Đồng Công, không đồng lòng sẵn
Ngọn nến sáp ong pha mỡ bò cắm trên chiếc đĩa sành sứt vòi cháy leo lét giữa mặt bàn gỗ tạp nơi góc sân phơi Nhà Công Nữ Quan. Lửa nến bị gió quẩn lay giật liên hồi, tỏa ra mùi khói ngai ngái, hắt những vệt sáng vàng vọt run rẩy lên từng khuôn mặt phụ nữ đang ngồi vây quanh. Đó là những gương mặt hằn sâu nỗi nhọc nhằn của những ca trực dài đằng đẵng, vừa le lói niềm háo hức kín đáo, vừa trĩu nặng sự căng thẳng đến nghẹt thở.
Gió đêm cuối thu từ rặng chuối hột sau bức tường hoa quét qua sàn gạch ẩm, thổi thốc vào khoảng trống dưới mái hiên gian chái. Những tàu lá chuối rách tơi tả va vào nhau phần phật như tiếng quạt mo của lính tuần tra. Lửa nến chao nghiêng, hắt bóng tám chín người phụ nữ đổ dài lên bức tường vôi loang lổ rêu xanh và những vệt ố màu nước mưa rỉ xuống từ máng xối. Đằng xa, ba tiếng kiểng đồng điểm canh một giờ Hợi từ chòi gác Cửa Tây Dịch dội qua các dãy tường thành, nặng trịch và rời rạc, báo hiệu giờ giới nghiêm đã điểm khắp các ngõ ngách của khu dịch đình.
Chiếc bàn dài trước mặt họ chẳng phải bàn trà tử tế, mà chỉ là ba tấm ván mộc ghép lại gác tạm trên mấy chiếc đôn gạch vồ cập kênh. Quanh bàn, bảy tám nữ quan và cung nữ thuộc Kho Bếp Đông, Ty Hoán Y và Ty Doanh Lực ngồi chen chúc nhau trên những chiếc ghế đẩu tre ọp ẹp. Không ai kịp thay xiêm áo chỉnh tề sau một ngày làm lụng vất vả. Người bên Kho Bếp vạt áo nâu sồng còn vương đầy bụi tro trấu và mùi mỡ lợn rán dở; người bên Ty Hoán Y thì hai ống tay áo xắn cao để lộ đôi cẳng tay đỏ ửng, da đầu ngón tay nhăn nheo, tái ngắt vì ngâm nước giặt tro tàu suốt từ mờ sáng; mấy người bên Ty Doanh Lực thì gót chân nứt nẻ, móng tay còn cáu đen bùn đất và vụn vôi vữa.
Trên mặt bàn tuyệt nhiên không có bánh trái hay tiệc trà thết đãi. Thứ duy nhất xua đi cái khô khốc của cổ họng là một âu sành đựng nước đỗ đen lòng xanh nấu suông đã nguội ngắt, nổi váng mỏng, cùng mấy mẩu giấy bản cắt vuông vức đặt đè dưới một chiếc nghiên mực đá thô ráp chưa mài.
Không gian im lìm đến mức chỉ nghe thấy tiếng thở dồn của những lồng ngực gầy guộc và tiếng bấc nến nổ lách tách từng chặng ngắn. Sự e dè bọc kín lấy căn phòng như một lớp sương muối lạnh giá.
“Nếu để quản sự các ty biết chúng ta nửa đêm lén lút tụ tập gom tiền gom bạc lại làm ăn, liệu có bị ghép vào tội tự ý lập phường hội, khấu trừ toàn bộ bổng lộc rồi đuổi cổ khỏi cung không?”
Một nữ quan trẻ tuổi bên Ty Hoán Y – vạt áo còn nồng nặc mùi xà phòng bồ hòn – cất giọng the thé, âm vực run lên bần bật. Hai bàn tay nàng đan chặt vào nhau đặt trên mặt bàn, các khớp ngón tay siết mạnh đến mức trắng bệch, không còn một giọt máu. Nàng đảo mắt nhìn quanh bóng tối ngoài sân phơi như thể sợ hãi có ai đó đang áp tai vào vách ván:
“Bổng lộc mỗi tháng của chức tạp dịch chúng ta chỉ vỏn vẹn một quan hai trăm đồng tiền kẽm. Tháng nào cũng phải căn ke từng đồng, gửi về quê cho mẹ già với bầy em nhỏ đói rách ngoài bãi sông đã mất đứt tám chín phần mười. Phần còn lại chỉ đủ mua mấy lạng mỡ muối dưa qua bữa. Nếu chẳng may mang tiếng kết bè lập đảng, bị tước sổ hiệu, mất luôn phần tiền trợ cấp mãn hạn xuất cung gom góp suốt mười năm ròng, ta biết bấu víu vào đâu để sống nốt nửa đời người?”
Lời vừa dứt, một làn sóng xì xào hoang mang lập tức lan ra khắp bàn như đàn ong vỡ tổ sau cơn giông. Những cái đầu chụm lại, những ánh mắt nhìn nhau đầy bất an. Nỗi sợ vốn âm ỉ bấy lâu nay gặp ngọn gió thoảng liền bùng lên thành ngọn lửa nghi hoặc.
“Phải đấy, ban trưa vừa thấy lão Đỗ Kính quản sự bên Ty Cung Ứng hùng hổ dẫn hai tên lại viên xuống vây quầy trà ngoài cổng Bếp Đông, dọa niêm phong hòm cọc, tịch thu hết xoong chảo. Lần này may nhờ có bà Phạm quản sự đứng ra đỡ lời, gạt đi bằng quy định nội đình, nhưng ai dám bảo đảm ngày mai ngày kia lão không đút lót cho thị vệ mang thêm lính tuần tra đến khám xét?”
“Ta chỉ dành dụm được có sáu mươi đồng tiền lẻ nhét trong ống tre giấu dưới gậm giường gác.” Một phụ bếp lớn tuổi ngồi cạnh mép bàn khẽ cựa quậy, bàn tay thô nhám vô thức thọc sâu vào trong tay áo rộng, sờ nắn chiếc túi vải thô đã sờn rách bốn góc. Giọng bà nghẹn lại, chứa chan sự ngờ vực lẫn xót xa: “Sáu mươi đồng tiền đồng mắt cua này là tiền ta nhịn ăn sáng, tích cóp từng đồng đổi từ tiền thưởng trực đêm ba tháng mùa đông vừa rồi. Giờ đem gom chung vào một chỗ, lỡ buôn bán thua lỗ hết vốn, hay người giữ hòm tiền ôm bạc trốn ra khỏi cửa thành, hoặc... hoặc bị người có nhiều tiền hơn nuốt mất, kẻ phận mỏng cánh chuồn, không thân không thế như ta biết kêu oan ở cửa nào? Chốn cung cấm này, quan bênh quan, người giàu bênh kẻ có của, ai đứng ra che chở cho ngữ thấp cổ bé họng?”
Không khí trong sân phơi chùng hẳn xuống, quánh đặc và ngột ngạt như dây cung kéo căng sắp đứt. Những ánh mắt dò xét, e ngại đồng loạt đổ dồn về phía Nguyễn An Trà. Có người tò mò, có người khao khát một lối thoát khỏi cảnh bổng lộc còm cõi quanh năm không đủ tiền thuốc men, nhưng bao trùm lên tất cả là sự phòng thủ bản năng của những kẻ tôi đòi dưới đáy hoàng thành. Họ đã quá quen với việc bị chèn ép, bị quỵt công, bị tước đoạt thành quả lao động nhân danh những mệnh lệnh bề trên.
An Trà hít một hơi thật sâu, lồng ngực khẽ phập phồng dưới lớp áo vải nâu mộc. Nàng đón nhận từng tia nhìn gai góc, lạnh lùng ấy bằng một ánh mắt trầm tĩnh, không hề né tránh hay chớp mắt. Nàng hiểu rõ đến tận xương tủy căn nguyên của nỗi sợ hãi này. Ở một nơi mà thân phận nữ quan chỉ là công cụ phục vụ không hơn không kém, ranh giới giữa một sáng kiến tự lực cánh sinh để kiếm sống và một cái bẫy tranh sủng kết bè mưu lợi cá nhân chỉ mỏng manh như sợi tơ nhện giăng đầu hồi.
Họ sợ mất việc, sợ mất những đồng tiền thấm đẫm mồ hôi nước mắt, và trên hết, họ sợ bị phản bội bởi chính những lời hứa hẹn hoa mỹ về tình chị em chung lòng. Ở đời này, nơi bùn lầy của sự nghèo đói bủa vây, những lời kêu gọi đạo đức suông chưa bao giờ nuôi sống được một con người. Nếu không đưa ra được một cơ chế rành mạch, minh bạch đến từng xu từng cắc, cuộc họp kín này sẽ lập tức tan vỡ, và chút hy vọng manh nha của họ sẽ bị bóp chết ngay trong đêm nay.
Giữa khoảng lặng nặng nề như chì đổ, Vũ Mai – cô bé giữ sổ ca thường ngày vốn tính tình nhút nhát, hễ gặp quản sự là cúi gằm mặt xuống đất không dám thở mạnh – bỗng khẽ cựa mình. Nàng đẩy mép chiếc ghế tre lùi lại nửa tấc, phát ra một tiếng cót két khô khốc phá tan bầu không khí ngưng trệ.
Bàn tay gầy guộc của Vũ Mai siết chặt một mảnh giấy nháp gấp tư nhét sâu nơi cửa tay áo. Đôi môi nàng tái nhợt, ánh mắt dao động dữ dội giữa nỗi sợ hãi thường nhật và niềm uất ức bị dồn nén bấy lâu. Cuối cùng, nàng ngẩng phắt đầu lên, nhìn thẳng vào An Trà.
Nàng cắn chặt môi dưới đến mức bật máu, rỉ ra một vệt đỏ tươi nơi khóe miệng, rồi hỏi thẳng. Giọng nàng run rẩy vì xúc động, nhưng từng âm tiết buông ra lại rành rọt, đanh gọn khác hẳn ngày thường:
“An Trà tỷ... Muội chỉ muốn hỏi một điều cho thật rõ ràng trước mặt tất cả chị em ở đây. Muội nghèo nhất bọn, quanh năm chỉ có cây bút lông tòe ngòi với xấp giấy vụn, gom góp cùng lắm cũng chỉ được hơn một trăm đồng tiền lẻ bớt xén từ tiền mua giấy mực và tiền dầu thắp ca đêm. Vậy... người góp vốn ít ỏi như muội, liệu có được cất lời khi bàn chuyện làm ăn, có được tham gia quyết định quầy trà ngày mai mua gì bán gì không? Hay là... hay là chúng muội chỉ việc bỏ tiền dành dụm ra làm vốn mồi, rồi ngày ngày đến giờ thì cắm đầu làm việc như trâu bò theo mệnh lệnh của người góp nhiều tiền, đến khi chia lời hay gánh nợ thì kẻ có nhiều vốn muốn phán sao chúng muội cũng phải cắn răng mà chịu?”
Câu hỏi sắc như dao chém đứt phăng màn sương mù bao quanh chiếc bàn gỗ.
Mấy nữ quan ngồi quanh đồng loạt nín thở, đưa mắt nhìn nhau. Không một ai lên tiếng trách móc sự đường đột của Vũ Mai, bởi vì câu hỏi ấy đã lột trần chính xác nỗi lo âu thắt ruột thắt gan đang đè nặng lên tâm can từng người. Ở bất cứ phường buôn nào ngoài phố thị Thăng Long, hay ngay trong các tổ dịch, cục tác của dịch đình nội cung, kẻ nắm hầu bao lớn luôn là kẻ định đoạt mạng sống của kẻ làm thuê. Một kẻ bỏ ra mười quan tiền chưa từng bao giờ hạ mình lắng nghe ý kiến của kẻ chỉ góp vào vài chục đồng tiền lẻ. Tiền bạc ở chốn này đồng nghĩa với uy quyền, và kẻ ít tiền xưa nay vốn dĩ không có tư cách mở miệng.
Tống Diệp ngồi sát bên cạnh An Trà, đôi lông mày lưỡi mác khẽ nhíu lại. Nàng không vội vàng đỡ lời cho An Trà, mà chỉ lặng lẽ hạ mắt nhìn xuống góc dưới chiếc tráp gỗ đựng giấy tờ của mình đặt bên chân bàn.
Nơi đáy tráp ấy, bên dưới những xấp sổ sách thu chi thường nhật, có một góc biên bản kho cũ đã ngả màu ố vàng mục nát. Bàn tay Tống Diệp vô thức sờ lên nếp gấp của tay áo, nơi đầu ngón tay nàng dường như vẫn còn cảm nhận được vết mực son điểm chỉ lạnh ngắt của chính mình từ mùa đông năm ngoái. Đó là vết chỉ tay trên tờ lệnh xuất kho vật tư gian dối theo lệnh của viên quản sự tiền nhiệm – cái nhắm mắt làm ngơ vì phận dưới thấp cổ bé họng, để rồi biến thành bóng ma đè nặng lên từng giấc ngủ của nàng suốt bao tháng ngày. Tống Diệp thấu hiểu sâu sắc hơn bất kỳ ai cảm giác cay đắng tột cùng của một kẻ bị tước đoạt tiếng nói, bị biến thành công cụ vô tri để gánh chịu hậu quả từ những toan tính độc đoán của kẻ bề trên.
An Trà không hề tỏ ra phật ý hay bối rối trước câu hỏi dồn dập của Vũ Mai. Ngược lại, khóe môi nàng khẽ giãn ra thành một nét cười bình thản. Nàng nhìn thẳng vào đôi mắt đang ầng ậc nước của cô bé giữ sổ, rồi chậm rãi quét mắt qua từng khuôn mặt đang phập phồng chờ đợi câu trả lời:
“Hỏi rất đúng. Vũ Mai muội hỏi câu này rất xác đáng, trúng ngay tim đen của sự việc. Nếu không làm rõ được điều này ngay trong đêm nay, ngay tại chiếc bàn này, thì ta – Nguyễn An Trà – tuyệt đối không dám nhận nửa đồng tiền kẽm của bất kỳ ai trong số các tỷ muội ngồi đây.”
Dứt lời, An Trà vươn tay dời chiếc nghiên đá thô sang mép bàn, kéo phẳng một tờ giấy bản trắng tinh khổ lớn đặt ngay ngắn ra giữa mặt bàn gỗ. Nàng với tay nhặt cây bút lông cán trúc, quay sang gật đầu với Tống Diệp bằng ánh mắt đầy sự tin cậy:
“Diệp tỷ, tỷ là người tinh thông điển lệ kho bãi, lại nắm vững phép tắc ghi sổ công vụ của nội đình nhất. Đêm nay, muội với tỷ sẽ cùng nhau thảo bản quy chế này, viết ra từng dòng một, đọc to từng chữ cho tất cả mọi người cùng nghe, cùng bàn bạc và cùng sửa đổi. Khi nào tất cả tỷ muội cùng gật đầu thông qua, không còn một ai ấm ức hay nghi ngại trong lòng, lúc ấy chúng ta mới chính thức đặt tiền lên bàn.”
Tống Diệp khẽ thở phào một hơi dài, sự căng thẳng nơi đuôi mắt dịu lại rõ rệt. Nàng đón lấy cây bút lông từ tay An Trà, nhúng nhẹ đầu bút vào âu nước đỗ đen cho mềm lông thỏ, rồi cầm thỏi mực đen mài đều tay vào lòng nghiên đá ráp. Tiếng đá mài mực xột xoạt vang lên đều đặn giữa gian sân phơi tĩnh mịch, tạo nên một nhịp điệu trầm lắng và vững chãi.
Giọng nói Tống Diệp cất lên, vang rền và dứt khoát:
“Quy chế thứ nhất: Tổ chức này lập ra để tỷ muội chúng ta cứu nhau thoát khỏi cảnh nợ nần, kiếm thêm đồng tiền công lương thiện bằng chính mồ hôi nước mắt ngoài giờ trực vụ, tuyệt đối không phụ thuộc vào sự ban ơn của quan trên. Ta lấy tên hội là Hội nữ quan Đồng Công. Hai chữ 'Đồng Công' nghĩa là cùng làm, cùng chịu, không ai làm chủ ai, không ai làm tớ ai. Muốn làm được điều đó, việc đầu tiên mang tính sống còn là phải phân định rạch ròi ba khoản tài chính riêng biệt: một là Tiền Vốn Góp, hai là Tiền Công Lao Động tính theo từng buổi trực, và ba là Quỹ Dự Phòng Hao Hụt. Ba khoản này tuyệt đối không được phép nhập nhằng, lẫn lộn làm một.”
An Trà đón lại ngọn bút lông đã đẫm mực đen từ tay Tống Diệp, hạ ngọn bút xuống thớ giấy bản thô ráp. Nàng nắn nót viết từng nét chữ chân phương, vừa viết vừa ngẩng lên giải thích cặn kẽ cho từng người nghe:
“Thứ nhất, Tiền Vốn Góp là khoản tiền tích lũy mà chúng ta cùng gom lại để làm những việc lớn: mua nguyên liệu với số lượng lớn ngoài chợ Nam Thành để được tính giá buôn rẻ hơn mua lẻ, mua củi than hoa trữ sẵn cho cả tháng, và đặt cọc làm bình gốm gối đầu tại lò Trịnh Mộc. Khoản này ai có mười đồng góp mười đồng, ai có một quan góp một quan, tất cả đều được ghi danh tính rành rọt vào Sổ Gốc Vốn Góp, có chữ ký và điểm chỉ của cả người nộp tiền lẫn người giữ sổ.”
An Trà dừng bút một nhịp, nhìn xoáy vào mắt từng phụ bếp:
“Toàn bộ số tiền vốn này sẽ nằm nguyên trong hòm gỗ có khóa chung, chỉ được phép trích ra để chi trả cho các mục tiêu mua sắm đã được toàn thể hội đồng ý thông qua. Tuyệt đối không một ai – ta nhắc lại là tuyệt đối không một ai – có quyền tự ý đem tiền vốn chung đi chi tiêu cho việc riêng, hay đem đi gán nợ cá nhân của bất kỳ người nào. Kể cả món nợ ba mươi ba quan tiền của riêng ta với lò gốm Trịnh Mộc ngoài thành!”
Lời tuyên bố đanh thép, thẳng thắn của An Trà như một tiếng sét rạch ngang đêm tối, khiến mấy nữ quan giật nảy mình. Một bà phụ bếp lớn tuổi ngập ngừng thốt lên, giọng đầy vẻ ái ngại:
“Nhưng An Trà muội... ban trưa ta nghe người ta kháo nhau, muội đứng ra xoay xở lập cái quầy trà sau Bếp Đông này chẳng phải cốt là để gom bạc trả nợ bảo lãnh cho xưởng gốm sao? Nếu không lấy tiền vốn này trả nợ, muội lấy gì xoay xở khi hạn trả tiền đã kề sát cổ?”
“Đúng thế, ta rất cần tiền trả nợ. Chỉ còn nửa tháng nữa là đến kỳ hạn ta phải thanh toán đủ bảy quan tiền mặt cho ông chủ Trịnh,” An Trà không hề chối quanh hay giấu giếm, giọng nói nàng đanh lại nhưng vô cùng điềm tĩnh. “Nhưng nợ của ta là trách nhiệm cá nhân do ta tự chuốc lấy, tuyệt đối không phải là cái thòng lọng để tròng vào cổ chị em. Ta sẽ trả nợ bằng tiền công lao động thực tế của ta mỗi ngày, và bằng phần lợi nhuận được chia hợp pháp từ công sức pha chế độc quyền cùng công sức điều hành quầy trà của ta. Ta thề trước ngọn đèn này, không bao giờ lấy dù chỉ một đồng tiền vốn góp của chị em để đắp vào món nợ cá nhân ấy.”
Nàng đặt mạnh bàn tay lên mặt bàn, mắt sáng quắc:
“Bởi vì ta hiểu rất rõ: nếu để tiền vốn mua nguyên liệu bị thâm hụt vào việc trả nợ riêng, quầy trà sẽ lập tức đứt gãy dòng tiền mặt. Ngày mai mở mắt ra, chúng ta sẽ không có tiền mua sữa dê tươi của Cửa Tây Dịch, không có tiền mua than hoa, không có lá trà đồi để nấu. Khi ấy, quầy trà sẽ sụp đổ, và tất cả chị em ngồi đây sẽ cùng chết chìm theo món nợ của ta. Chúng ta lập hội là để khởi nghiệp mưu sinh, cùng nhau kiếm sống, chứ không phải để khởi tạo một vòng xoáy nợ nần dây chuyền trói chặt lấy nhau!”
Tống Diệp gật đầu tán thưởng, đưa ngón tay trỏ chỉ xuống dòng chữ tiếp theo trên mặt giấy bản:
“Khoản thứ hai: Tiền Công Lao Động tính theo buổi trực. Đây là điều bảo đảm quyền lợi sát sườn nhất cho những ai không có tiền nhàn rỗi. Bất kỳ ai tham gia vào việc vận hành quầy trà: từ việc thức khuya dậy sớm đun nước trà, canh lửa luộc trân châu bột sắn, gánh nước giếng ngọt Cửa Tây, cọ rửa từng chiếc bình gốm mộc, cho đến việc đứng hiên phát thẻ tre thu tiền... tất cả đều được ghi nhận công lao theo từng buổi trực hai canh giờ. Hết mỗi buổi thử bán vào giờ trưa, sau khi kiểm đếm số tiền thu được và trừ đi chi phí nguyên liệu tiêu hao trong ngày, tiền công lao động sẽ được thanh toán sòng phẳng bằng tiền mặt ngay tại chỗ.”
Tống Diệp đưa mắt nhìn hai cung nữ bên Ty Hoán Y, giọng nàng trầm xuống đầy thấu hiểu:
“Dù người đó nghèo đến mức không có nổi một đồng tiền kẽm để góp vốn, chỉ bỏ sức lực và thời gian của mình ra làm việc, người đó vẫn được nhận đủ từng đồng tiền công mồ hôi nước mắt, không thiếu một cắc. Tuyệt đối không có chuyện ép người không góp vốn phải làm việc không công cho quầy trà. Và ngược lại, cũng tuyệt đối không có chuyện kẻ nào cậy mình bỏ ra nhiều vốn liếng rồi được quyền ngồi mát ăn bát vàng, khoanh tay đứng nhìn mà vẫn đòi chia tiền công trực vụ!”
Một tiếng thở hắt ra nhẹ nhõm đồng loạt vang lên từ phía hai người phụ nữ Ty Hoán Y. Họ nhìn nhau, những ngón tay gầy guộc run rẩy đan vào nhau nhưng lần này không phải vì sợ hãi, mà là vì một niềm xúc động nghẹn ngào. Họ là những kẻ cùng đinh nhất trong chốn dịch đình này, tài sản duy nhất họ có là đôi bàn tay nứt nẻ và sức lực cạn kiệt sau những giờ giặt giũ. Lời khẳng định của Tống Diệp đã đập tan nỗi ám ảnh kinh hoàng bấy lâu nay trong lòng họ: nỗi sợ bị biến thành những cỗ máy làm việc không công cho những kẻ có tiền.
An Trà cầm bút chấm thêm mực, tiếp tục viết nhanh những dòng tiếp theo:
“Khoản thứ ba: Quỹ Dự Phòng Hao Hụt. Làm nghề buôn bán thức ăn đồ uống nơi cung cấm như đi trên dây thép, không một ai dám vỗ ngực nói trước được điều gì. Sữa dê tươi chở từ ngoại thành vào có thể bị chua hỏng do trời đổ nắng gắt bất thường; bình gốm mộc va chạm có thể nứt vỡ; than củi gặp trời mưa dầm ẩm ướt khói mù mịt không đượm lửa; hay tệ hơn nữa là những ngày mưa bão hoặc có lệnh giới nghiêm bất ngờ từ Nội đình khiến quầy trà phải đóng cửa mà vẫn phải trả tiền thuê mặt bằng cho bà Phạm quản sự. Vì vậy, cứ mỗi mười đồng tiền lời ròng thu về sau khi đã trừ sạch chi phí than trà sữa và tiền công lao động trong ngày, quầy trà sẽ trích thẳng hai đồng bỏ vào chiếc tráp nhỏ niêm phong gọi là Quỹ Dự Phòng.”
Nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt lấp lánh sự kiên định:
“Quỹ này không ai được phép chia chác khi quầy đang chạy. Nó dùng để đền bù bình vỡ, mua sữa mới bù vào chỗ sữa hỏng, và gánh gồng những ngày đóng cửa ế ẩm. Phần lợi nhuận tám đồng còn lại, đến cuối mỗi tuần trăng mới được đem ra chia đều theo đúng tỷ lệ số vốn mà mỗi người đã bỏ vào từ ban đầu. Có quy chế này, tiền vốn của chị em mới không bị cuốn phăng đi sau một vài sự cố bất ngờ ngoài ý muốn.”
Những cái gật đầu bắt đầu xuất hiện quanh bàn. Nét mặt của những người phụ nữ giãn ra, vẻ cảnh giác ban đầu dần tan biến dưới ánh sáng rõ ràng của những con số và quy tắc mạch lạc.
Thế nhưng, Vũ Mai vẫn ngồi yên ở mép bàn. Bàn tay nàng vẫn bám chặt lấy mảnh giấy nháp, ánh mắt lấp lánh vẻ thông minh của một người suốt ngày làm bạn với những con số ghi chép trong kho. Nàng nuốt nước bọt, ngập ngừng hỏi tiếp:
“An Trà tỷ, vậy còn... quyền tra cứu sổ sách và quyền phán quyết thì sao? Nếu người giữ chìa khóa hòm tiền bảo rằng hôm nay bán lỗ, bảo rằng tiền lời ít ỏi, hoặc mua nguyên liệu đắt đỏ mà chúng muội không biết thực hư, thì chúng muội lấy gì làm căn cứ để tin? Chốn nội cung này, chuyện sổ sách bị sửa một nét son, bớt một con số để nuốt trọn bạc công... muội đã thấy quá nhiều rồi.”
Tống Diệp khẽ mỉm cười. Nụ cười hiếm hoi làm bừng sáng khuôn mặt cương nghị, từng trải của người nữ quan phụ trách sổ sách. Nàng kéo chiếc nghiên đá lại gần mình hơn, giọng nói vang lên dõng dạc:
“Đó chính là điều lệ thứ tư và thứ năm, hai điều răn cốt lõi tạo nên linh hồn của Hội Đồng Công.
Thứ tư: Quyền tra cứu sổ sách hoàn toàn công khai và minh bạch. Bắt đầu từ ngày mai, cuốn sổ thu chi nhật ký hàng ngày, từng tờ hóa đơn mua than hoa, biên lai nộp tiền mặt bằng sân kho cho bà Phạm quản sự, phiếu nhận giao sữa tươi có dấu giáp lai của lính canh Cửa Tây Dịch, cho đến sổ bảo lãnh vỏ bình gốm lò Trịnh Mộc... tất cả sẽ được lưu trữ trong một chiếc tủ gỗ chuyên dụng đặt tại góc gian ăn tập thể Nhà Công Nữ Quan. Tủ này sẽ dùng hai ổ khóa đồng riêng biệt: một chìa do người giữ hòm tiền nắm giữ, một chìa do người thủ kho giữ sổ sách nắm giữ. Muốn mở tủ, bắt buộc phải có mặt đồng thời cả hai người.”
Tống Diệp gõ nhẹ đầu ngón tay xuống mặt bàn tre để nhấn mạnh từng lời:
“Bất kỳ thành viên nào của Hội Đồng Công – ta nhắc lại là bất kỳ ai, dù người đó chỉ góp vỏn vẹn mười đồng tiền vốn hay chỉ mới tham gia gánh nước rửa bình một buổi trưa – đều có toàn quyền yêu cầu mở tủ để tra cứu, kiểm tra và đối chiếu từng dòng thu chi, từng tờ biên nhận vào cuối mỗi giờ Dậu sau khi dọn quầy. Không một ai trong ban điều hành được phép từ chối, giấu giếm sổ sách, hay viện cớ 'bí mật kinh doanh' để ngăn cản quyền kiểm tra chính đáng ấy!”
Tống Diệp dứt lời, quay sang nhìn An Trà. Ánh mắt hai người giao nhau trong một thoáng ngưng đọng. Tống Diệp hít sâu một hơi, tiếp tục công bố điều khoản mang tính quyết định nhất:
“Và điều lệ thứ năm: Thời hạn rút vốn gốc an toàn. Chúng ta đều là thân phận nữ quan, cung nữ làm thuê trong dịch đình. Có người chỉ còn vài tháng nữa là mãn hạn tuổi ba mươi được xuất cung về quê lấy chồng; có người gia đình ở quê gặp nạn đói, lũ lụt bất ngờ cần tiền chuộc ruộng gấp. Một khi đã tự nguyện góp vốn vào hội, thành viên có quyền xin rút lại toàn bộ số tiền vốn gốc ban đầu của mình sau khi gửi giấy báo trước mười ngày. Khoảng thời gian mười ngày này là để quầy trà thu hồi tiền gối đầu từ các đợt bán lẻ, cân đối lại dòng tiền mặt mà không làm gián đoạn việc mua nguyên liệu chung. Đến đúng hạn ngày thứ mười, Hội Đồng Công có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ từng đồng tiền mặt tận tay cho người rút vốn, tuyệt đối không được viện cớ chèn ép hay khấu trừ vô căn cứ!”
“Thật... thật sự cho phép rút lại toàn bộ tiền mặt sao?” Một cung nữ trẻ tuổi bên Ty Doanh Lực tròn xoe mắt, giọng nói vỡ òa kinh ngạc: “Không bị giữ lại làm tin? Không bị trừ tiền hao hụt vô cớ ư?”
“Tiền của chị em là tiền mồ hôi nước mắt chắt bóp từng bữa ăn sáng, từng manh áo ấm, không phải tiền đi xin, càng không phải tiền bố thí cho hội,” An Trà ngẩng đầu lên, giọng nói sang sảng, ấm áp lan tỏa khắp gian sân phơi lạnh lẽo. “Chỉ khi nào mỗi người trong các tỷ muội biết chắc chắn rằng mình luôn có một con đường lui an toàn, không bị trói buộc đến chết, mọi người mới có thể yên tâm dốc lòng dốc sức cùng nhau bước tới. Nhưng điều quan trọng nhất, điều quyết định sự sống còn của chúng ta đêm nay, chính là: Hội Đồng Công quyết định mọi việc lớn nhỏ theo nguyên tắc bình đẳng tuyệt đối theo đầu người: Mỗi người một lá phiếu ngang nhau, không phân biệt góp nhiều vốn hay góp ít vốn!”
Cả góc sân phơi chợt lặng phắc. Tiếng gió rít qua rặng chuối dường như cũng ngừng bặt trong khoảnh khắc ấy.
Đến cả Tống Diệp cũng khựng lại một nhịp thở, đôi mắt mở to nhìn chăm chú vào sườn mặt của An Trà.
Mới ban chiều, khi hai người ngồi bàn bạc riêng dưới gốc cây thị sau kho củi, Tống Diệp từng khuyên An Trà nên giữ lấy quyền phủ quyết tối cao. Nàng lý giải rằng An Trà là người nắm giữ bí quyết công thức ủ trà sao than hoa độc nhất vô nhị, là người sáng chế ra cách dùng củ nhu để tạo màu và độ dẻo cho trân châu, lại là người trực tiếp đứng mũi chịu sào, đem danh dự và thân phận của mình ra cam kết với Phạm quản sự để mượn hiên Bếp Đông. Nếu không nắm quyền phủ quyết cuối cùng, lỡ sau này nội bộ nảy sinh chia rẽ, chín người mười ý thì con thuyền vừa mới hạ thủy sẽ lập tức bị lật úp giữa dòng nước xoáy.
Thậm chí ngay trong sâu thẳm tâm trí An Trà, thói quen quản lý từ tiền kiếp ở thế kỷ hai mươi mốt cũng từng thì thầm giục giã nàng giữ lấy chiếc quyền trượng ấy. Ở kiếp trước, nàng từng là một quản lý chuỗi dịch vụ ẩm thực dày dạn kinh nghiệm, quen với việc điều hành tập trung, quen áp đặt chỉ tiêu doanh số từ trên xuống dưới và bắt buộc cấp dưới phải răm rắp tuân theo quy trình chuẩn hóa. Nàng từng tin sùng bái rằng người có chuyên môn giỏi nhất, có tầm nhìn bao quát nhất phải là kẻ độc tài sáng suốt duy nhất nắm giữ tay lái.
Thế nhưng, chính ký ức đau đớn về thất bại thảm hại ở kiếp trước – khi nàng quá tự phụ vào khả năng phán đoán xu hướng của mình, mù quáng ép cấp dưới tăng ca liên miên đến kiệt quệ, phớt lờ mọi lời cảnh báo từ những nhân viên làm việc trực tiếp để rồi chuỗi cửa hàng sụp đổ trong một cuộc khủng hoảng tài chính – lại hiện về như một vết chém rỉ máu trong tâm can nàng.
Nơi chốn thâm cung này, sự độc đoán của quyền lực phong kiến đã bóp nghẹt mọi khát vọng sống, biến con người ta thành những chiếc bóng câm lặng, sợ sệt. Nếu đêm nay, nàng lặp lại sự tập quyền độc đoán ấy dưới lớp vỏ bọc mỹ miều của một 'người dẫn đường tốt bụng', thì nàng có khác gì một phiên bản thu nhỏ của lão Đỗ Kính tham lam hay những tên trùm phường buôn xảo quyệt của đất kinh kỳ? Người ta có thể vì miếng cơm manh áo trước mắt mà cúi đầu nghe theo nàng, nhưng trong lòng họ sẽ mãi mãi mang một nỗi hoài nghi, phòng thủ, và sự tin cậy chân thành sẽ không bao giờ đơm hoa kết trái.
Nàng hít một hơi thật sâu, giọng nói nhẹ nhàng nhưng vang lên rành rọt từng chữ giữa đêm khuya:
“Ta biết, mọi người ngồi đây đều nghĩ rằng ta là người nghĩ ra món trà sữa trân châu, ta lại đang mang trên lưng món nợ ba mươi ba quan tiền lớn nhất, nên ta phải là người nắm giữ quyền sinh quyền sát, một lời phán quyết là xong. Chiều nay ta cũng từng có ý nghĩ ấy, sợ rằng nhiều người bàn tán sẽ làm lỡ mất thời cơ mua bán hay thay đổi thực đơn. Nhưng ngồi lại đây, nhìn vào bàn tay nứt nẻ vì ngâm nước của các tỷ muội Hoán Y, nhìn vào đôi mắt trũng sâu vì thức đêm của Vũ Mai, ta hiểu ra một điều: Hội này chỉ có thể sống sót và đi đường dài nếu tất cả chúng ta cùng cảm thấy an toàn và được tôn trọng như nhau.”
An Trà mỉm cười, ánh mắt nàng dừng lại trên gương mặt còn vương nét hoang mang của Vũ Mai:
“Ta tự nguyện từ bỏ quyền phủ quyết cá nhân. Kể từ đêm nay, mọi quyết định hệ trọng của Hội Đồng Công: từ việc định giá một bát trà bán ra, việc tăng hay giảm lượng sữa dê tươi đặt hàng mỗi sáng, việc thay đổi lò mua than hay mua bình gốm, cho đến việc kết nạp thêm thành viên mới... tất cả đều phải đưa ra bàn bạc công khai và biểu quyết theo đầu người. Quá bán đồng thuận thì thi hành, không quá bán thì giữ nguyên nếp cũ.”
Nàng vươn tay qua mặt bàn, khẽ chạm nhẹ vào bàn tay đang run rẩy của cô bé giữ sổ:
“Vũ Mai muội, muội góp sáu mươi đồng hay một trăm đồng, lá phiếu của muội cũng có sức nặng ngang bằng với lá phiếu của ta hay của Diệp tỷ. Nếu muội thấy một phương án nào đó quá mạo hiểm, có nguy cơ làm mất đi số tiền mồ hôi nước mắt muội chắt bóp bấy lâu, muội hoàn toàn có quyền giơ tay bỏ phiếu chống. Và trách nhiệm của ta không phải là dùng uy thế của người quản lý để quát nạt hay ép muội nghe theo, mà là phải dùng những con số tính toán cụ thể, dùng sổ sách chứng từ rõ ràng để giải thích, thuyết phục cho đến khi muội thông suốt và tự nguyện đồng thuận. Đó mới là ý nghĩa thực sự của hai chữ Đồng Công.”
Vũ Mai ngồi chết lặng trên ghế đẩu.
Đôi mắt trong veo của cô bé bỗng nhòa đi. Hai giọt nước mắt lăn dài trên đôi gò má gầy guộc, rơi lã chã xuống mảnh giấy nháp nàng đang cầm trên tay.
Vũ Mai sinh ra trong một gia đình bần nông ven bãi sông Hồng, từ năm mười hai tuổi đã bị bán vào cung làm chân tạp dịch ghi chép sổ sách hạng bét. Mười năm sống trong dịch đình, nàng chỉ quen cúi đầu nhận lệnh, quen bị mắng nhiếc thậm tệ mỗi khi làm sai một con tính, quen việc bị coi như một thứ đồ dùng biết nói không hơn không kém. Lão Đỗ Kính coi nàng như cái máy chép số và sẵn sàng đẩy nàng ra làm bia đỡ đạn gánh tội thất thoát; người chị gái thương nàng nhưng cũng chỉ coi nàng là đứa con nít ngây ngô không biết lo toan.
Chưa từng có một ai – một bậc nữ quan có tài năng, có bản lĩnh như An Trà – chịu ngồi xuống ngang hàng, nhìn thẳng vào mắt nàng và khẳng định rằng tiếng nói của nàng, lá phiếu của nàng có giá trị ngang bằng với những người quyền thế nhất trong phòng này.
Lồng ngực Vũ Mai nghẹn lại vì một cảm xúc trào dâng chưa từng có. Nàng run run thò tay vào sâu trong tay áo rộng, lôi ra một chiếc túi vải thô chắp vá từ ba bốn mảnh lụa vụn màu xanh đỏ nhặt được ở xưởng thêu. Nàng cẩn thận gỡ từng nút thắt dây gai đã thắt chặt từ lâu, rồi run rẩy dốc ngược chiếc túi xuống mặt bàn gỗ.
Tiếng kim loại va chạm leng keng giòn tan vang lên, phá vỡ hoàn toàn sự u uất của đêm tối. Từng đồng tiền đồng mắt cua xâu qua sợi chỉ đỏ, sáng bóng loáng vì được lau chùi cẩn thận mỗi đêm, tràn ra nằm ngổn ngang trên mặt bàn gỗ tạp.
“Muội... muội xin góp toàn bộ một trăm hai mươi đồng tiền tiết kiệm của muội vào vốn chung của hội!” Giọng Vũ Mai nghẹn ngào trong tiếng nấc, nhưng ánh mắt nàng sáng rực lên một vẻ kiên định, quật cường lạ thường. Nàng quệt vội giọt nước mắt nơi khóe mi, ngẩng cao đầu: “Muội không sợ nữa! Có bản quy chế rõ ràng, công bằng thế này, dù có phải thức thâu đêm ghi chép sổ sách, hay sáng sớm phải ra giếng Cửa Tây gánh nước quét sân, muội cũng cam lòng!”
Hành động dũng cảm và những giọt nước mắt của cô bé giữ sổ như một mồi lửa ném vào đống rơm khô, lập tức thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt huyết đang âm ỉ trong lòng những người phụ nữ còn lại.
“Ta góp tám mươi đồng!” Người phụ bếp lớn tuổi vội vã tháo chiếc túi vải thô giấu trong cạp váy ra, đổ những đồng tiền kẽm xỉn màu xuống bàn: “Đây là tiền ta để dành mua thuốc đau lưng, nay ta đem góp hết vào hội!”
“Ta có hai trăm đồng tiền tích cóp từ việc nhặt nhạnh vỏ trấu bán cho lò gạch năm ngoái, cho ta góp một phần!” Một nữ quan bên Ty Doanh Lực hăm hở chen lên phía trước.
“Ta... ta nghèo lắm, trong người chỉ còn đúng bốn mươi đồng tiền kẽm lẻ,” người cung nữ trẻ tuổi bên Ty Hoán Y bẽn lẽn xòe bàn tay đỏ ửng ra, bên trong là những đồng tiền nhỏ xíu, “nhưng ta khỏe tay, ta xin nhận chân cọ rửa sạch sẽ và luộc chín ba mươi chiếc bình gốm mỗi buổi trưa, cho ta trừ dần tiền công vào phần vốn góp có được không?”
“Được chứ! Quy chế đã định rõ: sức lao động cũng là tài sản!” An Trà reo lên, nụ cười rạng rỡ bừng nở trên môi nàng.
Tiếng lách cách của những đồng tiền đồng, tiền kẽm chạm vào nhau vang lên giòn giã khắp gian sân phơi chật hẹp, xua tan hoàn toàn cái lạnh lẽo, u ám của màn đêm buông xuống khu dịch đình. Không khí bỗng chốc trở nên ấm áp lạ thường.
Tống Diệp thoăn thoắt chấm bút vào nghiên mực đen, lật từng trang giấy bản mới. Nàng cẩn thận ghi chép danh tính từng người, số tiền đóng góp thực tế, ký tên xác nhận rồi dùng kéo nhỏ cắt góc tờ biên lai giao lại tận tay cho từng thành viên làm bằng chứng. Trên những gương mặt khắc khổ, nhăn nheo vì sương gió của những người phụ nữ ca trực tối, nỗi sợ hãi, nghi kỵ ban đầu đã hoàn toàn biến mất. Thay vào đó là một niềm hy vọng rạng ngời, một cảm giác tự hào sâu sắc khi lần đầu tiên trong đời, họ nhận ra mình không phải là những kẻ tôi đòi vô danh chịu sự sai khiến, mà là những người đồng hành tự chủ, cùng làm chủ vận mệnh và đồng tiền của chính mình.
Trong lúc mọi người đang tíu tít vây quanh chiếc bàn gỗ, háo hức lăn ngón tay cái vào nghiên mực đỏ để điểm chỉ xác nhận dưới bản điều lệ, Tống Diệp khẽ nghiêng đầu sang phía An Trà. Đôi mắt sắc sảo của người nữ quan kho bãi lấp lánh ý cười, nhưng giọng nói vẫn giữ vẻ nghiêm cẩn quen thuộc:
“Em bỏ quyền phủ quyết đi rồi, sau này vào việc thật sẽ vất vả gấp năm gấp mười đấy. Gặp chuyện gì hệ trọng cũng phải giải trình từng li từng tí, thuyết phục từng người một bằng con số, không thể một lời định đoạt nhanh gọn như trước được nữa đâu.”
An Trà mỉm cười nhẹ nhõm, ánh mắt nhìn theo những ngón tay gầy guộc đang cẩn thận đón lấy mảnh biên lai cắt góc:
“Vất vả một chút nhưng đêm về đặt lưng xuống phản là ngủ ngon giấc, Diệp tỷ ạ. Đi một mình thì có thể đi rất nhanh, nhưng muốn đi thật xa và không bị sập bẫy giữa chốn cung cấm đầy cạm bẫy này, chúng ta cần một bờ vai tập thể đủ rộng và đủ vững. Chia sẻ quyền quyết định chính là cách duy nhất để san bớt áp lực đè nặng lên vai, và cũng là cách tốt nhất để xây dựng niềm tin sắt đá. Huống hồ... muội đâu có dại dột gì mà muốn làm một bà chủ độc đoán giữa cái thời buổi này.”
Khi bản điều lệ sơ bộ gồm năm chương mười hai điều của Hội nữ quan Đồng Công được toàn thể tám thành viên ban đầu nhất trí thông qua dưới ánh nến tàn, Tống Diệp bắt đầu kiểm đếm lại toàn bộ số tiền mặt trên bàn. Tổng số vốn góp gom được đã lên tới con số một quan sáu trăm đồng tiền đồng và tiền kẽm.
Số tiền ấy tuy chưa thấm vào đâu so với món nợ ba mươi ba quan mà An Trà đang phải gánh gác, nhưng đối với một quầy trà nhỏ sau bếp, nó là một nguồn vốn lưu động quý giá, mở ra lời giải hoàn hảo cho bài toán mua chung nguyên liệu với giá sỉ trong những ngày sắp tới.
Bầu không khí bàn bạc lập tức chuyển sang một giai đoạn sôi nổi mới. Mọi người xúm lại quanh chiếc bàn, lấy giấy bút bắt đầu tính toán chi li từng khoản mua sắm nhỏ lẻ thường ngày vốn đang bị các phường buôn bóp nghẹt.
“Mấy hôm nay quầy trà phải mua đường mía theo từng cân nhỏ ngoài chợ Tây với giá mười tám đồng một cân, đắt cắt cổ!” Vũ Mai thoăn thoắt dùng đầu ngón tay vạch những con tính lên mặt bàn gỗ, đôi mắt sáng lên sự tinh tường bẩm sinh: “Nếu chúng ta gom một quan sáu trăm đồng tiền vốn này lại, cử người cầm giấy giới thiệu của Bếp Đông ra thẳng chợ Nam Thành, hoặc liên hệ trực tiếp với các phường buôn mía đường xứ Đoài để đặt mua chung một lần ba mươi đến năm mươi cân, giá đường cát trắng sẽ giảm xuống chỉ còn mười bốn đồng một cân, bớt được hơn hai phần mười chi phí!”
“Cả tiền than củi cũng thế!” Một nữ quan phụ trách lò đun tiếp lời đầy hào hứng: “Bấy lâu nay chúng ta cứ phải mua từng sọt than nhỏ từ Ty Cung Ứng của lão Đỗ Kính với giá cắt cổ mà toàn than vụn, khói mù mịt. Nếu gom tiền mua đứt cả một chuyến xe bò than gỗ nghiến chở từ bến sông Hồng vào, than vừa chắc lửa, đượm nhiệt, không khói, mà tính ra mỗi chén trà chúng ta dôi dư thêm được ít nhất nửa đồng tiền lời ròng!”
Tiếng thảo luận, tính toán rôm rả kéo dài mãi cho đến khi ngọn nến sáp ong cháy lụi đến tận đáy đĩa sành, chỉ còn lại một sợi bấc đỏ le lói tỏa làn khói mỏng. Đêm đã về khuya, tiếng chuông đồng từ phía hoàng thành gióng lên từng hồi báo hiệu canh tư sắp tàn.
Mọi người cẩn thận thu dọn giấy tờ, lau chùi mặt bàn gỗ sạch sẽ. Bản quy chế và Sổ Gốc Vốn Góp cùng toàn bộ số tiền một quan sáu trăm đồng được xếp ngay ngắn vào chiếc tráp gỗ hai ổ khóa. Tống Diệp giữ chiếc chìa khóa tra vào ổ trên, Vũ Mai được tập thể tín nhiệm giao giữ chiếc chìa khóa cắm vào ổ dưới. Chiếc tráp được khóa chặt trước sự chứng kiến của tất cả mọi người, rồi được đem giấu sâu vào trong ngăn tủ gỗ có then cài ở gian ăn tập thể.
Xong xuôi mọi việc, từng người một lặng lẽ rón rén bước ra khỏi sân phơi, hòa mình vào màn sương đêm lạnh giá, tản mát về các gian phòng ngủ tập thể để chợp mắt đôi chút trước khi tiếng kiểng báo hiệu ca trực sáng sớm ngày mai vang lên.
***
Sáng hôm sau, một lớp sương mù dày đặc còn phủ mờ ảo trên những ngọn trúc xanh ngắt sau bức tường hoa Bếp Đông. Gió sớm mang theo hơi ẩm ngai ngái của đất ướt và hương thơm dịu nhẹ của hoa cau rụng trắng bờ rào.
Tuân thủ nghiêm ngặt chỉ thị và giao ước với Phạm quản sự chiều hôm trước, quầy Hiên Trà Sau Bếp sáng nay tuyệt nhiên không bày các sọt tre thu hồi bình gốm ra ngoài lối đi như mọi khi. Thay vào đó, An Trà cùng Tống Diệp và Vũ Mai đã dọn dẹp một khoảng sân rộng dưới bóng râm của giàn mướp, kê ngay ngắn ba chiếc bàn tre dài cùng ba mươi chiếc bát sành mộc mạc tráng men nâu da lươn, phục vụ khách uống nước hoàn toàn tại chỗ. Trên chiếc cột tre chống mái hiên, tấm bảng gỗ khắc năm điều quy chế phục vụ của hiên trà được lau chùi sạch bóng, treo ngay tầm mắt của người qua lại.
Đúng giờ Tỵ, khi ánh nắng ban mai bắt đầu xua tan màn sương sớm, chiếc nồi đồng cỡ lớn đặt trên bếp than hoa rực hồng bắt đầu sôi sùng sục. Làn khói trắng thơm ngào ngạt bốc lên nghi ngút, quyện chặt giữa hương trà mạn ủ than nồng đượm, vị ngọt thanh của đường mía thắng non và vị béo ngậy đặc trưng của sữa dê tươi vừa chở từ Cửa Tây Dịch tới.
Mùi thơm quyến rũ ấy như một thứ hương dẫn đường vô hình, nhanh chóng lan tỏa khắp các ngõ ngách của khu dịch đình.
Khách khứa từ các ty viện, cục tác xung quanh bắt đầu lục tục kéo đến. Dù hôm nay không còn được phép xách những chiếc bình gốm mộc tinh xảo mang về điện như những ngày trước, nhưng quy định mới ấy dường như chẳng hề làm giảm đi sức hút kỳ lạ của chén trà sữa. Ngược lại, việc ngồi quây quần dưới bóng râm hàng rào tre, nhấp từng ngụm trà ngọt mát đậm đà, lắng nghe tiếng trân châu dẻo dai sần sật trong miệng và râm ran trò chuyện với bạn bè cùng ca trực lại mang đến một thú vui tao nhã hiếm hoi giữa chốn thâm cung tù túng.
Những người thợ nề Ty Doanh Lực áo quần lấm lem vôi vữa, mấy cung nữ thêu thùa ngón tay chằng chịt vết kim châm, cho đến những phu trực ca đêm mệt mỏi... tất cả đều vui vẻ rút tiền lẻ đổi lấy những chiếc thẻ tre đánh số thứ tự rồi ngồi kín các dãy ghế tre dài.
Khâu vận hành của quầy trà sáng nay diễn ra trơn tru, ngăn nắp đến kinh ngạc. Tống Diệp đứng bên nồi đồng lớn, tay cầm chiếc gáo đồng thoăn thoắt múc từng muôi trà sữa sóng sánh rót vào bát sành men da lươn. Vũ Mai ngồi bên chiếc bàn nhỏ kê ở đầu hiên, nhanh nhẹn thu tiền kẽm, đối chiếu sổ sách và phát thẻ tre cho khách, miệng luôn nở nụ cười tươi tắn xua tan vẻ nhút nhát thường ngày. Ở góc sân phơi, người cung nữ Ty Hoán Y đang cần mẫn ngâm rửa những chiếc bát sành đã dùng qua âu nước sôi sùng sục, bảo đảm từng chiếc bát đưa lên bàn khách đều sạch bong, không vương một hạt bụi. Mọi công đoạn ăn khớp với nhau nhịp nhàng như những bánh răng của một cỗ đồng hồ cơ khí tinh xảo.
Giữa lúc quầy trà đang vào độ đông đúc và náo nhiệt nhất, tiếng cười nói râm ran bỗng nhiên khựng lại.
Từ phía con đường lát đá dẫn qua rặng trúc sau Bếp Đông, tiếng bước chân giẫm lên lớp lá khô giòn bỗng vang lên dồn dập. Đó không phải là bước chân tà tà của những người thợ phu đi uống trà, mà là tiếng hài thêu đế cứng gõ nhịp dứt khoát, uy nghi và lạnh lùng.
Đám đông đang ngồi uống trà bỗng im bặt. Những ánh mắt e dè liếc nhìn nhau, rồi mọi người tự giác đứng dậy, dạt sang hai bên mép đường nhường lối.
Một bóng người mảnh mai nhưng toát lên vẻ sắc sảo, kiêu kỳ từ sau rặng trúc bước ra.
Nàng mặc một bộ áo nữ quan màu xanh cánh chả dệt hoa chìm, cổ áo và gấu tay viền chỉ bạc lấp lánh – sắc phục đặc trưng của những nữ quan thân cận phục vụ tại điện Ngọc Chiếu của Đoan phi Ninh Ngọc Dung. Mái tóc nàng búi cao hình mây cuộn, cài một chiếc trâm đồi mồi khảm bạc thanh nhã. Khuôn mặt nàng trái xoan, đôi mắt phượng xếch ngược toát lên vẻ thông minh nhưng có phần cay nghiệt.
Thế nhưng, điều khiến người ta chú ý nhất lúc này là trên tay nàng không hề cầm chiếc túi gấm đựng tiền hay những thẻ tre đổi trà như lệ thường. Nàng kẹp chặt bên nách một tập giấy bản dày cộp, giấy đã ngả sang màu vàng ố của thời gian, mép giấy sờn rách và có nhiều nếp gấp nhăn nheo chứng tỏ đã từng được người ta lật đi lật lại, nghiền ngẫm suốt bao năm tháng.
Đó chính là Hà Tú – nữ quan chưởng quản việc cung ứng và đặt hàng của điện Ngọc Chiếu.
Sau vụ va chạm nảy lửa sáng hôm qua, khi nàng ta cậy thế chủ nhân toan dùng lệnh miệng ép buộc quầy trà phục vụ riêng cho cung Đoan phi để rồi bị bà Phạm quản sự vịn vào quy định nội đình công khai khiển trách, vẻ trịch thượng, hống hách thường ngày trên gương mặt Hà Tú đã thu lại bớt. Thay vào đó, lúc này hiện rõ một vẻ mặt vô cùng phức tạp: vừa có sự dò xét lạnh lùng, vừa phảng phất nét hoài nghi căng thẳng, dường như đang phải đối diện với một điều gì đó vượt ngoài tầm kiểm soát của nàng.
Hà Tú bước chầm chậm vào trong hiên trà. Ánh mắt sắc như dao cau của nàng quét qua một lượt quang cảnh ngăn nắp xung quanh: từ những chiếc bàn tre lau sạch bóng, chiếc nồi đồng tỏa khói thơm nghi ngút, cho đến chiếc bảng gỗ treo năm điều quy chế phục vụ được treo ngay ngắn trên cột hiên. Cuối cùng, ánh mắt nàng dừng lại, nhìn chằm chằm vào bàn tay thoăn thoắt chắt trà của An Trà.
An Trà không hề nao núng. Nàng nhẹ nhàng đặt chiếc gáo đồng xuống gác ngang miệng nồi, lấy chiếc khăn vải trắng lau khô tay rồi ngẩng đầu lên. Ánh mắt nàng nhìn thẳng vào Hà Tú, nét mặt bình thản như mặt nước hồ mùa thu, không chút gợn sóng:
“Hà nữ quan hôm nay hạ cố đến hiên trà sau bếp, là muốn dùng một bát trà sữa nóng tại chỗ, hay điện Ngọc Chiếu đã cho người làm xong phiếu đặt chuẩn ngạch có dấu giáp lai của Ty Cung Ứng theo đúng quy định của Nội đình?”
Hà Tú không trả lời ngay. Nàng bước từng bước chậm rãi đến sát mép chiếc bàn tre nơi Vũ Mai đang ngồi giữ sổ thu tiền.
Đám đông xung quanh nín thở dõi theo. Không gian hiên trà bỗng chốc chìm vào một sự im lặng căng thẳng đến tột cùng, chỉ còn nghe thấy tiếng nước trà sôi ùng ục trong nồi đồng và tiếng lá trúc xào xạc trên mái hiên.
Bất thình lình, Hà Tú vung tay, đập mạnh tập giấy bản cũ ố vàng trên tay xuống mặt bàn tre, ngay sát cạnh chiếc nghiên mực dùng để chấm công nhật ca trực của quầy trà.
“Chát!”
Tiếng va chạm khô khốc vang lên làm rung chuyển chiếc bàn tre. Bụi giấy cũ kỹ cùng mùi ẩm mốc lưu cữu từ năm này qua tháng khác khẽ bốc lên trong nắng sớm, bay lơ lửng giữa không trung.
Hà Tú chống một tay lên mặt bàn, nghiêng người về phía trước, ánh mắt nhìn xoáy vào sâu trong đáy mắt An Trà như muốn lột trần từng ngóc ngách tâm can của đối phương. Từng âm tiết thốt ra từ kẽ răng nàng ta lạnh buốt như băng tuyết, nhưng lại nghẹn ứ nơi cuống họng bởi một nỗi kích động khó tả:
“Nguyễn nữ quan, sáng kiến mua chung nguyên liệu giảm giá thành, cùng bản quy chế phân định rạch ròi giữa tiền vốn, tiền công và quỹ dự phòng hao hụt mà cô vừa ban bố đêm qua... rốt cuộc là sáng kiến do chính đầu óc cô nghĩ ra, hay cô đã lấy trộm từ bản thảo phương án cũ của ai khác?”