Sổ đẹp chưa chắc tiền còn
Tiếng lách cách của những đồng tiền đồng trút xuống đáy tráp gỗ vang lên khô khốc, đối lập hoàn toàn với dãy số son đỏ rực rỡ ghi doanh thu trên cuốn sổ cái của An Trà.
Ngọn đèn dầu hạt đỗ trên chiếc bàn con trong góc chái của Hiên Trà Sau Bếp chập chờn theo từng cơn gió sớm. Canh năm vừa điểm, sương mai còn đọng mờ trên mép ngói âm dương, vạn vật trong hoàng thành vẫn còn đang ngái ngủ. Gió lùa qua khe liếp nứa mang theo hơi ẩm lạnh buốt đặc trưng của những ngày giao mùa nơi kinh kỳ, làm ngọn lửa nhỏ nhoi run rẩy, chao nghiêng, hắt những vệt bóng dài ngoằng lên vách đất trát vôi đã loang lổ vết ố thời gian. Thế nhưng bên trong chái bếp, bầu không khí lại đặc quánh sự bối rối và căng thẳng đến nghẹt thở.
Tống Diệp chống một tay lên trán, những ngón tay gầy guộc chốc chốc lại day nhẹ hai bên thái dương đang giật lên từng hồi nhức nhối. Tay kia của nàng cầm que đóm đã cháy dở một đầu, vô thức gạt nhẹ bấc đèn cho ngọn lửa bùng lên đôi chút, mắt nhìn chòng chọc vào từng chồng tiền kẽm xỉn màu và mấy xâu tiền đồng mỏng tang nằm trơ trọi dưới đáy tráp gỗ lim thâm thấp. Bên cạnh nàng, Vũ Mai khẽ mím môi, hai ngón tay cái cứ xoắn chặt lấy gấu áo tạp dề bằng vải thô nhuộm củ nâu, đôi mắt ngân ngấn nước như thể chỉ cần ai đó cất tiếng hỏi gắt gao một câu là những giọt lệ kìm nén từ nãy đến giờ sẽ trào ra tức khắc.
An Trà hít sâu một hơi, luồng khí lạnh tràn vào lồng ngực giúp tâm trí nàng tỉnh táo lại đôi chút. Nàng cầm bút lông chấm mực son, ngón tay lướt thoăn thoắt qua từng dòng kê trên trang giấy bản dày dặn, phẳng phiu.
Trên giấy trắng mực đen, mọi thứ đều đẹp như một bức tranh hoàn mỹ không tì vết. Cột thu ghi nhận món Bích Lục Thanh Trà Sữa và trà than hoa hạt củ nhu tiêu thụ đều đặn từ sáng sớm đến tận chập tối; sau khi hội quyết định hạ trần sản lượng xuống mức tối đa tám mươi chén mỗi ngày để bảo vệ sức khỏe chị em không bị kiệt sức vì đứng bếp quá lâu, tổng doanh thu nửa tháng qua vẫn đạt con số đáng nể. Trừ đi tiền sữa dê tươi trả đứt từng ngày cho trang trại Thanh Khê của Vũ Lan, tiền công hai canh giờ chia đều cho mỗi ca trực của từng tỷ muội, và khoản tiền trích hai phần mười vào Quỹ Dự Phòng Hao Hụt phòng khi ấm sứt mẻ hay nguyên liệu ẩm mốc, phần lãi ròng của Hội Đồng Công hiển hiện mồn một: một con số dương tròn trĩnh, tươi roi rói dưới nét son, đủ khiến bất cứ ai nhìn vào cũng tưởng rằng quầy trà đang ăn nên làm ra đến mức tiền bạc rủng rỉnh, hòm xiểng đầy ắp.
Thế nhưng, két sắt thì không biết nói dối bằng mực son.
Cái tráp gỗ lim mở toang nắp, phơi bày toàn bộ thực tế trần trụi. Những đồng tiền kẽm đúc vội mép xơ xác nằm lẫn với vài đồng tiền đồng rỉ xanh, tuyệt nhiên không thấy bóng dáng của những xâu tiền nghìn hay những nén bạc vụn mà một phường buôn có lãi ròng trên giấy tờ thường sở hữu.
“Tổng số tiền mặt thực tế chúng ta có trong tráp hiện tại…” Giọng Tống Diệp trầm xuống, khàn đi vì mỏi mệt sau một đêm gần như thức trắng đối chiếu từng tờ biên nhận con, “…chỉ vẻn vẹn có bốn trăm sáu mươi đồng. Chưa đầy nửa quan.”
“Nửa quan?” Vũ Mai giật mình thốt lên, giọng nói nghẹn lại nơi cổ họng, đôi mắt mở to tròn xoe đầy vẻ khó tin. “Tỷ tỷ, hôm qua em ngồi đếm rõ ràng là nhiều hơn thế cơ mà? Chính tay em xâu từng đồng tiền kẽm vào sợi lạt tre, xếp ngay ngắn vào góc tráp… Sao bây giờ chỉ còn chừng này? Sáng sớm mai thuyền buôn xứ Đoài cập bến Liễu rồi, mẻ đường mía cô đặc và bột củ nhu đợt này nặng tới sáu mươi cân, chủ thuyền giao kèo phải có đủ một quan hai trăm đồng tiền tươi dứt điểm ngay tại mũi thuyền mới chịu dỡ hàng. Nếu thiếu tiền mặt, họ chở hàng xuôi về bến Nam Thành bán cho Liên hiệu Vạn Phúc thì quầy trà lấy gì mà nấu? Chẳng lẽ chúng ta lại phải treo biển đóng cửa bếp?”
Nỗi sợ hãi của Vũ Mai không phải là vô căn cứ. Liên hiệu Vạn Phúc từ lâu đã giương mắt nhìn Hiên Trà Sau Bếp như một cái gai trong mắt. Nếu mẻ nguyên liệu đường mật hảo hạng ấy rơi vào tay phường buôn của họ, quầy trà không những đứt gãy nguồn cung mà còn phải cắn răng mua lại đường vụn với giá cắt cổ từ Kho Bếp Đông.
An Trà tự day day ấn đường. Một cơn nhức đầu quen thuộc từ kiếp trước tràn về, cái cảm giác kinh hoàng mỗi khi đối diện với bảng báo cáo tài chính mà người ta hay gọi là “lãi giả, lỗ thật” hay chính xác hơn là vỡ dòng tiền lưu động. Ở thời hiện đại, bao nhiêu chuỗi cửa hàng đồ uống, bao nhiêu công ty khởi nghiệp non trẻ đã sụp đổ tức tưởi không phải vì sản phẩm ế ẩm, không phải vì không có khách mua, mà chỉ vì cạn sạch tiền mặt thanh khoản vào đúng thời điểm các khoản chi ngắn hạn ập đến chân tường. Ai ngờ xuyên không về thời Đại Ninh làm nữ quan kho bếp, tưởng chừng chỉ cần nấu trà ngon, đãi người chân thành là có thể yên ổn tồn tại, nàng lại một lần nữa nếm trải đúng cái cảm giác đứng trên bờ vực phá sản này.
“Lỗi ở ta,” An Trà thở dài, tiếng thở nghe trĩu nặng trong không gian tĩnh mịch của sớm mai. Ngón tay nàng gõ nhẹ lên mép gỗ lim xù xì của tráp tiền, từng nhịp gõ như tự chất vấn chính mình. “Chúng ta phạm phải ba sai lầm chết người trong quản trị tài chính. Ta cứ ngỡ mình đã tính toán chu toàn mọi đường đi nước bước, nhưng thực chất lại buông lỏng những nguyên tắc cốt tử nhất.”
Nàng lật sang một trang sổ con khác, nơi chi chít những dòng chữ nhỏ ghi bằng bút chì than tự chế:
“Thứ nhất, tiền cọc vỏ bình gốm hoa trà—năm đồng mỗi chiếc mà khách gửi lại khi mang trà đi xa—lẽ ra phải là một khoản nợ bảo chứng, một nghĩa vụ hoàn trả nằm ngoài quyền sử dụng của chúng ta, nhưng ta lại tiện tay trút chung vào tráp tiền bán trà mỗi ngày. Khi cần mua củi gấp, hay những hôm phải bù tiền mua thêm vài ôm trà non từ thôn Đoài đưa vào, chúng ta đã vô thức rút tiền từ cái hòm chung ấy ra chi trả. Tiền cọc của người ta đã bị biến thành chi phí hoạt động từ lúc nào không hay.”
Nàng dừng lại một nhịp, nhìn sang Tống Diệp đang cúi gằm mặt, rồi tiếp tục lật trang sổ:
“Thứ hai, tiền bán chịu. Ca trực đêm của lính canh Cửa Tây Dịch, các thị nữ của viện dệt và phòng văn thư… vì đều là chỗ quen biết, làm việc cùng một khoảng sân, đổi ca thì gấp gáp, chúng ta đã cho họ nợ lại tiền trà với lời hẹn ‘lĩnh bổng đầu tháng sẽ trả’. Số tiền ghi nợ rải rác ấy, mười đồng ở phòng dệt, mười lăm đồng ở cổng gác, hai mươi đồng ở nơi chép kinh… cộng dồn lại đã lên tới gần năm trăm đồng! Khách hàng uống trà xong rồi, sổ thì ghi nhận doanh thu tăng vọt, nhưng đồng kẽm thực tế thì vẫn nằm trong túi áo của họ, không nằm trong két của chúng ta.”
Tống Diệp nghe đến đó thì mặt thoắt đỏ thoắt trắng. Đôi bàn tay vốn khéo léo chẻ củi nhóm lò của nàng run rẩy đặt lên mặt bàn. Nàng là người phụ trách trực tiếp việc nhận ca và giao tiếp với các viện ty, thói quen nể nang người cùng làm việc cực nhọc nơi chốn thâm cung bấy lâu nay đã khiến nàng dễ dãi trong việc cho thiếu tiền. Thấy người lính canh run rẩy trong đêm rét không mang đủ tiền lẻ, thấy cung nữ giặt giũ tay nứt nẻ vì nước buốt xin khất chén trà nóng đến kỳ lương, nàng không nỡ chối từ. Nàng cứ nghĩ sổ sách ghi lại rành mạch thì sớm muộn tiền cũng về tay, có ngờ đâu sự nể nang ấy lại đang bóp nghẹt huyết mạch sinh tồn của cả quầy trà.
“Và thứ ba,” An Trà chua chát bổ sung, đầu ngón tay lướt qua con số lợi nhuận son rực rỡ, “là tiền vốn dự trữ để nhập nguyên liệu mới đã bị lẫn lộn hoàn toàn với tiền lãi ròng trên giấy. Doanh thu trên sổ, lợi nhuận thực tế và tiền mặt sẵn có… là ba con số hoàn toàn khác nhau. Sổ sách thì báo lãi, nhưng tiền tươi trong tay thì không đủ trả cho chuyến thuyền sáng mai! Nếu không có tiền dỡ hàng, mất mối làm ăn với thuyền buôn xứ Đoài, toàn bộ chuỗi nấu trà sẽ tê liệt.”
Căn phòng chái bếp chìm vào một khoảng lặng nặng nề. Tiếng gió sớm rít qua ngọn tre đầu hồi nghe buốt giá. Đúng lúc ba người đang nhìn tráp tiền mặt mày ủ rũ, từ phía cổng rào trúc ngăn cách Hiên Trà Sau Bếp với lối đi nội bộ bỗng vang lên tiếng bước chân vững chãi và tiếng tà áo vải gấm quét nhẹ trên nền đá xanh lạo xạo.
“Sổ sách của Hội Đồng Công tính toán cẩn thận đến thế, mà giờ này vẫn chưa đóng tráp sao?”
Một thanh âm trầm thấp, lành lạnh như dòng suối đầu mùa đông cất lên, xé toạc màn sương sớm lãng đãng quanh hiên.
An Trà ngẩng đầu. Đứng dưới giàn hoa thiên lý đầu hiên là hai bóng người quen thuộc của Ty Khảo Sổ. Người đi trước khoác trường bào màu lam thẫm thêu chìm hoa văn mây cuộn, vóc dáng cao ráo đĩnh đạc, thắt lưng đai bạc thẳng tắp, nét mặt tuấn tú nhưng nghiêm nghị tựa như mặt hồ đóng băng—không ai khác chính là Lục Hoài Cẩn. Đi ngay sát phía sau chàng là Đặng Thu Vân, nữ kiểm toán viên ba mươi hai tuổi nổi tiếng sắc sảo và kiệm lời của viện khảo sát, trên tay nàng ôm một tập hồ sơ dày cộp bọc vải chàm, đôi mắt sáng quắc như có thể nhìn thấu tâm can người đối diện.
Tống Diệp và Vũ Mai vội vã đứng dậy, chỉnh đốn lại vạt áo, hành lễ theo đúng quy thức nội đình:
“Tham kiến Lục đại nhân, Đặng đại nhân.”
An Trà cũng đứng lên, khẽ cúi đầu chào theo phép tắc. Đặng Thu Vân gật đầu đáp lễ một cách chừng mực, bước lên một bước, cất giọng rõ ràng nhưng không mang vẻ hạch sách:
“Chúng tôi theo lệnh định kỳ của Ty Khảo Sổ và Nội đình đến kiểm tra việc chấp hành quy chế sử dụng mặt bằng, nguồn than củi và vệ sinh phòng hỏa tại Hiên Trà Sau Bếp trước giờ mở cổng thành. Nguyễn nữ quan, xin cho xem biên lai thanh toán than hoa gỗ nghiến của tuần trước.”
“Biên lai ở đây, thưa Đặng tỷ tỷ.” An Trà nhanh nhẹn rút từ ngăn kẹp tre ra tờ giấy biên nhận có triện đỏ của Ty Cung Ứng, hai tay đưa sang cho Thu Vân.
Trong khi Đặng Thu Vân chăm chú lật mở đối chiếu từng cân than củi và số lượng thùng nước gánh từ Giếng Tây theo định mức quy định, ánh mắt sắc bén của Lục Hoài Cẩn đã dừng lại ngay trên mặt bàn gỗ. Nơi đó, cuốn sổ cái mở rộng với những dòng mực son đỏ chót nằm kề bên tráp tiền mở nắp, trơ trọi vài vốc tiền kẽm và ba xâu tiền đồng ngắn ngủn.
Chàng chỉ liếc qua một thoáng, hàng lông mày thanh tú khẽ nhíu lại thành một đường thẳng tắp. Không cần ai mời, chàng bước tới bên mép bàn, ánh mắt dừng lại ở con số tổng kết cuối trang sổ.
“Doanh thu nửa tháng ghi nhận mười hai quan ba trăm đồng,” Hoài Cẩn nhàn nhạt mở lời, thanh âm không một gợn sóng cảm xúc nhưng lại sắc bén đến tận cùng. “Lợi nhuận sau khi khấu trừ chi phí vận hành và trích lập quỹ hao hụt còn dư hơn một quan sáu trăm đồng. Thế nhưng trong tráp tiền mặt, ta chỉ thấy không quá năm trăm đồng tiền kẽm.”
An Trà mím môi, trong lòng thoáng dâng lên một tia tự ái nghề nghiệp. Dù biết chàng chỉ nói sự thật trần trụi, nhưng cái thái độ như thể nhìn thấu mọi ngóc ngách yếu kém cùng giọng điệu công vụ lạnh băng kia vẫn khiến một người từng lăn lộn quản lý nhiều năm như nàng cảm thấy chột dạ và ngượng ngùng. Nàng là người tự tay lập ra hệ thống sổ sách này, từng tự hào vì nó minh bạch hơn bất kỳ kho bếp nào trong nội đình, vậy mà giờ đây lại để lộ ra một lỗ hổng sơ đẳng trước mắt vị quan khảo sát khét tiếng nghiêm cẩn.
Nàng khẽ ngẩng cằm, cố giữ cho giọng mình bình thản, không để lộ sự dao động:
“Lục đại nhân tinh mắt thật. Nhưng buôn bán chốn hậu đình có những đặc thù riêng. Khách hàng phần lớn là cung nhân trực ca, tiền bổng lộc chưa phát thì phải linh động cho ghi nợ vài ngày, đó là tình nghĩa đồng liêu. Còn tiền cọc vỏ bình gốm, khách gửi đó rồi khi nào tiện họ trả bình thì lấy lại tiền, trước sau gì cũng lưu chuyển trong quầy, chúng tôi tạm thời gom chung để tiện việc quản lý tiền lẻ…”
“Tình nghĩa đồng liêu không thể đem ra thanh toán cho chủ thuyền xứ Đoài, và tiền cọc của khách lại càng không phải là tài sản của quầy trà để các cô tùy tiện ‘linh động’.”
Lục Hoài Cẩn lạnh lùng cắt ngang lời nàng. Chàng không hề nâng cao giọng, nhưng từng từ thốt ra đều nặng tựa nghìn cân, gõ thẳng vào trọng tâm vấn đề mà không kiêng nể bất kỳ ai:
“Nguyễn nữ quan, cô là người thông minh, nhưng cô đang phạm phải điều cấm kỵ sơ đẳng nhất của một người giữ sổ: lẫn lộn giữa doanh thu trên giấy và dòng tiền mặt sẵn có.”
Chàng đưa ngón tay thon dài, khớp xương rõ ràng chỉ thẳng xuống những con số son trên cuốn sổ:
“Khoản tiền khách ghi nợ—năm trăm đồng kia—về mặt kế toán có thể coi là một khoản phải thu, nhưng chừng nào nó chưa vào két, nó không có giá trị thanh khoản. Các cô không thể bẻ một mẩu giấy ghi nợ ra để mua đường mua sữa. Nguy hiểm hơn cả là số tiền cọc vỏ bình gốm năm đồng mỗi chiếc. Đó là khoản nợ phải trả, là nghĩa vụ bảo chứng vô điều kiện. Tiền cọc là tiền cô giữ hộ người ta để đảm bảo tài sản, không phải là doanh thu kiếm được, càng không phải là vốn lưu động tự do. Nếu ngày mai, chỉ cần ba mươi người khách cùng lúc mang bình hoa trà đến quầy đòi trả vỏ lấy lại tiền cọc, quầy trà của cô lấy tiền đâu ra để hoàn trả?”
Căn phòng rơi vào một khoảng im lặng chết chóc. Gió ngoài hiên như ngừng thổi. Vũ Mai tái mặt, hai bờ vai nhỏ bé khẽ run lên bần bật dưới lớp áo thô. Tống Diệp nắm chặt vạt áo, môi run rẩy không nói nên lời.
“Khi khách đòi tiền cọc mà quầy không có tiền mặt để trả,” Hoài Cẩn nhìn thẳng vào mắt An Trà, ánh mắt thâm trầm không mang nửa phần chế giễu mà hoàn toàn là sự cảnh báo nghiêm khắc của một kiểm toán viên dạn dày kinh nghiệm, “người ngoài sẽ không nghe cô giải thích về ‘doanh thu trên giấy’ hay ‘tiền khách còn nợ’. Họ chỉ biết Hiên Trà Sau Bếp quỵt tiền cọc đồ gốm. Đến lúc đó, tin đồn gian lận sẽ bùng lên, Quản sự Phạm Tĩnh buộc phải niêm phong quầy, và các cô sẽ rơi vào tình trạng vỡ nợ kỹ thuật ngay giữa lúc sổ sách vẫn đang ghi nhận có lãi!”
Bốn chữ “vỡ nợ kỹ thuật” thốt ra như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt An Trà, khiến toàn thân nàng chấn động.
Sự tự ái ban nãy lập tức tan biến như bọt xà phòng dưới ánh mặt trời. Đứng trước mặt nàng không phải là một viên quan phong kiến hống hách thích dùng uy quyền chèn ép cấp dưới, mà là một vị kiểm toán viên xuất sắc, một người đang dùng chính nguyên tắc quản trị rủi ro thanh khoản khắt khe nhất để vạch trần lỗ hổng chí mạng mà nàng—vì quá bận rộn với các công thức pha chế, cải tiến chất lượng và việc cân bằng sức khỏe chị em—đã vô tình lơ là bỏ qua.
Chàng nói không sai một chữ nào. Từng câu từng chữ đều trúng tim đen. Ở kiếp trước, nàng từng chứng kiến những chuỗi cửa hàng doanh thu hàng chục tỷ nhưng sụp đổ chỉ sau một đêm vì tắc nghẽn dòng tiền mặt trong kỳ hạn ngắn. Nếu ngày mai chủ thuyền xứ Đoài không nhận đủ tiền mặt, họ sẽ cắt nguồn hàng; nếu khách hàng đòi lại tiền cọc mà quầy không có tiền trả, danh tiếng tích lũy bấy lâu sẽ tan thành mây khói trong nháy mắt.
An Trà hít một hơi thật sâu, thu lại toàn bộ sự gai góc phòng thủ. Nàng khẽ nghiêng mình, chắp hai tay trước ngực, cúi đầu thật chân thành:
“Lục đại nhân nói hoàn toàn chính xác. Là do tôi nông cạn, điều hành theo cảm tính mà xem nhẹ nguyên tắc quản trị dòng tiền. Đa tạ đại nhân đã kịp thời chỉ điểm, đánh thức kẻ u mê này.”
Lục Hoài Cẩn thoáng ngẩn người. Đôi đồng tử đen sâu thẳm của chàng khẽ dao động. Chàng dường như không ngờ một nữ tử kiêu hãnh, luôn có những lý lẽ sắc bén và tự tin như nàng lại có thể gạt bỏ lòng tự ái nhanh đến thế để thẳng thắn tiếp thu lời phê bình sắc lạnh của mình. Vẻ băng giá nơi khóe môi chàng dường như mềm lại đôi chút, một tia tán thưởng rất khẽ lướt qua đáy mắt, nhưng chàng nhanh chóng giấu nó đi dưới lớp vỏ bọc điềm tĩnh thường ngày.
“Biết sai mà sửa, ấy là điều may,” Hoài Cẩn nhàn nhạt nói, rồi hơi nghiêng đầu quay sang Đặng Thu Vân.
Đặng Thu Vân lúc này đã khép tập biên lai kiểm tra than củi lại, ngón tay gõ nhẹ lên bìa hồ sơ bọc vải chàm. Nàng nhìn An Trà với ánh mắt có thêm vài phần tán thưởng ngầm:
“Quy chuẩn than củi và an toàn phòng hỏa của Hiên Trà Sau Bếp tuần qua rất tốt, không có tàn tro vương vãi, bồn nước cứu hỏa luôn đầy, sàn gạch sạch sẽ. Tuy nhiên, về mặt quản lý tài chính, Lục đại nhân nói không thừa đâu. Hội Đồng Công các cô muốn đi đường dài, muốn bảo bọc được cho nhau giữa chốn hậu đình đầy cạm bẫy này, thì đồng tiền phải minh bạch và có ranh giới rõ ràng. Nhầm lẫn tiền cọc với tiền vốn, sớm muộn cũng tự lấy đá ghè chân mình.”
An Trà gật đầu tiếp thu: “Thu Vân tỷ tỷ dạy rất phải. Chúng tôi sẽ sửa chữa ngay lập tức.”
Ngay sau khi hai vị quan của Ty Khảo Sổ rời khỏi hiên trà để tiếp tục ca tuần tra các kho viện phía tây, An Trà lập tức kéo ghế lại gần Tống Diệp và Vũ Mai. Vẻ mệt mỏi trên gương mặt nàng biến mất, thay vào đó là sự quyết đoán, nhanh nhẹn của một người chỉ huy:
“Chị Tống Diệp, muội Mai, chúng ta phải họp khẩn cấp ngay bây giờ. Trước giờ Thìn, toàn bộ cơ cấu tài chính của hội phải được thiết lập lại từ gốc rễ! Tuyệt đối không để sai lầm này kéo dài sang ngày thứ hai.”
Nửa canh giờ tiếp theo, chái bếp nhỏ biến thành một cuộc cải tổ tài chính triệt để, không khoan nhượng.
Dưới sự chủ trì của An Trà, ba người phân loại rành mạch từng đồng tiền còn lại trong tráp. Từng đồng tiền kẽm, tiền đồng được nhặt ra, kiểm đếm cẩn thận trước ánh đèn le lói.
Trước hết là tiền cọc vỏ bình gốm. Toàn bộ số tiền cọc tương ứng với số lượng bình gốm đang lưu hành bên ngoài—được đối soát kỹ lưỡng theo từng cuống phiếu xuất—được đếm riêng từng đồng, cho vào một chiếc phong bao bằng giấy dầu dày dặn. Bên ngoài phong bao, An Trà dùng bút lông viết rõ ràng từng nét đậm: “Tiền bảo chứng vỏ bình - Nghiêm cấm trích dụng”. Tống Diệp, Vũ Mai và An Trà lần lượt ký tên giáp lai lên mép phong bao, rồi dán kín bằng hồ nếp. Chiếc phong bao này được đặt riêng vào một ngăn kéo phụ có khóa sắt bên dưới đáy hòm, chìa khóa giao cho Tống Diệp giữ, tuyệt đối không được phép nhập chung vào tiền lưu động để mua bán nguyên liệu hay chia công dưới bất kỳ hình thức nào.
Thứ hai, về vấn đề nợ xấu. Tống Diệp đích thân mài mực, chấp bút soạn thảo ngay một điều lệ bổ sung ngắn gọn nhưng đanh thép, dán công khai ngay trên tấm biển gỗ trước quầy: “Kể từ hôm nay, Hiên Trà Sau Bếp áp dụng hạn mức bán chịu tối đa không quá ba ngày đối với các ca trực nội cung. Quá ba ngày chưa thanh toán dứt điểm, quầy xin phép từ chối phục vụ các đơn hàng tiếp theo.”
“Quy định này tuy có phần cứng nhắc, dễ làm mếch lòng vài người quen,” Tống Diệp thở phào buông bút, ngắm nhìn dòng chữ mực còn chưa khô, “nhưng Hoài Cẩn đại nhân nói đúng, tình nghĩa không thể đem ra thế chấp cho chủ nợ được. Cứ sòng phẳng ngay từ đầu thì chị em mới giữ được hòa khí lâu dài, quầy trà mới không bị kéo sập.”
Thế nhưng, bài toán hóc búa nhất trước mắt vẫn là khoản thiếu hụt hơn bảy trăm đồng tiền mặt để thanh toán cho chuyến thuyền đường xứ Đoài cập bến Liễu vào đầu giờ Thìn sáng mai. Nếu không có đủ một quan hai trăm đồng, chủ thuyền sẽ quay đầu xuôi về bến Nam Thành ngay lập tức.
Ngồi tính toán lại từng dòng tiền, ba người nhanh chóng vạch ra giải pháp tình thế nhưng vô cùng hiệu quả. An Trà chủ động mở lời: nàng xin tạm ứng trước phần tiền công lao động của chính mình trong kỳ tới để bù vào quỹ tiền mặt. Đồng thời, Tống Diệp cầm cuốn sổ nợ nhỏ, trực tiếp đi một vòng qua Ty Hoán Y và Ty Châm Khâu trước giờ đổi ca sáng. Với uy tín lâu năm, sự khéo léo và thấu tình đạt lý của Tống Diệp, nàng nhẹ nhàng giải thích hoàn cảnh khó khăn của quầy trà khi phải gom tiền tươi trả mối buôn đường. Chỉ trong vòng chưa đầy một khắc, các nữ quan và cung nữ ở hai ty đều vui vẻ vét túi thanh toán dứt điểm các khoản nợ cũ. Hơn bốn trăm đồng tiền nợ tồn đọng đã được thu về đầy đủ bằng tiền tươi thóc thật.
Cộng với khoản tiền công ứng trước của An Trà và số tiền lẻ sẵn có trong quầy, con số trong tráp gỗ lim nhanh chóng vượt qua mức một quan hai trăm đồng cần thiết.
Dòng tiền mặt lưu động lập tức được khơi thông róc rách như dòng suối sau cơn nghẽn. Nguy cơ vỡ nợ trước mũi thuyền xứ Đoài tạm thời được hóa giải trong gang tấc, để lại một bài học xương máu nhưng vô giá cho toàn bộ chị em Hội Đồng Công.
* * *
Đến giữa giờ Tỵ, ánh nắng ban trưa đã trải vàng rực rỡ trên những phiến đá xanh dẫn vào Hiên Trà Sau Bếp. Gió xua tan đi làn sương lạnh buốt buổi sớm, để lại bầu không khí ấm áp, hanh hao.
Tiếng bước chân nhẹ nhàng quen thuộc lại vang lên ngoài hiên. Đặng Thu Vân quay trở lại một mình, không có Lục Hoài Cẩn đi cùng. Nàng vẫn mặc bộ quan phục vải chàm tề chỉnh, nhưng trên tay mang theo cuốn sổ trích lục giá vật tư nội cung dày cộp của Ty Khảo Sổ để hoàn tất nốt thủ tục đối soát định kỳ như đã hẹn.
“Nguyễn nữ quan, cô đưa bảng kê chi phí mua đường và mật mía trực tiếp từ bên ngoài của Đồng Công cho tôi xem lại một chút,” Thu Vân ngồi xuống chiếc ghế tre bên chiếc bàn con dưới giàn hoa, giọng điệu tự nhiên, thoải mái và gần gũi hơn rất nhiều so với lúc đi tuần cùng Lục Hoài Cẩn vào đầu giờ sáng. “Tôi cần lưu lại một bản sao độc lập để phục vụ công tác đối chiếu hồ sơ vật tư của viện.”
“Vâng, bảng kê chi tiết từng chuyến mua hàng đây ạ, thưa Đặng tỷ tỷ.” An Trà nhanh nhẹn mang xấp giấy bản ghi chép cẩn thận đặt lên bàn tre, rồi tiện tay rót một chén trà nụ vối nóng hổi mời Thu Vân.
Hai người phụ nữ ngồi sát bên nhau. Ánh nắng ban trưa rọi qua kẽ lá trúc in những đốm sáng lung linh nhảy múa trên mặt giấy trắng phau. An Trà cẩn thận lật từng trang, dùng ngón tay chỉ cho Thu Vân thấy từng mức giá mua vào được ghi chép tỉ mỉ:
“Đây là giá đường cát vàng và mật mía cô đặc mà chúng tôi mua chung trực tiếp từ các thuyền buôn xứ Đoài tại bến Liễu. Đường cát vàng loại một, hạt khô ráo, sắc vàng óng như mật, vị ngọt thanh không chua chát, giá mua buôn tận mũi thuyền là hai mươi tám đồng một cân. Mật mía loại đặc sánh, thơm nức, nấu kẹo hay pha trà sữa than hoa đều rất đậm vị, giá là mười hai đồng một thăng. Chúng tôi cân đo trực tiếp tại thuyền, có thuyền chủ ký nhận biên bản giao hàng rõ ràng.”
Đặng Thu Vân cầm bút lông chấm mực, đang định ghi chép đối chiếu các con số ấy vào cuốn sổ công vụ của mình thì ngón tay nàng bỗng khựng lại giữa không trung. Một giọt mực son trên đầu bút suýt chút nữa rơi xuống mặt giấy.
Đôi mắt sắc sảo của nữ kiểm toán viên ba mươi hai tuổi hơi nheo lại, lộ vẻ nghi hoặc sâu sắc. Nàng khẽ đặt bút xuống giá đỡ, lật giở một xấp tài liệu khác nằm kẹp sâu bên trong tập hồ sơ bọc vải chàm mang theo bên mình.
Đó là bản sao bảng niêm yết đơn giá vật tư xuất kho do Kho Bếp Đông—nơi viên quản kho Đỗ Kính trực tiếp cai quản dưới quyền Quản sự Phạm Tĩnh—đệ trình lên Ty Khảo Sổ để xin phê duyệt thanh toán ngân sách hàng tháng từ ngân khố nội đình.
An Trà ngồi bên cạnh, vô tình liếc mắt nhìn sang trang giấy của Thu Vân. Và ngay khoảnh khắc ấy, ánh mắt nàng đông cứng lại như bị điểm huyệt.
Trên dòng kê khai danh mục vật tư nhập vào của Kho Bếp Đông, nét mực đen chữ triện sắc sảo ghi rõ ràng từng chữ một:
“Đường cát vàng thượng hạng nhập kho nội đình phục vụ bếp ngự và các viện ty: đơn giá năm mươi hai đồng một cân.”
Năm mươi hai đồng một cân!
Tim An Trà đập thình thịch một nhịp dữ dội nơi lồng ngực. Nàng chớp chớp mắt, ngỡ ngàng tự hỏi liệu có phải sương sớm ban nãy làm mờ mắt mình hay không. Nàng vội vã đưa mắt đối chiếu lại con số trên tờ giấy bản của quầy trà mình: hai mươi tám đồng một cân.
Chênh lệch tới hai mươi tư đồng trên mỗi một cân đường! Gần gấp đôi giá trị thực tế!
“Đặng tỷ tỷ…” An Trà không kìm được sự kinh ngạc, khẽ cất tiếng hỏi, giọng nàng hạ thấp xuống hết mức có thể, chỉ đủ cho hai người ngồi kề tai nghe thấy, “loại đường cát vàng mà Kho Bếp Đông nhập vào với giá năm mươi hai đồng này… có phải là loại đường đặc biệt tiến cống từ phương Nam không? Hay là loại đường đã qua tinh luyện nhiều lần bằng bí phương cung đình?”
Đặng Thu Vân không ngẩng đầu lên ngay. Nàng đưa ngón tay thon gầy, lạnh ngắt miết nhẹ lên mép giấy niêm yết của Đỗ Kính, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười lạnh lùng đầy ẩn ý chua chát:
“Đường tiến cống phương Nam là đường phèn trắng tinh khiết như ngọc thạch, đóng trong hũ sành niêm phong sáp ong, giá tính bằng bạc hoa xòe và do Ty Cung Ứng Thượng Dược quản lý riêng, không nằm trong cuốn sổ vật tư ẩm thực này. Loại đường năm mươi hai đồng này, theo đúng quy cách ghi trong phiếu nhập kho của Đỗ Kính, cũng chỉ là ‘đường cát vàng xứ Đoài vận chuyển bằng đường sông’. Cùng một vùng nguyên liệu, cùng một loại đường mật thô cô đặc từ mía lau, cùng đóng trong quy cách bao đay năm mươi cân có buộc dây đay đỏ.”
Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng An Trà, khiến da gà nàng nổi lên rần rần giữa trưa nắng ấm.
Cùng một loại đường! Cùng một nguồn gốc thổ nhưỡng xứ Đoài!
Người của Hội Đồng Công—những nữ quan bếp núc thấp cổ bé họng—chỉ mang vài trăm đồng tiền lẻ ra tận bến Liễu mua lẻ vài chục cân của thuyền buôn tự do đã có được mức giá hai mươi tám đồng một cân. Vậy mà Liên hiệu Vạn Phúc, một phường buôn lớn có quan hệ mật thiết với quan chức nội đình, đứng ra cung cấp cho Kho Bếp Đông của Đỗ Kính với số lượng hàng chục tấn mỗi tháng, theo lý phải được hưởng mức giá bán buôn rẻ hơn rất nhiều, lại kê khai đơn giá lên tới năm mươi hai đồng một cân!
Khoản chênh lệch hai mươi tư đồng khổng lồ trên mỗi một cân đường ấy rốt cuộc đã chảy vào túi ai?
Hàng chục tấn đường mỗi tháng… con số chênh lệch ấy nhân lên sẽ là bao nhiêu quan tiền, bao nhiêu nén bạc trắng?
Mỗi một chuyến xe rỗng mà chàng lính canh trẻ tuổi Lê Thuận từng thấy lăn nhẹ bẫng qua Cửa Tây Dịch trong những đêm đổi gác… Mỗi một tờ phiếu xuất nhập kho ghi khống tỷ lệ hao hụt do ẩm mốc, do chuột cắn mà Đỗ Kính thường xuyên ký duyệt… Mỗi một ánh mắt lấm lét, mỗi một thái độ hách dịch của đám tay chân Liên hiệu Vạn Phúc khi ra vào kho nội đình…
Tất cả những mảnh ghép rời rạc, tưởng chừng như vô thưởng vô phạt bấy lâu nay bỗng chốc như được một sợi dây vô hình xâu chuỗi lại một cách hoàn hảo, hiện rõ mồn một trước mắt An Trà. Đây không đơn thuần là sự đội giá mua bán thông thường, mà là một đường dây tham ô ngân khố có hệ thống, được bao bọc tinh vi dưới vỏ bọc thủ tục hành chính hợp lệ!
Đặng Thu Vân chầm chậm ngẩng đầu lên. Ánh mắt của hai người phụ nữ chạm nhau giữa không trung, phẳng lặng nhưng cuộn trào sóng ngầm. Không cần phải nói thêm một lời nào, sự sắc sảo dạn dày của một kiểm toán viên đã gắn bó mười mấy năm với các con số nội cung và sự nhạy bén thực chiến của một người từng quản trị kinh doanh đã giúp họ hiểu rõ đối phương đang nghĩ gì.
Thu Vân lặng lẽ rút một tờ giấy trắng dày dặn từ trong tập hồ sơ, dùng bút lông cẩn thận chép lại toàn bộ bảng giá mua thực tế tại bến Liễu của An Trà, từng chủng loại, từng đơn giá, ngày giờ mua và tên chủ thuyền xứ Đoài. Sau đó, nàng rút từ túi áo ra chiếc hộp gỗ nhỏ, mở nắp lấy con dấu khắc tên riêng của mình, chấm mực son rồi đóng một dấu son đỏ chót, vuông vức vào góc dưới tờ giấy để chứng thực tính pháp lý độc lập.
“Bản sao này, tôi xin phép giữ lại một bản,” Thu Vân bình thản nói, giọng điệu điềm tĩnh như đang thực hiện một công vụ thường nhật, rồi cẩn thận gấp gọn tờ giấy nhét sâu vào trong lớp tay áo rộng bọc vải chàm. “Lục đại nhân dạo này cũng đang đối chiếu lại toàn bộ các khoản mục chi phí vận chuyển đường thủy và định mức vật tư thô của nội đình. Con số thực tế này của các cô… có giá trị hơn nhiều so với những lời giải trình bay bổng trên giấy tờ của phường buôn Vạn Phúc.”
An Trà nhìn sâu vào mắt Thu Vân, khẽ gật đầu: “Nếu Ty Khảo Sổ cần đối chất với chủ thuyền xứ Đoài tại bến Liễu về giá cả thực tế, Hội Đồng Công chúng tôi sẵn sàng đứng ra làm chứng.”
Thu Vân mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi nhưng chân thật: “Có lời này của cô là đủ rồi. Giữ mình cho cẩn thận, sóng gió nội đình sắp tới sẽ không nhỏ đâu.”
Đúng lúc đó, từ gian bếp phụ phía sau hiên trà, tiếng củi nổ lách tách reo vui cùng tiếng cười nói ríu rít của nhóm nữ quan ca trưa bỗng rộ lên. Cánh cửa gỗ mở rộng, Tống Diệp hai tay bưng ra một chiếc xửng hấp bằng tre tròn trịa, bốc khói nghi ngút, thơm lừng khắp cả góc sân.
Trên mặt xửng hấp lót những phiến lá chuối tươi xanh mướt, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt mang theo hương thơm dẻo quánh, ngọt ngào của cơm gạo mới đầu mùa. Đi kèm phía sau là Vũ Mai, hai tay thoăn thoắt bê chiếc khay gỗ con đựng một bát vừng rang vàng ruộm giã nhỏ với muối hầm, cùng một đĩa dưa cải muối chua vàng ươm, điểm xuyết vài lát ớt tươi đỏ chót giòn tan.
Mùi cơm mới ngào ngạt quyện lẫn với mùi vừng rang béo ngậy và vị chua thanh dịu mát của dưa cải bay lên, xua tan đi toàn bộ bầu không khí ngột ngạt, căng thẳng của những con số tính toan sổ sách và những mưu mô, nghi vấn đen tối chốn cung đình.
Tống Diệp quệt mồ hôi lấm tấm trên trán bằng mu bàn tay, nhìn Đặng Thu Vân cười rạng rỡ, giọng nói hào sảng vẫy gọi:
“Nào, cơm dỡ ra rồi! Thu Vân muội muội ở lại ăn một bát cơm nóng với chị em cho ấm bụng rồi hãy về Ty Khảo Sổ làm việc tiếp!”