Rừng Im Lặng
Chiếc xe Bếp Nhỏ ì ạch vượt dốc đất đỏ bazan tiến vào buôn làng Kon Tum trong ráng chiều vàng vọt, khi tiếng cồng chiêng thử giọng vọng ra từ mái nhà rông cao vút giữa đại ngàn.
Bụi đất đỏ cuộn lên mù mịt sau đuôi xe, nhuộm một lớp áo màu gạch non lên biển số, phủ dày trên những chấn song cửa sổ và bám chặt vào từng góc thành xe đã bong tróc, trầy xước sau hành trình dằng dặc nối từ dải cát duyên hải Nam Trung Bộ ngược lên sườn tây dãy Trường Sơn. Cung đường đèo dốc đứng với những khúc cua tay áo hiểm trở đã vắt kiệt sức lực của cỗ máy già nua; khoang máy gầm rú từng hồi nặng nhọc, mùi dầu máy khét lẹt quyện vào luồng không khí khô hanh của cao nguyên buổi xế bóng.
Ngồi ở ghế phụ, Khang đã dứt cơn sốt mê man từ trạm xá Phan Thiết, nhưng cánh tay trái của anh vẫn còn quấn băng vải trắng toát, nẹp gỗ cố định từ khớp cổ tay ngược lên cẳng tay. Những vết thương sau ca tiểu phẫu nạo mủ áp xe vẫn còn râm ran nhức nhối dưới làn da tái xám vì mất máu, những cơn giật cục buốt nhói chạy dọc theo từng đường gân mỗi bận chiếc xe sụp phải ổ gà trên mặt đường đất lồi lõm. Song, anh vẫn kiên quyết không chịu nằm viện quá nửa ngày. Bằng bàn tay phải còn lành lặn, anh bám chặt lấy tay vịn trần xe, chốc chốc lại nghiêng đầu lắng nghe tiếng máy xe gằn lên qua từng khúc cua dốc đứng, ánh mắt điềm tĩnh và trầm lắng dõi theo từng nhịp ga, từng thao tác sang số của An.
An không nói gì về con số năm trăm triệu mà cô nghe thấy trong cơn mê sảng đứt quãng của anh đêm ở trạm xá biển. Giữa họ có một sự im lặng thấu suốt đến nao lòng—một thứ thấu cảm nhẫn nại, không cần phải mổ xẻ thành lời để làm tổn thương lòng tự trọng vốn đã chịu quá nhiều vết xước của người kia. Cô chỉ lặng lẽ giành lấy chiếc vô-lăng nặng trịch, một mình ghìm chặt tay lái suốt chặng đường đèo quanh co đưa Bếp Nhỏ leo lên cao nguyên, giữ cho xe chạy êm nhất có thể để những cú xóc nảy bất ngờ không giằng xé vào vết thương đang lên da non nơi cổ tay bạn đồng hành. Mỗi lần chuyển số, cô đều ghìm chân côn thật nhẹ, nương theo từng nhịp thở dốc của cỗ máy rệu rã lẫn nhịp thở nén đau của người đàn ông bên cạnh.
Xe vừa bò vào bãi đất trống rợp bóng cây kơ-nia cổ thụ đầu buôn, đập vào mắt họ không phải là khung cảnh thanh bình đón mùa thu hoạch như thường lệ, mà là hai chiếc xe bán tải màu đen bóng lộn đỗ chình ình chắn ngang lối lên nhà rông. Trên thân xe dán đề-can đỏ chói in logo của Công ty Truyền thông Vị Việt, nổi bật một cách kệch cỡm giữa sắc xanh trầm mặc của rừng le và sắc đỏ sẫm của đất đai xứ này. Một nhóm năm sáu thanh niên thành thị mặc áo gile đồng phục nhiều túi, vai đeo ống kính tele dài ngoằng, tay lăm lăm chân máy sợi carbon và những thanh micro định hướng bọc lông cừu xù xì đang ồn ào chỉ trỏ, chia nhau các góc chụp như thể đang chiếm lĩnh một phim trường ngoài trời.
Cạnh chiếc xe bán tải, một người đàn ông mặc sơ mi trắng đóng thùng phẳng phiu—đại diện của Vị Việt tại khu vực Tây Nguyên—đang cầm tập hồ sơ bọc bìa da bóng loáng, tươi cười bắt tay một cán bộ xã trẻ tuổi mang chiếc cặp da giả sờn mép.
— Hợp đồng đã có chữ ký nháy của xã và đóng dấu đầy đủ rồi đấy nhé các anh, — người cán bộ xã cười giòn giã, tay vỗ vỗ lên tập giấy tờ có dấu mộc đỏ chót. — Năm nay huyện có chủ trương số hóa du lịch cộng đồng, Vị Việt lại tài trợ toàn bộ kinh phí dựng rạp, đèn chiếu và âm thanh. Các anh cứ thoải mái bố trí góc máy đẹp nhất ngay giữa sàn nhà rông. Chiều nay làm lễ cúng cơm mới, sáng mai mổ heo ăn chung, đảm bảo hình ảnh lên mạng xã hội sẽ rực rỡ, hút khách cả nước. Bà con buôn mình rồi sẽ nổi tiếng khắp nơi, tha hồ bán nông sản, bán dệt thổ cẩm.
An đạp mạnh chân phanh. Chiếc Bếp Nhỏ dừng sững lại ngay sát mép cỏ dại, bụi bazan bốc lên mù mịt rồi từ từ phủ một lớp mờ ảo trước kính chắn gió. Cô và Khang nhìn nhau, cảm giác bất an lập tức dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng. Khang khẽ cau mày, bàn tay phải siết nhẹ lấy mép đệm ghế, ánh mắt anh tối sầm lại khi nhìn thấy biểu trưng của Vị Việt—cái tên gắn liền với sự săn lùng tàn nhẫn và những mưu toan thương mại hóa ký ức mà họ đã phải trốn chạy suốt dọc dải đất miền Trung.
Họ bước xuống xe. Gió rừng cao nguyên thổi thốc từng cơn lạnh buốt mang theo mùi khói thông, mùi nhựa cây ẩm mục và mùi nếp rẫy vừa gặt còn vương hương nắng gắt. Chưa kịp tiến lại gần bậc thang gỗ dẫn lên nhà rông, cánh cửa liếp đan bằng tre già trên sàn cao bỗng bật mở với một tiếng cót két khô khốc vang vọng giữa không gian.
Một bóng người cao gầy, vững chãi như cây lim rừng bước ra hiên. Đó là già làng A Xoan. Ông đã ngoài bảy mươi tuổi, mình trần khoác tấm chăn thổ cẩm thô dệt chỉ đen viền đỏ chéo ngang vai, để lộ lồng ngực săn chắc như gỗ lũa và bắp chân gân guốc trần trụi cắm chặt trên những thanh dầm gỗ kền kền. Đôi mắt già làng sâu hoắm dưới đôi mày rậm bạc trắng, sáng quắc và lạnh lẽo tựa như mắt chim đại bàng nhìn xuống bầy kền kền đang quấy nhiễu khoảng trời thanh sạch của núi rừng.
Thấy già làng xuất hiện, người đại diện Vị Việt lập tức hất hàm ra hiệu cho hai nhân viên quay phim xách máy ảnh gắn ống kính góc rộng và micro định hướng tiến lên chân cầu thang, chuẩn bị bắt trọn khoảnh khắc "chân dung nhân vật vùng cao đón tiếp đoàn công tác" theo kịch bản truyền thông đã vạch sẵn trong tập hồ sơ.
— Đứng yên ở đó! — Tiếng già A Xoan vang lên, không lớn nhưng đanh gọn như tiếng rìu bổ vào thân gỗ mun, chém toạc bầu không khí ồn ào dưới sân.
Âm vang của giọng nói khiến mấy người cầm máy quay khựng lại, ngơ ngác nhìn nhau. Anh cán bộ xã vội vã chạy lại gần chân cầu thang gỗ, ngửa mặt phân trần, giọng điệu vừa kính cẩn vừa sốt ruột:
— Già A Xoan ơi, đoàn truyền thông lớn của doanh nghiệp dưới xuôi lên đấy. Người ta có giấy giới thiệu của huyện, lại trả tiền bản quyền hình ảnh cho quỹ buôn làng mình nữa. Già cho người ta mang máy móc lên sàn nhà rông, đặt máy quay quanh mâm cúng Yang và chỗ bồ thóc thiêng, để người ta ghi hình bà con mình cúng cơm mới rồi nấu nồi canh chung. Làm thế buôn mình mới nổi tiếng, khách du lịch mới kéo về mua thổ cẩm, mua rượu cần chứ! Cả xã chỉ có buôn mình được chọn làm điểm số hóa đợt này thôi già à!
Già A Xoan nhìn trừng trừng vào bản hợp đồng in chữ điện tử phẳng lì trên tay người cán bộ xã, rồi ánh mắt sắc lạnh của ông quét qua những ống kính máy ảnh đen ngòm đang chĩa thẳng vào mặt mình như những nòng súng săn rình rập. Khuôn mặt già đanh lại, từng nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu như những vết nứt nẻ của đất bazan mùa khô hạn chưa đón giọt mưa đầu mùa.
— Con mang cái giấy có dấu đỏ ấy về nộp cho cái bàn giấy của huyện đi, — già làng gằn từng tiếng, bàn tay gân guốc chỉ thẳng xuống mặt đất đỏ dưới chân. — Giàng ban cho buôn làng ngọn lửa, ban cho hạt lúa rẫy mọc trên đồi cao qua chín tháng mưa dầm, mười tháng nắng gắt. Hôm nay gặt hạt lúa đầu tiên về, buôn làng nổi chiêng, nhóm lửa tạ ơn thần đất, thần rừng, thần lúa đã cho hạt gạo nuôi sống con người, không để người già con trẻ chết đói. Cái lễ cúng cơm mới và bữa ăn chung dưới mái nhà rông này là sự thiêng liêng giữa người trong buôn với thần linh tổ tiên. Nó không phải trò diễn xiếc ngoài chợ huyện để các người chĩa ống kính nhấp nháy, không phải thứ mang ra mua bán làm trò tiêu khiển cho thiên hạ coi!
— Già này lạ thật! Thời buổi nào rồi, giữ khư khư thì ai biết đến cái buôn này? — Tay đại diện Vị Việt bắt đầu mất kiên nhẫn, vẻ niềm nở giả tạo biến mất, giọng xẵng lại đầy vẻ trịnh thượng của kẻ nắm giữ đồng tiền. — Chúng tôi đã ký hợp đồng khai thác độc quyền hình ảnh lễ hội với đại diện xã, tiền đã giải ngân một phần. Bây giờ già cấm cửa thì ai chịu trách nhiệm đền bù hợp đồng? Đoàn chúng tôi lên đây hàng chục con người, chi phí mỗi ngày tính bằng tiền triệu, không thể vì một lời cổ hủ của già mà hủy bỏ lịch quay được!
— Đất này là đất của tổ tiên người Ba Na dựng buôn, không phải đất của cái giấy mua bán, — già A Xoan bước thêm một bước ra mép sàn gỗ, tấm chăn thổ cẩm bay phần phật trong gió chiều, giọng dứt khoát không khoan nhượng. — Ở đây, lời của già làng và tiếng chiêng của người già lớn hơn cái chữ in bằng mực của các người. Muốn quay phim, diễn trò thì đem nhau ra ngoài đồi trọc mà dựng cảnh. Còn bước chân lên bậc thang nhà rông này với cái máy móc dòm ngó kia, buôn làng sẽ nổi chiêng báo động đuổi người!
Bị từ chối thẳng thừng trước mặt hàng chục người dân trong buôn đang bắt đầu kéo ra đứng tụ tập quanh sân, nhóm nhân viên Vị Việt tức tối lùi lại, mặt mày hầm hố, xì xào chửi thề. Đúng lúc đó, tay đại diện đảo mắt quanh sân và nhìn thấy An cùng Khang đang đứng cạnh chiếc xe Bếp Nhỏ. Hắn nhận ra An ngay lập tức qua những bức ảnh hồ sơ dự án, ánh mắt hắn lóe lên vẻ đắc thắng lẫn trút giận như vừa bắt được một cái phao cứu vãn thể diện. Hắn rút vội chiếc điện thoại thông minh từ túi quần, bấm một dãy số gọi nhanh rồi nói dồn dập vào ống nghe, vừa nói vừa giơ tay chỉ trỏ về phía chiếc xe tải cũ.
Chỉ chưa đầy hai phút sau, điện thoại trong túi áo khoác của An rung lên dữ dội. Màn hình hiện lên cái tên sắc lạnh, quen thuộc đến mức chỉ nhìn thấy thôi cũng đủ gợi lên mùi vị của sự toan tính: *Đỗ Thành Vinh*.
An hít một hơi thật sâu, ngực nhói lên một nhịp buốt lạnh. Cô đưa mắt nhìn Khang; anh lặng lẽ đứng bên cạnh cô, bờ vai gầy nhưng vững chãi như một vách đá che chắn luồng gió độc từ phương xa tới. An trượt ngón tay qua màn hình, áp máy vào tai. Chưa kịp để cô mở lời chào, giọng nói lạnh tanh, gằn từng tiếng rít qua kẽ răng của Vinh đã dội thẳng vào màng nhĩ:
— Nguyễn Hoài An, cô nghe cho rõ đây. Tôi biết cô và gã thợ máy đang đứng ngay dưới sân nhà rông buôn làng Kon Tum.
— Anh cho người đến đây quấy rầy không gian thiêng của buôn làng từ bao giờ vậy, anh Vinh? — An đáp, giọng đanh thép nhưng lồng ngực vẫn đập dồn dập vì phẫn uất.
— Tôi không rảnh đôi co đạo đức với cô! — Vinh cắt ngang, âm lượng nâng lên thành một cơn cuồng nộ bị kiềm tỏa sau lớp mặt nạ doanh nhân trí thức. — Dự án phim tài liệu quảng bá văn hóa ẩm thực Tây Nguyên của Vị Việt đã được các nhà tài trợ lớn rót vốn hàng tỷ đồng. Tôi đã dùng thẩm quyền để ký hợp đồng pháp lý với chính quyền xã. Nhiệm vụ của cô, theo đúng Thỏa thuận nguyên tắc sơ bộ và khoản tiền tạm ứng cô đã cầm của tôi, là phải đảm bảo việc ghi hình diễn ra trơn tru. Bây giờ, cô lập tức lên nhà rông, dùng tư cách 'người kế thừa di sản ẩm thực' của cô để thuyết phục lão già làng kia mở cửa cho ê-kíp tác nghiệp!
— Già làng đã từ chối, — An ngắt lời, từng từ chậm rãi và rành rọt như đóng đinh vào máy. — Lễ cúng cơm mới là nghi thức tâm linh cộng đồng. Họ có quyền từ chối bị nhìn ngắm, có quyền giữ sự tôn nghiêm cho gian bếp chung của họ. Tôi không có quyền, và càng không bao giờ ép họ biến niềm tin thiêng liêng thành một màn trình diễn thương mại rẻ tiền cho Vị Việt.
Đầu dây bên kia im bặt trong một giây, chỉ còn tiếng thở dốc đầy đe dọa của Vinh rít qua sóng điện thoại. Khi tiếng nói lại vang lên, nó không còn là sự tức giận bộc phát nữa, mà mang theo sức nặng ngột ngạt, tàn nhẫn của một bản án đã được soạn sẵn:
— Cô nghĩ mình đang đứng ở vị thế nào để dạy đời tôi hả An? Cô tưởng có gã luật sư phản phúc Tạ Gia Bảo chống lưng ở vụ Phan Thiết là cô có thể tự tung tự tác à? Đọc lại Điều 8.2 trong bản thỏa thuận cô đã ký đi! Nếu hôm nay cô không ép được già làng cho phép ê-kíp ghi hình trọn vẹn lễ cúng cơm mới và bữa ăn nhà rông, ngay sáng mai, bộ phận pháp chế của tôi sẽ nộp đơn khởi kiện cô ra tòa án Hà Nội. Tôi sẽ kiện cô tội đơn phương phá vỡ cam kết độc quyền, đòi bồi thường toàn bộ kinh phí dự án lên tới hàng tỷ đồng! Và quan trọng nhất: Chiếc xe tải Bếp Nhỏ của cô, tài sản được hoán cải bằng tiền đầu tư của Vị Việt, sẽ bị công an và tòa án niêm phong tịch thu ngay tại địa bàn Kon Tum này! Để xem không có xe, gánh thêm món nợ ngập đầu, cô và thằng thợ máy què quặt của cô làm sao lết nổi về đến đất Mũi!
Từng chữ, từng câu của Vinh như những tảng đá tảng ném thẳng vào lồng ngực An. Ngực cô thắt lại, ngón tay siết chặt thân máy điện thoại đến mức các khớp xương trắng bệch ra.
Chiếc xe Bếp Nhỏ—ngôi nhà di động, gian bếp lưu giữ hộp thẻ công thức của ngoại, phương tiện duy nhất để cô đi tìm lại sự thật lịch sử bị chôn vùi—đang đứng trước nguy cơ bị tước đoạt ngay tức khắc. Mọi công sức, mọi chặng đường đèo dốc hiểm trở, những đêm thức trắng chỉnh sửa từng công thức, những giọt mồ hôi và cả máu đã đổ xuống dọc đường... chẳng lẽ sẽ chấm dứt bằng một tờ lệnh niêm phong lạnh lùng?
Và đằng sau cô, Khang đang đứng đó. Người đàn ông lầm lì với cánh tay trái còn mang nẹp gỗ, người vừa suýt mất mạng vì nhiễm trùng hoại tử ở Phan Thiết, người mà gánh nặng nửa tỷ đồng nợ nần cho gia đình vẫn còn đè nặng trên vai mà chưa một lần hé môi than vãn hay cầu xin sự thương hại. Nếu bị kiện, nếu mất xe, toàn bộ hành trình sẽ sụp đổ thành tro bụi, và Khang sẽ bị lôi tuột vào một vũng lầy pháp lý tàn khốc mà anh không hề có lỗi.
Áp lực nghẹt thở bóp nghẹt buồng phổi cô. Không khí cao nguyên loãng và lạnh dường như không đủ để cô thở.
Bỗng nhiên, một bàn tay thô ráp khẽ đặt lên vai cô.
Đó là bàn tay phải chai sần vì cờ-lê, dầu mỡ và sắt thép của Khang. Bàn tay của người thợ máy từng siết từng con ốc dưới gầm xe, từng cạy từng mẩu gỉ sét để giữ cho Bếp Nhỏ không gục ngã giữa đường trường. Một lực siết nhẹ nhưng ấm áp vô cùng, truyền qua lớp áo vải thô dày cộm, chạy thẳng vào tim An. Khang bước lên nửa bước, đứng ngang hàng với cô. Anh nhìn thẳng vào mắt An, ánh nhìn sâu thẳm không hề gợn một tia sợ hãi hay toan tính thiệt hơn, chỉ có một sự kiên định tĩnh lặng như đá tảng ngàn năm dưới lòng suối: *Đừng sợ, có tôi ở đây.*
Cái chạm tay của Khang như truyền qua An một luồng điện ấm nóng, thổi bạt đi nỗi hoang mang vừa chực dâng trào làm tê liệt lý trí cô. An nhìn lên mái nhà rông sừng sững vươn thẳng lên nền trời ráng đỏ—mái nhà nhọn hoắt như một lưỡi rìu khổng lồ dựng ngược thách thức giông bão. Cô nhìn những người phụ nữ buôn làng địu con trên lưng đang lặng lẽ gom những gùi củi khô bên hiên bếp, nhìn những đứa trẻ mắt đen láy đứng nép sau cột gỗ nhìn người lạ, và nhìn ánh mắt quắc thước đầy tự trọng của già A Xoan trên sàn cao.
Nơi này không phải là sàn diễn. Những con người này không phải là những con rối để bất kỳ ai đem tiền ra mua chuộc nụ cười hay nỗi đau của họ.
An đưa điện thoại lên ngang miệng, giọng nói của cô bỗng trở nên nhẹ bẫng nhưng dứt khoát lạ thường, từng từ bay vào ống nghe rõ mồn một:
— Anh muốn kiện thì cứ việc nộp đơn, anh Vinh. Còn chiếc xe Bếp Nhỏ, chừng nào bánh xe còn quay, nó chỉ phục vụ cho sự thật và phẩm giá của những người giữ bếp, chứ không bao giờ làm công cụ cho sự áp đặt của các anh. Hết chuyện rồi.
Không để Vinh kịp thốt thêm một lời hăm dọa nào nữa, An bấm nút đỏ dập máy, rồi nhấn giữ nút nguồn cho đến khi màn hình tắt ngấm hoàn toàn.
Cô quay sang chiếc máy quay cầm tay Sony nhỏ gọn đang đeo lủng lẳng bên hông mình—vật bất ly thân đã cùng cô ghi lại biết bao hình ảnh từ đầu hành trình đến nay. Ngón tay cô dứt khoát gạt nút nguồn về nấc *OFF*. Màn hình tinh thể lỏng tối om.
— Khang, — An nói, giọng thanh thản đến kỳ lạ, như vừa trút bỏ được một tảng đá đè nặng ngàn cân trên vai. — Thu dọn hết đi anh. Cất toàn bộ micro, máy ghi âm, chân máy vào cốp xe. Khóa kỹ lại. Hôm nay, Bếp Nhỏ không làm truyền thông.
Khang mỉm cười—nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt góc cạnh sương gió hằn sâu những nét phong trần. Anh không hỏi thêm một câu nào, chỉ khẽ gật đầu:
— Được. Cất hết.
Anh dùng một tay phải thành thạo tháo đầu bọc lọc gió bằng lông xù của chiếc micro màng lớn, cuộn dây cáp tín hiệu thành từng vòng tròn đều đặn rồi xếp cẩn thận vào chiếc hộp chống sốc chuyên dụng. An bước lại đỡ lấy chân máy kim loại, gập gọn từng khớp khóa, cùng anh khiêng tất cả đặt vào ngăn tủ đồ nghề phía sau thùng xe Bếp Nhỏ. Chiếc ổ khóa đồng nặng trịch được bấm *tách* một tiếng dứt khoát. Cánh cửa thùng xe khép lại, cắt đứt hoàn toàn mọi sự can dự của ống kính và công nghệ vào không gian của buôn làng chiều nay.
Nhóm nhân viên Vị Việt thấy thái độ dứt khoát của An, lại thấy già làng A Xoan vẫn đứng sừng sững trên sàn hiên, cùng lúc đó mấy thanh niên người Ba Na vạm vỡ mang xà gạc và nỏ săn từ các ngả đường mòn lẳng lặng tiến về quây quanh sân với ánh mắt cảnh giác, biết rõ không thể dùng áp lực hay tiền bạc để khuất phục được nữa. Gã đại diện hậm hực vung tay áo, làu bàu chửi rủa rồi hối thúc đám thợ quay thu dọn chân máy, vứt bừa bãi đồ đạc lên thùng sau chiếc bán tải. Hai cỗ xe gầm rú, nổ máy khét lẹt rồi quay đầu phóng bạt mạng ra khỏi cổng buôn, bánh xe cày xới mặt đường bazan để lại một làn khói bụi đỏ mù mịt trôi dạt vào rặng le rừng.
Khoảng sân trước nhà rông bỗng chốc trả lại sự tĩnh lặng vốn có của rừng già. Gió lại thổi qua những tán lá kơ-nia xào xạc, mang theo tiếng chim rừng hót gọi đàn về tổ trong ánh hoàng hôn tím sẫm.
An không đứng lại giữa sân để đóng vai một vị khách tội nghiệp vừa bị đe dọa, cũng không bước lên sàn nhà rông để tỏ vẻ một kẻ vừa có công xua đuổi đoàn khách phiền toái. Cô bước lại gần máng nước công cộng bằng thân tre bổ đôi dẫn nước từ mạch suối trên núi về đầu buôn. Dòng nước suối trong vắt, lạnh buốt thấu xương xối xả chảy qua bàn tay cô. An vục nước rửa sạch lớp bụi đỏ bám dày trên mặt, trên cổ và hai cánh tay mỏi nhừ sau chặng đường dài.
Cô cởi chiếc áo khoác gió dày cộm, cẩn thận xắn cao tay áo sơ mi vải thô lên quá khuỷu tay, rồi tiến thẳng về phía chòi bếp mở dựng bằng gỗ le và lợp mái tranh bên hông nhà rông—nơi những làn khói lam chiều đang bắt đầu uốn lượn bay lên, mang theo tiếng cười nói rì rầm và mùi thơm nồng đượm của những người phụ nữ Ba Na đang chuẩn bị thức ăn cho bữa ăn chung của làng.
Thấy cô gái người Kinh lạ mặt với dáng vẻ thanh mảnh bước vào chòi bếp, mấy người phụ nữ lớn tuổi có gương mặt rám nắng màu đồng hun và hàm răng nhuộm đen hơi ngập ngừng. Tiếng chày gỗ đang giã dồn dập bỗng khựng lại một nhịp. Những đôi mắt đen láy nhìn An với vẻ e dè, ngỡ ngàng.
An không nói những lời hoa mỹ hay thanh minh dài dòng. Cô chắp hai tay cúi đầu chào theo phép lịch sự mộc mạc, rồi ngồi thụp xuống bên cạnh một cô gái trạc tuổi mình đang ngồi xổm trước chiếc cối gỗ dài khoét từ thân cây rừng nguyên khối.
— Để cháu giã giúp một tay ạ, — An khẽ bảo, nở nụ cười hiền hậu, đưa hai bàn tay đón lấy chiếc chày gỗ nặng trịch từ tay người phụ nữ.
Nhịp chày ban đầu của An còn có phần gượng gạo vì chưa quen với trọng lượng của khúc gỗ lim đặc, nhưng bằng sự quen thuộc với lao động bếp núc tích lũy qua hàng chục chặng đường từ Bắc chí Nam, cô nhanh chóng bắt được nhịp điệu rộn ràng của cối giã đôi. Người phụ nữ Ba Na mỉm cười, một nụ cười hồn hậu làm bừng sáng gương mặt rám nắng, rồi nhấc chiếc chày thứ hai lên hòa nhịp cùng An.
Từng nhịp chày gỗ nện xuống lòng cối: *Thùm... thụp... thùm... thụp...* Âm thanh trầm đục vang vọng vào vách núi, nhịp nhàng như nhịp đập của trái tim đất mẹ. Dưới sức ép của những cú nện đều đặn, lớp vỏ trấu nâu vàng của những hạt nếp rẫy vừa gặt ban sáng bắt đầu nứt toác ra, để lộ những hạt gạo tròn mẩy, trắng ngà, thơm lừng hương vị thanh khiết của đất rừng nguyên sinh và sương mai cao nguyên.
Mồ hôi bắt đầu lấm tấm trên trán An, lăn dài xuống gò má, rơi cả vào lớp cám gạo mịn màng đang bốc lên mùi thơm ngai ngái ngọt ngào. Cùng lúc đó, ở góc sân bếp, Khang cũng bước đến bên đống củi gỗ kơ-nia to tướng. Không để cánh tay bị thương cản trở, anh dùng bàn chân vững chãi kẹp chặt súc gỗ dưới đất, tay phải cầm chiếc rìu cán ngắn vung lên dứt khoát. Tiếng củi nứt toác giòn giã vang lên từng hồi. Anh khéo léo gom những thanh củi khô nỏ lại thành từng bó nhỏ, ôm đến cạnh các bếp lửa, lặng lẽ tiếp thêm nhiên liệu cho các bà bếp già mà không cần ai phải cất lời nhờ vả.
Khi những mẻ gạo nếp đã được giã sạch cám, sảy sạch trấu và cho vào những chiếc chõ gỗ tròn chuẩn bị bắc lên bếp than đồ xôi, An lại ngồi bệt xuống sàn đất nện bên một bếp than hồng rực rỡ.
Trước mặt cô là một chiếc nia tre đựng đầy những quả cà đắng rẫy nhỏ chỉ bằng đầu ngón chân cái, da sọc xanh trắng xen lẫn những đốm vàng nhạt, cùng một rổ ớt hiểm rừng chỉ bé tí tẹo nhưng đỏ rực như những đốm lửa nhỏ, cay nồng đến mức chỉ cần đứng gần đã thấy sống mũi cay xè. Cạnh đó là một nia cá suối khô nhỏ bằng hai ngón tay, được sấy trên gác bếp đen nhánh mùi bồ hóng.
Một người đàn bà lớn tuổi có đôi tai đeo vòng ngà voi to bản, mái tóc hoa râm búi trễ sau gáy, đưa cho An một chiếc cối đá nhỏ sâu lòng:
— Biết ăn cà đắng không con gái? — Giọng bà trầm ấm, lơ lớ tiếng Kinh nhưng đượm tình thân thiện. — Cà này hái trên rẫy sâu tít tận đỉnh núi, đắng lắm, đắng như mật con trăn rừng vậy. Phải nướng sơ qua than hồng cho vỏ cháy xém, nứt da ra để bớt cái đắng gắt đi, rồi mới bỏ vào cối giã chung với ớt hiểm rừng, muối hột và chút cá suối khô nướng giòn. Nấu canh với đọt mây rừng hay nấu với nước luộc thịt mới ra được cái vị của buôn làng mình. Người không quen ăn vào là nhè ra liền, nhưng ăn quen rồi thì nhớ mãi, đi xa rừng là bụng cồn cào thèm cái đắng ấy.
— Cháu làm được ạ, bà cứ để cháu nướng cho, — An mỉm cười đáp lời.
Cô dùng chiếc kẹp tre gắp từng quả cà đắng rẫy xếp đều lên lớp vỉ sắt đặt trên than hồng đượm khói. Sức nóng hừng hực bốc lên làm những quả cà căng mọng bắt đầu xèo xèo tươm nước, lớp vỏ sọc xanh trắng dần dần phồng rộp, ngả sang màu xém nâu và tỏa ra một mùi khói nồng hắc rất riêng. Mùi da cà cháy xém quyện với tinh dầu của những trái ớt tươi nằm cạnh bếp bị nhiệt lượng kích thích bốc lên nồng nặc, cay xè đến thấu phổi. Khói bếp mù mịt tạt vào mặt làm khóe mắt An cay xòe, nước mắt ứa ra giàn giụa, sống mũi nghẹn lại. Nhưng cô không hề lùi lại nửa bước.
Cô lấy vạt tay áo lau vội giọt nước mắt chực trào, tiếp tục dùng kẹp tre lật trở từng quả cà thoăn thoắt. Khi lớp vỏ ngoài đã cháy sém đạt độ, An gắp từng quả thả ngay vào lòng cối đá. Cô bốc thêm một nắm ớt hiểm rừng đỏ chói, một vốc muối hột thô hạt to đục ngầu chưa qua tinh chế, cùng mấy con cá suối khô đã được nướng giòn rụm bẻ vụn.
Cầm chiếc chày đá nhỏ, An dồn lực giã mạnh. Đôi bàn tay vốn quen gọt giũa tỉ mỉ những món ăn thanh cảnh, cầu kỳ chốn đô thành giờ đây thoăn thoắt dầm nát những quả cà đắng nóng hổi cùng ớt rừng và cá suối. Từng nhát chày nện xuống làm những tép ớt vỡ tung, bắn ra mùi cay nồng xé họng; thịt cà đắng dập nát quyện chặt vào vụn cá khô và những hạt muối lạo xạo. Vị đắng gắt của nhựa cà rừng, vị cay bỏng rát của ớt hiểm, vị mặn mòi nguyên thủy của muối mỏ và vị ngọt bùi, đậm đà của cá suối khô hòa quyện vào nhau, kết thành một thứ hỗn hợp sền sệt, hoang dại, nồng nặc và mãnh liệt như chính bản chất của đất trời cao nguyên.
Ở góc bếp bên kia, chiếc nồi gang quân dụng cỡ lớn bắc trên chiếc kiềng sắt ba chân đã sôi sùng sục. Nước hầm xương thịt heo làng tỏa khói nghi ngút, sôi ùng ục thành từng đợt sóng cuộn. An bưng cối đá lại gần, dùng chiếc thìa gỗ cạo sạch toàn bộ phần cà đắng giã ớt rừng và cá khô trút thẳng vào lòng nồi nước dùng đang sôi réo.
Ngay khoảnh khắc thứ gia vị thô mộc ấy chạm vào làn nước sôi, một phản ứng diệu kỳ bùng nổ trong chòi bếp. Nồi canh bùng lên một lớp bọt trắng xóa mịn màng, kèm theo một luồng hơi nước bốc lên cuồn cuộn mang theo mùi thơm nồng nàn không thể trộn lẫn của núi rừng Tây Nguyên. Đó là một mùi hương đầy thách thức: vị cay của ớt xộc thẳng vào khứu giác làm bừng tỉnh mọi giác quan, vị đắng thoảng qua tưởng như làm tê dại đầu lưỡi người thưởng thức, nhưng ẩn sâu dưới tầng hương nồng gắt ấy là một hậu vị ngọt thanh khiết, bền bỉ và thuần hậu lạ lùng, như dòng nước ngọt lành giấu mình dưới tầng đất đá bazan khô cằn.
Bà cụ ngà voi nhìn An, đôi mắt nheo lại hài lòng:
— Giỏi lắm con gái. Đôi tay này biết nghe lời của lửa, biết cái bụng của cối đá rồi đấy.
Trời tối hẳn từ lúc nào không hay. Màn đêm cao nguyên buông xuống nhanh như một tấm thổ cẩm đen tuyền trùm kín buôn làng. Ngọn lửa thiêng giữa sàn nhà rông được nhen lên bằng những thân củi kơ-nia đại thụ, ánh lửa đỏ rực bập bùng nhảy múa, soi sáng những cây cột gỗ đồ sộ bóng loáng dấu vết thời gian qua hàng trăm mùa mưa nắng.
Tiếng cồng chiêng chính thức nổi lên. Không phải thứ âm thanh phát ra từ những chiếc loa công suất lớn của đoàn truyền thông, mà là tiếng kim loại trầm hùng, vang vọng từ dàn chiêng cổ của làng. Nhịp chiêng khoan thai, sâu thẳm, rền rĩ như tiếng sấm từ lòng đất mẹ dội lên, dẫn dắt toàn thể dân làng—từ những cụ già tóc bạc phơ chống gậy đến những em bé còn ẵm ngửa trên lưng mẹ—lặng lẽ bước vào nghi thức cúng cơm mới.
Không có bất kỳ ánh đèn flash chói lóa nào xé toạc không gian. Không có bất kỳ chiếc micro định hướng hay ống kính tele nào chĩa vào khuôn mặt nghiêm cẩn của thầy cúng. Không gian thiêng liêng được bao bọc trọn vẹn trong màn đêm huyền ảo, trong tiếng thì thầm khấn nguyện trầm bổng của già A Xoan dâng lên Giàng hạt lúa đầu mùa bên bồ thóc thiêng, và mùi hương thơm ngát của nếp rẫy mới chín quyện trong làn khói thông lãng đãng bay lượn quanh những thanh xà gồ chạm khắc hình chim chơ-rao.
Ở nơi này, ranh giới giữa cõi người và cõi thần linh dường như chỉ cách nhau một làn khói mỏng. Nghi thức diễn ra không phải để phô diễn cho người khác tán thưởng, mà là sự đối thoại thầm kín, run rẩy và đầy lòng biết ơn của những phận người nhỏ bé trước thiên nhiên hùng vĩ bao la.
Khi nghi thức tâm linh khép lại, già làng vung tay ra hiệu, bữa ăn chung của buôn làng chính thức bắt đầu.
Mọi người quây quần ngồi bệt bên nhau trên mặt sàn gỗ kền kền mát rượi, không phân biệt già trẻ, gái trai. Những chiếc gùi nhỏ đựng đầy những nắm xôi nếp rẫy dẻo quánh, nóng hổi được chuyền tay nhau đi khắp lượt. Những chiếc bát sành mộc mạc chan đầy canh cà đắng bốc khói nghi ngút được truyền từ tay người này sang người khác.
An và Khang ngồi khiêm nhường ở một góc sàn gần cửa bếp cùng những người phụ nữ vừa cùng làm việc suốt buổi chiều. Một người phụ nữ Ba Na đưa cho An một bát canh đầy ắp cà đắng và cá suối, rồi quay sang đưa cho Khang một nắm xôi nếp thơm phức gói trong tấm lá dong rừng. Họ đón nhận bát canh và nắm xôi không phải với tư cách của những vị khách du lịch hiếu kỳ đến để thưởng thức đặc sản, càng không phải những kẻ đứng ngoài phán xét hay ghi chép tư liệu, mà như những người vừa cùng chia sẻ một nhịp lao động nhọc nhằn, cùng đổ mồ hôi bên cối giã và cùng hít thở luồng khói cay xè của bếp lửa.
An bưng bát canh lên sát môi, thổi nhẹ lớp mỡ mỏng trên mặt rồi húp một ngụm nhỏ.
Vị đắng đầu tiên ập vào đầu lưỡi làm toàn bộ cơ miệng cô thắt lại—một vị đắng ngằn ngặt, hoang sơ và trần trụi. Ngay sau đó là vị cay bỏng cháy của ớt hiểm rừng nổ tung nơi vòm họng, khiến mồ hôi trên trán cô lập tức rịn ra. Nhưng chỉ một giây sau, khi ngụm canh trôi qua cuống họng, vị đắng bỗng chốc tan biến kỳ lạ, nhường chỗ cho một hậu vị ngọt lịm, đậm đà của thịt cá suối và nước hầm xương. Một luồng hơi ấm sực lan tỏa khắp lồng ngực, xua tan hoàn toàn cái lạnh buốt thấu xương của gió rừng cao nguyên đang rít từng cơn ngoài vách liếp.
Bên cạnh cô, Khang cũng đang lặng lẽ nhai từng hạt nếp rẫy ngọt bùi, nhấp từng thìa canh cà đắng. Sắc mặt anh đã hồng hào trở lại dưới ánh lửa bập bùng, đôi mày giãn ra, và nơi khóe môi phảng phất một nét bình an hiếm thấy sau những ngày dài căng thẳng trốn chạy.
Ăn xong ngụm canh cuối cùng, khi người làng bắt đầu cất lên những điệu hát dân ca êm đềm bên ché rượu cần đặt giữa sàn, An thấy một bóng người cao lớn chậm rãi tiến lại gần.
Già A Xoan bước đến, tấm chăn thổ cẩm buông lơi một bên vai. Ông không nói gì, chỉ lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh cô bên bếp than lúc này chỉ còn ngùn ngụt những đốm lửa đỏ âm ỉ.
Ánh lửa bập bùng hắt lên gương mặt khắc khổ, vuông vức của già làng, soi rõ từng vết chân chim sâu thẳm như những rãnh cày trên nương rẫy. Ông đưa mắt nhìn đôi bàn tay của An—những ngón tay gầy còn vương vệt nhựa cà đắng thâm đen nơi kẽ móng và dính những vệt cám gạo nếp mịn màng chưa rửa hết. Rồi ông nhìn sang cánh tay trái quấn băng vải trắng toát và nẹp gỗ của Khang. Ánh mắt già A Xoan lúc này không còn vẻ sắc lạnh, dữ dội như lúc đứng ở đầu cầu thang nhà rông nữa, mà đã dịu lại hoàn toàn, đượm vẻ bao dung, che chở của một người già cả đời nếm trải phong ba bão táp và nhìn thấu mọi sự giả trá ở đời.
— Bàn tay biết giã gạo, biết nướng cà đắng trên tro hồng là bàn tay của người biết thương hạt lúa, — già A Xoan nói chậm rãi, giọng ông trầm ấm và ngân vang như tiếng gió thổi qua thung lũng sâu. — Lúc chiều, già thấy con tắt cái máy dòm ngó kia đi. Con không ép buôn làng này mở cửa cho cái đám buôn bán hình ảnh. Cái bụng của con tốt, không có con sâu tham lam như người ta.
An cúi đầu, giọng khẽ khàng:
— Thưa già, có những điều thuộc về sự tôn nghiêm của buôn làng, không ai có quyền mang ra làm trò mua vui hay kiếm chác cả. Cháu chỉ làm điều mà một người nấu bếp chân chính phải làm thôi ạ.
Già A Xoan khẽ gật đầu. Ông thở dài một tiếng thật nhẹ, ánh mắt nhìn sâu vào đống than hồng như đang tìm kiếm một mảnh ký ức đã ngủ yên dưới lớp tro tàn của nửa thế kỷ. Từ từ, ông đưa bàn tay gân guốc vào vạt chăn thổ cẩm thô dệt trước ngực, lần tìm một hồi rồi lấy ra một vật nhỏ.
Đó là một chiếc vòng đồng cũ kỹ.
Chiếc vòng được uốn thủ công khá thô sơ từ một thanh đồng đặc, qua năm tháng dằng dặc đã ngả sang màu xỉn tối, lấm tấm những vết oxy hóa màu xanh gỉ đồng và những vết xước dọc ngang chằng chịt. Nhưng kỳ lạ thay, toàn bộ phần mép trong áp vào cổ tay lại nhẵn thín, bóng loáng vì đã cọ xát với da thịt con người qua biết bao mùa nương rẫy, biết bao mùa hạn hán và mưa dầm.
Già A Xoan mở rộng lòng bàn tay, đưa chiếc vòng ra trước ngọn lửa. Dưới ánh than hồng rực rỡ, An bàng hoàng nhận ra trên thân vòng, ai đó từng dùng đầu dao nhọn khắc tỉ mỉ một hình cành lá nhỏ đan chéo nhau—vết khắc mộc mạc, run rẩy nhưng đường nét thanh thoát quen thuộc đến mức khiến tim cô thắt nghẹn lại từng cơn.
Đó chính là ký hiệu chiếc lá cách điệu mà bà ngoại Mùi vẫn thường dùng mũi dao khía lên đáy những chiếc muôi gỗ, những chiếc hộp gia vị bằng thiếc trong gian bếp cũ ở Hà Nội!
— Năm một chín bảy tư, — già A Xoan nói chậm rãi, giọng nghẹn lại trong làn khói thông mờ ảo. — Cơn bão chiến tranh quét qua rặng núi này tàn khốc lắm. Có một đoàn quân nhu ngoài Bắc ghé qua buôn này trong chiến dịch mở đường. Trong đoàn ấy có một cô gái nuôi quân người gầy gò, nước da xanh xao vì sốt rét rừng nhưng đôi mắt sáng và cương nghị lắm, tên là Mùi. Buôn làng lúc ấy khổ cực trăm bề, giặc rải chất độc rụng sạch lá rừng, nương lúa rẫy cháy khô trơ gốc, người trong buôn đứt muối hàng mấy tháng ròng, người già con nít nằm sốt rét co quắp trên sàn le, miệng đắng ngắt không nuốt nổi hớp nước suối.
Già A Xoan dừng lại một nhịp, đôi mắt già nheo lại nhìn vào khoảng không vô định:
— Cô Mùi ấy thấy dân làng kiệt sức, thương binh nằm rên xiết vì đói lả, đã không quản hiểm nguy, thức trắng ba đêm cùng phụ nữ trong buôn lội vào tận vách đá hiểm trở sâu trong rừng le, hái từng quả cà đắng dại đem về. Chính cô ấy đã dạy phụ nữ buôn làng cách nướng cà trên tro nóng cho bớt chất độc, bớt vị đắng gắt, rồi đem giã nát với ớt rừng hiểm và vài hạt muối tiết kiệm được từ kho quân nhu để nấu thành những nồi canh nóng hổi giữ ấm bụng cho bộ đội và dân làng qua cơn thắt ngặt sinh tử. Nồi canh cà đắng năm đó đã cứu sống buôn làng này qua nạn đói năm ấy.
Già làng đưa mắt nhìn chiếc vòng đồng trong tay, ngón tay cái vuốt ve vết khắc hình cành lá nhỏ:
— Khi đơn vị nhận lệnh hành quân gấp đi tiếp về hướng Nam, buôn làng không có gì tiễn biệt ngoài mấy gùi củ mài và nắm ớt khô. Cô Mùi đã tháo chiếc vòng đồng này trên cổ tay mình, trao lại cho mẹ của già làng để làm tin. Cô ấy bảo rằng món nợ ân tình giữa người dưới xuôi với đồng bào Tây Nguyên nặng như hòn đá núi, sau này hòa bình, ai cầm kỷ vật có hình chiếc lá này quay lại, buôn làng hãy xem như người ruột thịt trở về nhà...
Ngực An nghẹn đắng lại, một luồng hơi nóng dâng trào làm sống mũi cô cay xè, hai mắt nhòa đi vì những giọt nước mắt không thể kìm nén. Cô run rẩy xòe hai bàn tay đón lấy chiếc vòng đồng từ tay già làng.
Kim loại cũ kỹ chạm vào da thịt cô, lạnh buốt lúc ban đầu rồi rất nhanh chóng hút lấy hơi ấm từ lòng bàn tay cô mà ấm dần lên.
Ngoại Mùi. Lại là những bước chân câm lặng, nhẫn nại của ngoại trên dải đất đau thương này. Suốt bao nhiêu năm sống bên cạnh ngoại, An chỉ biết đến một người bà hiền từ với những món ăn thanh nhã, tinh tế đất Tràng An. Cô chưa bao giờ thấu hiểu hết những năm tháng thanh xuân khốc liệt mà ngoại đã đi qua giữa bom đạn Trường Sơn, nơi mà mỗi món ăn sinh ra từ sự thiếu thốn cùng cực không phải để làm đẹp cho những cuốn sách ảnh, không phải để tán tụng trên những thước phim hào nhoáng, mà là phương tiện sống còn, là sợi dây níu giữ mạng sống của con người qua bão lửa chiến tranh.
Chiếc vòng đồng trên tay cô lúc này nặng tựa ngàn cân. Nó là minh chứng cho một thứ di sản không thể định giá bằng tiền của Đỗ Thành Vinh, không thể đo đếm bằng những bản hợp đồng tài trợ béo bở hay những cú nhấp chuột trên không gian mạng.
Già làng nhìn An hồi lâu, bàn tay thô ráp của ông khẽ vỗ lên vai cô ba cái thật nhẹ, rồi ông quay mặt nhìn ra khoảng tối mênh mông của đại ngàn bên ngoài khung cửa nhà rông—nơi những ngọn gió rừng vẫn đang miệt mài thổi qua ngàn năm hoang sơ.
An hít một hơi sâu, lau khô nước mắt. Cô với tay lấy chiếc ba lô con cóc đặt cạnh chân cột gỗ, cẩn thận mở khóa kéo rút ra chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ—vật báu duy nhất chứa đựng hành trình tìm về cội nguồn của cô.
Dưới ánh lửa bập bùng của bếp than, An mở nắp hộp, rút tấm thẻ số 21 ra đặt lên mặt phẳng của chiếc nẹp gỗ trên tay Khang. Khang khẽ mỉm cười, giữ yên cánh tay bị thương làm giá đỡ vững chắc cho cô.
Cầm cây bút mực trên tay, nhìn hàng chữ in tiêu đề quen thuộc: *"Thẻ số 21: Lễ cúng cơm mới và Canh cà đắng buôn làng Bắc Tây Nguyên"*, ngón tay An khẽ run lên.
Bên dưới tiêu đề, ở phần dành riêng để ghi chép quy trình nghi thức cúng Yang, những bài khấn cổ truyền của già làng, và các bước diễn tiến chi tiết của lễ thức tâm linh dưới mái nhà rông, An dừng bút lại.
Cô không đặt bút viết bất kỳ một chữ nào vào phần đó.
Cô cố tình để trống hoàn toàn toàn bộ nửa trang giấy trắng tinh. Khoảng trống ấy phẳng lặng, trinh bạch và nguyên vẹn dưới ánh lửa, như một sự phủ định dứt khoát đối với lòng tham lam muốn thấu thị mọi bí mật văn hóa, như một lời thề danh dự của một người cầm bút trước không gian thiêng liêng của cộng đồng.
Bên dưới khoảng trống thiêng liêng ấy, nơi dành cho phần công thức ẩm thực dân gian, An nắn nót ghi lại từng dòng mực tím giản dị, chân phương:
*"Canh cà đắng giã ớt rừng: Cà đắng hái rẫy nướng sơ trên than hồng để dịu vị gắt; ớt hiểm rừng cay xé giã nhuyễn cùng muối hột và cá suối khô. Nấu trên than củi kơ-nia, ăn cùng nếp rẫy giã tay mùa gặt.* *Ghi chú đạo đức: Có những nghi thức thuộc về thần linh và linh hồn của buôn làng, sinh ra từ lòng biết ơn và sự sinh tồn qua giông bão. Không có bất kỳ thước phim hay dòng chữ nào được phép xâm phạm không gian ấy. Khoảng trống này được để lại như một sự tôn trọng tuyệt đối đối với quyền được im lặng và quyền không bị nhìn ngắm của những người giữ bếp đại ngàn."*
Dòng mực tím vừa ráo trên mặt giấy, An cẩn thận khép cuốn sổ lại. Cô đặt tấm thẻ số 21 cùng chiếc vòng đồng kỷ vật năm 1974 vào lại lòng chiếc hộp gỗ mun, nhẹ nhàng đậy nắp lại. Tiếng khóa đồng vang lên một tiếng *cạch* nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát giữa đêm khuya thanh vắng, chốt chặt lại một giao ước vô hình giữa quá khứ và hiện tại.
Bên bếp lửa nhà rông ngút khói thông, già làng A Xoan vẫn ngồi trầm ngâm như một pho tượng đá tạc giữa rừng già. Bàn tay gân guốc của ông vỗ nhẹ lên vai An một lần nữa, giọng trầm ấm tan vào tiếng nổ lách tách của tàn tro:
— Có những cái đẹp chỉ thần linh và người trong buôn thấy được thôi. Đem bán cho thiên hạ coi, làng này sẽ mất hồn.