Không ai được quyết định hộ
Trước mặt sáu thành viên tàu Chim Vá và năm người thợ trạm Ngọn Đèn Hai, Vân dán bản phân tích nồng độ khí máu và nhịp tim của Tín lên vách cabin kim loại lạnh ngắt.
Mặt giấy cảm nhiệt mỏng tanh dính hờ hững dưới vệt băng keo vải xám xịt đã sờn mép. Hơi nước ngưng tụ trên vách hợp kim cùng bụi quặng lơ lửng khiến rìa giấy quăn queo, rộp lên từng mảng ố vàng. Trên dải nền nhợt nhạt ấy, những đường đồ thị điện tim răng cưa xiên xẹo in bằng vệt than đen đúa trượt dài xuống tận mép dưới, liên tục gãy gập ở những đoạn nhịp ngoại tâm thu dồn dập thất thường. Từng con số do máy đo dã chiến lập lòe quét ra không mang chút hơi ấm nào, chỉ trần trụi phơi bày tình trạng kiệt quệ của một cơ thể sinh học đang đi đến bờ vực suy sụp giữa môi trường chân không ngoài rìa hành tinh Nham.
Trong khoang trú ngụ chật chội vừa được An đấu nối ống thông khí tạm thời, tiếng quạt gió từ chiếc mô-tơ bơm nước tám mươi oát vẫn rù rù chạy đều, phả ra từng luồng khí ẩm lợ lợ nồng nặc mùi ozon, mồ hôi lưu cữu và rỉ đồng mục ải. Mười một con người chen chúc trong khoảng không gian chưa đầy mười lăm mét khối, bả vai người này tì sát vào xương ức người kia, đầu gối thúc vào đầu gối theo từng nhịp lắc lư vi trọng lực. Ánh sáng vàng vọt tù mù từ ngọn đèn pin treo trên thanh giằng xà trần quét qua những khuôn mặt xám ngoét vì ngộ độc thán khí tích tụ suốt nhiều ngày đêm. Lớp da dưới mắt ai nấy đều thâm quầng, khô ráp, lỗ chân lông bám đầy những hạt mạt đá mịn như bột tro hỏa táng.
Vân dùng đầu ngón tay gõ mạnh lên biểu đồ, tiếng cắc đanh gọn cắt đứt tiếng thở khò khè nặng nhọc của những buồng phổi đang gắng gượng vét từng ngụm khí:
"Phân áp oxy trong máu động mạch của anh Tín đã tụt xuống dưới năm mươi lăm milimét thủy ngân. Nồng độ thán khí hòa tan vượt ngưỡng bốn mươi tám. Cả hai đáy phổi đều xuất hiện tiếng rít ẩm và tiếng ran nổ li ti—dấu hiệu lâm sàng không thể chối cãi của phù phổi mô kẽ do thiếu dưỡng khí cục bộ kéo dài. Trái tim anh ấy đang phải đập bù với tần số một trăm bốn mươi nhịp mỗi phút giữa điều kiện áp suất chỉ bằng bảy phần mười khí quyển tiêu chuẩn."
Vân xoay hẳn người lại, ánh mắt nghiêm khắc của một y tá công trường mỏ dán chặt vào khuôn mặt trũng sâu của Hoàng Tín. Ánh nhìn ấy sắc lẹm, không dung thứ cho bất kỳ sự lảng tránh hay nhượng bộ nào:
"Anh đã làm gì suốt ba ngày qua, anh Tín? Anh tự tay vặn van tiết lưu của bình thở cá nhân xuống dưới bốn mươi phần trăm định mức tối thiểu. Anh nhường hơn một nửa hạn ngạch dưỡng khí của mình cho những người khác trong ca trực. Lồng ngực anh không phải bằng thép tôi, và cơ tim của anh thì sắp chạm ngưỡng suy cấp không hồi phục rồi. Còn người này..."
Vân đổi hướng chỉ tay sang góc sàn kim loại bên dưới tủ đựng ắc-quy. Ở đó, Văn—người thợ máy trẻ nhất đội bảo trì trạm—đang nằm co quắp trên tấm đệm xốp cách nhiệt đã rách toạc lớp vỏ bọc bằng sợi thủy tinh. Cậu thợ trẻ thở hắt ra từng cơn đứt quãng, lồng ngực gầy guộc nhô lên hụp xuống theo từng nhịp co thắt giật cục tựa như một chiếc bễ lò rèn rách mép.
"Văn bị hen phế quản mãn tính do hít phải bụi mỏ silicat từ các xưởng nghiền quặng dưới lòng đất. Màng lọc Venturi mà An vừa chế tạo chỉ giải quyết được việc cuốn bớt thán khí tù hãm trong không gian kín, chứ không tài nào loại bỏ hoàn toàn các hạt quặng mang điện tích siêu mịn đang lơ lửng trong không khí trạm. Đôi phổi của cậu ấy đã bắt đầu viêm xuất tiết nặng nề. Nếu tiếp tục ở lại khoang trú ngụ ẩm thấp này thêm hai mươi tư giờ nữa, dịch phế nang sẽ làm cậu ấy ngạt thở ngay trên tấm đệm này, bất kể cái bơm kia có chạy gầm rú hết công suất hay không."
Khoang thép rơi sầm vào một khoảng lặng chết chóc. Không ai mở miệng. Chỉ có tiếng kim loại co giãn lách tách từ tháp laser ngoài chân trạm truyền qua lớp vỏ kép, nghe rợn người như tiếng xương khớp bị vặn gãy trong đêm lạnh.
Hoàng Tín ngồi tựa lưng vào mép tủ dụng cụ bằng tôn dập. Hai bàn tay thô ráp đầy sẹo sần sùi bám chặt lấy đai giằng kim loại để ghìm cơ thể không bị trôi nổi tự do trong trường vi trọng lực yếu ớt. Đôi môi anh thâm tím, nhợt nhạt như chì, khóe mắt sâu hoắm vằn lên những tia máu đỏ ngầu vỡ vụn vì thiếu ngủ và ngạt khí. Thế nhưng quai hàm bạnh ra của người thợ già vẫn giữ nguyên vẻ bướng bỉnh quen thuộc của kẻ quen sống đời công nhật nơi rìa chết chóc:
"Tôi không lên tàu."
Giọng Tín khàn đặc, nghẽn lại ở cuống họng, mỗi một thanh âm bật ra đều kéo theo một cơn rùng mình run rẩy nơi cơ hoành:
"Thằng Văn phải đi, chuyện đó không cần phải đem ra bàn cãi hay biểu quyết gì hết. Nó mới hai mươi tuổi, cuống phổi nó chưa hóa sừng như cánh thợ già bọn tôi. Nhưng tôi là đội trưởng ca bảo trì trạm Ngọn Đèn Hai. Tôi hiểu rõ từng con ốc, từng khớp nối đòn bẩy cơ học, từng rơ-le ngắt mạch của cái tháp phát này hơn bất kỳ đứa nào ở đây. Tàu Chim Vá chỉ là con tàu kéo hạng nhẹ, tải trọng sinh tồn có hạn mức ngặt nghèo. Các người vừa mất đứt bốn mươi lít nước ngọt ở khoang đáy, dầm chịu lực thì nứt toác chưa biết lành gãy ra sao. Rước thêm cái xác già này lên, các người lấy cái gì để nuôi sống cả đội khi lao qua Hành Lang Lửa? Để chỗ trống đó cho đứa khác. Thằng Sang hoặc thằng Hùng, chúng nó còn trẻ, gân cốt còn dẻo dai, tay chân không run, đưa chúng nó về Hạ Lam còn cày cuốc được khối việc dưới các xưởng cơ khí ngầm."
"Anh im miệng đi, Tín."
Nguyễn Minh An cất tiếng ngắt lời. Giọng anh không cao, không gắt gỏng, nhưng nặng trịch và đanh thép như tiếng búa tạ giáng thẳng xuống đe sắt lạnh. Bàn tay phải của An vẫn quấn băng vải trắng dính bết những vệt mỡ máy đen sì và vụn mạt kim loại; các đầu ngón tay sưng húp, buốt nhói sau nhiều giờ gò uốn ống Venturi và siết bu-lông chân tiếp địa. Anh bước lên nửa bước, đế ủng hít chặt vào mặt sàn grating, mắt nhìn xoáy thẳng vào người đội trưởng bảo trì đang gồng cứng cơ thể để đóng vai một kẻ tử vì đạo đơn độc:
"Nguyên tắc cứu hộ không phải là trò bốc thăm may rủi xem ai xứng đáng chết hơn ai, và nơi này càng không phải là chỗ để phô diễn sự hy sinh mù quáng. Ba ngày trước, ngay dưới lòng sàn xưởng ngầm Hạ Lam, tôi cũng từng ngu xuẩn nghĩ rằng mình có thể tự gánh hết mọi rủi ro trên vai. Tôi đã giấu nhẹm vết nứt chết tiệt trên dầm số hai chỉ để Chim Vá kịp giờ rời bệ phóng. Kết quả đổi lại là gì? Suýt chút nữa cả con tàu đã vỡ vụn thành phế liệu ở Khe Hẹp số Bốn. Tôi suýt nữa đã kéo theo năm sinh mạng khác chôn vùi trong Vành Đai Bụi chỉ vì thói ngạo mạn muốn làm anh hùng một mình."
An quét mắt nhìn một lượt năm người thợ trạm Hai, ánh mắt dừng lại nơi ba người thợ còn lại đang ngồi co cụm ở góc vách hoen rỉ:
"Một quyết định cứu hộ đúng đắn phải dựa trên xác suất sinh tồn lạnh lùng của số liệu kỹ thuật, và trên hết, là quyền được biết toàn bộ sự thật của tất cả những con người đang có mặt ở đây. Không ai trên con tàu này, kể cả tôi, và dứt khoát không phải anh, Tín, có quyền tự tiện quyết định hộ mạng sống của người khác. Hiện trạng của trạm lúc này hoàn toàn minh bạch: Ngọn Đèn Hai đã được lắp đặt bộ điều khiển logic cơ học số hai, cụm quạt tản nhiệt ly tâm năm trăm oát đã được trả về bệ laser để sẵn sàng đánh mồi khi hệ thống điện kích hoạt. Khoang trú ngụ này hiện tại đã có vòng tuần hoàn Venturi chạy bằng mô-tơ bơm tám mươi oát. Nó không thể nào hoàn hảo như trạm lọc trung tâm của nghiệp đoàn, nhưng nó tạo đủ chênh áp cơ học để gom thán khí tồn dư và giữ nồng độ CO2 dưới mức một phần trăm thể tích cho tối đa ba người khỏe mạnh cầm cự trong mười ngày, với điều kiện họ có đủ ắc-quy và khẩu phần ăn khô."
Đỗ Linh từ cửa hầm nối bước vào bên trong, tay ôm chặt cuốn sổ ghi chép điện tử bọc khung thép gỉ. Cô dùng ngón tay đẩy nhẹ gọng kính cận đã trầy xước, rồi cất giọng thông báo. Thanh âm của cô chuẩn xác, phẳng lặng và đều đặn đến tàn nhẫn, nhưng từng âm tiết rành rọt như một bản cáo trạng kỹ thuật:
"Tôi đã chạy mô phỏng tải trọng trao đổi chất trên hệ thống tái tạo của Chim Vá. Nếu nhồi nhét cả năm người của trạm Hai lên tàu, lượng thán khí vượt ngưỡng sẽ làm các khay hấp phụ lithium hydroxide của chúng ta bão hòa hoàn toàn chỉ sau hai mươi giờ bay. Tất cả sẽ chết ngạt tập thể vì trúng độc carbonic trước khi con tàu tiếp cận được Ngọn Đèn Ba. Nhưng nếu hai người có chỉ số sinh tồn nguy kịch nhất—là anh Tín và Văn—được chuyển sang cáng y tế của Chim Vá, trong khi ba người còn lại tiếp tục bám trụ tại trạm này, thì biên độ cân bằng khí quyển của cả hai bên đều sẽ nằm vừa khít bên trong giới hạn an toàn tối thiểu. Ba người ở lại sẽ không bị ngạt thở. Nhưng bù lại, họ sẽ phải đối mặt với sự cô độc tuyệt đối, cái lạnh âm độ và bụi quặng tích tụ trong ít nhất bảy đến mười ngày, chờ cho đến khi tàu kéo của nghiệp đoàn hoặc đội di tản từ Hạ Lam đến tiếp quản."
Linh ngước mắt nhìn thẳng vào ba người thợ bảo trì: Sang, Hùng và người thợ già tên Cảnh.
"Các anh có quyền nắm rõ sự thật trần trụi này: ở lại trạm là một canh bạc khắc nghiệt, nhưng cơ hội sống sót thực tế của các anh là bảy mươi phần trăm. Còn nếu Tín và Văn tiếp tục nằm lại đây, cơ hội sống sót của hai người họ sau hai mươi tư giờ tới bằng không. Bây giờ, quyền lựa chọn thuộc về chính các anh."
Một sự tĩnh lặng nặng nề bao trùm lấy khoang trú ngụ. Không khí dường như đông đặc lại quánh đặc như keo dán công nghiệp. Bụi quặng silicat vẫn lập lòe lơ lửng dưới chùm sáng đèn pin, bám thành từng mảng mốc trắng trên những vệt mồ hôi đã khô cứng nơi thái dương và gò má của những người thợ mỏ.
Tín mấp máy bờ môi nứt nẻ định lên tiếng phản bác, nhưng Sang—người thợ có vóc dáng gầy gò, đôi cánh tay dài khẳng khiu vốn quen nghề kéo cáp giằng ngoài khoảng không—đã đưa bàn tay thô nhám chặn ngang ngực đội trưởng.
"Đội trưởng, im đi. Để anh em chúng tôi tự định đoạt."
Sang lục lọi trong túi áo bảo hộ dày cộm, rút ra một mẩu than chì đã gãy đôi và một mẩu giấy bạc bọc khẩu phần ăn quân nhu đã được vuốt phẳng phiu từ lâu. Bằng những ngón tay chai sạn, anh cẩn thận xé mẩu giấy bạc thành năm mảnh nhỏ bằng đốt ngón tay, chuyền từng mảnh cho bốn người đồng đội của mình.
"Bỏ phiếu kín theo kiểu cánh thợ mỏ. Đánh dấu chéo là chấp nhận ở lại giữ trạm. Để giấy trắng là muốn bước lên tàu Chim Vá. Không ai được liếc mắt nhìn giấy của người khác. Và tuyệt đối không ai có quyền ép buộc ai phải hy sinh."
Năm người thợ bảo trì đồng loạt xoay lưng lại với nhau. Họ tựa vai vào vách thép đang rung bần bật theo nhịp mô-tơ, cúi gập người, cặm cụi dùng mẩu than chì gập mảnh giấy nhỏ trong lòng bàn tay thô kệch. Tiếng giấy bạc sột soạt rất khẽ hòa lẫn với tiếng rít gió đều đặn của miệng hút Venturi và tiếng van xả áp lách tách.
Trần Kha đứng tựa lưng vào khung cửa vòm ngăn cách khoang, lặng lẽ quan sát từng cử động run rẩy của những ngón tay gầy guộc kia. Bàn tay ông vô thức thọc sâu vào túi áo khoác phi hành, ngón tay vân vê thân kim loại lạnh ngắt của chiếc bật lửa rỗng ruột từ lâu đã cạn sạch đá lửa. Kha hiểu quá rõ cái cảm giác nghẹn đắng khi phải bỏ lại ai đó trơ trọi giữa khoảng không đen ngòm này. Bốn năm về trước, trong những đợt càn quét phế liệu trái phép ngoài vành đai vụn vỡ, ông từng tận mắt chứng kiến những người đồng đội phải phóng dù thoát hiểm khẩn cấp vì tàu mẹ cạn sạch nhiên liệu phản lực, để lại sau lưng những khoang chở hàng rỗng không trôi dạt vào cõi vô định. Nhưng lần này thì khác hẳn. Ở đây không có sự lọc lừa, không có những khẩu hiệu rỗng tuếch hay những lời hứa hão huyền về lòng quả cảm. Nơi này chỉ có những mẩu giấy bạc nhăn nhúm đang mang trên mình toàn bộ sức nặng của mạng sống con người.
Hai phút sau, Sang thu gom năm mảnh giấy bạc đã gấp tư vào chiếc mũ bảo hộ bằng nhựa composite cũ kỹ. Anh quỳ một chân xuống sàn grating, mở từng nếp gấp trước sự chứng kiến của mười một con người.
Bốn dấu chéo đen đúa bằng than chì. Một mảnh giấy duy nhất hoàn toàn để trắng.
Mảnh giấy trắng thuộc về Văn. Cậu thợ trẻ đang nằm co giật bên góc sàn, ho rũ rượi từng cơn sặc sụa, nước mắt ròng ròng chảy qua hai gò má xám ngoét vì đôi bàn tay đã co quắp không thể nào cầm nổi mẩu than chì. Điều khiến lồng ngực An thắt lại là cả ba người thợ lành lặn—Sang, Hùng, bác Cảnh—và chính bản thân Hoàng Tín, đều đã dứt khoát vạch lên mảnh giấy của mình một dấu chéo nhận phần ở lại.
Bác Cảnh—người thợ già nhất nhóm với mái tóc hoa râm bết chặt vào vầng trán nhăn nheo—đưa bàn tay to bè vỗ mạnh một cái thật đau lên bả vai trơ xương của Hoàng Tín:
"Mày thấy chưa hả Tín? Cả ba thằng già trẻ bọn tao đều gạch chéo ở lại. Cái trạm Ngọn Đèn Hai này là do chính tay tao với mày đặt từng thanh giằng cơ học từ mười năm trước, tao hiểu tính nết từng mối hàn còn hơn ruột gan mày. Tao biết cách dùng búa gõ cho cái bơm Venturi của thằng An chạy mượt mà không kẹt trục. Mày với thằng Văn phải cuốn gói lên tàu Chim Vá ngay lập tức. Mày đã nhịn dưỡng khí nhường cho thằng bé suốt ba ngày qua, bây giờ mày nợ nó mạng sống của chính mày. Mày mà lăn đùng ra chết ngạt ở cái xó này thì ai đứng ra thanh toán tiền công đợt này cho anh em?"
Sang ngẩng mặt lên nhìn An và Vân, ánh mắt quắc thước của một người lao động chân tay đã quá quen đối mặt với nguy cơ sập hầm lò và bục túi khí thán:
"Ba anh em chúng tôi ở lại giữ trạm Hai. Chúng tôi chấp hành phương án phân bổ của cô Vân và cô Linh. Hãy để lại cho chúng tôi pin dự phòng, các màng lọc sợi carbon và phần khẩu phần khô dự trữ. Nhưng các anh phải hứa chắc một điều: khi công việc đánh thức ngọn hải đăng trên Bạch Luân hoàn tất, phải điều tàu quay lại bốc chúng tôi về."
"Tôi cam kết bằng danh dự của toàn bộ phi hành đoàn Chim Vá," An nói chậm rãi, dằn từng tiếng một chắc như đinh đóng cột. "Khoản nợ này được ghi nhận trực tiếp vào nhật ký hành trình của tàu. Cánh thợ Hạ Lam không bao giờ bỏ rơi trạm Ngọn Đèn Hai."
Công việc chuyển giao nhân sự và vật tư diễn ra tức khắc dưới sự điều phối dứt khoát, không chút chậm trễ của Phạm Vân.
Từ khoang hàng của tàu Chim Vá, Kha cùng Nhi nhanh chóng bốc dỡ và chuyển sang khoang trú ngụ của trạm sáu khối pin hóa học dung lượng cao còn nguyên dải niêm phong đỏ, mười hộp khẩu phần khô tăng cường calo, hai bộ màng lọc ẩm dự phòng và một can nước mười lít được chắt chiu từ chính định mức tiêu dùng cá nhân của các thành viên trên tàu. Bác Cảnh cẩn trọng đỡ lấy từng kiện hàng nặng trịch, dùng mẩu bút chì gỗ nắn nót ghi chép từng mã số linh kiện vào cuốn sổ tay bảo trì cơ học bằng bìa cứng, cẩn thận như thể đang làm thủ tục nhập kho phụ tùng trong một ca trực bình thường.
Ở chiều ngược lại, Kha và Vân phối hợp cố định Hoàng Tín cùng Văn lên hai chiếc cáng cứu thương dã chiến đan bằng sợi tổng hợp chịu lực.
Khi Kha cúi người luồn dải dây đai dù qua vòm ngực gầy guộc của Tín để siết khóa, người đội trưởng trạm Hai bất thần vươn bàn tay run rẩy, lạnh ngắt tóm chặt lấy cổ tay người thợ già của tàu Chim Vá. Lực bóp từ những ngón tay chai sạn ấy hãy còn gắt gao đến mức làm nhăn nhúm cả lớp vải bạt áo bảo hộ:
"Kha... nghe tao dặn... dẫn đường cho cẩn thận... Đến Vùng Bốn... chỗ Bến Không Chủ ấy... phải hết sức dè chừng đám sà lan của bà Thu. Tao nghe ngóng được qua máy thu sóng ngắn trước khi bão từ ập xuống... dân cư bên đó đói lạnh quá, đã tháo sạch tuyến dây dẫn cao thế của Ngọn Đèn Bốn để kéo điện về sưởi ấm cho các khoang sinh hoạt rồi. Muốn bật được trạm Bốn... chúng mày không chỉ có việc sửa chữa máy móc đâu... mà phải trực tiếp đối mặt với những người đang sống đấy..."
"Tao nghe rồi. Giữ lấy cái mạng già của mày trước đi, đồ gàn dở," Kha lầm bầm trong cổ họng, giọng khàn đặc đi khi ông dằn mạnh chiếc chốt khóa an toàn trên ngực bạn thành một tiếng *tách* dứt khoát. "Thằng Hải đang chờ ở buồng lái. Mày mà dám ngất xỉu trước khi tàu bung ngàm nối là tao tính thêm tiền cước vận chuyển đấy."
Vân nhanh nhẹn cắm hai đường ống thở dẫn truyền oxy trực tiếp từ hệ thống trung tâm của Chim Vá vào mặt nạ kín của Tín và Văn. Luồng dưỡng khí mát lạnh rít lên êm ái, bọt khí li ti sủi đều đặn trong bình làm ẩm bằng nhựa trong suốt. Sắc mặt xám xịt của Tín dần dịu lại, nhịp thở bớt dồn dập, đôi mí mắt nặng trĩu sụp xuống dưới tác dụng làm dịu của liều thuốc an thần nhẹ mà Vân vừa tiêm qua van truyền tĩnh mạch nơi mu bàn tay.
Cửa hầm cách ly nối giữa Chim Vá và Ngọn Đèn Hai từ từ khép lại. Cụm ngàm khóa cơ học xoay một vòng tròn hoàn chỉnh, phát ra tiếng *khục* nặng nề báo hiệu khoang đệm đã đạt độ kín áp tuyệt đối. Qua ô kính quan sát dày ba lớp đã phủ đầy những vết xước mờ do bụi silicat cọ xát, ba bóng người ở lại đứng thẳng hàng. Sang, Hùng và bác Cảnh cùng giơ tay chào theo nghi thức truyền thống của thợ mỏ ngầm: một nắm đấm siết chặt áp cứng vào vị trí ngực trái.
Bên trong buồng lái tàu Chim Vá, không khí ngột ngạt và căng thẳng như đặc quánh lại xung quanh chiếc bàn tính toán cơ học và màn hình định vị huỳnh quang màu xanh lục.
Lê Hải ngồi gập người trên ghế lái, hai bàn tay quấn kín băng gạc y tế trắng toát—nơi những vết bỏng do nước sôi áp lực cao rỉ máu thấm qua lớp vải dệt—đang tì chặt lên vành vô-lăng kim loại nặng nề. Trước tầm mắt anh, những dãy số cân bằng trọng tâm và tải trọng liên tục nhảy múa dưới ngòi bút chì sắc lẹm của Đỗ Linh.
"Tổng khối lượng khô tăng thêm thực tế: một trăm sáu mươi lăm kilôgam từ hai cáng cứu thương, tính gộp cả thiết bị cấp cứu, ống thở và dây đai cố định," Linh cất giọng đều đều, khô khốc như tiếng máy đếm nhịp. "Hệ thống hấp phụ carbon dioxide của tàu sẽ phải vận hành ở mức chín mươi hai phần trăm công suất danh định liên tục. Lượng dự trữ oxy tổng thể tụt dốc nhanh chóng, hiện chỉ còn đủ cho bảy mươi sáu giờ hành trình nếu không phát sinh thêm sự cố rò rỉ."
"Còn lượng nhiên liệu phản lực thì sao?" Hải hỏi dồn, đôi mắt quầng đỏ không rời khỏi đồng hồ kim báo áp suất buồng đốt chính.
"Nhiên liệu bùn phản lực trong bồn chứa chỉ còn đúng hai mươi tám tấn," Linh dùng đầu bút chì chỉ vào đồ thị quỹ đạo đang uốn lượn trên giấy kẻ ly. "Chúng ta đã thâm hụt bốn phẩy hai tấn ngay từ Vùng Một chỉ để thực hiện các thao tác đổi hướng cơ động né tránh xác sà lan trôi dạt. Nếu tiếp tục bay theo phương án ban đầu—đốt động cơ chính hết công suất trong mười hai phút liên tục để đạt gia tốc đẩy cao, phóng thẳng một mạch tới Ngọn Đèn Ba trong vòng mười bốn giờ—lượng bùn quặng tiêu hao sẽ chạm đáy bồn. Tàu sẽ sạch trơn nhiên liệu, không còn lấy một giọt bùn để hãm tốc ngược chiều và căn chỉnh góc tiếp cận khi tiến vào rìa hấp dẫn hỗn loạn của Bạch Luân."
An bước hẳn vào trong buồng điều khiển, chiếc áo khoác thợ máy đẫm mồ hôi dính chặt vào lưng áo, những lọn tóc bết dính trước trán. Anh đứng sừng sững sau lưng Hải, ánh mắt khóa chặt vào bản sơ đồ dầm chịu lực số hai đang được chiếu mờ mờ trên tấm bảng đồng hồ trung tâm:
"Chưa kể đến kết cấu khung xương của dầm số hai. Ba tấm nẹp titan mà tôi và Kha vừa gia cố khẩn cấp bằng bu-lông tán chỉ có thể chịu được mức gia tải tối đa là 2,8G. Nếu Hải quyết định đốt động cơ chính với công suất cực đại để phóng thẳng, xung lực đẩy dọc trục kết hợp cùng tải trọng khối lượng vừa tăng thêm sẽ bẻ gãy các mối tán bu-lông mới. Con tàu này sẽ vặn xoắn rồi gãy đôi thành hai đoạn trước khi chúng ta kịp nhìn thấy bóng dáng tháp laser của trạm Ba."
Hải nghiến chặt quai hàm, các thớ cơ nổi cộm lên dưới làn da cháy nắng, phát ra tiếng ken két trong kẽ răng. Bàn tay băng bó đầy máu của anh dằn mạnh cần gạt cơ học sang một nấc chuyển, dứt khoát xóa bỏ toàn bộ quỹ đạo bay thẳng tốc độ cao đã được nạp sẵn vào hệ thống con quay định vị cơ học.
"Hủy bỏ toàn bộ phương án bay thẳng gia tốc lớn," Hải gằn giọng qua kẽ răng. "Chúng ta không có tư cách đốt nhiên liệu hoang phí như cánh tàu vận tải của nghiệp đoàn nữa."
Những ngón tay sưng tấy, rát buốt của Hải bắt đầu xoay chuyển các núm vặn cơ khí trên bảng điều khiển tọa độ, vạch ra một đường cong elip kéo dài ngoằn ngoèo, uốn lượn men theo rìa ngoài cùng của giếng hấp dẫn thuộc hành tinh Nham:
"Tôi chuyển hướng hành trình sang quỹ đạo trôi quán tính hình bán nguyệt. Chúng ta sẽ chỉ kích hoạt một chu kỳ đốt phụt ngắn kéo dài đúng ba mươi giây để giật tàu thoát khỏi vùng rìa của Biển Bụi Trắng, sau đó lập tức ngắt hoàn toàn động cơ đẩy chính. Chim Vá sẽ thả trôi tự do hoàn toàn theo quán tính dọc theo tuyến hành lang vận chuyển quặng bỏ hoang từ thời kỳ đầu. Lộ trình uốn lượn này sẽ giúp chúng ta tiết kiệm được ba phẩy tám tấn nhiên liệu bùn quý giá, đồng thời triệt tiêu chấn động cơ học, ghìm mức gia tải tác động lên dầm số hai luôn ở dưới ngưỡng một phẩy hai G."
"Nhưng cái giá phải đánh đổi là toàn bộ thời gian dự phòng!" Tạ Nhi thảng thốt kêu lên từ góc bàn liên lạc quang học. Đôi mắt mở to đầy sợ hãi, ngón tay cô bé run rẩy chỉ thẳng vào mặt đồng hồ cơ khí đếm ngược bảy ngày được tán chết vào vách thép phía trước buồng lái.
Linh lặng lẽ đưa mắt nhìn theo hướng chỉ tay của Nhi. Bên trong lớp vỏ kính chống rung, những bánh răng bằng đồng thau và thép tôi của bộ đếm thời gian đang nhảy từng nhịp khô khốc, sắc lạnh và tàn nhẫn: *Tách. Tách. Tách.*
Vùng Ba—thường được cánh thợ không gian gọi bằng cái tên Hành Lang Lửa—thực chất là một vành đai bão bức xạ hạt mang điện tích cực mạnh, sinh ra từ sự biến dạng dữ dội của từ trường hành tinh Nham khi tương tác với gió sao mẹ. Vành đai chết chóc này không cố định mà liên tục co giãn, đảo cực theo chu kỳ tự xoay của thiên thể, và nó chỉ mở ra một "cửa sổ tĩnh lặng" tương đối an toàn kéo dài vỏn vẹn sáu giờ đồng hồ để các tàu bè công vụ có thể lách qua mà không bị thiêu rụi các khối logic bán dẫn hay phơi nhiễm phóng xạ chết người cho phi hành đoàn.
Linh nhìn trừng trừng vào những con số cơ học đang đảo chiều trên bảng đếm ngược: việc phải bẻ lái đi đường vòng theo quỹ đạo trôi dạt quán tính đã cắn mất bốn giờ quý giá của cửa sổ vượt Vùng Ba.