Bổn Cung Không Cung Đấu, Bổn Cung Bán Trà SữaCh.12 / 30
Chapter 12

Một bữa cơm, một dấu hỏi

Khói lam chiều mỏng manh lượn lờ bốc lên từ chái bếp ăn chung của Nhà Công Nữ Quan, vương vít qua những tàu chuối ngự xơ xác vì nắng hạn rồi tan dần vào bầu không khí ẩm đượm mùi gạch mục và rêu phong ẩm ướt. Hoàng hôn nơi góc tây nam Tử Thần Nội Uyển bao giờ cũng buông xuống nhanh hơn bên ngoài phố thị. Khi ánh dương đỏ ối vừa khuất hẳn sau những rặng ngô đồng cổ thụ nơi tường vây Cửa Tây Dịch, cả khoảng sân lát đá xanh nứt nẻ bỗng chìm vào một sắc tím thẫm u tịch, chỉ còn lại thứ ánh sáng nhờ nhợ hắt ra từ những ô cửa sổ dán giấy bản đã rách đôi chỗ.

Bỏ lại sau lưng một ngày dài mệt nhoài với những thanh âm hỗn tạp quen thuộc – từ tiếng guốc gỗ dồn dập của các cung nữ chạy việc xếp hàng dài trước thềm Hiên Trà Sau Bếp, tiếng gõ muôi chan chát vào vành vạc đồng, cho đến nhịp lách cách không ngơi nghỉ của bàn tính gỗ khi đối chiếu từng đồng bạc lẻ trong sổ chi tiêu ban sáng – mâm cơm đạm bạc của mấy chị em được dọn ra trên chiếc chõng tre đã mòn vẹt bốn góc. Bốn chiếc chân chõng kê trên những mảnh ngói vỡ để chống ẩm, mặt giát tre qua năm tháng cọ xát đã bóng loáng lên một màu nâu cánh gián.

Chiếc mâm tròn bằng gỗ mít bạc màu bày biện mấy chiếc bát sành men da lươn thô ráp, đôi chỗ miệng bát còn mẻ vài vết nhỏ như hạt gạo. Nhưng chính giữa mâm lại là một phong vị khiến ai nấy vừa bước chân vào phòng đều phải bất giác nuốt nước miếng: đĩa củ cải trắng thái con chì kho với tương ngô đặc quánh, sắc nước hàng nâu bóng phủ đều lên từng miếng củ cải mềm rục, điểm xuyết vài lát ớt chỉ thiên phơi khô cay nồng; cạnh đó là âu canh rau tập tàng nghi ngút khói, nổi bật sắc xanh thẫm của mồng tơi quyện với màu đỏ tía của rau dền cơm, bên trên rải một vốc tôm khô giã dập hãy còn thơm ngậy mùi muối biển. Chiếc xửng tre đậy vung nứa đặt ngay bên mép chõng, lót một lớp lá chuối hơ lửa mềm mại, ủ bên trong những hạt cơm trắng căng bóng đượm hương lúa mới đầu mùa vừa được dỡ ra.

Tống Diệp xắn cao hai ống tay áo vải thô, để lộ đôi cẳng tay rám nắng săn chắc vì quanh năm gánh nước xách củi. Nàng thoăn thoắt xới từng bát cơm đầy có ngọn, ấn chặt lòng muôi cho hạt cơm kết lại rồi mới đưa cho từng người, miệng liến thoắng giục giã:

“Nào, ăn nhanh kẻo nguội ngắt cả lượt bây giờ! Cả ngày hôm nay chạy ngược chạy xuôi, từ mờ sáng đã phải túc trực bên Cửa Tây Dịch nhận củi khô, trưa lại tất tả ngược thuyền ra bến Liễu kiểm hàng, ruột gan mấy chị em chắc dán chặt vào lưng cả rồi chứ gì. Đừng nhìn mâm cơm ít thịt thà mà coi thường nhé. Hôm nay kho Bếp Đông chia phần theo lệ sóc vọng, ta nhanh tay lựa được chút tôm khô tép biển từ mạn dưới gửi lên. Tuy con tôm không được mập mạp bằng đồ dâng ngự thiện nhưng nước cốt ngọt lịm, nấu chung với mớ rau mồng tơi, dền cơm ta hái trộm sau rào hoa râm bụt thì mát ruột, giải nhiệt phải biết!”

An Trà đón lấy bát cơm nóng từ tay Tống Diệp, hai bàn tay áp vào thành bát sành ấm sực xua tan đi cái lạnh đầu hôm đang ngấm dần qua làn áo mỏng. Nàng khẽ thổi lớp khói trắng mỏng tang, húp một ngụm canh ngọt thanh nơi đầu lưỡi. Vị ngọt đậm đà của tôm khô hòa cùng chất nhớt dịu nhẹ của lá mồng tơi như một liều thuốc thần kỳ, thấm đẫm đến từng ngóc ngách tế bào, khiến những thớ cơ đang căng cứng suốt mấy canh giờ liền nơi bả vai và sống lưng bỗng chốc giãn mềm ra. Cả một ngày đứng quầy, điều phối lượng khách dồn dập, căng mắt kiểm đếm từng thẻ bài tre và tính toán lượng đường hao hụt khiến thái dương nàng đau nhức âm ỉ; giờ đây được ngồi xếp bằng trên chiếc chõng tre này, nàng mới thực sự cảm thấy bản thân còn đang sống.

Tuy nhiên, bầu không khí ấm áp ấy dường như chưa thể chạm tới người ngồi đối diện.

Vũ Mai cầm đôi đũa tre vót dở trên tay, đầu đũa cứ gõ nhè nhẹ một cách vô thức vào thành bát sành kêu lách cách ngắt quãng. Bát cơm của nàng vẫn còn nguyên vẹn, làn khói mỏng dần rồi tắt lịm mà hạt cơm vẫn chưa vơi một hạt. Đôi bàn tay nhỏ nhắn của cô gái trẻ chốc chốc lại siết chặt lấy vạt áo chàm đã sờn rách ở mép gấu, ngón tay trỏ và ngón cái vẫn còn vương những vệt mực tàu đen nhánh chưa kịp rửa sạch sau ca chép sổ phụng mệnh buổi chiều. Đôi mắt nàng đăm đắm nhìn vào ngọn bấc đèn dầu đang chập chờn theo từng cơn gió luồn qua khe liếp, tròng mắt đong đầy nỗi bất an trĩu nặng.

An Trà gắp một miếng củ cải kho tương nâu bóng đặt gọn ghẽ vào bát của Vũ Mai, khẽ nghiêng đầu hỏi:

“Mai muội làm sao thế? Cơm không vừa miệng à, hay trong người thấy bức bối khó chịu chỗ nào?”

Vũ Mai giật nảy mình, đôi đũa tre suýt nữa tuột khỏi kẽ tay rơi xuống mặt chõng. Nàng vội vã ngẩng đầu lên, gương mặt chữ điền tròn trịa vốn dĩ trắng trẻo nay lại ửng đỏ ngượng ngùng dưới ánh lửa bập bùng hắt ra từ chái bếp lò bên cạnh. Nàng lúng túng nhìn An Trà, rồi lại đưa mắt nhìn sang Tống Diệp, môi mấp máy mấy lần nhưng thanh âm dường như nghẹn ứ lại nơi cổ họng. Phải mất một lúc lâu, như thể đã gom hết can đảm tích tụ qua bao đêm trằn trọc không ngủ trên gác xép, nàng mới lí nhí cất lời:

“Dạ… không phải đâu tỷ. Cơm Diệp tỷ nấu ngon lắm, tôm ngọt mà củ cải cũng đậm vị… Chỉ là… muội cứ nghĩ mãi về mấy tờ giấy kê khai giá vật tư ngoài bến Liễu ban trưa, lúc Thu Vân tỷ tỷ bên Ty Khảo Sổ mang sang đối soát.”

Giọng nàng ban đầu còn nhỏ rụt rè như tiếng muỗi kêu, nhưng càng nói, từng âm tiết càng trở nên rành rọt, chất chứa một nỗi niềm nghẹn uất bị đè nén bấy lâu:

“An Trà tỷ, Diệp tỷ… muội sợ lắm. Muội thực sự không muốn cả đời này chỉ làm một đứa tỳ nữ chép thuê số liệu cho kho Bếp Đông. Cứ mỗi lần quản kho Đỗ Kính sai muội chép sổ, ông ta đọc bao nhiêu cân củi ướt, bao nhiêu thăng dầu vừng hao hụt do thời tiết, muội chỉ biết cắn răng cúi gục đầu lia bút chép bấy nhiêu con số theo ý ông ta. Đã bao nhiêu lần muội phải run rẩy chấm dấu vân tay, ký vào góc dưới cùng của những tờ phiếu nhập xuất ấy. Ban ngày chép xong thì thôi, nhưng đêm về nằm gác tay lên trán, muội lúc nào cũng nơm nớp lo sợ… nhỡ một ngày nào đó quan trên phát giác ra những khoản thâm hụt khổng lồ ấy, chữ ký của muội sẽ bị lôi ra công đường làm vật tế thần.”

Nàng hít một hơi thật sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng dưới lớp áo vải chàm. Hai hàng mi cong vút bắt đầu ngân ngấn những giọt lệ trong suốt, nhưng sâu thẳm trong đôi đồng tử màu nâu nhạt lại ánh lên một sự kiên định bướng bỉnh hiếm thấy ở một cung nữ mới mười sáu tuổi:

“Muội biết thân phận mình thấp kém, gia cảnh khốn khó mới phải dứt ruột vào chốn cung cấm này làm kẻ hầu người hạ. Muội chỉ mong mỗi tháng tích cóp được vài ba trăm đồng tiền công gửi về quê phụng dưỡng mẹ già quanh năm đau ốm và lo cho mấy đứa em nhỏ manh áo hạt cơm. Nhưng từ ngày được các tỷ cưu mang, cho cùng góp sức làm việc ở Hội Đồng Công, nhìn thấy An Trà tỷ tự tay kiểm tra từng phong tiền cọc, nhìn thấy Diệp tỷ giữ chìa khóa khóa tráp tiền cẩn mật đến từng xu lẻ, muội mới vỡ lẽ ra… Nếu cả đời này muội không biết nghề đối soát sổ sách, không hiểu vì sao con số này lại nằm ở cột thu mà không phải cột chi, không phân biệt được đâu là hao hụt định mức đâu là tiền bớt xén, thì sớm muộn gì chúng muội cũng chỉ là những con cờ thí tốt trong tay kẻ khác. Người ta muốn đẩy mình vào chỗ chết lúc nào cũng được! Muội… muội muốn học bài bản. Muội muốn học cách nhìn vào từng con số mà biết được đồng tiền thực sự đi đâu về đâu, chảy vào túi ai. Tỷ… An Trà tỷ có thể dạy muội được không?”

Cả gian bếp chung của Nhà Công Nữ Quan bỗng chốc chìm vào một khoảng lặng sâu thẳm. Chỉ còn lại tiếng củi nỏ nổ lách tách trong lò và tiếng rế rách rưới kêu rền rĩ dưới chân tường hoa.

Tống Diệp đang nhai dở miếng củ cải cũng phải ngừng bặt, chiếc đũa tre khựng lại giữa không trung. Ánh mắt nàng nhìn Vũ Mai thoạt tiên là sững sờ, nhưng rồi rất nhanh, nét bàng hoàng ấy tan biến, nhường chỗ cho một sự thấu hiểu sâu sắc và xót xa đến quặn thắt tâm can. Hơn ai hết, Tống Diệp là người hiểu rõ nhất cái giá phải trả của sự dốt nát và mù quáng nghe lời. Năm xưa, chính tay nàng cũng từng nhận tiền công nhật rồi nhắm mắt ký khống vào những tờ phiếu kho ma quái của đám thuộc cấp dưới quyền Đỗ Kính. Cho đến tận bây giờ, mỗi khi nhìn thấy con dấu đỏ lòm của Ty Khảo Sổ, sống lưng nàng vẫn còn ớn lạnh như có mũi kim châm vào da thịt.

An Trà đặt bát cơm xuống mặt chõng tre. Nàng vươn tay qua mâm, nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn nhưng thô ráp vì cọ rửa và dính mực của Vũ Mai. Bàn tay cô bé đang run rẩy nhè nhẹ, lạnh ngắt như vừa ngâm dưới nước suối mùa đông. Nàng dùng cả hai bàn tay ủ ấm lấy tay muội ấy, trên môi nở một nụ cười ấm áp, dịu dàng mà chứa chan sự bao dung:

“Tất nhiên là được chứ muội. Sao lại không cơ chứ? Khởi nghiệp ở ngoài phố chợ hay bươn chải giữ lấy cái ghế làm việc chốn hoàng cung sâu thẳm này, bản chất đều giống hệt nhau cả thôi: giữ được sự minh bạch, rành mạch của sổ sách kế toán chính là giữ lấy cái đầu và mạng sống của mình. Tỷ hứa với muội, chỉ cần muội có lòng quyết tâm học hỏi, không ngại khó nhọc, thì bắt đầu từ tối nay, cứ sau mỗi canh giờ dọn dẹp xong quầy trà, tỷ sẽ đích thân dạy muội từng bước một. Tỷ sẽ dạy muội cách lập bảng cân đối sổ sách, cách bóc tách rạch ròi giữa tiền mặt cầm tay và những khoản công nợ treo, cho đến cách thiết lập một quy trình kiểm tra chéo chứng từ từ hai nguồn độc lập để không ai có thể làm giả mạo được. Muội có tính cẩn thận, lại chịu khó, trí nhớ về những dãy số lại rất nhạy bén, tỷ tin chắc sau này muội sẽ trở thành một kế toán viên xuất sắc của quầy trà chúng ta.”

“Kế… kế toán viên?” Vũ Mai chớp chớp đôi mắt ngấn lệ, bờ mi rung rung ngơ ngác lặp lại danh xưng xa lạ mà nàng chưa từng nghe thấy trong bất kỳ thư tịch hay điển chế triều đình nào. Nhưng trong đáy mắt đen láy của nàng, một tia sáng rực rỡ bỗng bừng lên, thay thế hoàn toàn nỗi sợ hãi yếu đuối thường ngày.

“Đúng vậy, kế toán viên!” An Trà bật cười khẽ, giọng nói tràn đầy tự tin và tự hào: “Đó là người nắm giữ linh hồn và sự thật của toàn bộ sổ sách. Một người mà bất kỳ tay quản kho gian manh hay chủ hiệu lọc lõi nào nhìn vào cũng phải kiêng dè, bởi vì dưới ngòi bút của muội, không một đồng tiền đen nào có thể lẩn trốn được!”

Vũ Mai siết chặt lấy bàn tay An Trà, nghẹn ngào gật đầu lia lịa, những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu rốt cuộc cũng vỡ òa, lăn dài trên đôi gò má phúng phính nhưng nụ cười đã nở rộ trên môi.

Đúng lúc ấy, từ phía lối đi rải sỏi dẫn vào gian nhà công vang lên những tiếng bước chân đều đặn, đĩnh đạc dẫm trên nền đất sũng nước. Tiếng sỏi cọ xát vào đế giày vải dày phát ra âm thanh lạo xạo rõ mồn một trong đêm vắng.

Ánh đèn dầu hắt qua khung cửa liếp, soi rọi một bóng hình cao ráo, vai rộng lưng thẳng trong bộ quan phục bằng vải chàm sẫm màu của quan viên cấp thấp. Chiếc thắt lưng da nẹp bạc sáng bóng được thắt ngay ngắn không một nếp nhăn, ống tay áo bó gọn gàng theo đúng quy chuẩn công vụ của Ty Khảo Sổ. Dưới nách chàng kẹp một tập văn thư cuộn tròn bằng giấy bản loại dày, buộc chặt bằng một sợi dây gai màu nâu sẫm.

Đó là Lục Hoài Cẩn.

Chàng dừng bước ngay trước bậu cửa gỗ hoa cúc đã mòn tróc sơn, ánh mắt điềm tĩnh chạm vào khung cảnh ấm cúng bên trong mâm cơm đạm bạc. Nhận thấy bốn người phụ nữ đang ngồi quây quần bên bữa ăn tối muộn, Hoài Cẩn lập tức lùi lại nửa bước ra phía ngoài hiên, giữ đúng khoảng cách lễ nghi nghiêm ngặt giữa nam nữ và quan chức triều đình. Chàng hơi nghiêng mình chắp tay, giọng điệu trầm ấm, rành mạch vang lên giữa màn đêm:

“Lục mỗ đường đột ghé qua lúc này, làm phiền các vị dùng bữa tối, thật thất lễ. Tôi ghé qua chỉ để hoàn trả lại bản lưu tờ giải trình sử dụng mặt bằng chái bếp và biên lai nộp lệ phí nội dịch kỳ này. Hồ sơ đã được Ty Khảo Sổ phê chuẩn và đóng triện xác nhận đầy đủ. Xin phiền Nguyễn nữ quan kiểm tra lại con dấu rồi ký nhận vào sổ giao chuyển văn thư giúp tôi để kịp hoàn tất nhật trình trước giờ khóa cổng viện.”

An Trà nghe vậy vội đặt bát đũa xuống, toan đứng dậy bước ra hiên lấy tập sổ sách thì Tống Diệp đã nhanh hơn một bước. Nàng buông đũa cái cạch xuống mâm, chống hai tay đứng phắt dậy, sải bước dài ra tận cửa lớn. Với tính tình xởi lởi và bộc trực quen thuộc của một nữ quan lâu năm chốn bếp núc, nàng chẳng buồn để ý đến mấy điều kiêng kỵ lễ bộ, một tay đón lấy tập văn thư đặt lên chiếc tráp gỗ ngoài cửa, tay kia đã thò ra nắm lấy một góc ống tay áo quan phục màu chàm của Lục Hoài Cẩn mà kéo vào trong, miệng cười giòn tan:

“Kìa Lục đại nhân! Giấy với chả tờ, triện với chả ấn! Có chạy đằng trời được đâu mà ngài cứ phải sốt sắng như lửa đốt đít thế! Giờ này mõ điểm canh hai bên viện Thái Y với Ty Hoán Y đã gióng rền rĩ rồi, các viện ty đều cài then then khóa xích cả, ngài còn ôm cả đống hồ sơ đi lang thang giữa trời sương gió buốt giá làm gì cho khổ thân? Nhìn sắc mặt ngài xem, môi tái cả đi vì gió lạnh rồi kìa. Nếu Lục đại nhân không chê mâm cơm nữ quan chúng tôi thô lậu, chỉ có rau dại với tương ngô, thì mời ngài hạ cố ngồi xuống đây, làm một bát cơm nóng hổi cho ấm tỳ ấm vị đã rồi ký tá gì thì ký!”

“Chuyện này… quả thực là không tiện. Theo quy chế công vụ của Ty Khảo Sổ, quan viên thanh tra khi đang thụ lý hồ sơ không được phép…” Hoài Cẩn thoáng chút lúng túng, gương mặt trước nay vốn dĩ lạnh lùng, nghiêm nghị như khắc bằng đá hoa cương bỗng chốc lộ ra nét bối rối hiếm thấy. Chàng ngập ngừng lùi lại, nhưng sức kéo tay áo đầy nhiệt tình của Tống Diệp cùng mùi cơm mới ngào ngạt bay ra từ trong phòng dường như đã làm suy chuyển sự kiên định thường nhật của chàng.

“Quy chế với chả quy định!” Tống Diệp dứt khoát ngắt lời, chẳng để cho vị quan trẻ có cơ hội thoái thác. Nàng tiện tay kéo phắt chiếc ghế đẩu bằng gỗ mun bốn chân chắc nịch kê ngay sát mép chõng tre: “Quy chế nào của triều đình cấm một viên quan thanh tra mẫn cán ăn một bát cơm rau với người lao động nghèo sau khi đã điểm canh hết giờ trực? Ở trong cái xó Nhà Công Nữ Quan rách nát này, dưới ánh đèn dầu lạc này, không có quan lớn hay thứ dân, chẳng có thanh tra hay con nợ nào hết! Chỉ có những con người vừa vắt kiệt sức lực sau một ngày dài làm lụng mưu sinh thôi. Ngài ngồi xuống đi, đừng để bát canh nguội ngắt đóng váng mỡ ra thì mất ngon cả công sức người nấu.”

Hoài Cẩn ngước mắt nhìn vào trong phòng. Chàng bắt gặp nụ cười dịu dàng nhưng đầy vẻ khích lệ của An Trà, cùng ánh mắt e lệ nhưng vô cùng kính cẩn của Vũ Mai đang vội vã với tay lấy thêm một chiếc bát sành sạch sẽ. Sự chân thành mộc mạc, không chút nịnh nọt vụ lợi toát ra từ gian phòng bếp nhỏ bé này bỗng dưng đánh động vào một góc khuất cô độc nào đó trong tâm can chàng – một kẻ quanh năm chỉ biết làm bạn với những chồng sổ sách khô khốc, những con số vô hồn và những ánh mắt nghi kỵ, thù ghét của đám lại viên tham ô chốn cung đình.

Rốt cuộc, Hoài Cẩn khẽ thở dài một tiếng buông xuôi. Chàng đưa tay chỉnh lại mép áo bào, cẩn thận đặt tập văn thư cùng chiếc ống quyển đựng bút lên một góc bàn gỗ khô ráo, phủi sạch bụi đường bám trên vạt áo rồi bước qua ngưỡng cửa, ngồi xuống chiếc ghế đẩu mun bên mép chõng tre. Chàng vẫn giữ trọn vẹn phong thái đoan chính, hai tay chắp lại hướng về phía ba người phụ nữ khẽ nghiêng mình tạ lễ:

“Vậy… Lục mỗ xin thất lễ quấy rầy bữa cơm của các cô.”

An Trà mỉm cười, tự tay bới một bát cơm trắng đầy ắp, rưới lên trên hai thìa nước tương củ cải kho nâu sóng sánh, gắp thêm mấy ngọn rau dền luộc mướt xanh và mấy con tôm khô đỏ au đưa sang cho chàng. Hoài Cẩn trịnh trọng đưa hai tay đón lấy chiếc bát sành men da lươn thô ráp. Đôi đũa tre chạm vào đáy bát phát ra tiếng lách cách thanh thoát.

Bát cơm đạm bạc lạ kỳ so với những bữa tiệc khoản đãi đầy dầu mỡ mà các phường buôn lớn ngoài thành thường tìm cách dâng lên để mua chuộc chàng, nhưng khi nhai kỹ hạt cơm dẻo quánh quyện với vị mằn mặn, ngọt bùi của tương ngô và vị thơm nồng của tôm khô, Hoài Cẩn cảm thấy từng đốt ngón tay đang tê dại vì lạnh buốt suốt mấy canh giờ ngoài gió sương bỗng chốc ấm nóng trở lại. Dưới mái nhà gỗ đơn sơ thoang thoảng mùi khói bếp thân thuộc này, dường như mọi sự câu nệ, rào đón khắt khe của chốn cung cấm đều bị gió đêm cuốn sạch ra ngoài bậc cửa.

Ăn được non nửa bát cơm, Hoài Cẩn bỗng chậm rãi đặt đôi đũa tre xuống mép chiếc bát sành. Chàng ngồi thẳng lưng dậy, hai bàn tay đặt ngay ngắn trên đầu gối, ngước đôi mắt đen sâu thẳm nhìn thẳng về phía An Trà. Dưới ánh sáng vàng vọt, ấm áp của ngọn đèn dầu lạc, vẻ mặt chàng phẳng lặng như mặt hồ không một gợn sóng, nhưng trong chiều sâu của ánh mắt ấy lại le lói một sự nghiêm cẩn và chân thành hiếm thấy:

“Nguyễn nữ quan, hôm nay nhân lúc có mặt đông đủ các vị ở đây, bên mâm cơm này, Lục mỗ có một lời muốn nói cho thật rõ ràng, minh bạch.”

An Trà hơi ngạc nhiên, chiếc đũa đang gắp cọng rau khẽ dừng lại. Nàng ngước nhìn chàng, ánh mắt đầy vẻ tò mò:

“Lục đại nhân có điều gì cần căn dặn hay chỉ bảo cho quầy trà chúng tôi chăng?”

Hoài Cẩn lắc đầu chầm chậm. Thanh âm của chàng trầm xuống một bậc, từng lời từng chữ thốt ra đều được cân nhắc kỹ lưỡng, chậm rãi mà dứt khoát lạ thường:

“Không phải là chỉ bảo, mà là một lời nhận lỗi từ đáy lòng.”

Lời nói vừa thốt ra khiến cả gian phòng bỗng chốc rơi vào một sự im ắng đến ngột ngạt. Tống Diệp tròn xoe hai mắt, còn Vũ Mai thì kinh ngạc đến mức há hốc mồm, chiếc đũa tre trên tay suýt nữa lại rơi lần thứ hai. Một vị quan viên thanh tra của Ty Khảo Sổ – cơ quan quyền lực nắm trong tay quyền sinh quyền sát về tài chính của toàn bộ hậu cung – lại ngồi trước một mâm cơm đạm bạc trên chiếc chõng tre xộc xệch để nói lời “nhận lỗi” với những nữ quan và cung nữ thấp cổ bé họng? Đó là chuyện chưa từng có tiền lệ trong suốt hàng chục năm qua ở chốn nội đình này.

Không để ý đến sự sững sờ của những người xung quanh, Hoài Cẩn vẫn nhìn thẳng vào mắt An Trà, giọng chàng vang lên đều đặn, không hề có chút ngượng ngùng hay né tránh:

“Những ngày đầu tiên khi Ty Khảo Sổ tiếp nhận hồ sơ vụ án kho Bếp Đông, trực tiếp đối chiếu khoản nợ bảo lãnh ba mươi sáu quan tiền đồ gốm sứ đè nặng lên vai cô, Lục mỗ khi ấy đã hành xử hoàn toàn theo thói quen của một thanh tra công vụ giáo điều. Tôi đã sử dụng quá nhiều từ ngữ hành chính nặng nề, những lời lẽ sắc mỏng mang tính chất tra vấn, quy chụp và răn đe. Khi ấy, mắt tôi chỉ chăm chăm nhìn vào sự thiếu hụt của các con số trên trang giấy, chỉ thấy lỗ hổng ngân khố mà hoàn toàn không thèm đoái hoài hay đặt mình vào hoàn cảnh cùng quẫn, ngặt nghèo của các cô nơi kho bếp. Những lời lẽ cứng nhắc, lạnh lùng ấy của tôi đã vô tình tạo ra áp lực tâm lý quá lớn, khiến cô và mọi người phải chịu đựng không ít sự hoang mang, kinh sợ suốt một thời gian dài. Đó là sự thiếu sót lớn trong cách hành xử, là sự khiếm khuyết về mặt nhân tâm của cá nhân tôi khi thi hành chức trách. Hôm nay, tôi thành tâm mong Nguyễn nữ quan và các vị ở đây lượng thứ cho sự thô thiển ban đầu đó.”

Cả gian phòng dường như ngưng đọng lại trong từng nhịp thở. Gió ngoài sân vẫn thổi từng cơn ràn rạt qua rặng liễu, nhưng bên trong chõng tre, không khí lại ấm sực lên một cách kỳ lạ.

An Trà nhìn sâu vào đôi đồng tử đen nhánh, kiên định của Hoài Cẩn. Trong lồng ngực nàng, một làn sóng ấm áp khẽ dâng trào, lan tỏa khắp các mạch máu. Nàng từng tiếp xúc với không ít đàn ông ở cả hai kiếp sống: có những kẻ quyền cao chức trọng quen thói hống hách, coi việc giẫm đạp lên người khác là điều hiển nhiên; lại có những kẻ xảo quyệt chỉ biết dùng lời lẽ đường mật sau lưng để mua chuộc lòng người. Nhưng Lục Hoài Cẩn trước mặt nàng lại là một con người hoàn toàn khác.

Chàng là hiện thân của sự liêm chính tuyệt đối, một người luôn lấy khuôn vàng thước ngọc của luật pháp làm chuẩn mực, chưa từng dùng quyền lực để ban ơn hay ức hiếp kẻ yếu. Nhưng trên hết, chàng có sự đàng hoàng, dũng cảm và một nhân cách cao thượng để thẳng thắn nhìn nhận những vết xước tinh thần mà cách làm việc cứng nhắc của mình đã vô tình gây ra cho người khác. Chàng không chọn cách hẹn gặp riêng nàng nơi góc khuất để buông lời thanh minh hoa mỹ, mà chọn nói ra lời xin lỗi ấy một cách đường đường chính chính, công khai ngay trước mặt những người chị em đồng nghiệp của nàng. Một sự tôn trọng trọn vẹn dành cho phẩm giá của những người phụ nữ lao động nghèo khó. Một “lá cờ xanh” rõ ràng, vững chãi và đáng tin cậy đến mức khiến lòng người phải rung động.

Nàng khẽ lắc đầu, khóe môi khẽ cong lên thành một nụ cười rạng rỡ, ánh mắt long lanh như chứa đựng cả ngàn vì sao:

“Lục đại nhân nói quá lời rồi. Khi ấy ngài làm vậy hoàn toàn là làm đúng bổn phận của một người gác cổng kỷ cương ngân khố quốc gia. Nếu đổi lại là người khác ngồi ở vị trí của ngài, có lẽ họ đã chẳng buồn mất công tra xét tỉ mỉ mà đã sớm tống giam chúng tôi vào ngục tối để làm đẹp sổ sách rồi. Chính nhờ sự khắt khe, chuẩn xác đến từng hào từng cắc ấy của ngài mà tôi mới sớm tỉnh ngộ, mới nhìn thấy được những lỗ hổng chết người trong quy trình lưu trữ vật tư, và mới hiểu được giá trị sống còn của việc hạch toán độc lập. Nếu không có những gáo nước lạnh cảnh tỉnh nghiêm khắc ban đầu ấy của Lục đại nhân, e rằng cái quầy trà nhỏ bé của chúng tôi hôm nay đã sớm bị cuốn phăng và sụp đổ tan tành vì những sai lầm dòng tiền rồi. Bữa cơm rau đạm bạc này, xem như chúng ta cùng nâng bát cơm, uống chén nước thanh đạm mà gạt bỏ hết mọi khúc mắc, e ngại của những ngày đầu tiên.”

Hoài Cẩn nghe vậy, lồng ngực chàng như trút bỏ được một tảng đá ngàn cân. Đôi mày rậm giãn ra, một nụ cười hiếm hoi khẽ thoáng hiện nơi khóe môi và đuôi mắt chàng, xua tan đi toàn bộ vẻ lạnh lùng băng giá thường nhật, để lộ ra nét thanh tú, tuấn lãng của một trang nam nhi cương trực:

“Đa tạ sự độ lượng và thấu hiểu của cô.”

Bữa ăn tối tiếp tục trôi qua trong một bầu không khí ấm áp, chữa lành và chan hòa đến lạ kỳ. Tiếng cười nói giòn tan của Tống Diệp khi kể lại cảnh mấy ả cung nữ đỏng đảnh bên Ty Hoán Y chiều nay vì tranh nhau bát trà sữa nướng thạch củ nhu cuối cùng mà suýt nữa cào rách cả vạt áo nhau; tiếng Vũ Mai lí nhí rụt rè nhưng đầy ân cần mỗi khi gắp thêm miếng củ cải kho vào bát của chàng quan trẻ; và cả ánh mắt chăm chú, thấu hiểu, bình đẳng mà Lục Hoài Cẩn dành cho từng câu chuyện nhỏ nhặt của những người phụ nữ… Tất cả đan dệt nên một khoảng trời bình yên hiếm hoi, một chốn nương náu dịu dàng giữa hoàng cung ngột ngạt đầy rẫy mưu mô và cạm bẫy.

Ngồi giữa mâm cơm đơn sơ ấy, nhìn ngắm những gương mặt lấm lem bụi khói nhưng rạng rỡ nụ cười, An Trà bỗng cảm nhận được một sự giác ngộ sâu sắc tự đáy lòng. Việc nàng bất đắc dĩ xuyên không đến triều đại xa lạ này, việc nàng phải ngày đêm vật lộn khởi nghiệp với từng cân trà vụn, từng thăng sữa dê nồng mùi và từng viên bột củ nhu dẻo quánh… giờ đây đã không còn đơn thuần là một cuộc trốn chạy khỏi món nợ bảo lãnh ba mươi ba quan tiền đang treo lơ lửng trên đầu, cũng không phải chỉ để gom góp chút bạc vụn phòng thân chờ ngày mãn hạn xuất cung sau tám tháng nữa.

Quầy trà này, cái Hội Đồng Công non trẻ này, đã thực sự trở thành một mái nhà, một chỗ dựa sinh kế, là nơi gửi gắm toàn bộ niềm tin, hy vọng và phẩm giá của những số phận nhỏ bé đang nương tựa vào nhau để chống chọi lại giông bão cuộc đời. Nàng tuyệt đối không thể gục ngã, và càng không bao giờ cho phép bất kỳ bàn tay đen tối nào của những kẻ quyền thế được quyền bóp nghẹt mạng lưới sinh tồn đầy nhân văn này.

Khi mâm cơm vừa được dọn dẹp xong xuôi, Tống Diệp mang chiếc xửng tre ra giếng cọ rửa, còn Vũ Mai thì nhanh nhẹn pha một ấm trà xanh nóng hổi rót ra mấy chiếc bát sành thì cánh cửa liếp một lần nữa lại khẽ lay động bởi một luồng gió mạnh.

Một bóng người mảnh khảnh khoác chiếc áo choàng bằng lụa màu xanh ngọc bích bước vội qua bậc cửa, mang theo hơi sương lạnh ngắt của màn đêm. Gương mặt thanh tú của Hà Tú lộ rõ vẻ mệt mỏi, phờ phạc sau một ca trực kéo dài suốt mười hai canh giờ tại điện Ngọc Chiếu.

“Hà Tú tỷ!” Vũ Mai vội vã buông chiếc ấm đất, chạy ra đón lấy chiếc áo choàng ẩm ướt trên vai nàng.

Hà Tú khẽ gật đầu chào mọi người. Khi ánh mắt nàng lướt qua gian phòng và đột ngột chạm phải bóng dáng Lục Hoài Cẩn đang ngồi ngay ngắn bên bàn tre, bước chân nàng hơi khựng lại một nhịp đầy cảnh giác. Nhưng nhận thấy vẻ mặt bình thản của An Trà, nàng liền thu lại nét bối rối, tiến lên hai bước cúi đầu hành lễ theo đúng quy chuẩn cung đình:

“Hà Tú ra mắt Lục đại nhân.”

Hoài Cẩn cũng lập tức đứng dậy, chắp tay đáp lễ vô cùng điềm đạm và giữ trọn khoảng cách mực thước:

“Chào Hà Tú nữ quan.”

“Tú tỷ đã dùng bữa tối chưa? Trong nồi con gái Diệp tỷ vẫn còn ủ nóng một bát cơm to với canh tôm đấy, để muội dọn ra cho tỷ nhé?” An Trà ân cần kéo chiếc ghế lại gần.

Hà Tú lắc đầu, khẽ khoát tay áo: “Ta đã ăn qua loa chút điểm tâm bên thiện phòng của điện rồi, bụng dạ lúc này cũng chẳng còn tâm trí đâu mà ăn uống nữa.”

Sắc mặt nàng bỗng chốc trở nên nghiêm trọng lạ thường. Nàng đưa mắt đảo quanh một lượt, đợi cho Vũ Mai cài chặt chiếc then gỗ của cánh cửa liếp và buông tấm rèm nứa xuống để ngăn gió lùa, bấy giờ mới thò tay vào sâu trong ống tay áo rộng bằng lụa ngọc bích, cẩn thận rút ra một tờ giấy bản cũ kỹ. Tờ giấy đã ngả sang màu vàng ố vì thời gian, bốn góc mép giấy đều đã sờn rách, có chỗ còn vương vệt nước ố nâu nhưng những dòng chữ viết bằng mực nho bên trên vẫn còn nguyên nét sắc sảo.

“An Trà, muội mau lại đây xem thứ này đi,” Hà Tú trải phẳng tờ giấy lên mặt bàn tre dưới quầng sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu lạc. “Chiều nay nhân lúc thái giám quản sự bên điện Ngọc Chiếu đi vắng, ta đã mạo hiểm lục lọi lại toàn bộ hòm hồ sơ chi tiêu vật tư lưu trữ từ mùa thu năm ngoái và tìm thấy tờ giấy này.”

An Trà lập tức kéo ngọn đèn lại gần, cúi đầu chăm chú nhìn vào từng dòng chữ. Tống Diệp vừa rửa bát xong bước vào cùng Vũ Mai cũng tò mò ghé đầu nhìn qua vai nàng.

Đó là một tờ “Phiếu phụng cung vật tư ẩm thực kiêm đơn báo giá định kỳ” do Liên hiệu Vạn Phúc phát hành riêng cho các viện ty nội đình, có đóng dấu triện son đỏ hình hoa sen tám cánh ở góc trên. Từng dòng chữ thảo sắc sảo, ngay ngắn liệt kê các loại sản vật đắt tiền dâng lên các cung điện: yến sào đảo nam, hải sâm cát, nấm hương rừng cao… Nhưng ngón tay thon thả của Hà Tú lại lướt qua tất cả những thứ xa xỉ ấy, dừng lại và ấn mạnh vào một dòng chữ nằm ở phần giữa trang giấy:

*Đường cát trắng thượng phẩm xứ Nam, chuyên dùng dâng tiến ngự thiện và phục vụ ẩm thực thượng các, đơn vị tính: một cân; đơn giá quyết toán: chín mươi đồng.*

Hà Tú nghiến chặt răng, giọng nói của nàng đanh lại, rung lên từng hồi vì phẫn nộ tột cùng:

“Các muội hãy nhìn cho thật kỹ con số này đi! Chín mươi đồng cho một cân đường cát trắng mịn! Chiều nay, lúc Thu Vân tỷ tỷ mang bảng giá nhập kho Bếp Đông của Đỗ Kính sang đối chiếu, muội đã thấy đường cát vàng thô xứ Đoài bị lão ta kê khống lên mức năm mươi hai đồng một cân đã là quá vô lý rồi đúng không? Nhưng hãy nhìn vào tờ phiếu này của điện Ngọc Chiếu xem! Loại đường cát trắng này, Liên hiệu Vạn Phúc của Tạ Vinh thu của ngân sách nội đình tới chín mươi đồng một cân!”

Nàng hít một hơi nghẹn ngào, bàn tay đập mạnh lên mặt bàn tre:

“Trong khi chính mắt ta, vào mùa thu năm ngoái khi được theo hầu lệnh bà ra bến Liễu mua sắm vải vóc ở chợ Nam Thành, các thuyền buôn mạn ngược chở đường từ trong Nam ra bán lẻ ngay tại bờ sông, đường cát trắng mịn tinh khiết đóng trong bao gai có đóng dấu hiệu y hệt như thế này, giá bán lẻ tận tay người dân chưa bao giờ vượt quá ba mươi đồng một cân! Ba mươi đồng một cân bán ngoài chợ, vào đến cổng thành này biến thành chín mươi đồng!”

“Trời đất quỷ thần ơi! Cao gấp ba lần!” Vũ Mai kinh hoàng thốt lên, vội vàng đưa cả hai bàn tay lên bịt chặt miệng để ngăn tiếng hét thất thanh. Đôi mắt nàng mở to trừng trừng: “Một cân đường mà bọn chúng dám ăn chênh lệch tới sáu mươi đồng tiền sao? Một ngày các điện tiêu thụ bao nhiêu cân đường… số tiền ấy tính ra phải bằng cả một gia tài của người nghèo rồi!”

Tống Diệp nghe đến đó thì mặt đỏ bừng bừng như gấc chín, tính khí nóng nảy bốc lên đùng đùng. Nàng giáng một cú đấm thùi thụi xuống mặt phản gỗ làm ngọn đèn dầu chao đảo suýt đổ:

“Lũ mọt nghiến gỗ táng tận lương tâm! Thảo nào bấy lâu nay chúng cứ bao thầu trọn gói toàn bộ nguồn hàng từ bến sông vào đến tận cổng cung, cấm tiệt không cho bất kỳ lái buôn nhỏ lẻ nào bén mảng tới gần! Chúng ỷ vào việc nắm giữ độc quyền cung ứng để đè đầu cưỡi cổ, bóp nặn từng viện ty! Hèn chi mà ngân sách điện Ngọc Chiếu quanh năm kêu ca thiếu hụt, còn kho Bếp Đông thì tháng nào cũng dâng sớ than thở giá nguyên liệu ngoài thị trường đắt đỏ phi mã! Buôn bán kiểu này mà gọi là buôn bán đàng hoàng sao? Rõ ràng là một lũ cướp ngày! Là tham ô, là đục khoét quốc khố một cách trắng trợn không coi phép nước ra gì!”

Bầu không khí trong gian phòng nhỏ lập tức sôi sục như một chảo dầu sôi gặp lửa. Sự phẫn uất, cay đắng và căm hờn trước sự bóc lột bất công dồn ứ bấy lâu nay như vỡ bờ.

Và rồi, như một phản xạ tự nhiên của những kẻ yếu thế đang khao khát công lý, tất cả các ánh mắt đầy giận dữ và kỳ vọng bỗng nhiên đồng loạt chuyển hướng, đổ dồn về phía Lục Hoài Cẩn – vị quan viên kiểm toán duy nhất của Ty Khảo Sổ đang có mặt tại đây.

Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với sự sôi sục của bốn người phụ nữ, Lục Hoài Cẩn vẫn ngồi bất động như một pho tượng đồng.

Chàng không hề tỏ ra ngạc nhiên hay giận dữ. Chàng bình thản kéo đĩa đèn dầu lạc lại gần mình hơn một chút, vươn những ngón tay dài, thon gọn cầm lấy mép tờ giấy bản cũ kỹ. Chàng đưa tờ giấy lên sát tầm mắt, cẩn thận soi xét từng chi tiết nhỏ nhất: từ chất liệu giấy bản xơ gai, vết mực nho ngấm vào thớ giấy, hoa văn của con dấu triện son bát giác của Liên hiệu Vạn Phúc, cho đến nét chữ ký nháy bằng mực son của viên quan phụ trách phòng vật tư nội đình năm ngoái. Đôi mày rậm của chàng khẽ nhíu lại thành một đường rãnh sâu hoắm nơi vầng trán rộng, ánh mắt sắc như dao cau chăm chú phân tích từng nét sổ, nét phẩy.

An Trà nín thở quan sát từng cử chỉ của Hoài Cẩn. Trong đầu nàng lúc này, tư duy của một người làm kinh doanh hiện đại đang vận hành hết công suất. Nàng biết rất rõ tờ giấy này là một quả bom nổ chậm, một mắt xích chí mạng có thể phơi bày toàn bộ đường dây ma quỷ thông đồng giữa Tạ Vinh ngoài phố thị và Đỗ Kính trong nội cung. Nhưng nàng cũng thừa hiểu, muốn biến một tờ giấy cũ thành một bản án kết tội những kẻ quyền thế có gốc rễ sâu bền trong triều đình thì không thể chỉ dựa vào sự phẫn nộ nhất thời.

Một lúc lâu sau, khi gian phòng đã yên ắng trở lại chỉ còn nghe tiếng thở dồn dập của Tống Diệp, Hoài Cẩn mới chậm rãi đặt tờ giấy xuống mặt bàn tre. Chàng ngẩng đầu lên, ánh mắt bình thản quét qua từng gương mặt đang nóng lòng chờ đợi một lời phán quyết đanh thép từ chàng.

Nhưng khi chàng cất tiếng, giọng nói trầm tĩnh, lạnh lùng như nước suối đầu nguồn rót thẳng vào ngọn lửa đang hừng hực cháy, kéo tất cả trở về với thực tại nghiệt ngã của lý trí:

“Tôi hoàn toàn thấu hiểu sự phẫn nộ của các cô. Mức chênh lệch giá lên tới gấp ba lần – từ ba mươi đồng vọt lên chín mươi đồng cho một cân đường cát – quả thực là một hiện tượng bất thường cực kỳ nghiêm trọng. Đứng trên góc độ nghiệp vụ của Ty Khảo Sổ, con số này đủ sức nặng để lập tức mở ra một cuộc thanh tra tài chính đặc biệt.”

Chàng ngừng lại một nhịp, ánh mắt nghiêm nghị nhìn thẳng vào Hà Tú:

“Tuy nhiên, với tư cách là một quan viên thanh tra nắm giữ cán cân kỷ cương của Ty Khảo Sổ, tôi có trách nhiệm phải nhắc nhở mọi người một nguyên tắc pháp lý tối thượng: trong kiểm toán triều đình, một sự chênh lệch giá cả, cho dù nó có lớn đến mức phi lý đến đâu, tự thân nó mới chỉ là một câu hỏi nghi vấn, chứ tuyệt đối chưa thể coi là chứng cứ xác thực để định tội danh tham ô hay biển thủ.”

“Tại sao lại không thể chứ?” Hà Tú không kìm nén được sự sốt ruột, giọng nàng nghẹn lại: “Giá bán ngoài bến sông chỉ có ba mươi đồng, giá kê nộp vào cung là chín mươi đồng! Giấy trắng mực đen, triện son dấu mực rành rành ra đó, còn cần gì phải nghi vấn nữa?”

Hoài Cẩn vẫn giữ thái độ điềm đạm, kiên nhẫn giải thích từng tầng nấc của vấn đề, bằng một giọng điệu khách quan, sắc bén không hề pha lẫn chút thiên vị cá nhân nào:

“Bởi vì giá ba mươi đồng mà cô nhìn thấy tại bến Liễu ngoài chợ Nam Thành là giá giao dịch đứt đoạn ngay tại mạn thuyền vào một ngày trời quang mây tạnh. Người mua mang tiền tươi thóc thật ra trả đứt, tự vác hàng về, không chịu bất kỳ một ràng buộc hay rủi ro nào sau đó. Nhưng khi một đại phường buôn như Liên hiệu Vạn Phúc ký kết khế ước cung ứng dài hạn cho hoàng cung suốt bốn mùa, họ phải gánh trên vai hàng loạt chi phí vô hình mà những người mua lẻ ngoài chợ không bao giờ nhìn thấy trên mặt giấy.”

Chàng chỉ ngón tay vào dòng chữ ghi đơn giá:

“Thứ nhất là chi phí vận tải đường thủy ngược dòng trong mùa mưa lũ, nguy cơ đắm thuyền mất trắng hàng hóa ngoài sông Hồng; thứ hai là chi phí bốc dỡ qua ba tầng cửa ải kiểm dịch của cấm vệ quân; thứ ba là tỷ lệ hao hụt tự nhiên do độ ẩm không khí chốn kho bãi ven đô làm đường bị chảy nước, vón cục không đạt phẩm cấp ngự dụng; và điều cốt tử nhất: chi phí ứng vốn kéo dài. Hoàng cung không bao giờ trả tiền mặt ngay khi nhận hàng. Vạn Phúc phải bỏ bạc túi ra thu mua từ mùa thu năm trước, nhưng phải chờ đến kỳ quyết toán ngân sách cuối năm sau mới được nhận tiền hoàn trả từ Hộ Bộ. Nếu đêm nay các cô vội vã cầm tờ báo giá này chạy lên nha môn phủ Phụng Thiên hay xông thẳng vào Ty Khảo Sổ để tố giác Tạ Vinh và Đỗ Kính tội tham ô, thì chỉ sáng ngày mai thôi, bọn họ chỉ cần trình ra tập sổ sách kê khai chi phí vận chuyển đường dài và định mức hao hụt kho bãi mùa ẩm ướt là toàn bộ lời cáo buộc của các cô sẽ tan thành mây khói ngay lập tức.”

Từng lời, từng chữ của chàng kiểm toán viên trẻ tuổi như những nhát búa nện thẳng vào thực tế trần trụi. Nó làm nguội đi sự bốc đồng nóng nảy, buộc những cái đầu đang sôi sục phải nhìn thẳng vào sự thật phức tạp của cuộc chiến quyền lực và tiền bạc.

An Trà gật đầu tán đồng một cách sâu sắc. Trong lòng nàng dâng lên một sự khâm phục vô hạn đối với tư duy nghiệp vụ và sự cẩn trọng phi thường của Hoài Cẩn. Đúng vậy, ở bất kỳ thời đại nào, từ thời hiện đại với các tập đoàn đa quốc gia cho đến chốn cung đình phong kiến ngàn năm trước, muốn lật đổ một liên minh ma quỷ có sự bảo kê của quyền lực, không bao giờ có thể dựa vào sự ngây thơ hay những cảm xúc phẫn nộ nhất thời. Hành động thiếu suy tính chẳng khác nào “đánh rắn động cỏ”, chỉ khiến đối phương kịp thời tiêu hủy chứng cứ, hợp thức hóa giấy tờ, thậm chí còn quay ngược lại cắn trả bằng tội danh vu khống quan viên triều đình.

“Lục đại nhân phân tích vô cùng chuẩn xác,” An Trà lên tiếng, thanh âm của nàng đã lấy lại được sự bình tĩnh và sắc sảo vốn có: “Chỉ dựa vào sự so sánh đơn giá giữa chợ trời và nội cung thì không một công đường nào chấp thuận. Muốn chứng minh được con số chín mươi đồng kia là một sự gian lận có chủ đích để rút ruột ngân khố, chúng ta bắt buộc phải có được một nguồn chứng cứ độc lập thứ hai để tiến hành đối soát chéo.”

Hoài Cẩn quay sang nhìn An Trà. Ánh mắt chàng lóe lên một tia sáng tán thưởng sâu sắc, như thể vừa tìm được một người tri kỷ thực sự hiểu được ngôn ngữ của những con số và sự thật:

“Đúng là như vậy. Chúng ta không thể chỉ nhìn vào tờ hóa đơn của kẻ bán. Chúng ta cần phải nắm được chứng từ chi phí vận tải thực tế từ các phường thuyền độc lập không thuộc quyền chi phối của Vạn Phúc; chúng ta cần các bản nhật trình ghi chép giờ giấc ra vào cổng thành của các chuyến xe chở hàng lưu tại Ty Cấm Binh; và quan trọng nhất là sổ kiểm kê hao hụt thực tế tại các kho hàng trung chuyển độc lập ngoài thành. Chỉ khi nào chúng ta chứng minh được bằng giấy trắng mực đen rằng: chi phí vận tải thực tế không hề cao như họ bịa đặt, và lượng đường hao hụt trong kho không hề vượt quá định mức thông thường, thì khi ấy, khoản chênh lệch sáu mươi đồng kia mới chính thức trở thành tang chứng vật chứng không thể chối cãi của tội danh tham ô!”

Hà Tú ngồi lặng đi một hồi lâu, lồng ngực phập phồng. Nhưng rồi nét mặt nàng dần dịu lại, sự bực bội ban đầu biến thành một sự tâm phục khẩu phục hoàn toàn trước sự chặt chẽ của lý lẽ kiểm toán:

“Ta hiểu rồi… quả thực nếu không có Lục đại nhân chỉ điểm, suýt chút nữa ta đã làm hỏng việc lớn. Ta sẽ tiếp tục nằm gai nếm mật bên điện Ngọc Chiếu, âm thầm để mắt tới những tờ phiếu lĩnh hàng tiếp theo.”

Hoài Cẩn cẩn thận gấp tờ giấy bản ố vàng lại theo nếp gấp cũ, đưa trả lại tận tay cho Hà Tú:

“Cô hãy cất giữ bản gốc này ở một nơi an toàn tuyệt đối. Tuyệt đối không được để lộ manh mối này ra ngoài nửa lời. Thời cơ chưa chín muồi mà hành động bừa bãi chỉ rước lấy họa sát thân.”

Đêm đã về khuya lắm. Tiếng mõ cầm canh bên ngoài tường hoa đã điểm sang canh ba, từng hồi gióng lên trầm đục và cô tịch giữa màn đêm.

Hoài Cẩn đứng dậy, vòng tay cáo từ mọi người để trở về khu công xá của Ty Khảo Sổ trước giờ cấm quân tuần tra đêm gắt gao. An Trà cầm lấy chiếc đèn lồng bằng giấy dầu quét sáp ong, khẽ đẩy cửa liếp bước theo sau để tiễn chàng một đoạn ngắn ra đến cổng rào trúc ngăn cách gian nhà công với con đường sỏi lớn.

Bước chân ra ngoài hiên, một luồng gió đêm lạnh buốt ập thẳng vào mặt, mang theo hơi ẩm nồng nặc và tanh nồng của bùn đất trước cơn mưa rào mùa hạ. Những rặng liễu rủ ven hồ nước xào xạc nghiêng ngả, lá cây cọ vào nhau phát ra những âm thanh rền rĩ. Phía chân trời tây nam, những khối mây đen kịt, khổng lồ như những dãy núi đá đang cuồn cuộn kéo về, nuốt chửng hoàn toàn ánh trăng thượng tuần lờ mờ còn sót lại.

Hoài Cẩn dừng bước dưới bóng một cây ngô đồng già cạnh cổng rào trúc. Chàng quay người lại, ánh mắt chạm vào gương mặt thanh tú của An Trà đang được soi sáng bởi quầng lửa bập bùng từ chiếc đèn lồng trên tay nàng. Gió đêm thổi tung những lọn tóc mai mềm mại vương trên trán nàng. Chàng khẽ ngước nhìn bầu trời đen đặc trên cao, rồi hạ giọng dặn dò với một sự quan tâm chân thành, ấm áp:

“Trời chuyển giông thế này, e là chỉ nội đêm nay hoặc sớm mai sẽ có một trận mưa rất lớn trút xuống kinh thành. Mùa mưa ở phương Nam khi đã vào độ thường dai dẳng nhiều ngày liền, đường sá đất đỏ từ các trang trại ngoại ô vào thành sẽ biến thành những vũng bùn lầy lội, nước sông Hồng dâng cao cũng sẽ cản trở thuyền bè cập bến Liễu. Quầy trà của các cô phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu tươi mới mỗi ngày… hãy bàn với Tống Diệp chủ động dự trữ củi khô, trà búp và đường từ sớm. Đừng để thời tiết làm gián đoạn việc buôn bán.”

An Trà khẽ cúi đầu, bàn tay cầm cán đèn lồng siết nhẹ lại. Một cảm giác an tâm và tin cậy vững chãi lan tỏa trong lòng nàng giữa cơn gió lạnh đầu mùa:

“Đa tạ Lục đại nhân đã chu đáo nhắc nhở. Sáng mai tôi sẽ cùng Diệp tỷ kiểm tra lại toàn bộ hầm chứa dưới gầm bếp.”

Hai người đứng đối diện nhau dưới bóng cây cổ thụ giữa màn đêm ẩm ướt. Không có một lời thề non hẹn biển viển vông, không có những câu từ hoa mỹ lãng mạn của tài tử giai nhân chốn lầu son gác tía, nhưng sự thấu hiểu, trân trọng và niềm tin cậy tuyệt đối giữa hai con người cùng chung một lý tưởng minh bạch đã ngấm sâu tựa như những rễ cây cổ thụ đang bám chặt vào lòng đất mẹ cằn cỗi.

Sáng sớm hôm sau, trời đổ mưa như trút nước, đường trơn trượt khiến chuyến xe sữa từ trang trại Thanh Khê trễ hẹn.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories