Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtCh.22 / 32
Chapter 22

Khói Đêm Phố Lạnh

Sương mù cao nguyên đặc quánh giăng kín những con dốc quanh co Đà Lạt lúc nửa đêm, nơi ánh đèn vàng hắt ra từ quán ăn lợp tôn ọp ẹp của cô Liên tỏa mùi thơm nức của nồi xíu mại cay nồng.

Chiếc xe Bếp Nhỏ chầm chậm tắt máy, nép mình sát bờ taluy đá xám xịt phủ đầy rêu ẩm và những khóm dương xỉ dại ngậm nước rũ rượi. Động cơ rên rỉ vài tiếng khẽ khàng rồi nguội dần giữa tầng tầng lớp lớp hơi lạnh buốt giá. Gió luồn qua các hẻm dốc sâu hoắm của triền đồi thông, thốc từng cơn sắc ngọt mang theo cái lạnh thấu xương của sương đêm vùng núi cao hơn ngàn rưởi mét, thổi rát buốt cả hai gò má.

Khang kéo sụp chiếc mũ len xuống sát chân mày, bàn tay phải cẩn thận đỡ lấy cánh tay trái vẫn còn quấn lớp băng nẹp màu trắng ngà sau ca tiểu phẫu nẹp xương ở Phan Thiết. Cơn sốt li bì kéo dài dọc cung đường đèo hiểm trở đã dứt hẳn sau mấy ngày nghỉ dưỡng sức tạm bồ ngót và lá xông ở Kon Tum, nhưng khớp xương nơi cổ tay anh vẫn còn tê dại, chưa thể chịu được bất kỳ cử động xoay vặn hay khiêng vác nặng nào. Nhìn dáng vẻ trầm lặng, có phần mệt mỏi nhưng luôn cố giấu đi sự đau nhức của Khang, An khẽ nghiêng người, kéo lại cổ chiếc áo khoác dạ dày cộm cho anh, cài cẩn thận từng chiếc cúc sừng. Hai người nhìn nhau không nói, rồi cùng rảo bước nhanh qua tấm rèm nhựa trong suốt đã ố vàng vệt dầu mỡ treo lơ lửng trước cửa quán để trốn cái rét cắt da cắt thịt đang bủa vây bên ngoài.

Bên trong gian nhà chật chội chưa đầy hai mươi mét vuông, hơi ấm bốc lên sực nức, ngùn ngụt bao lấy da thịt, lập tức xua tan cảm giác buốt giá tê tái vừa bám chặt lấy họ ngoài mặt đường. Mái tôn thấp lè te đọng từng giọt nước hấp hơi tròn xoe, chốc chốc lại trĩu nặng rơi tí tách xuống các tấm bìa carton cũ kỹ trải lớp lang lót sàn để chống trơn trượt. Không gian đậm đặc mùi khói than đá nồng đượm quyện chặt với mùi tỏi phi, mùi hạt tiêu sọ xay vỡ, mùi cà chua chín nhừ xào kỹ và vị béo ngậy của thịt heo băm nhuyễn đang âm ỉ sôi. Nằm ngay lối ra vào, chặn ngang luồng gió lùa từ khe hẹp của cánh liếp, là một chiếc bàn gỗ dài bóng loáng những vệt mỡ màng đóng váng qua năm tháng. Ngay trên mặt bàn, chiếc bếp lò than đá đỏ rực rỡ như một khối ngọc lửa, bên trên ngự một chiếc nồi nhôm cỡ đại chứa gần năm mươi lít nước xúp sôi lục bục, từng mảng váng ớt màu cam đỏ óng ả chao liệng, dâng lên hạ xuống nhịp nhàng theo từng bọt khí.

Đứng sừng sững sau quầng hơi nước nghi ngút mờ ảo ấy là cô Liên. Người phụ nữ ngoài năm mươi tuổi có vóc dáng đậm đà, chắc nịch như một gốc thông sườn đồi, đôi gò má ửng hồng thường trực vì tiếp xúc liên tục với hơi nóng hừng hực của bếp lửa, và đôi bàn tay gân guốc thoăn thoắt không bao giờ thừa thãi một động tác nhỏ nào. Ba mươi năm trước, cô đã gánh theo chiếc rương gỗ mục, bế đứa con trai chưa đầy hai tuổi rời mảnh đất Đại Lộc khô cằn sỏi đá của tỉnh Quảng Nam, vượt đèo An Khê rồi rẽ qua những con dốc cheo leo để lên vùng cao nguyên lạnh giá này tìm kế sinh nhai. Cái giọng xứ Quảng rổn rảng, trầm đục, mang theo âm sắc gãy gọn và nặng trịch của cô, dẫu qua ba thập kỷ trầm luân giữa gió núi mù sương đã được mài giũa cho mềm bớt đôi ba phần, nhưng nhịp điệu dứt khoát, hào sảng bên trong thì vẫn vẹn nguyên như dòng nước cuộn xiết của con sông Thu Bồn mùa lũ.

— Hai đứa bây vô mau, ngồi sát vô cái góc cạnh vách ván bếp cho đỡ cóng! — Cô Liên liếc mắt nhìn qua lớp sương mờ bám trên mi mắt của An và cánh tay nẹp còn vương bụi đất của Khang, không hỏi han dài dòng nhiều lời, tay đã thoăn thoắt cầm lấy đôi đũa tre dài vót nhẵn cùng chiếc muôi múc bằng nhôm sâu lòng.

Chiếc muôi bản rộng lướt điệu nghệ qua mặt nước xúp sánh đỏ màu dầu điều, chao nhẹ xuống đáy nồi sâu thẳm, vớt lên hai viên xíu mại tròn trịa to cỡ nắm tay trẻ nhỏ. Thịt được nặn khéo léo, lộ rõ từng thớ thịt nạc băm rối xen lẫn những hạt mỡ trắng trong như hạt ngọc, không hề bị vỡ nát dù ngâm mình trong nồi nước sôi cả buổi đêm. Cô thả nhẹ hai viên thịt tròn trịa vào chiếc chén sứ tráng men viền xanh đã hơi mẻ miệng, rưới ngập một vá nước sốt nóng bỏng sủi tăm, rồi rắc thoăn thoắt một nhúm ớt bột khô đỏ thắm cùng hành hoa thái nhuyễn xanh ngắt.

Quán ăn bình dân về đêm này gần như tuyệt nhiên không có bóng dáng của những đoàn du khách thời thượng. Những người đang ngồi co ro quanh ba chiếc bàn con đóng bằng gỗ thông tạp kê sát vách ván ghép hở gió là những phận người thuộc về nhịp sống câm lặng, nhọc nhằn của thành phố cao nguyên khi ánh đèn đường hoa lệ đã tắt ngấm từ lâu. Ở góc bàn phía trong, ba bác tài xế xe tải đường dài chạy tuyến nông sản chuyên chở rau củ Đà Lạt đi chợ đầu mối Thủ Đức, Sài Gòn đang ngồi vắt vẻo, gương mặt ai nấy xám xịt, phờ phạc sau hàng chục giờ liên tục căng mắt ôm vô-lăng qua những khúc cua tay áo hiểm trở, hai tròng mắt đỏ ngầu vằn vện những tia máu vì thiếu ngủ và khói thuốc lào.

Ngay cạnh đó, hai người phụ nữ quét rác đêm mặc bộ áo phản quang màu cam lem luốc bụi đường, đôi ủng cao su bết dính bùn đất ướt sũng. Bàn tay của họ cóng buốt, nứt nẻ từng đường nẻ ngang dọc vì sương muối ngấm sâu vào thịt da, đang run run bưng lấy chiếc chén súp tỏa khói ngùn ngụt, áp sát hai lòng bàn tay vào thành bát để tìm kiếm chút hơi ấm truyền qua lớp sứ dày.

— Đêm nay sương muối xuống dày quá cô Liên ơi, tụi tui quét hết cái đoạn dốc Nhà Bò với dốc Ánh Sáng mà gió thốc buốt thấu tận màng tang, buốt buốt lên tới đỉnh đầu, — một chị lao công thở dài, bẻ đôi một mẩu bánh mì con tôm giòn rụm phát ra tiếng rôm rốp khô khốc, rồi dìm ngập mẩu bánh vào chén nước súp đỏ au.

— Ăn thêm miếng ớt bột vô cho nó ấm cái tỳ vị người ơi, để chị múc thêm cho chén nước dùng nóng, húp cho ra mồ hôi, không có tính thêm đồng xu cắc bạc nào đâu mà ngại, — cô Liên vừa đáp lời vừa xởi lởi cười, chất giọng xứ Quảng vang rổn rảng làm bừng sáng cả gian quán lụp xụp. Tay cô vung chiếc muôi, hào phóng múc thêm một vá súp đầy ắp váng mỡ ớt cay nồng chan tràn trề vào chén của người phụ nữ quét rác.

An kéo chiếc ghế nhựa thấp ngồi xuống cạnh Khang, đưa hai bàn tay ra hơ trên miệng chén súp nóng bỏng. Luồng hơi cay nồng xông thẳng vào khoang mũi, đánh thức từng tế bào đang đông cứng vì sương đêm. Vị cay xè của ớt bột phơi khô quyện chặt cùng vị ngọt đậm đà của thịt heo tươi băm nhuyễn, mùi thơm the dịu của tiêu rừng và ngò gai cao nguyên khiến mọi giác quan của cô bừng tỉnh. Đưa chiếc thìa nhôm nhỏ múc ngụm súp đầu tiên đưa lên miệng nếm thử, An khẽ khép mắt lại. Một kết cấu hương vị rất đỗi khác biệt, sắc sảo và đầy cá tính tràn ngập nơi đầu lưỡi.

Nước súp ở đây không hề lỏng bỏng và nhàn nhạt như những chén xíu mại công nghiệp phục vụ vội vã cho du khách dưới khu chợ đêm hay khu Hòa Bình. Nước xúp của cô Liên có một độ sánh nhẹ tự nhiên nhờ lớp thịt quả cà chua chín mọng băm nhuyễn xào kỹ cùng dầu màu điều cho đến khi nhuyễn nhừ như mứt, hòa lẫn với thứ nước hầm từ xương ống heo ninh rục suốt tám tiếng đồng hồ. Điểm cốt lõi làm nên sự chấn động vị giác chính là cái vị mặn mòi, đằm thắm của nước mắm cá cơm truyền thống miền Trung—thứ nước mắm cốt màu cánh gián đậm đà, mặn đó nhưng ngọt sâu nơi cuống họng. Và kỳ diệu thay, cái mặn nồng gắt gao ấy lại được cân bằng tuyệt đối bởi mùi hương thanh mát, thơm the giòn ngọt đặc thù của những cọng hành tây và ngò gai xứ lạnh vừa nhổ ngoài vườn. Viên xíu mại khi cắn vào mềm mại nhưng vẫn giữ được độ kết dính dẻo dai, bên trong có trộn thêm một lượng củ sắn thái hạt lựu vắt ráo nước để tạo độ giòn thanh thoát, không hề gây cảm giác ngấy mỡ.

Nhìn An chăm chú nếm từng ngụm nhỏ, nhai chậm rãi và trầm ngâm với ánh mắt tinh tường của một người làm nghề ẩm thực lâu năm, cô Liên khẽ mỉm cười kín đáo. Đợi dứt đợt ba chiếc xe tải chở bắp cải ghé vội lấy sức để chuẩn bị đổ đèo dốc sương mù, cô mới chậm rãi lau hai bàn tay vào chiếc tạp dề bằng vải thô nhuộm nâu, kéo một chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông bước lại gần bàn của An và Khang.

— Con bé này ngó bộ biết ăn, biết thưởng thức đó nghen. Nếm thử có thấy nồi nước súp của cô nó khác lạ với mấy chỗ dưới phố không?

— Dạ, nước súp của cô đậm đà và sâu vị lắm cô, — An thành thật ngẩng lên, hai mắt sáng ngời. — Viên xíu mại thì mềm mướt mà không hề bị bở bột, tỷ lệ mỡ nạc rất chuẩn. Nhưng cái làm con ngạc nhiên nhất chính là cái cay. Cái cay này xộc thẳng lên sống mũi, làm ấm bừng lồng ngực nhưng hậu vị lại ngọt thanh, không hề bị đắng hay gắt khé ở cổ họng như người ta dùng sa tế công nghiệp.

Cô Liên ngồi xuống, đưa đôi bàn tay thô ráp xoa vào nhau, ánh mắt đăm đăm nhìn vào những cục than hồng đang tí tách tàn lửa trong lò:

— Bí quyết của cô đâu có nằm ở thịt hay mỡ chi đâu con. Nó nằm ở cái bắt tay giữa hai vùng đất đó. Ba chục năm trước, hồi cô mới ẵm thằng Nghĩa từ Đại Lộc trốn cái nghèo cái khổ mò lên xứ này, trời đất ơi, cái lạnh ở đây nó làm cô phát khóc. Lạnh thấu xương thấu tủy, đêm nằm co ro đắp ba cái mền rách mà hàm răng cứ đánh vào nhau lập cập. Người miền Trung mình từ bao đời nay vốn quen ăn cay xé lưỡi, ăn mặn chát mặn chúa để chống chịu cái rét buốt của biển khơi và những tháng ngày dầm mưa lụt triền miên. Khi đi, trong tay nải cô chỉ mang theo mấy hũ ớt sừng, ớt chỉ thiên phơi khô do chính tay má cô giã nhuyễn ở quê. Loại ớt mọc trên cát cằn, cay buốt óc, cay chảy nước mắt nước mũi.

Cô Liên khẽ dừng lại, chỉ ngón tay chai sần về phía những chiếc thố sành xếp ngay ngắn trên bệ gỗ:

— Nhưng hồi đầu mới mở quán bán cho người quanh đây, cô đem nguyên xi cái cay xé họng, cái mặn chát đặc sệt của quê mình đặt vô nồi xúp. Người ta ăn một muỗng là bỏ chén, lắc đầu nguầy nguậy nói nuốt không vô. Khí hậu cao nguyên này tuy lạnh nhưng khô và thanh, đất đai thổ nhưỡng lại dịu dàng. Cái vị cay gắt gỏng của miền Trung mà đứng một mình ở đây thì chướng lắm, nó lạc lõng và hung hãn. Thế là cô phải học lại từ đầu, học cách gia giảm, lắng nghe cái miệng ăn của người xứ lạnh.

Giọng cô trầm lắng, hòa vào tiếng sôi lục bục của nồi nước dùng:

— Ớt bột quê nhà cô đem về, không được cho thẳng vào nồi xúp. Phải phi thật khéo với mỡ heo nóng già và gốc hành hoa đập dập trên ngọn lửa liu riu, để nhiệt lượng của mỡ làm dịu đi cái hăng nồng gắt gỏng, chỉ giữ lại mùi thơm nồng nàn và cái sắc đỏ thắm tự nhiên. Sau đó mới trút vào nồi nước hầm xương heo cùng với gốc củ cải trắng và đầu ngò rí. Rồi con dòm mấy rổ ngò gai, hành lá, húng quế xanh mướt đằng kia coi, toàn là rau trồng trên đất dốc sườn đồi này đó. Rau củ quả xứ này giòn sần sật, mọng nước và có cái vị ngọt hậu tự nhiên của lớp đất đỏ bazan mát rượi quanh năm. Cái cay nồng bỏng rát của nắng gió miền Trung gặp cái trong lành, mướt mượt của ngọn rau cọng cỏ triền thông, hai đứa nó ghì chặt lấy nhau, bù trừ cho nhau, nương tựa vào nhau, mới nhào nặn ra được cái phong vị xíu mại súp này. Nếu không chịu mở lòng ra lai ghép, dung hòa như vậy, mẹ con cô làm sao mà sống sót, làm sao mà bám rễ qua ba chục mùa đông buốt giá ở cái xứ ngàn hoa này được?

An ngồi im phỏng đoán từng lời cô nói, đầu ngón tay khẽ miết nhẹ lên mặt bàn gỗ thông ram ráp. Từng lời chia sẻ mộc mạc của người đàn bà xứ Quảng như rót thẳng vào những suy tư bấy lâu của cô. Ẩm thực chưa bao giờ là một bảo tàng tĩnh lặng với những pho tượng đá bất di bất dịch. Nó là một thực thể sống động, không ngừng thở, không ngừng biến đổi và dung nạp. Những món ăn theo chân người di cư rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, khi đặt chân lên vùng đất mới, buộc phải cởi bỏ lớp vỏ bọc bảo thủ để hòa hợp với nguồn nước, ngọn gió và thổ nhưỡng của quê hương thứ hai. Chính trong sự cọ xát, nhường nhịn và thích ứng ấy, một căn tính ẩm thực mới mẻ, kiên cường lại được sinh thành.

Khoảng hơn ba giờ sáng, tiếng còi xe tải từ trên đèo vọng xuống thưa dần, nhường chỗ cho sự tĩnh mịch cô quạnh bao trùm khắp sườn dốc mù sương. Một tiếng nổ bình bịch giòn tan của động cơ xe máy cũ phá tan bầu không khí đặc quánh. Một chàng trai trẻ trạc tuổi An, vóc người dong dỏng cao nhưng bờ vai vạm vỡ, mặc chiếc áo khoác gió dày cộm đã phai màu, đầu đội chiếc mũ bảo hiểm len trùm kín tai, lái chiếc xe máy Dream tàn có gắn thêm chiếc rơ-moóc tự chế bằng sắt phía sau chầm chậm rẽ vào khoảng sân trước quán. Đó là Nghĩa, con trai cô Liên.

— Thằng Nghĩa nó chuẩn bị chạy xuống Trại Mát bốc rau sớm cho quán với bỏ mối cho bạn hàng đó, — cô Liên đứng dậy dọn dẹp mấy chiếc chén rỗng trên bàn khách, hất cằm về phía chiếc rơ-moóc. — Con bé kia nếu muốn đi coi thử ngọn rau xứ này lớn lên ra sao giữa mùa sương thì nhảy lên xe theo nó. Đi thực tế một chuyến mới biết đồng tiền cọng rau nó cực nhọc cỡ nào.

An giật mình, theo phản xạ quay sang nhìn Khang với ánh mắt ngập ngừng dò hỏi. Khang thấu hiểu ngay nỗi băn khoăn của cô, anh mỉm cười dịu dàng, đưa bàn tay phải còn lành lặn với tới kéo cao khóa áo khoác của cô lên tận cằm:

— Cô cứ đi cùng cậu ấy đi. Đi để nhìn tận mắt xem những nguyên liệu nuôi sống căn bếp này đến từ đâu. Tôi ở lại đây trông xe Bếp Nhỏ, phụ cô Liên rửa chén bát, gom rác với canh chừng than củi. Tay này của tôi tuy chưa bê nặng được nhưng gắp than nhặt cọng rau thì vô tư. Đi đi cho kịp buổi chợ sớm.

An khẽ gật đầu, siết chặt chiếc khăn quàng cổ rồi trèo lên chiếc ghế phụ hẹp phía sau yên xe của Nghĩa. Chiếc xe máy rồ ga rền rĩ, nhả ra làn khói mờ mịt rồi lao vút xuống con dốc ngoằn ngoèo hun hút chìm trong bóng đêm đen đặc. Gió núi thốc ngược vào mặt An buốt rát như hàng ngàn mũi kim châm li ti găm vào da thịt. Khí lạnh luồn lách qua từng kẽ áo, khiến lồng ngực cô run rẩy theo từng nhịp nảy của chiếc xe máy cũ kỹ trên mặt đường trải nhựa lồi lõm đã bắt đầu nứt toác vì sương giá bào mòn qua năm tháng.

Đi chừng hơn mười lăm phút về hướng đông bắc của thành phố, sau khi lướt qua những triền đồi thông cổ thụ trơ trụi đứng sừng sững trong sương, một khung cảnh kỳ vĩ đến ngỡ ngàng bất chợt hiện ra dưới đáy thung lũng Trại Mát sâu thẳm.

Hàng vạn, hàng triệu bóng đèn vàng cam rực rỡ từ những mái nhà kính san sát nhau bừng sáng lung linh, xé toạc màn đêm đen kịt của cao nguyên. Nhìn từ trên đỉnh đèo cao xuống, cả thung lũng trông không khác gì một biển sao vàng rực tráng lệ, lộng lẫy rơi xuống trần gian, tựa như một dải ngân hà rực rỡ nằm gọn trong lòng chảo núi đồi. Đó chính là bức tranh huyền ảo, thơ mộng từng làm say đắm hàng triệu ống kính của du khách thập phương, trở thành biểu tượng sống ảo trứ danh tràn ngập trên các trang mạng xã hội suốt bao năm qua.

Thế nhưng, khi chiếc xe máy của Nghĩa gài số một, gầm rú trườn mình lao dốc, tiến sát dần vào chân thung lũng, vẻ lãng mạn hư ảo thần tiên ấy lập tức vỡ vụn từng mảng.

Mùi hăng nồng nặc, ngai ngái của nilon ẩm mốc quyện với mùi chua của đất ủ bốc lên xộc thẳng vào cánh mũi khiến An phải khẽ ho khan. Không gian yên bình của màn đêm bị xé nát bởi tiếng gầm rú rền rĩ, khô khốc và chói tai của hàng chục chiếc máy bơm dầu diesel cỡ lớn đang vận hành hết công suất, liên tục hút nước từ những giếng khoan sâu hun hút dưới lòng đất.

Dọc theo hai bên con mương thoát nước cạn trơ đáy, từng đống màng phủ nilon nông nghiệp rách nát, xám xịt và chai cứng sau nhiều mùa vụ thu hoạch bị thải bỏ bừa bãi, chất đống thành từng gò cao ngất ngưởng, nằm phơi mình lẫn lộn trong hàng ngàn vỏ bao bì phân bón hóa học và chai lọ thuốc trừ sâu bằng nhựa đã bạc màu. Ở một góc triền đồi phía xa, một đống nilon phế thải đang bị người ta đốt dở dang trong đêm, ngọn lửa leo lét nhả ra những cuộn khói đen đặc quánh, bốc lên mùi khét lẹt ngột ngạt, nghẹt thở giữa bầu không khí vốn đã loãng của vùng núi cao.

Nghĩa tắt máy, dừng xe trước một nhà kính rộng mênh mông của một gia đình người quen để bắt đầu bốc các sọt xà lách cô-rôn và bông atiso vừa mới cắt tỉa. Anh cởi chiếc găng tay len ướt đẫm sương, đưa mu bàn tay thô ráp quệt vệt mồ hôi đang túa ra lấm tấm trên trán dù nhiệt độ ngoài trời lúc này chỉ chừng mười độ C.

— Nhìn từ trên đèo xuống thì đẹp như tiên cảnh vậy đó chị, du khách ai thấy cũng trầm trồ xuýt xoa, — Nghĩa chỉ tay vào những vách nilon dày đặc bịt kín bốn bề xung quanh, giọng nghẹn lại vì mệt nhọc. — Chứ người nông dân tụi em bước chân vô đây là thấy ngột ngạt muốn đứt hơi. Để có được những cây xà lách cuốn búp tròn vo, đều tăm tắp mười cây như một, để ngò gai ngò rí không bị sâu ăn lủng một lỗ lá nào, để atiso trổ bông mập mạp bóng bẩy phục vụ các nhà hàng sang trọng dưới xuôi với chợ đầu mối quanh năm suốt tháng, cả cái thung lũng này phải thắp đèn sợi đốt thâu đêm suốt sáng để cưỡng ép cây cối phát triển vượt quy luật tự nhiên. Nhưng mà cái giá phải trả thì đắt đỏ và tàn nhẫn lắm chị ơi.

Nghĩa cúi xuống nhấc một chiếc vòi tưới tự động đã bị rỉ sét, ánh mắt buồn bã nhìn xuống lớp đất đỏ dưới chân:

— Đất ở dưới mấy lớp bạt này không bao giờ được thở. Ban ngày thì hầm hập như cái lò xông hơi, ban đêm thì đèn cao áp chiếu rọi chói chang không có một giây phút nghỉ ngơi. Mưa rào trút xuống, nước không thể nào ngấm nổi vào lòng đất mẹ vì bị mái nilon, màng bạt bịt kín mít cả quả đồi. Toàn bộ nước mưa không ngấm được thì dồn thành dòng chảy xiết, tạo thành những trận lũ quét cuốn phăng đất màu, xói mòn sạt lở hết các sườn đồi xung quanh.

Anh khẽ thở dài, chỉ tay về phía chiếc máy bơm đang rung lên bần bật:

— Chục năm trước, ba em với mấy chú quanh đây chỉ cần khoan sâu chừng hai mươi lăm, ba mươi mét là mạch nước ngầm mát lạnh tuôn trào ra ngọt lịm, tha hồ tưới tắm cả vườn. Còn bây giờ hả chị? Phải thuê thợ khoan sâu tới hơn một trăm mét, có giếng sâu cả trăm rưởi mét mà máy bơm rền rĩ cả đêm chỉ toàn hút lên bùn đỏ quánh đặc với cát vụn. Mạch nước ngầm tụt nhanh đến chóng mặt. Rồi mỗi mùa dọn vườn thay bạt, lượng rác thải nilon khổng lồ này chẳng ai biết chôn đi đâu cho hết. Chôn thì đất chết, đất chai cứng hàng chục năm không phân hủy được; mà châm lửa đốt thì khói độc xộc thẳng vô buồng phổi người làng. Cứ cái đà bóc lột đất đai như vầy, em sợ chẳng tới mươi năm nữa, Đà Lạt sẽ không còn một giọt nước sạch nào để tưới cho rau cỏ nữa đâu.

An đứng lặng đi giữa những luống rau xà lách xanh non mơn mởn, mọng nước đang tắm mình dưới ánh đèn cao áp vàng rực rỡ, lồng ngực cô chùng xuống bởi một nỗi xót xa tê tái. Đằng sau những đĩa salad tươi giòn, đẹp mắt được bày biện tinh tế trên bàn ăn của các đô thị phồn hoa, đằng sau ảo ảnh lung linh huyền ảo của một "thành phố ngàn hoa" mộng mơ trên những thước phim quảng bá, là một cuộc vắt kiệt tàn khốc và lạnh lùng đối với đất mẹ và nguồn tài nguyên ngầm quý giá. Căn tính ẩm thực phong phú của đô thị vùng cao này dường như đang phải trả một cái giá sinh thái quá đỗi khốc liệt, đau đớn chỉ để duy trì sự trù phú nhân tạo và vẻ ngoài hào nhoáng cho người đời chiêm ngưỡng.

Trời vừa hửng sáng, sương mù dày đặc bắt đầu loãng dần thành những dải mây trắng bảng lảng vắt ngang sườn đồi thông khi Nghĩa và An chở những sọt rau tươi đẫm sương sớm quay trở về lại quán xíu mại. Con phố núi bắt đầu bừng tỉnh giấc trong tiếng chuông nhà thờ thanh thoát ngân vang từ xa và tiếng còi xe máy rộn rã xuôi ngược trên những con dốc ngoằn ngoèo.

Đúng lúc ấy, một chiếc taxi màu trắng thắng gấp lại ngay đầu dốc đá. Bốn người trẻ tuổi gồm hai nam hai nữ bước xuống xe, ai nấy đều quàng những chiếc khăn len sặc sỡ, tay lăm lăm những chiếc máy ảnh đắt tiền gắn ống kính khẩu độ lớn, gimbal chống rung và gậy chụp hình nối dài. Họ xôn xao, cười nói rôm rả bước thẳng vào quán của cô Liên, đôi mắt lấp lánh thích thú khi nhìn thấy làn khói nghi ngút bốc lên từ chiếc nồi nhôm khổng lồ đặt trên bếp lò đỏ lửa.

— Ôi trời ơi, góc này đỉnh chóp luôn nè mọi người! Cái bờ taluy đá rêu phong phía sau nhìn thơ xỉu luôn á! — Một cô gái trẻ mặc chiếc áo khoác lông thú màu hồng phấn hào hứng reo lên, nhanh nhảu rút chiếc điện thoại thông minh đời mới nhất ra, lia ống kính quay cận cảnh từng bọt khí đang sôi sùng sục trong nồi xíu mại đỏ rực.

Một thanh niên đi cùng nhóm, ăn mặc sành điệu với áo khoác da và kính râm cài trên mái tóc vuốt gel bóng bẩy, tiến sát lại chiếc bàn gỗ chế biến của cô Liên, nở một nụ cười thật tươi mang vẻ tự tin của dân sành công nghệ:

— Cô ơi, quán mình bán lâu năm có thâm niên thế này mà không biết làm thương hiệu thì quá uổng phí luôn đó cô! Tụi con là travel blogger chuyên nghiệp, kênh của tụi con có tới mấy trăm ngàn lượt theo dõi trên mạng xã hội nè. Tụi con góp ý thiệt lòng với cô nha, cô nên đổi tên món này thành "Xíu mại hoàng hôn săn mây" hay là "Xíu mại sương mù thung lũng" đi cô, nghe một cái là nó có chất thơ, nó đậm chất nghệ thuật liền! Rồi bên trên chén súp này nè, cô nâng cấp lên, phủ thêm một lớp phô mai béo ngậy kéo sợi dày cộp vô, xong rắc thêm chút lá hương thảo khô nhập khẩu cho nó sang chảnh kiểu ẩm thực fusion Âu - Á. Tụi con bảo đảm chỉ cần quay một clip ngắn bắt trend, đăng lên một phát là quán của cô lên thẳng xu hướng ngay lập tức! Lúc đó cô bán bốn mươi lăm, năm mươi nghìn một phần, dân tình du khách vẫn sẵn sàng xếp hàng dài cả cây số check-in nườm nượp cho cô coi!

Cô Liên vẫn bình thản dùng đôi đũa tre dài gắp từng viên xíu mại nóng hổi vào chén sứ cho một bác tài xế vừa bước vào, mí mắt cô không thèm ngẩng lên nhìn ống kính máy ảnh đang chĩa thẳng vào mặt mình, giọng nói vẫn rổn rảng nhưng đều đều, rành rọt:

— Cảm ơn mấy đứa có lòng tốt chỉ vẽ cho người già này. Nhưng quán cô ba chục năm nay không có bán súp hoàng hôn hay là săn mây bắt gió chi hết trơn á. Món này từ đời má cô truyền lại, tên nó chỉ có ba chữ mộc mạc: xíu mại súp. Ba mươi năm nay nó vẫn mang cái tên đó, người ta quen cái tên đó rồi. Còn cái phô mai kéo sợi kéo chỉ chi đó của mấy đứa, bỏ vô thì béo ngậy ngấy mỡ, nó át hết cái mùi thơm thanh của cọng ngò tàu với mùi cà chua xào dầu điều, ăn một miếng là ứ họng ngán ngẩm, chịu sao thấu cái bụng.

— Nhưng mà cô ơi, cô bán có mười lăm nghìn một chén kèm ổ bánh mì giòn rụm thế này thì trừ tiền thịt, tiền than củi ra cô còn lời lãi được bao nhiêu đồng đâu? — Cậu thanh niên sốt ruột nài nỉ, bàn tay cầm gimbal cố tình tiến sát hơn vào nồi xúp để bắt góc cận cảnh. — Thời buổi công nghệ số 4.0 này là phải biết bắt trend, phải tạo điểm nhấn viral thì mới nhanh giàu, mới đón đầu khách du lịch cao cấp được chứ cô!

Đôi mày cô Liên khẽ nhíu lại. Cô đặt mạnh chiếc muôi nhôm xuống thành nồi phát ra một tiếng "leng keng" đanh gọn, ánh mắt nhìn thẳng vào người đối diện, cương quyết nhưng không hề có vẻ hằn học hay gay gắt:

— Cô bán mười lăm nghìn là để cho chú tài xế xe tải đường dài, chị lao công quét rác đêm hôm, mấy đứa nhỏ sinh viên tỉnh lẻ nghèo khó, hay mấy người chạy xe ôm sớm có thể ghé vô đây ăn một bữa lót dạ cho ấm cái tỳ vị mà không phải đắn đo móc bóp đếm từng đồng bạc lẻ. Mấy người đó mới chính là những người nuôi sống cái quán ọp ẹp này qua bao nhiêu mùa bão gió sương muối mù trời, chứ đâu phải trông chờ mấy người rảnh rỗi ghé qua chụp một tấm hình check-in rồi quẩy gót đi luôn không bao giờ quay lại? Bán giá bốn năm chục nghìn như mấy đứa nói, người lao động nghèo lấy tiền đâu ra mà ăn cho nổi? Mấy đứa nếu thực lòng ưng ăn thì kéo ghế ngồi xuống cô múc cho ăn cho ấm bụng, còn muốn quay phim làm màu, muốn xúi cô đổi món ngoại lai để lấy tiếng thì làm ơn bước qua mấy quán cà phê lộng lẫy dưới phố giùm cô. Quán này không có chỗ cho ba cái trò đó.

Nhóm bạn trẻ chưng hửng nhìn nhau, mặt mày ngượng nghịu trước thái độ dứt khoát, không thể lay chuyển của bà chủ quán già xứ Quảng. Họ thì thầm to nhỏ vài câu thất vọng, bĩu môi rồi nhanh chóng thu dọn máy móc, gậy chụp hình, vội vã kéo nhau trèo lên chiếc taxi đang nổ máy chờ sẵn ở đầu dốc.

An đứng nép mình bên góc bệ bếp, lặng lẽ nhìn theo chiếc xe taxi khuất dần sau khúc cua phủ mây trắng, trong lòng trào dâng một niềm cảm phục sâu sắc đến nghẹn ngào. Giữa cơn lốc cuồng loạn của du lịch đại chúng và làn sóng thương mại hóa đang biến mọi giá trị nguyên bản, mộc mạc thành phông nền sống ảo hời hợt để trục lợi, sự kiên định giữ mức giá mười lăm nghìn của cô Liên không đơn thuần là một quyết định buôn bán mưu sinh. Đó là một tuyên ngôn kiên cường về phẩm giá, một hành vi giữ gìn sự tử tế và lòng trắc ẩn bền bỉ của một người lao động nghèo dành trọn cho những người cùng khổ giữa cuộc đời gió rét.

Đúng lúc đó, Khang từ phía chiếc bàn con bên trong bước vội ra ngoài, nét mặt anh đanh lại, lộ rõ vẻ căng thẳng tột cùng. Anh chìa chiếc điện thoại màn hình cảm ứng đã sáng rực ra trước mặt An, giọng nói trầm xuống đầy âu lo:

— An, cô cầm lấy xem cái này ngay đi. Có chuyện chẳng lành rồi.

An đón lấy chiếc điện thoại từ tay Khang, ngón tay cô lướt trên mặt kính. Trên màn hình là một bài đăng vừa mới xuất hiện cách đây chừng hai tiếng đồng hồ trên một diễn đàn mạng xã hội chuyên về ẩm thực có tới hơn hai triệu thành viên theo dõi. Bài viết đang lan truyền với tốc độ chóng mặt, nhận về hàng ngàn lượt chia sẻ và hàng loạt bình luận thóa mạ đầy phẫn nộ. Bài viết nặc danh giật dòng tít màu đỏ chót đầy ác ý:

*"SỰ THẬT VỀ NỮ TÁC GIẢ DỰ ÁN ‘NGƯỜI GIỮ BẾP’: TỪNG BỊ ĐUỔI VIỆC VÌ TIẾP TAY CHO NGUYÊN LIỆU BẨN TẠI NHÀ HÀNG NĂM SAO."*

Bên dưới bài viết là hình ảnh chụp lén rõ nét từng trang của một tập hồ sơ kỷ luật nội bộ cũ kỹ từ ba năm trước. Trong đó, tên tuổi của An, chức danh quản lý nguyên liệu cùng chữ ký sống của cô trong biên bản bàn giao kho thực phẩm ôi thiu năm xưa bị khoanh tròn bằng mực đỏ và phóng to choán hết màn hình. Kẻ viết bài đã thêu dệt một câu chuyện trắng trợn và tàn độc, vu khống rằng cô là một kẻ đạo đức giả mạt hạng, từng thông đồng với các đầu nậu để tuồn thực phẩm thối rữa kém chất lượng vào bếp ăn cao cấp khiến nhiều thực khách ngộ độc, nay lại mượn danh nghĩa tôn vinh, gìn giữ ẩm thực dân gian để đi các địa phương trục lợi và "làm tiền" các cơ sở nhỏ lẻ.

Cả người An run rẩy, một luồng khí lạnh buốt dọc từ sống lưng xộc thẳng lên đỉnh đầu. Máu như dồn hết lên hai bên màng tang rồi rút cạn hoàn toàn khỏi gương mặt cô, để lại một vẻ trắng bệch tái mét. Nỗi ám ảnh kinh hoàng, vết thương lòng nhức nhối mà cô ngỡ như đã chôn chặt dưới đáy vực sâu của quá khứ cay đắng ở Hà Nội nay lại bị xới tung lên một cách trơ trẽn, tàn nhẫn và bỉ ổi nhất.

Đỗ Thành Vinh.

Cái tên ấy dội vang trong đầu An như một phát súng oan nghiệt. Cô nhận ra ngay cái thủ đoạn truyền thông bẩn thỉu quen thuộc này. Sau khi bị cô thẳng thừng cự tuyệt lời đề nghị mua chuộc và hợp tác bẩn thỉu tại nhà rông Kon Tum, hắn đã không ngần ngại kích hoạt ngòi nổ tống tiền mà hắn từng đe dọa cô bên bờ sông Hoài ở Hội An. Hắn muốn dùng đòn bẩn này để bẻ gãy hoàn toàn uy tín, chà đạp danh dự của cô trước khi cuốn sách của dự án và loạt bài chuyên đề trên Tạp chí Dọc Đường kịp bấm máy ra mắt công chúng.

— Tụi nó cố tình chơi đòn bẩn truyền thông, dồn dập tung hỏa mù lúc sáng sớm để làm cô hoảng loạn tinh thần đó, — Khang tiến sát lại một bước, bàn tay phải ấm áp và vững chãi của anh đặt chặt lên bờ vai đang run lên bần bật của An, ghì chặt xuống như một điểm tựa không thể lay chuyển. — Đừng để bản thân ngã quỵ, An. Tôi biết con người cô, tôi biết cô không bao giờ làm những chuyện dơ bẩn đó. Bình tĩnh lại đi.

Các đầu ngón tay của An lạnh ngắt như băng tuyết, chiếc điện thoại trơn tuột suýt rơi khỏi kẽ tay nếu Khang không kịp đỡ lấy. Hàng loạt tin nhắn đe dọa, chửi bới, nguyền rủa từ những kẻ ẩn danh trên mạng bắt đầu tràn vào trang cá nhân của cô như một trận bão tuyết mù mịt. Cảm giác bất lực, ngột ngạt và nỗi uất ức ngút ngàn dồn ứ lại khiến lồng ngực An thắt nghẹn, hai mắt cô cay xè, nước mắt chực trào ra nhưng không thể thở nổi.

Bất chợt, màn hình chiếc điện thoại trong tay Khang rung lên bần bật từng hồi dài. Một cuộc gọi thoại đường dài hiển thị tên người gọi từ Hà Nội: *Phạm Quỳnh Lam*.

An hít một hơi thật sâu, cố nuốt ngược sự hoảng loạn vào trong, run rẩy giơ ngón tay bấm nút nhận cuộc gọi rồi áp sát vào tai:

— Lam... tôi...

— An, nghe cho kỹ những gì tôi nói đây, tuyệt đối giữ bình tĩnh! — Giọng nói của Quỳnh Lam vang lên bên kia đầu dây, đanh thép, lạnh lùng, dứt khoát và sắc bén như một lưỡi dao mổ chuyên nghiệp, không hề vướng một chút bối rối hay hoang mang nào. — Tôi vừa thấy bài viết nặc danh đó xuất hiện trên các diễn đàn ẩm thực rồi. Ngay bây giờ, tắt hết mọi thông báo mạng xã hội, không được đọc bất kỳ một dòng bình luận nào của bọn dư luận viên. Tôi đã cho bộ phận kỹ thuật rà quét địa chỉ IP phát tán ban đầu, nguồn gốc xuất phát từ một công ty truyền thông vệ tinh chuyên chạy bài bẩn, đứng tên người quen thân cận của Đỗ Thành Vinh. Hắn đang cùng đường, giãy chết nên mới giở cái trò đê tiện nhất này ra.

— Lam ơi... nhưng mà... cái chữ ký trong biên bản đó... đúng là chữ ký của tôi... — Giọng An nghẹn đắng lại nơi cuống họng, nước mắt tủi nhục lã chã rơi xuống vạt áo khoác.

— Tôi biết thừa cái chữ ký chết tiệt đó từ đâu mà ra! — Lam cắt ngang lời An, âm lượng tuy hạ thấp nhưng lại chứa đựng một uy lực trấn áp tuyệt đối. — Năm xưa cô dại dột đứng ra nhận lỗi thay cho tên bếp trưởng hèn hạ vì hắn đem hoàn cảnh vợ dại con thơ bệnh tật ra quỳ lạy van xin cô gánh giùm, đúng không? Nhưng tên bếp trưởng đó và cả Đỗ Thành Vinh đã quên mất một điều cốt tử: tôi là một nhà báo điều tra gai góc, và tôi không bao giờ bỏ sót bất kỳ một kẽ hở nào trong những hồ sơ cũ mà tôi đã muốn chạm vào. Suốt một tháng qua, tôi đã âm thầm cho người lật lại toàn bộ vụ việc tại nhà hàng năm sao đó. Tôi đã thu thập đầy đủ toàn bộ hóa đơn nhập hàng thực tế có dấu mộc đỏ, chuỗi email nội bộ chỉ đạo mua hàng giá rẻ từ ban giám đốc, và bản ghi âm lời khai đầy đủ của chính nhân viên kế toán kho thời kỳ đó.

An sững sờ, cả người cô chết lặng, tiếng thở dốc nghẹn lại:

— Lam... cô... cô đã làm những chuyện đó sao?

— Tôi làm điều đó vì sự thật, và vì danh dự không thể bị vấy bẩn của Tạp chí Dọc Đường chúng ta, — Lam thở hắt ra một hơi nhẹ qua ống nghe, giọng mềm đi đôi chút nhưng vẫn ngời ngời sự kiên định. — Tên Vinh tưởng rằng hắn có tiền, có quan hệ và có vài ba cái thủ đoạn truyền thông rác rưởi là có thể bịt miệng, bóp chết một người cầm bút chân chính như cô sao? Hắn nhầm to rồi. Tôi đang hoàn thiện những trang cuối cùng của tập hồ sơ điều tra này và trong sáng nay, tôi sẽ đích thân nộp hồ sơ đối chất nội bộ lên ban biên tập, đồng thời làm việc trực tiếp với Cục An ninh mạng và Hội Nhà báo Việt Nam để xử lý hành vi bôi nhọ tống tiền có tổ chức của hắn.

Tiếng lật tài liệu sột soạt dứt khoát vang lên từ đầu dây phía Hà Nội, trước khi Lam tiếp tục bằng một mệnh lệnh đanh thép:

— Việc duy nhất của cô lúc này là ngẩng cao đầu lên, tiếp tục hành trình của Bếp Nhỏ, cầm bút và ghi chép cho thật trung thực, thật công tâm từng món ăn, từng số phận con người nơi cao nguyên. Đừng bao giờ để ngọn lửa mà chúng ta đã vất vả nhen nhóm bị dập tắt bởi mấy trò bẩn thỉu của một lũ cơ hội. Đã hiểu rõ chưa?

— Tôi... tôi hiểu rồi. Tôi cảm ơn Lam, cảm ơn cô rất nhiều... — An thốt lên trong hơi thở run rẩy, những giọt nước mắt lăn dài qua khóe môi nhưng lần này không còn là sự tủi nhục hay sợ hãi, mà là sự nhẹ nhõm và biết ơn vô hạn.

— Liệu mà giữ gìn sức khỏe cho tốt. Và nhớ chăm sóc Khang giùm tôi, coi chừng cái cổ tay của cậu ấy, đừng để cậu ấy làm việc nặng bằng tay trái nữa đó. Tôi cúp máy đây, còn nhiều việc phải thanh toán với lũ khốn đó.

Những tiếng "tút... tút... tút..." kéo dài vang lên rồi tắt lịm. An từ từ buông thõng cánh tay cầm điện thoại, đứng sững giữa gian quán nhỏ ngập tràn mùi khói bếp. Một gánh nặng nghìn cân tưởng chừng như sắp đè bẹp cả cuộc đời và lý tưởng của cô vừa được nhấc bổng khỏi đôi vai gầy guộc. Sự bảo bọc đầy kỷ luật, sắc sảo và bản lĩnh phi thường của Lam từ phương Bắc xa xôi như một bức tường thành kiên cố bằng thép, hiên ngang đứng ra che chở cho cô trước cơn cuồng phong hiểm độc của lòng người. Khang đứng sát bên cạnh, nhìn thấy đôi mắt An đã lấy lại được vẻ trong trẻo và ánh lên sự kiên định mạnh mẽ vốn có, anh khẽ mỉm cười nhẹ nhõm, kín đáo rút bàn tay phải của mình khỏi bờ vai cô.

Bên ngoài khung cửa liếp, sương mù cao nguyên bỗng cuộn trào lên từng đợt trắng xóa như những con sóng ngầm khổng lồ, tràn qua mái hiên lợp tôn thấp tè, mang theo ngọn gió lạnh thấu xương của những cánh rừng thông già ngút ngàn buốt giá.

Cô Liên từ trong góc bếp chậm rãi bước ra. Hai bàn tay thô ráp của người đàn bà vùng đất lửa cẩn thận bưng một chiếc chén sứ men viền xanh đầy ắp nước súp xíu mại đỏ rực màu ớt bột quê nhà. Khói từ chén súp bốc lên nghi ngút, thơm lừng mùi mỡ heo phi tỏi ngò, mùi tiêu sọ nồng nàn và màu xanh tươi rói của hành lá vùng cao. Cô đặt nhẹ chén súp xuống mặt bàn gỗ ngay trước mặt An, rồi khẽ đẩy chiếc chén lại gần đôi bàn tay còn vương hơi lạnh của cô gái trẻ.

Bưng chén súp bốc khói nghi ngút giữa màn sương mù buốt giá, cô Liên cười hiền:

— Đà Lạt không có quê gốc con ơi, ai đến đây chịu lạnh cùng nhau qua một mùa đông thì đều là người xứ này hết.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories