho cả phòng thì xách ba bốn bình lách cách va vào nhau thành những nhịp điệu rộn ràng, vui tai. Tiếng gốm sành gõ vào nhau lanh canh hòa lẫn với tiếng guốc gỗ nện trên nền đá, tạo thành một thanh âm sinh động xua tan vẻ ảm đạm thường nhật của cấm cung.

Chiếc bình gốm vốn chỉ là vật dụng đựng nước giải khát bỗng chốc trở thành một món đồ quen thuộc đến mức ai nấy đều giữ gìn cẩn thận. Người uống xong liền lấy nước giếng tráng sạch cặn trà, lau khô ráo rồi để dành chờ đến giờ mở bán mang đi đổi tiền cọc. Mấy cô thêu bên Ty Châm Khâu thậm chí còn dùng mảnh vải vụn lau bóng loáng miệng bình, cẩn thận luồn sợi dây cói qua quai xách rồi treo ngay ngắn bên cạnh khung cửi. Không ai muốn làm mẻ hay sứt miệng bình, bởi một vết nứt nhỏ cũng có thể khiến họ mất trắng năm đồng tiền cọc quý giá.

Cái cảm giác cầm chiếc bình sạch bóng trả lại quầy, nghe tiếng An Trà hay Vũ Mai lách cách đếm trả năm đồng tiền đồng sáng loáng, rồi múc một muôi trà sữa thơm lừng với giá chỉ còn hai đồng tiền mặt, khiến ai nấy đều cảm thấy mình vừa kiếm được một món hời lớn. Người lao động vốn chắt bóp từng đồng bỗng thấy việc uống một chén trà bổ dưỡng không còn là điều xa xỉ, mà lại vô cùng sòng phẳng, tiện lợi. Họ không phải vứt đi chiếc vỏ vô dụng, cũng không phải gánh thêm chi phí đắt đỏ của lò gốm xa xôi.

Đến ngày thứ năm, chiếc bình gốm khắc dấu hoa trà đã len lỏi khắp mọi ngóc ngách, từ dãy nhà giặt của Ty Hoán Y bốc mùi xà phòng nồng nặc cho đến tận trạm gác cổng Cửa Tây Dịch lộng gió bụi đường.

Chính tại nơi này, rắc rối bắt đầu nhen nhóm từ một câu nói đùa tai hại.

Đầu giờ Mùi, cái nắng đầu hè như thiêu đốt mặt sân đá bên ngoài vọng gác Cửa Tây Dịch. Những bụi gai góc tường héo rũ, lá rụng xơ xác dưới chân rào gỗ. Thư lại Lê Thuận ngồi sau chiếc bàn kê sát vọng gác Cửa Tây Dịch, tay phe phẩy chiếc quạt nan rách mép, mắt đảo nhìn đoàn người xe ra vào cổng phụ. Đầu đội mũ cánh chuồn vải thô đã sờn mép, cổ áo mở phanh để lộ bờ ngực gầy guộc nhễ nhại mồ hôi, Lê Thuận uể oải cầm chiếc bút lông đã cùn ngọn, thỉnh thoảng lại gõ cồm cộp lên cuốn sổ thông hành dày cộp.

Khi Vũ Mai mang hai chiếc bình gốm sạch bước qua cổng phụ để ra nhận sữa từ tay chị gái Vũ Lan, Lê Thuận ngẩng đầu lên, thấy dưới đáy bình lộ rõ hình đóa hoa trà quen thuộc. Cùng lúc đó, bốn người lính tuần tra vừa hết ca trực từ trên mặt tường thành đi xuống, thắt lưng tháo lỏng, tay xách lủng lẳng những chiếc bình gốm men xám kêu lanh canh. Cách đó không xa, hai viên dịch lại thuộc Ty Cung Ứng cũng đang vừa lau mồ hôi trán vừa cầm chiếc bình y hệt bước lại gần mép cổng để chờ đổi ca.

Nhìn thấy cảnh tượng ai nấy đều mang theo thứ đồ gốm giống hệt nhau, Lê Thuận ngửa cổ cười ha hả, buột miệng trêu đùa bằng chất giọng the the vang vọng khắp cổng thành:

“Chà chà, dạo này ra đường chẳng cần nhìn thẻ bài áo mão nữa! Cứ ngó tay ai cầm cái bình gốm có khắc hoa trà này là biết ngay người một phe! Đi đâu cũng gặp người một nhà của Hiên Trà Sau Bếp cả!”

Mấy người lính nghe vậy thì cười rộ lên, giơ chiếc bình lên cụng vào nhau một tiếng *cốc* giòn tan:

“Chuẩn đấy thầy Lê! Uống trà sữa củ nhu vừa mát ruột vừa tỉnh táo trực đêm, ai chẳng muốn nhập phe này! Mấy hôm trước trực ca Ba buồn ngủ rũ mắt, uống một hơi hết nửa bình trà mát lạnh, mắt sáng quắc như đuốc soi, đứng gác đến sáng bảnh mắt mà bụng vẫn no êm!”

Tiếng cười vô tư vang lên giữa trưa hè, nhưng không ai để ý rằng, cách đó chỉ năm bước chân, phía sau rèm che của chiếc xe ngựa chở hàng vừa đỗ lại, một bóng người trong sắc phục lục phẩm đã đứng sững từ lúc nào.

Đỗ Kính – viên quản kho phụ trách tiếp nhận và phân bổ vật tư của Kho Bếp Đông – chậm rãi vén rèm bước xuống.

Lão đứng lặng trong bóng râm của mái hiên vọng gác, hai bàn tay giấu trong ống tay áo thụng siết chặt lấy nhau. Đôi mắt ti hí của lão nheo lại, nhìn chằm chằm vào dấu hoa trà khắc dưới đáy chiếc bình trên tay người lính đang giơ cao giữa ánh nắng. Khuôn mặt vuông vức béo phị của lão giần giật, lớp mỡ dưới cằm rung lên theo từng nhịp thở dồn dập.

Mấy ngày nay, Đỗ Kính ăn không ngon ngủ không yên. Lão cấu kết với Tạ Vinh bên Liên hiệu Vạn Phúc, vốn tính dùng việc gom sạch lò nung ở Bến Liễu để đẩy giá đồ gốm lên cao, ép quầy trà của An Trà phải quỳ gối van xin mua vật dụng từ kho của Vạn Phúc với giá cắt cổ, hoặc buộc phải đóng cửa quầy vì lỗ vốn. Lão đã tính toán kỹ lưỡng: chỉ cần quầy trà không có bình đựng, khách mua mang đi sẽ giảm hơn một nửa, doanh thu tụt dốc, con bé nữ quan ranh ma kia sẽ không tài nào xoay sở nổi số tiền nợ gốm cũ lẫn mới, cuối cùng đành phải ngoan ngoãn dâng nộp quầy trà hoặc rút lui khỏi Bếp Đông.

Nào ngờ, con nha đầu kia lại nghĩ ra cái trò thu hồi bình cũ, khiến xưởng của Trịnh Mộc vẫn túc tắc sống, còn An Trà thì hoàn toàn độc lập, chẳng thèm ngó ngàng gì đến mạng lưới hàng hóa của lão. Bình gốm cứ xoay vòng từ tay người uống về lại tay người bán, dòng tiền kẽm vẫn đều đặn chảy vào túi An Trà mà không rớt lại một đồng nào cho mạng lưới trung gian của Vạn Phúc.

Không những thế, lão không thể tự ý sửa sổ sách kiểm soát xe cộ tại Cửa Tây Dịch vì Lê Thuận ghi chép quá tỉ mỉ. Lão luôn lo sợ những chuyến xe chở rơm rỗng mang danh chở đường cát của Vạn Phúc sẽ bị phanh phui nếu Ty Khảo Sổ bắt đầu lần theo dấu vết. Đang lúc loay hoay tìm cách bóp chết mối nguy hại này, câu đùa bỡn của Lê Thuận chẳng khác nào miếng mồi béo bở dâng tận miệng.

“Người một phe? Tín vật khắc dấu? Mạng lưới liên lạc ngầm?” Đỗ Kính khẽ lẩm bẩm trong miệng, một nụ cười nham hiểm nở ra trên khóe môi thâm xì.

Lão quay ngoắt người, vạt áo lục phẩm phần phật trong gió nóng khi lão leo vội lên cỗ xe ngựa, cất giọng the thé quát phu xe:

“Quay đầu! Lên sảnh Nội đình ngay lập tức!”

Chỉ một canh giờ sau, một tờ trình khẩn có đóng dấu mộc của Kho Bếp Đông đã được đệ thẳng lên sảnh Nội đình, tới tận bàn làm việc của Quản sự Phạm Tĩnh.

Trong tờ trình, Đỗ Kính dùng những lời lẽ đao to búa lớn, biến một hoạt động tiết kiệm chi phí thành mối đe dọa kỷ cương nghiêm trọng:

*“Nữ quan Nguyễn An Trà mượn danh nghĩa bán nước giải nhiệt, tự ý phát tán bình gốm có khắc ký hiệu riêng biệt khắp mười hai viện; cung nhân mang tín vật đi lại tụ tập, công khai xưng là ‘người một phe’, làm xáo trộn nghiêm trọng trật tự phục vụ, nghi có hành vi kết bè lập phái ngầm trong nội cung. Kính xin Quản sự lập tức hạ lệnh đình chỉ vĩnh viễn quầy trà để giữ nghiêm phép nước.”*

***

Đầu giờ Thân, khi Hiên Trà Sau Bếp vừa bán xong những chén trà cuối cùng và đang chuẩn bị dọn dẹp, tiếng bước chân rầm rộ từ phía ngõ hoa râm bụt đã xé toạc bầu không khí yên bình.

Những bụi râm bụt trổ hoa đỏ chót rung lên bần bật dưới bước chân dồn dập. Đỗ Kính đi đầu, vẻ mặt đằng đằng sát khí, chiếc cằm ngấn mỡ hếch lên ngạo nghễ. Theo sau lão là bốn gã phu kho lực lưỡng mặc áo nẹp chàm, tay cầm gậy gỗ giữ trật tự, bắp tay cuồn cuộn gân guốc. Đi cạnh họ là Quản sự Phạm Tĩnh với nét mặt nghiêm nghị, lạnh như sương mùa đông. Bà mặc áo dài gấm lam sẫm cài khuy ngọc, bước đi khoan thai nhưng mỗi bước chân nện xuống nền đất đều mang theo sức nặng ngàn cân của quyền lực chốn Nội đình.

“Dẹp hết lại! Đóng quầy ngay lập tức!” Đỗ Kính vừa bước tới mép hiên đã vung tay quát lớn, tiếng thét the thé làm mấy con chim sẻ đang nhặt vụn bánh trên cành trúc giật mình bay vút lên trời. Lão chỉ thẳng ngón tay đeo nhẫn ngọc vào mặt An Trà:

“Nguyễn An Trà, gan ngươi to bằng trời! Ban đầu xin thử bán nước thì thề thốt giữ gìn trật tự, nay lại dám khắc dấu riêng lên đồ vật, phát tán khắp nội đình để lôi kéo tay chân, kết bè kết cánh! Lời đồn đã lan đến tận tai các quan quản sự, ngươi còn chối cãi được nữa không?”

Khách mua trà còn nán lại trả bình nghe thấy thế liền hoảng hốt dạt ra xa. Hai tiểu cung nữ Ty Hoán Y đang cầm bình rỗng sợ hãi lùi sát vào chân tường rào, mặt cắt không còn hạt máu, chiếc bình gốm trên tay run lên bần bật suýt rơi xuống đất.

Tống Diệp lập tức bước lên chắn trước mặt An Trà. Nàng đứng thẳng tắp, hai cánh tay rắn chắc khoanh trước ngực, đôi mày rậm nhíu lại, giọng đanh thép:

“Đỗ quản kho, ăn có thể ăn bậy nhưng nói không thể nói bừa! Ký hiệu dưới đáy bình là dấu lò để phân biệt với bát đĩa của kho công, liên quan gì đến chuyện bè phái? Người lao động cực nhọc uống miếng nước giải nhiệt, có cái bình mang đi mang về cho tiện, các người không lo việc cấp phát lại chạy sang đây bới lông tìm vết là có ý gì?”

“Không bè phái mà chính miệng thư lại Cửa Tây Dịch rêu rao ai cầm bình là người một phe à?” Đỗ Kính cười gằn, khóe môi giật giật đầy đắc ý. Lão quay sang Phạm Tĩnh chắp tay cúi rạp người:

“Phạm Quản sự, người xem, khắp các nẻo đường giờ đâu đâu cũng thấy người ta cầm chiếc bình có vết khắc này chuyền tay nhau. Từ lính gác cổng, dịch lại cho đến cung nhân các viện đều coi đây như lệnh bài nhập bọn. Đây rõ ràng là hành vi phát tán tín vật bất minh, gây náo loạn lòng người, mượn cớ bán trà để gầy dựng phe cánh riêng! Nếu không phạt nặng, tịch thu hết số bình này và tống giam kẻ chủ mưu, e rằng kỷ cương của Nội đình sẽ nát như tương!”

Phạm Tĩnh đứng im giữa sân nắng. Đôi mắt phượng sắc sảo của bà khẽ nheo lại, đảo qua dãy bàn ghế gỗ mộc được lau chùi sạch bong, rồi dừng lại ở đống bình gốm đang xếp ngay ngắn bên góc hiên dưới bóng mát của giàn hoa thiên lý. Bà không vội quát tháo, cũng không nghe theo lời kích động của Đỗ Kính, nhưng giọng nói lạnh tanh cất lên mang theo uy quyền tuyệt đối khiến ai nấy đều rùng mình:

“Nguyễn An Trà, ngươi giải thích thế nào về lời đồn này? Nội đình cho phép ngươi mở điểm giải nhiệt để phục vụ người lao động, không phải để biến nơi này thành chốn gầy dựng thanh thế hay phát tán đồ vật vượt khỏi quy chế. Khắc hoa văn riêng, thu tiền cọc bất minh, tụ tập người ngoài giờ chấp vụ... mỗi tội danh ấy đều đủ để tước bỏ thẻ bài nữ quan của ngươi.”

Trước áp lực ngút trời của quản sự và sự hung hăng của Đỗ Kính, An Trà đứng sau lưng Tống Diệp khẽ vỗ nhẹ vào vai người bạn để nàng bình tĩnh lại.

Trong một thoáng tích tắc, một cơn sóng *overthinking* quen thuộc trỗi dậy trong tâm trí nàng — liệu có phải mình đã đánh giá thấp sự suy diễn đầy ác ý chốn thâm cung này? Có phải việc nàng áp dụng mô hình vỏ bình tái sử dụng quá nhanh đã vô tình chạm vào sợi dây nhạy cảm nhất của chế độ phong kiến: nỗi sợ hãi về những hội kín, những mạng lưới liên kết ngầm ngoài tầm kiểm soát của quyền lực? Nhưng sự hoang mang ấy chỉ tồn tại trong đúng ba nhịp thở. Nó nhanh chóng nhường chỗ cho sự bình tĩnh lạnh lùng của một người từng kinh qua bao đợt thanh tra gắt gao của đời trước, một người quen làm việc dựa trên quy trình chuẩn, số liệu thực tế và sự minh bạch tuyệt đối.

An Trà hít một hơi sâu, luồng khí mát lành làm dịu đi lồng ngực đang căng thẳng. Nàng tiến lên nửa bước, đứng ngang hàng với Tống Diệp, cung kính cúi đầu thi lễ đúng mực thước của một nữ quan:

“Bẩm Phạm Quản sự, lời đồn xuất phát từ sự bông đùa thiếu cẩn trọng, nhưng việc quầy trà vận hành có đàng hoàng hay không, xin người hãy dùng mắt nhìn và sổ sách để định đoạt. Con xin phép tạm dừng toàn bộ việc thu hồi và đổi bình ngay từ giờ phút này, kính mời Quản sự đích thân bước vào kiểm tra hai việc: thứ nhất là quy trình vệ sinh an toàn của những chiếc bình này, và thứ hai là sự minh bạch tuyệt đối của dòng tiền cọc.”

Đỗ Kính nghe vậy liền cười khẩy một tiếng đầy khinh bỉ:

“Ngươi lại định giở trò xảo biện gì nữa đây? Rửa mấy cái bình đất thì có gì để xem? Tiền bạc thu của bao nhiêu con người, ngươi giấu vào tay áo hay chuyển ra ngoài cung thì có trời mới biết được!”

“Đỗ quản kho cứ bình tĩnh, có Quản sự ở đây, trắng đen sẽ rõ,” An Trà thản nhiên đáp, ánh mắt nàng nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí của lão khiến Đỗ Kính bất giác phải dời tầm nhìn đi nơi khác. Nàng nghiêng người dẫn đường: “Xin mời người vào chái bếp.”

Phạm Tĩnh khẽ gật đầu, cất bước đi vào. Đỗ Kính thấy vậy cũng vội vã bám theo sau gót, trong bụng đinh ninh phen này chắc chắn sẽ tóm được đuôi cáo của An Trà, biến việc nhỏ thành án lớn để nhổ tận gốc cái gai trong mắt này.

Thế nhưng, vừa bước qua bức mành tre ngăn cách giữa hiên ngoài và gian chái nứa bên trong, cảnh tượng hiện ra trước mắt lại khiến cả Đỗ Kính lẫn Phạm Tĩnh phải sững sờ.

Nơi rửa bình không hề nhớp nháp bùn đất hay bẩn thỉu như Đỗ Kính tưởng tượng. Không có những chậu nước đục ngầu cặn bã, cũng không có cảnh vỏ bình vứt lăn lóc dưới đất cát ẩm ướt. Ngược lại, toàn bộ gian chái nứa được bố trí thành một dây chuyền ba bước cực kỳ khoa học, sạch sẽ và ngăn nắp đến mức đáng kinh ngạc.

Ở góc thứ nhất, trên một chiếc bàn thấp ghép bằng những thanh tre già bào nhẵn, Vũ Mai đang ngồi tỉ mẩn dùng một chiếc chổi xơ dừa nhỏ nhúng vào bát bột tro bếp mịn màng, cọ sạch từng ngóc ngách cặn trà bám trong lòng bình. Bột tro bếp xám mịn cọ vào thành gốm phát ra tiếng sột soạt đều đặn, đánh bay mọi vết ố của mật mía và sữa dê.

Ở góc thứ hai là một chậu sành lớn chứa nước giếng trong vắt vừa múc lên còn mát lạnh. Những chiếc bình sau khi cọ tro được thả vào đây, tráng sạch bong lớp bọt tro xám, làm lộ ra lớp men gốm nhẵn bóng không còn một vệt gợn.

Và ở góc thứ ba, điểm nhấn ấn tượng nhất của gian chái bếp, trên chiếc kiềng sắt ba chân đỏ rực than hoa không khói, một chiếc nồi đồng lớn chứa đầy nước đang sôi ùng ục, hơi nước bốc lên nghi ngút mang theo hơi nóng tinh khiết làm mờ cả một góc vách nứa. Bên trong nồi đồng, ngập sâu dưới làn nước sôi sùng sục là những chiếc bình gốm đang được luộc kỹ.

Cạnh chiếc nồi đồng là một chiếc giá tre ba tầng sạch sẽ, nơi những chiếc bình đã qua khử trùng được úp ngược cẩn thận. Từng chiếc đều ráo nước, ấm nóng và thoang thoảng mùi gốm nung hòa lẫn với mùi nước sôi tinh khiết, tuyệt nhiên không có chút mùi chua nồng của thức uống lưu cữu.

“Bẩm Quản sự,” An Trà bước tới bên cạnh giá tre, cất giọng rành rọt, từng lời nói đều mang sức thuyết phục tuyệt đối:

“Bình gốm mượn đi, khi thu hồi về bắt buộc phải qua nước sôi khử khuẩn ở độ nóng cao nhất mới được phép tái sử dụng cho lượt trà sau. Mùa hè oi bức, thức ăn đồ uống để ngoài trời chỉ nửa ngày là ôi thiu, miệng bình lại là nơi tiếp xúc trực tiếp với miệng của bao nhiêu người khác nhau. Nếu chỉ rửa qua loa bằng nước lã, cặn bẩn tích tụ sinh ra mầm bệnh, nhẹ thì đau bụng kiết lỵ, nặng thì phát tán dịch tả khắp các viện.”

Nàng nhấc một chiếc bình trên giá tre lên, lật ngược đáy bình để lộ đóa hoa trà cách điệu:

“Việc khắc dấu hoa trà dưới đáy bình là quy chuẩn bắt buộc của xưởng gốm Trịnh Mộc: thứ nhất để người dùng nhận diện tránh lấy nhầm bát đĩa của kho công; thứ hai để đảm bảo chỉ những bình đạt tiêu chuẩn xương đất nung chín kỹ, chịu được nhiệt độ sôi sùng sục mà không nứt vỡ mới được thu nhận. Nếu không có dấu riêng, lỡ có kẻ trà trộn bình gốm tạp chất, dùng đất sét sống pha cát kém phẩm cấp vào đây, khi cho vào nồi nước sôi sẽ lập tức nứt toác, hoặc khi đựng trà nóng làm bỏng tay người dùng, quầy trà lấy gì chịu trách nhiệm? Đó là quy chuẩn để bảo vệ an toàn cho người dùng, tuyệt đối không phải tín vật bè phái như lời Đỗ quản kho suy diễn.”

Phạm Tĩnh đứng lặng hồi lâu. Bà chậm rãi bước lại gần chiếc giá tre, vươn những ngón tay thon dài chạm nhẹ vào một chiếc bình gốm vừa vớt ra khỏi nồi nước sôi.

Chiếc bình ấm nóng ran, lớp men gốm khô ráo tinh tươm, không hề vương một hạt bụi hay một vết ố vàng. Bà đưa chiếc bình lên gần mũi ngửi thử. Chỉ có mùi đất nung thanh sạch và hơi nước tinh khiết. Đôi lông mày lá liễu của vị nữ quan quản sự khẽ giãn ra.

Là người nắm giữ quyền điều hành đời sống của hàng ngàn con người trong nội đình suốt hơn mười năm qua, Phạm Tĩnh hiểu rõ hơn ai hết nỗi kinh hoàng của dịch bệnh. Chỉ cần một trận dịch tả bùng phát từ khu bếp ăn của người lao động, nó có thể càn quét qua các viện, lan đến tận hậu cung và cướp đi sinh mạng của biết bao người, đẩy những kẻ quản sự như bà vào cảnh mất đầu hoặc lưu đày biệt xứ. Sự cẩn trọng đến mức cực đoan này của An Trà — dùng tro bếp cọ sạch rồi luộc qua nước sôi ùng ục — không những không sai phạm nửa điểm, mà còn vượt xa cả tiêu chuẩn vệ sinh của Ngự Trù viện!

“Thế còn tiền bạc?” Đỗ Kính thấy sắc mặt Phạm Tĩnh thay đổi, trong lòng bắt đầu hoảng loạn. Lão không thể để con mồi tuột khỏi tay dễ dàng như thế, liền vội vã chĩa mũi dùi sang hướng khác:

“Quy trình rửa bình thì coi như ngươi khéo lo, nhưng tiền bạc thì sao? Ngươi thu của mỗi người năm đồng cọc, một ngày hàng trăm lượt người qua lại là hàng ngàn đồng tiền kẽm! Số tiền đó ngươi giấu đi đâu? Ngươi dùng số tiền bất minh đó để làm gì nếu không phải mua chuộc lính gác, lấy lòng thư lại để tạo dựng vây cánh cho mình?”

“Đỗ quản kho hỏi rất hay,” An Trà không hề nao núng, giọng điềm đạm lạ thường.

Nàng bước lại chiếc bàn nhỏ kê ở góc chái, nơi nàng vẫn ngồi làm việc mỗi tối. Nàng cầm lên một cuốn sổ bọc giấy dầu màu nâu nhạt, mép giấy phẳng phiu không một nếp gấp, cùng một chiếc hộp gỗ lim nhỏ có khóa đồng riêng biệt.

An Trà mở cuốn sổ, bước lại gần và đặt thẳng trước mặt Phạm Tĩnh:

“Bẩm Quản sự, ngay từ ngày đầu áp dụng đổi bình, con đã lập sổ riêng biệt mang tên ‘Khoản thu bảo lãnh đồ gốm’. Trong cuốn sổ này, tiền cọc năm đồng của từng người mượn bình được hạch toán tách rời hoàn toàn với doanh thu bán đồ uống. Mỗi ngày thu bao nhiêu bình, trả lại bao nhiêu tiền cọc, đều ghi rõ giờ giấc và số hiệu thẻ tre của từng người. Tiền cọc là nghĩa vụ nợ phải hoàn trả cho người lao động, không phải là tiền lời của quầy trà, nên tuyệt đối không được phép nhập chung vào hòm tiền lãi.”

Nàng rút từ thắt lưng ra một chiếc chìa khóa đồng nhỏ xíu, tra vào ổ khóa của chiếc hộp gỗ lim. Một tiếng *tách* thanh gọn vang lên.

Nắp hộp mở ra.

Bên trong chiếc hộp gỗ lót vải đỏ, từng xâu tiền đồng mệnh giá năm đồng được buộc ngay ngắn bằng những sợi dây cói xơ đã tước mảnh. Từng cọc tiền xếp lớp lang, thẳng tắp như những viên gạch lát sân, đếm đủ không thiếu một đồng nào so với con số ghi trên trang sổ cuối cùng.

“Tất cả tiền cọc nằm nguyên tại đây, ai mang bình sạch đến trả là nhận lại ngay lập tức. Sổ sách đối ứng từng ngày, từng giờ. Cột thu bên trái, cột hoàn trả bên phải, số tồn quỹ thực tế trong hộp này luôn luôn khớp từng đồng kẽm với con số chốt cuối ngày. Xin hỏi Quản sự, một dòng tiền minh bạch đến từng đồng kẽm, tách bạch hoàn toàn với doanh thu, không thiếu hụt một xu, không mập mờ một chữ, thì có thể dùng để mưu lợi cá nhân hay kết bè phái được hay không?”

Gian chái bếp bỗng chốc im phăng phắc.

Không một ai cất lời. Không khí đặc quánh lại, chỉ còn tiếng nước sôi lách tách trong chiếc nồi đồng trên kiềng than đỏ và tiếng thở dồn dập, nghẹn ứ của Đỗ Kính.

Mặt Đỗ Kính chuyển từ đỏ gay sang xám ngoét như màu tro bếp. Lão trố mắt nhìn cuốn sổ được kẻ cột ngay ngắn bằng mực đen, từng con số ghi chép bằng thứ chữ viết rõ ràng, chuẩn xác đến mức ngay cả những quan kế toán kỳ cựu của Ty Khảo Sổ cũng khó lòng bắt bẻ được nửa điểm sai sót. Từng khoản thu ghi rõ người mượn, từng khoản trả ghi rõ người nhận hoàn tiền. Không có một đồng tiền nào bị rút ruột, không có một con số nào bị tẩy xóa hay viết đè. Sự tức tối nghẹn ứ nơi cổ họng Đỗ Kính, khiến hai quai hàm lão run lên bần bật.

Lão vốn đinh ninh rằng một đứa con gái mới lớn, một tiểu nữ quan bị giáng chức coi kho, khi nắm trong tay một lượng tiền mặt lưu động lớn như thế tất sẽ nảy lòng tham, dùng tiền cọc để xoay vòng mua nguyên liệu hoặc tiêu xài cá nhân, từ đó lộ ra lỗ hổng tài chính để lão bóp chết. Ngờ đâu nàng lại hành xử như một viên đại thần chưởng quản quốc khố lão luyện, phân định rạch ròi giữa "nghĩa vụ nợ" và "doanh thu" — những khái niệm mà một tên quản kho chỉ quen ăn bớt xén như lão thậm chí còn chưa từng nghe tới!

Phạm Tĩnh chậm rãi lật từng trang sổ. Từng ngón tay mảnh khảnh lướt qua những hàng số được đối soát khớp từng ly từng tí. Ánh mắt bà nhìn An Trà ánh lên một sự ngạc nhiên khó giấu, xen lẫn vẻ tán thưởng kín đáo mà bà cố nén lại dưới vẻ mặt nghiêm nghị.

Một nữ quan coi kho bậc thấp, thân cô thế cô giữa chốn hậu cung đầy rẫy cạm bẫy, nợ nần ngập đầu từ vụ án kho củi, mà lại có được cái đầu lạnh như băng, sự chu toàn đến từng chân tơ kẽ tóc và một cung cách làm việc minh bạch đến mức hoàn hảo nhường này. Đây tuyệt đối không phải là một kẻ tầm thường hay một mầm mống gây loạn.

Gấp cuốn sổ lại phát ra một tiếng *bộp* khô khốc, Phạm Tĩnh quay sang nhìn Đỗ Kính. Giọng nói của bà đanh thép vang lên giữa gian chái nứa:

“Đỗ quản kho, ngươi nghe cho rõ đây. Việc vệ sinh khử khuẩn bằng nước sôi là việc đáng khen, bảo đảm an toàn cho người dùng trong cung, tránh được nguy cơ mầm bệnh phát tán giữa mùa hè. Việc tách bạch tiền cọc trên sổ sách là đúng phép tắc kế toán, rành mạch rõ ràng, không có nửa điểm sai phạm hay biển thủ. Lời đồn đãi bên ngoài là do kẻ vô công rỗi nghề buông lời xốc nổi, ngươi là quản kho lâu năm, có chân trong ban kiểm tra vật tư, không đi điều tra cho rõ ngọn ngành mà đã vội vàng đệ đơn đòi đình chỉ, suýt chút nữa làm xáo trộn việc phục vụ của nội đình!”

“Phạm... Phạm Quản sự, tôi... tôi cũng chỉ vì lo lắng cho kỷ cương chung của Nội đình...” Đỗ Kính lắp bắp, mồ hôi trán vã ra như tắm, chảy ròng ròng xuống hai bên thái dương làm ướt đẫm cổ áo lụa lục phẩm.

“Muốn giữ kỷ cương thì hãy lo quản cho tốt số lương thảo, đường cát ra vào kho của ngươi đi!” Phạm Tĩnh lạnh lùng cắt ngang, ánh mắt sắc như dao găm cắm thẳng vào mặt lão, không cho lão lấy nửa cơ hội biện bạch. “Quầy trà tiếp tục vận hành theo đúng quy chế. Nhưng Nguyễn An Trà, ngươi cũng phải nhớ lấy: lời đồn dù vô căn cứ nhưng đã nổi lên thì phải dập tắt. Chốn thâm cung này, tai vách mạch rừng, một câu nói đùa cũng có thể biến thành mũi tên giết người. Tạm thời ngừng thu hồi bình trong hai ngày tới để chấn chỉnh lại miệng lưỡi người mua, sau đó mới được mở lại việc đổi bình. Ngươi có phục không?”

An Trà cúi đầu cung kính, giọng nói nhẹ nhàng nhưng rành mạch:

“Tạ ơn Phạm Quản sự anh minh, con xin tuyệt đối tuân lệnh. Hai ngày tới quầy trà sẽ chỉ phục vụ khách uống tại chỗ, tuyệt đối không để xảy ra điều tiếng.”

Đỗ Kính nghiến răng kèn kẹt, hai quai hàm siết chặt đến mức hằn rõ dưới lớp da béo múp. Lão trừng mắt nhìn An Trà một cái đầy thù hằn, ngọn lửa giận dữ và nhục nhã bốc lên ngùn ngụt trong đáy mắt nhưng không dám phát tác trước mặt Phạm Tĩnh. Hậm hực phất mạnh tay áo thụng, lão xoay người, dẫn bốn gã phu kho lủi thủi rút lui như một đàn chó cụp đuôi.

Khi đi ngang qua góc hàng rào râm bụt, ánh mắt Đỗ Kính một lần nữa quét qua đống sọt tre đựng những chiếc bình gốm mộc mạc không thuộc hệ thống cung ứng của Vạn Phúc. Ánh mắt lão lóe lên sự sốt ruột và độc địa cùng cực. Dấu vết làm ăn ngoài luồng của lão đang bị đe dọa từng ngày bởi chính cái quầy trà bé nhỏ này. Nếu quầy trà này tiếp tục tồn tại và mở rộng, những chuyến xe chở rơm rỗng mang danh chở đường cát của lão sớm muộn gì cũng bị phanh phui trước ánh sáng.

Đám đông dần giải tán, trả lại sự yên ắng cho góc sân sau Bếp Đông. Phạm Tĩnh khẽ gật đầu chào An Trà rồi cũng cất bước rời đi, dáng đi uy nghi khuất dần sau rặng trúc.

Lúc này, từ sau bụi trúc rậm rạp bên cạnh bể nước, một bóng người rụt rè bước ra.

Là thư lại Lê Thuận.

Khuôn mặt chàng thư lại trẻ đỏ bừng vì xấu hổ và ân hận. Cây quạt nan trên tay bị bóp méo mó, hai vai so lại, chàng bước tới trước mặt An Trà, hai tay chắp lại vái lia lịa như tế sao:

“Nguyễn nữ quan, thật tình tôi đắc tội lớn! Tôi... tôi chỉ buột miệng trêu đùa mấy câu cho vui miệng giữa trưa nắng, thấy anh em cầm bình giống nhau thì nói thế thôi, không ngờ lão Đỗ Kính lại độc địa bẻ cong lời nói của tôi thành chuyện tày đình như thế! Suýt chút nữa thì tôi đã hại quầy trà bị đóng cửa, hại cô mất chốn làm ăn rồi! Thật là cái mồm làm hại cái thân!”

Nhìn vẻ mặt hoảng hốt, chân thành và hối lỗi tột cùng của Lê Thuận, An Trà khẽ thở dài. Nàng múc một gáo nước giếng trong vắt đưa cho chàng, mỉm cười xua tay:

“Thầy Lê uống miếng nước cho hạ hỏa đi, đừng quá tự trách. Chốn nội cung này gió thổi qua cành cây cũng thành tiếng kiếm reo, người có tâm địa xấu thì nhìn đâu cũng ra mưu đồ phản trắc. Dù không có câu nói của thầy, lão Đỗ Kính cũng sẽ tìm cớ khác để gây sự thôi. Chỉ mong từ nay về sau, thầy giữ gìn lời ăn tiếng nói cẩn trọng hơn, đừng để kẻ xấu mượn dao giết người.”

Lê Thuận đón lấy gáo nước, uống một hơi cạn sạch rồi gật đầu như giã tỏi. Chàng ngó nghiêng xung quanh, thấy không còn ai ngoài Tống Diệp và Vũ Mai, liền vội ghé sát lại gần An Trà, hạ thấp giọng nói một cách đầy nghiêm túc và bí mật:

“Nữ quan yên tâm! Để chuộc lại lỗi lầm này, từ nay ở Cửa Tây Dịch, tôi sẽ dán mắt để ý thật kỹ từng chuyến xe hàng ra vào cổng thành cho cô. Mấy hôm nay tôi ngồi trực sổ sách đã ghi chép lại rồi, xe chở hàng của bên Vạn Phúc cho Kho Bếp Đông có nhiều dấu hiệu mờ ám lắm! Chuyến nào vào trễ lúc chập choạng tối, ngựa kéo đi mà trục xe lăn nhẹ bẫng không lún đất, tôi đều đánh dấu son riêng vào sổ cả. Khi nào cô cần đối chứng để vạch mặt lão Đỗ Kính, cứ tìm tôi!”

An Trà nhìn sâu vào mắt Lê Thuận. Trong ánh mắt của người thư lại trẻ tuổi ấy, nàng không thấy sự giả dối, mà chỉ có sự phẫn nộ của một kẻ bị lợi dụng và lòng biết ơn chân thành. Nàng khẽ gật đầu:

“Đa tạ thầy Lê. Mối ân tình này tôi ghi nhớ.”

***

Đêm ấy, ánh trăng vằng vặc rọi xuống khoảng sân sau Nhà Công Nữ Quan.

Bầu trời đêm sâu thẳm không một gợn mây, ánh trăng bạc rải một lớp ánh sáng bàng bạc, lành lạnh lên những mái ngói rêu phong và những bờ tường gạch cũ kỹ. Tiếng côn trùng rỉ rả trong bụi cỏ ven bờ rào càng làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch, u uẩn của chốn cung cấm khi đêm đã về khuya.

Sau một ngày căng thẳng đến nghẹt thở, An Trà ngồi một mình bên bậc thềm đá lạnh buốt. Nàng tựa lưng vào cột gỗ, hai bàn tay mảnh dẻ đưa lên xoa nhẹ vào hai bên thái dương đang mỏi nhừ và giật giật từng cơn.

Dù đã vượt qua được cái bẫy hiểm độc của Đỗ Kính, giữ vững được chữ tín và quy trình vận hành của quầy trà, nhưng áp lực nợ nần vẫn như một tảng đá ngàn cân đè nặng lên ngực nàng. Nửa tháng nữa là đến hạn trả đợt hai bảy quan tiền cho Trịnh Mộc. Hai ngày tới phải ngừng thu hồi bình theo lệnh của Phạm Tĩnh, đồng nghĩa với việc lượng khách mua mang đi sẽ giảm sút nghiêm trọng, số vốn xoay vòng thì liên tục bị các thế lực ngáng đường, bóp nghẹt từng chút một.

Nàng nhắm mắt lại, cảm thấy sự mệt mỏi từ tận sâu trong xương tủy trào dâng. Nàng đang cố gắng gồng gánh tất cả trên đôi vai của một kẻ xuyên không cô độc, trơ trọi giữa một thế giới xa lạ, nơi mỗi nụ cười đều có thể giấu một lưỡi dao và mỗi bước đi sai lầm đều phải trả giá bằng cả mạng sống.

Chợt có tiếng bước chân nhẹ nhàng đạp lên thảm cỏ khô sau lưng.

Một bóng người cao ráo xuất hiện, mang theo hơi ấm dịu nhẹ xua tan đi cái lạnh của sương đêm. Tống Diệp bước tới, trên tay bưng một chiếc bát sành nhỏ còn bốc khói nghi ngút, thoang thoảng mùi thơm bùi bùi, ngọt hậu của đỗ đen rang kỹ.

Tống Diệp kéo An Trà vào góc khuất dưới bóng cây thị già của Nhà Công Nữ Quan, nơi tảng đá lớn che khuất tầm nhìn từ phía dãy hành lang chính. Ánh mắt nàng nhìn An Trà đầy vẻ từng trải, thấu hiểu và kiên định. Đặt bát nước vào tay An Trà, để hơi nóng phả lên đôi bàn tay đang lạnh ngắt của nàng, Tống Diệp khẽ thở dài rồi nói, từng lời chắc nịch:

“Một mình em gánh không nổi đâu, chị em trong ca đang bàn nhau xin góp sức.”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories