Đồng hồ chạy nhanh hơn
Bản tin đo xa từ Hầm Hạt Giống dội về màn hình dẫn đường trung tâm dưới hình hài một vệt đồ thị đỏ rực như vết chém, xé toạc mọi toan tính vốn đã chênh vênh của phi hành đoàn.
Trên mặt kính tinh thể lỏng đa tầng ở bệ lái *Chim Vá*, những đường cong quỹ đạo danh nghĩa vốn dĩ đã dốc đứng nay bị bẻ gập đột ngột xuống một góc chúc chết chóc. Tín hiệu âm thanh của Nguyễn Minh Dung từ trung tâm điều phối ngầm sâu trong lòng Hạ Lam, cách xa hàng trăm cây số qua các tầng địa tầng câm lặng, xuyên qua lớp nhiễu hạt nền rào rào của tầng đối lưu để lọt vào buồng lái. Giọng Dung khô khốc, đanh lại nhưng không giấu nổi những nhịp run rẩy vi tế của một người đang chứng kiến một chiếc đồng hồ cát bị đập vỡ đáy:
“*Chim Vá*, yêu cầu hoa tiêu trưởng lập tức xác nhận gói dữ liệu đo xa số 44 vừa giải mã xong qua kênh dự phòng. Chúng tôi đã cho chạy đối chiếu chéo số liệu giao thoa kế vô tuyến từ ba trạm trắc đạc độc lập đặt tại rặng San Hô Khô, Đáy Giếng Cũ và Vòm Bảy. Không có bất kỳ sai số quang học hay ảo ảnh khúc xạ khí quyển nào ở đây cả. Tôi lặp lại: sai số đo đạc bằng không.”
Đỗ Linh đứng bật dậy khỏi chiếc ghế điều phối gắn ray trượt. Cú nhổm người đột ngột trong môi trường vi trọng lực khiến dây đai an toàn thít mạnh vào lồng ngực cô, nhưng Linh dường như chẳng hề bận tâm. Hai bàn tay cô chống chặt xuống mép bàn kim loại nham nhở vết trầy, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể vào đó cho đến khi từng khớp ngón tay trắng bệch ra như xương khô. Cô giật phăng lấy ống nghe bọc cao su lưu hóa, giọng cất lên dồn dập, gắt gao:
“Chị Dung, độ cao điểm cận địa thực tế của Bạch Luân trong lần quét gần nhất báo về là bao nhiêu? Tại sao tham số suy giảm quỹ đạo lại tăng vọt gấp hai phẩy bốn lần chỉ sau một vòng quay hành tinh? Tầng ngoài khí quyển đâu thể tự nhiên đặc quánh lại như bùn lỏng chỉ trong vài giờ?”
“Bão hạt quy mô siêu lớn ở cực nam vừa đánh thủng hoàn toàn tầng từ quyển ngoài,” giọng Dung vọng lại, lẫn trong những tiếng rền rĩ cơ khí trầm đục của hệ thống còi báo động ngầm đang vang vọng ở đáy sâu các hành lang Hạ Lam. “Lượng bức xạ plasma mang năng lượng cực cao nung nóng và làm giãn nở bất thường toàn bộ tầng khí quyển trên cao của hành tinh Nham. Khối khí quyển phía xích đạo đang phồng to ra ngoài không gian hàng chục kilômét, biến khoảng chân không loãng vốn dĩ có thể lướt qua thành một bức tường cản khí động khổng lồ, sền sệt và hung hãn. Trạm mẹ Bạch Luân đang sục thẳng bụng vào rìa lớp khí nở đó ở mỗi chu kỳ quét quỹ đạo. Lực ma sát không chỉ hãm phanh trạm mẹ, nó đang kéo ghì toàn bộ khối kết cấu thép xuống sâu hơn.”
Một tiếng thở hắt nặng nề, khàn đặc vang lên từ vách ngăn phía sau bệ hoa tiêu. Nguyễn Minh An tựa trọn lưng vào sống dầm chữ I chịu lực của khoang lái. Cánh tay phải của người thợ máy trưởng Hạ Lam được cố định trong một khối nẹp composite cứng đờ, áp chặt vào lồng ngực bằng những vòng băng y tế siết ngang. Dù liều thuốc giảm đau cực mạnh mà Phạm Vân tiêm cho anh nửa giờ trước đã phần nào trấn áp cơn buốt xé da xé thịt từ vết bỏng điện cao thế độ ba, gương mặt An vẫn xám xịt như tro nguội vớt ra từ lò đốt rác ngầm. Dưới ánh sáng màu hổ phách lập lòe của hệ thống đèn báo khẩn cấp, từng giọt mồ hôi lạnh đọng lại thành hạt li ti trên sống mũi gồ ghề của anh.
“Lực cản tăng vọt đồng nghĩa với việc đồng hồ sụt dốc không phanh,” An lên tiếng. Từng từ ngữ phát ra từ cổ họng khô khát của anh chậm rãi, nặng trịch nhưng sắc cạnh như một mảnh kim loại gãy vụn rơi trên sàn sắt. “Tổng thời hạn danh nghĩa từ một trăm sáu mươi tám giờ ban đầu đã bị bức xạ và ma sát hành tinh gọt phăng đi trọn vẹn tám giờ vật lý. Trạm mẹ chỉ còn khoảng một trăm sáu mươi giờ danh nghĩa trước khi các mối nối module chính gãy đôi vì ứng suất khí động vượt ngưỡng chịu đựng của hợp kim giàn giáo.”
“Và thực tế còn nghiệt ngã hơn thế nhiều, An,” Linh tiếp lời, những ngón tay gầy guộc của cô bắt đầu gõ lia lịa lên bàn phím cơ khí bọc đồng để tái lập mô hình toán học cho đường bay. Những tiếng gõ lách cách khô giòn vang lên liên hồi như tiếng móng tay cào vào vách tôn. Màn hình điều phối nhấp nháy liên tục khi các phương trình vi phân quỹ đạo được nạp biến số mới và giải lại từ đầu. “Chúng ta đã tiêu tốn hơn một trăm lẻ ba giờ hành trình đầy trầy trật để vượt qua bốn vùng đầu tiên, sửa chữa từng trạm lặp và chắp vá vỏ tàu. Nếu tính cả mức gia tốc tụt dốc hiện tại của trạm mẹ, thời gian thực tế còn lại trên đồng hồ nhiệm vụ của *Chim Vá* không phải năm mươi tám giờ như chúng ta từng lạc quan dự tính khi rời Bến Không Chủ. Chúng ta chỉ còn đúng năm mươi giờ thực tế. Tôi nhắc lại: tròn năm mươi giờ chẵn.”
Linh quay phắt sang nhìn thẳng vào gáy Hải:
“Năm mươi giờ để vượt qua Vùng Năm, khôi phục chùm định vị của Ngọn Đèn Năm, bay nước rút đến Ngọn Đèn Sáu, rồi bứt tốc tiếp cận Bạch Luân trước khi cụm động cơ đẩy của trạm mẹ vĩnh viễn không còn điểm tựa vector để nâng quỹ đạo thoát khỏi lực hút chết người.”
*Năm mươi giờ.*
Con số màu đỏ quạch bốc cháy ở góc trên bên phải màn hình định vị, nhấp nháy từng giây một cách lạnh lùng, vô cảm như một lưỡi dao máy chém đang từ từ trượt xuống từng nấc ren rỉ sét.
Phạm Vân bước tới bên cạnh chiếc ghế lái bọc đệm rách tơi tả của Hải. Bộ đồ y tế chuyên dụng của cô thoang thoảng mùi cồn khử trùng và mỡ bôi trơn sinh học. Ánh mắt Vân nghiêm nghị, sắc bén quét qua dải cảm biến sinh học đang hiển thị nhịp tim và huyết áp của người lái tàu trên một góc màn hình phụ. Đôi bàn tay của Lê Hải—vốn đã bị nước sôi áp lực cao luộc chín và rách toạc da ở Trạm Hai, hiện đang được quấn chằng chịt những lớp băng vô trùng tẩm mỡ kháng sinh—lúc này đang siết chặt lấy vành vô lăng điều tốc bằng hợp kim ma-nhê. Những đường gân trên mu bàn tay anh hằn lên nổi cộm dưới lớp vải sợi nhân tạo.
“Quy chế y tế và an toàn bay vẫn giữ nguyên hiệu lực vô điều kiện,” Vân lên tiếng, âm lượng không lớn nhưng sự dứt khoát không khoan nhượng tạo ra một sức nặng đè lên không khí buồng lái. “Dù thời gian có bị vắt kiệt đến mức nào, van tiết lưu cơ học của buồng đốt chính vẫn bị khóa cứng cơ học ở ngưỡng ba G. Khung dầm số hai của con tàu này đã được nẹp lại bằng những tấm titan tận dụng, nhưng nó không phải là một khối đúc nguyên khối từ xưởng đóng tàu quân sự. Nếu các anh cố tình đạp lút chân ga, đốt động cơ vượt ngưỡng gia tốc ba G để bù lại số giờ đã mất, con tàu này sẽ vặn xoắn và xé toạc làm đôi giữa khoảng không trước khi các anh kịp nhìn thấy bóng dáng Ngọn Đèn Năm.”
“Tôi biết rất rõ giới hạn của con tàu này, Vân,” Hải đáp khẽ, giọng anh khàn nhưng vững vàng như một trụ cáp neo sà lan ngập nước.
Anh buông tay trái ra khỏi vô lăng, thọc sâu vào túi áo bảo hộ dày cộm, rút ra chiếc la bàn cơ học bằng đồng thau—vật chứng cũ kỹ mà mẹ anh, bà Thu, vừa trao lại tận tay ở bến sà lan trước giờ xuất kích. Hải đặt chiếc la bàn cơ học ngay ngắn vào hốc giữ từ tính trên bệ lái trung tâm. Mặt kính tròn hơi mờ đục vì thời gian phản chiếu ánh mắt kiên định, thâm trầm của anh cùng vệt sáng nhấp nháy của đồng hồ đếm ngược.
Hải ngước mắt lên, nhìn thẳng vào khoảng tối mịt mùng phía ngoài lớp kính chắn gió dày năm lớp:
“Chúng ta không thể tăng tốc trên một đường thẳng, điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta tuyệt đối không được phép đi đường vòng để lẩn tránh rủi ro. Tạ Nhi, bật toàn bộ dải quét radar chủ động mảng pha. Cho tôi xem bộ mặt thật của Vùng Năm.”
“Rõ, anh Hải!”
Tạ Nhi nhanh chóng dùng khuỷu tay đẩy chốt an toàn rồi gạt mạnh một chuỗi lẫy công tắc quang học trên bảng trinh sát tầm xa. Cánh tay cô bé vẫn còn những vết bầm tím do va đập ở trạm trước, nhưng thao tác của Nhi đã đạt tới độ thuần thục của một kỹ thuật viên dày dạn sa trường.
Phía bên ngoài mũi tàu, hệ thống ăng-ten mảng pha cơ học trên chóp mũi *Chim Vá* rít lên những tiếng kim loại ken két khô khốc khi vươn mình ra khỏi hốc bảo vệ bọc chì. Sóng vô tuyến công suất cao quét qua bóng tối vô tận phía trước, chạm vào hàng ngàn bề mặt kim loại và đất đá rồi dội ngược trở lại các đầu thu cực nhạy.
Ngay khoảnh khắc luồng dữ liệu trắc đạc đầu tiên được bộ xử lý giải mã và phóng chiếu lên tấm màn hình vòm toàn cảnh trước mặt phi hành đoàn, cả buồng lái như chìm vào một vụ nổ ánh sáng của hàng vạn đốm phản xạ hỗn loạn. Mọi tiếng thở dường như bị bóp nghẹt.
Trước mắt họ là Mê Cung Kéo Quặng.
Vùng không gian này từng là tuyến huyết mạch kinh tế sầm uất và tấp nập bậc nhất của toàn bộ thuộc địa Hạ Lam trong thời kỳ hoàng kim khai thác mỏ. Đó là một mạng lưới không gian trải rộng hàng nghìn kilômét vuông, chuyên tiếp nhận, neo giữ và trung chuyển các khối thiên thạch giàu quặng sắt từ tính, nickel và titan từ vành đai đá ngoài xa đưa về các lò cao luyện kim ngầm trong lòng đất mẹ. Nhưng vào thời khắc này, sau khi chuỗi xung điện từ hủy diệt của bão sao quét qua và đánh sập hoàn toàn hệ thống siêu máy tính điều phối trung tâm từ nhiều ngày trước, vùng không gian trù phú này đã biến thành một bãi tha ma cơ học khổng lồ, câm lặng nhưng đầy rẫy sự cuồng loạn mù quáng.
Hàng chục con tàu kéo tự hành không người lái—những cỗ máy công nghiệp hình khối hộp vuông vức, góc cạnh, nặng hàng trăm tấn và được vận hành bằng các lò phản ứng pin hạt nhân đồng vị phóng xạ bền bỉ—vẫn đang mù quáng thực thi những dòng lệnh vận tải dở dang cuối cùng được nạp vào bộ nhớ bán dẫn từ trước thảm họa. Chúng đã mất hoàn toàn khả năng đồng bộ với mạng lưới điều khiển mẹ. Không còn tín hiệu dẫn đường, không còn hoa tiêu quang học từ các đài kiểm soát không lưu, các thuật toán nội tại thô thiển của từng con tàu liên tục tính toán sai lệch lực căng, trọng tâm và vector gia tốc. Kết quả là chúng kéo lê những tảng quặng thô khổng lồ nặng hàng nghìn, hàng vạn tấn chệch hoàn toàn khỏi quỹ đạo thiết kế an toàn.
Những sợi cáp kéo hợp kim titan bọc sợi aramid dày như thân cây cổ thụ căng phồng lên dưới những lực kéo lệch tâm khủng khiếp hàng nghìn tấn-lực. Chúng quất qua quất lại giữa khoảng không chân không như những sợi roi thép vô hình gieo rắc sự hủy diệt. Từng khối đá quặng sắc nhọn, đen đúa va đập liên hồi vào nhau trong sự im lặng tuyệt đối của vũ trụ, vỡ tung ra thành những đám mây mảnh vụn kim loại sắc như dao cạo, trôi lơ lửng với vận tốc tương đối hàng trăm mét mỗi giây, tạo thành những bãi mìn dày đặc vây kín lấy mọi ngả đường dẫn vào trung tâm Trạm Năm.
“Hỗn loạn hoàn toàn… không còn một quy luật phân làn nào sót lại,” Đỗ Linh thì thầm, đôi mắt cô phản chiếu hàng trăm vệt quỹ đạo dự báo đan chéo chằng chịt vào nhau như một mạng nhện rách nát. “Các hệ thống lái tự động của tàu kéo đang tranh chấp dữ liệu tải trọng của nhau. Mọi người nhìn góc quét ba mươi độ bên mạn trái kìa: có tới ba cỗ máy tự hành đang cùng bắn móc cáp vào một khối quặng hematite mười nghìn tấn. Cụm động cơ đẩy phụt lửa ion của chúng đang gầm rú ngược chiều nhau để giằng xé miếng mồi. Khối quặng đó đang tự quay tròn quanh trục bất định với gia tốc góc tăng dần từng giây!”
Linh lia nhanh ngón tay tính toán trên bảng số liệu phụ trợ, giọng cô trĩu nặng:
“Nếu chúng ta chọn giải pháp an toàn là bẻ lái bay vòng qua rìa ngoài của mê cung để tránh vùng nhiễu động chết chóc này, *Chim Vá* sẽ mất ít nhất tám giờ rưỡi bay theo đường cong quán tính thụ động. Trừ đi thời gian tiếp cận, neo tàu và lắp đặt bộ điều khiển laser tại chỗ, chúng ta sẽ chạm vạch đích của trạm mẹ Bạch Luân trễ đúng ba giờ. Và ba giờ trễ đó đồng nghĩa với việc chúng ta đến để nhặt những mảnh vỡ của trạm mẹ rơi rụng vào tầng mây rực lửa.”
“Không bay vòng,” Hải lắc đầu dứt khoát, ánh mắt không hề chớp. “Chúng ta không có quyền phung phí dù chỉ một phần mười của tám giờ đó. Phải xuyên thẳng qua tim của mê cung.”
“Cậu điên thật rồi, Hải!” Trần Kha bước giậm chân lên sàn thép, thanh nẹp gối cơ học ở chân ông phát ra tiếng rít ken két nặng nhọc. Khuôn mặt già nua chằng chịt vết sẹo của người thợ già nhăn nhúm lại vì đau đớn và sự căng thẳng tột độ. Ông thọc bàn tay run rẩy vào túi trong của chiếc áo bảo hộ thợ mỏ đã sờn rách, móc ra một cuộn giấy dầu ngả màu vàng ố vì thời gian và khói hàn. Những mép giấy sờn rách đã bị lật giở hàng trăm, hàng nghìn lần trong những chuyến đi mỏ chui, mỏ lậu của ông hàng chục năm về trước. “Mê Cung Kéo Quặng không phải là bãi phế liệu trôi dạt tĩnh lặng như Vùng Một! Ở cái xới bạc chết tiệt này, mọi khối sắt, khối đá đều đang chuyển động hỗn loạn với động lượng hàng nghìn tấn. Cậu có hiểu hàng nghìn tấn lao đi trong chân không là gì không? Chỉ cần một sợi cáp kéo đứt văng trúng mạn sườn, *Chim Vá* sẽ bị chém đứt ngọt sớt làm đôi như một cái vỏ hộp thiếc rỗng!”
Kha trải mạnh tấm sơ đồ luồng mỏ cũ kỹ lên mặt bàn tác chiến trước mặt Hải và An. Ông chộp lấy một chiếc cờ-lê bằng thép nặng trịch đặt đè lên góc giấy để mép bản đồ không tự cuộn tròn lại trong môi trường vi trọng lực yếu ớt của khoang lái.
“Nhìn cho kỹ vào đây,” Kha ấn mạnh đầu ngón tay cái thô ráp, chai sần vào những đường kẻ mực màu xanh lam đã phai mờ. “Đây là sơ đồ phân làn luồng vận tải kéo quặng của năm năm trước, thời điểm ngay trước khi Trạm Năm bị giới chức thuộc địa bỏ rơi vì cạn ngân sách bảo trì. Bộ não điều khiển trung tâm bị cháy, đúng, nhưng các tàu tự hành vẫn là những cỗ máy ngu ngốc hoạt động dựa trên các rãnh hành lang an toàn cố định được định hình bằng các mỏ neo định vị từ tính thả nổi. Dù chúng có mất đồng bộ với máy tính mẹ, bộ nhớ bất biến cục bộ trong khối điều khiển của từng con tàu kéo vẫn sẽ mù quáng cố bám lấy các mốc neo cơ sở này để không đâm vào vách đá ngầm. Con nhỏ Nhi, chuyển toàn bộ màn hình radar sang chế độ quét phân cực tần số thấp cho tôi nhờ!”
Tạ Nhi lập tức gật đầu lia lịa. Đôi mắt to tròn của cô gái trẻ không còn nét hoang mang, sợ sệt của những ngày đầu tiên rời bến; trong đáy mắt cô lúc này chỉ còn lại sự tập trung sắc lạnh của một người thợ kỹ thuật đã tôi luyện qua lằn ranh sinh tử. Đôi bàn tay nhỏ nhắn thoăn thoắt nhảy múa trên các hàng phím số, tinh chỉnh góc quét của chùm vi ba để bóc tách lớp bụi kim loại mù mịt đang trôi nổi ngoài không gian.
“Đang chuyển đổi phân cực quét vô tuyến,” Nhi dõng dạc thông báo, âm sắc rõ ràng vang khắp buồng lái. “Dải phản xạ radar mới nhất đã bắt đầu khớp với các mốc tọa độ trên bản đồ giấy của chú Kha. Em đang thiết lập bộ lọc ngưỡng để loại bỏ các điểm mù do hiệu ứng che chắn sóng của các khối quặng mật độ cao.”
Trên màn hình chính, những nét vẽ mực nhòe nhoẹt từ tấm giấy dầu của Kha và luồng dữ liệu thời gian thực do Nhi cung cấp bắt đầu từ từ trượt lên nhau, chồng khít từng giao điểm với độ chính xác kỳ lạ. Những đường sáng chập chờn màu xanh lục hiện ra, bóc tách dần cấu trúc trật tự ẩn giấu dưới lớp vỏ hỗn loạn kinh hoàng của mê cung. Kha cúi gập người xuống, mắt đảo liên hồi giữa những đốm sáng đỏ rực đại diện cho các tàu kéo tự hành đang di chuyển điên loạn và những khoảng tối cơ học nằm xen kẽ giữa các tảng thiên thạch.
“Kia rồi! Nhìn thấy chưa?” Kha đập mạnh ngón tay xuống mặt bàn kim loại, tạo ra một tiếng *bốp* vang dội. “Hành lang kỹ thuật số Bảy! Nó nằm kẹp ngay giữa Luồng Kéo Than đá xốp và Luồng Quặng Nặng. Nhìn dải không gian rỗng này xem: toàn bộ các tàu kéo tự động đang bị lực từ trường của một mỏ neo bị chập mạch hút dồn hết về phía hai bên sườn đông và sườn tây. Ở ngay chính giữa trục tim của chúng vẫn còn tồn tại một khe hở lưu thông được. Nhưng…”
Kha ngập ngừng, ngón tay ông khựng lại trên mặt giấy ố vàng. Ông từ từ ngẩng đầu lên, ánh mắt phức tạp nhìn sâu vào An rồi chuyển sang Hải.
“Nhưng thế nào, chú Kha?” An hỏi, giọng trầm ổn, đĩnh đạc như một điểm tựa tinh thần vững chắc cho cả buồng lái.
“Khe hở đó hiện tại đang bị bóp nghẹt lại từng phút một,” Kha nuốt một ngụm nước bọt khan, yết hầu giật mạnh. “Hai khối quặng sắt nguyên khai mang mã số nhận diện mỏ là K-12 và K-14, mỗi khối nặng không dưới bốn nghìn tấn, đang trôi dạt tự do lại gần nhau. Chúng bị hút vào nhau bởi lực hấp dẫn tương hỗ vi mô và quán tính tàn dư của một sợi cáp kéo vừa bị đứt phụt cách đây ít lâu. Khoảng cách hẹp nhất giữa hai vách đá đó vào lúc này chỉ còn khoảng ba mươi lăm mét. Và điều tồi tệ nhất là: chúng đang xoay tròn ngược chiều nhau trên trục đứng.”
Ba mươi lăm mét.
Cả buồng lái rơi vào một khoảng lặng nặng nề. Bề ngang thân tàu *Chim Vá*, tính từ chóp cánh tản nhiệt mạn trái sang dàn vòi phụt điều hướng mạn phải, đã chiếm trọn mười tám mét. Điều đó đồng nghĩa với việc họ chỉ có chưa đầy chín mét dung sai ở mỗi bên mạn tàu để lách qua một cái khe tử thần đang khép dần lại giữa hai khối kim loại khổng lồ có tổng khối lượng tám nghìn tấn—một cái cối xay vũ trụ sẵn sàng nghiền nát mọi thứ thành bột cám nếu xảy ra va chạm.
“Cắt qua cái khe hẹp đó sẽ tiết kiệm cho chúng ta chính xác bao nhiêu thời gian?” Hải hỏi ngắn gọn, giọng anh không hề có chút do dự.
Đỗ Linh nhìn chằm chằm vào bảng tính vector tiếp cận vừa hiện thị kết quả mô phỏng:
“Cắt thẳng qua tim khe hẹp giữa K-12 và K-14 sẽ đưa *Chim Vá* rơi thẳng vào khoảng không tĩnh lặng ngay trước tháp quang học của Ngọn Đèn Năm. Chúng ta tiết kiệm được trọn vẹn bảy giờ bay vòng. Bảy giờ vàng ngọc. Nhưng nếu hoa tiêu tính toán thời điểm lách qua sai lệch dù chỉ nửa giây, tốc độ khép mặt đá sẽ ép bẹp thân tàu như ép một vỏ hạt dẻ.”
Hải không trả lời ngay. Anh cúi xuống nhìn đôi bàn tay quấn băng trắng toát của mình đang đặt trên vô lăng, cảm nhận từng nhịp đập buốt nhói dưới lớp da thịt tổn thương, rồi từ từ quay sang nhìn An. Người thợ máy trưởng Hạ Lam nhìn lại anh. Trong ánh mắt của An không có sự hoài nghi hay run sợ, chỉ có một sự thấu hiểu và tin cậy tuyệt đối—sự gắn kết được tôi luyện qua từng giờ phút sinh tử từ buồng máy Trạm Một cho đến khoang quan trắc Bến Không Chủ.
“Vết nứt trên dầm số hai đã được khóa cứng bằng ba tấm nẹp titan gia cường ở Trạm Một,” An nói chậm rãi, rõ ràng từng âm tiết, minh bạch như một bản cam kết kỹ thuật trước bàn thờ tổ nghề. “Nó hoàn toàn có thể chịu đựng được ứng suất vặn xoắn ngang ở mức độ cao, miễn là anh không kích hoạt cụm động cơ chính vượt quá ngưỡng gia tốc một phẩy hai G. Toàn bộ thao tác lách qua khe hẹp phải dựa hoàn toàn vào chuỗi điểm hỏa vi sai của các cụm vòi phụt khí nén phụ trợ. Tôi đã cân chỉnh lại van xả. Tôi tin vào tay lái của anh, Hải.”
“Được,” Hải hít một hơi thật sâu, ngón tay anh siết chặt lấy cần gạt điều khiển vector lực đẩy. “Toàn tàu chuyển sang trạng thái vượt chướng ngại vật cự ly cực gần. Linh, ngắt toàn bộ hệ thống lái tự động của máy tính dẫn đường, chuyển toàn quyền kiểm soát van phản lực sang chế độ cơ-thủy lực thủ công. Nhi, duy trì quét vi sai laser ba chiều liên tục, cập nhật khoảng cách khe hẹp từng phần mười giây một qua tai nghe của tôi. Kha, bám sát màn hình phản xạ, canh chừng những đoạn cáp kéo bị đứt đang trôi dạt tự do. Chúng ta đi đường tắt!”
*Chim Vá* khẽ rùng mình rung chuyển khi bốn cụm vòi phụt khí nén áp lực cao ở chóp mũi đồng loạt khai hỏa. Không có những cú tăng tốc xé gió dán chặt phi hành đoàn vào lưng ghế như những chuyến bay thẳng thông thường; Hải điều khiển con tàu tiến vào bóng tối bằng sự uyển chuyển lạnh lùng, mềm mại và chuẩn xác của một hoa tiêu sà lan dạn dày sóng gió từng luồn lách qua những bãi cọc ngầm trên sông Hạ Lam.
Khối sắt thép mang tên *Chim Vá* lướt đi trong câm lặng, tiến thẳng vào miệng họng đen ngòm của Mê Cung Kéo Quặng.
Xung quanh họ, không gian mở ra một cảnh tượng vừa kỳ vĩ vừa rợn ngợp đến nghẹt thở. Những khối quặng khổng lồ đen đúa, lởm chởm những cạnh sắc gồ ghề trôi sượt qua mạn tàu ở cự ly chỉ vài trăm mét, che khuất từng mảng sao xa xôi. Thỉnh thoảng, ánh lửa phụt màu xanh tím ma quái từ đuôi của những con tàu kéo tự hành mất kiểm soát lại bùng lên ở phía xa, rọi sáng những sợi cáp hợp kim titan to bản đang quằn quại vặn xoắn giữa không gian như những con mãng xà cơ khí điên dại. Những tiếng kim loại va đập dữ dội từ xa vọng qua lớp vỏ tàu thành những nhịp rung âm ỉ, truyền thẳng qua sàn kim loại lên xương bàn chân của từng người trong buồng lái.
“Tiếp cận mục tiêu K-12 và K-14 trong sáu mươi giây đếm ngược!” Giọng Tạ Nhi vang lên lanh lảnh, sắc bén trên hệ thống liên lạc nội bộ. “Khoảng cách giữa hai vách đá: ba mươi hai mét… ba mươi mốt phẩy năm mét… đang giảm xuống ba mươi mốt mét chẵn! Tốc độ khép tương đối đo được: không phẩy bốn mét trên giây! Góc xoay trục của khối K-12 là hai độ mỗi giây theo chiều kim đồng hồ! Khối K-14 xoay ngược chiều kim đồng hồ với tốc độ một phẩy lăm độ!”
Qua ô kính chắn gió dày cộp của buồng lái, hai bức tường đá đen kịt khổng lồ bắt đầu lù lù hiện ra từ bóng tối, choán ngợp toàn bộ tầm nhìn phía trước như hai cánh cổng địa ngục đang từ từ khép lại. Khối K-12 bên mạn trái là một tảng quặng hematite lồi lõm với những gờ đá sắc nhọn nhô ra như những lưỡi rìu chiến; khối K-14 bên mạn phải là một khối đá lẫn silicat tròn trịa hơn nhưng lại mang trên mình một hiểm họa chết người: một đoạn cọc neo bằng thép gãy gập, dài gần bốn mét, đang chĩa thẳng ra ngoài không gian như một ngọn giáo rỉ sét.
“Khốn nạn! Khoảng hở hiệu dụng thực tế chỉ còn hai mươi bảy mét vì chiếc cọc neo chết tiệt đó!” Trần Kha hét lên qua micrô, hai mắt ông trợn trừng nhìn vào màn hình trắc đạc quang học. “Hải! Mạn phải không đủ chỗ trống cho cánh tản nhiệt đi qua! Nếu giữ nguyên góc này, cánh tản nhiệt sẽ bị cọc neo tiện đứt ngọt!”
“Tôi thấy nó rồi,” Hải đáp, giọng anh trầm xuống một cách kỳ lạ, toàn bộ tâm trí và giác quan dường như đã cô đặc lại thành một điểm duy nhất. Cơn đau rát từ đôi bàn tay phỏng rộp biến mất hoàn toàn sau bức tường tập trung sắt đá. “An, xả toàn bộ áp suất dư của cụm vòi phụt mạn phải số ba, dồn toàn bộ lưu lượng khí nén tích lũy sang hai vòi phụt vi sai ở đuôi tàu bên mạn trái.”
“Đã định tuyến lại áp suất đường ống!” An dùng bàn tay trái lành lặn gạt mạnh một cần phân phối cơ học trên bảng kiểm soát phụ trợ dưới chân dầm số hai. Khớp kim loại rít lên khô khốc. “Áp lực van vi sai đạt cực đại danh định! Cậu chỉ có đúng ba xung phụt liên tiếp trước khi bình tích áp chính bị tụt áp hoàn toàn!”
“Ba xung là quá đủ.”
Hải nín thở. Đôi bàn tay bọc băng siết chặt lấy thanh điều hướng. Chiếc la bàn cơ học bằng đồng trên bệ lái rung rinh nhè nhẹ theo từng nhịp cơ khí của con tàu.
*Chim Vá* lao thẳng vào khe hở đen ngòm giữa hai khối đá.
Bóng tối của hai khối quặng vạn tấn lập tức nuốt chửng toàn bộ ánh sáng le lói từ các vì sao xa xôi. Hai bức tường đá sừng sững ép sát vào hai bên thân tàu, mang lại một cảm giác ngột ngạt kinh hoàng, tựa như con tàu đang tự chui đầu vào một chiếc quan tài bằng đá và sắt vụn. Bụi đá mịn cọ xát vào lớp vỏ ngoài tạo nên những tiếng rào rào ma quái, như thể có hàng ngàn móng vuốt vô hình đang cào xước thân tàu.
“Khoảng cách cánh mạn trái: bốn mét… ba mét… hai phẩy tám mét!” Nhi đếm từng nhịp, hơi thở cô bé dồn dập qua ống đàm. “Mạn phải: hai phẩy năm mét… cọc neo đang xoay tới gần! Nó đang quét thẳng vào vị trí khoang động cơ phụ!”
Hải không nhìn vào màn hình điện tử nữa. Mắt anh khóa chặt vào chiếc cọc neo thép gỉ sét đang xoay tròn trong bóng tối, xé gió lao thẳng về phía cánh tản nhiệt mạn phải của tàu.
*Điểm hỏa xung thứ nhất!*
Hải giật nhẹ cần gạt điều tốc bằng một chuyển động dứt khoát của cổ tay. Cụm vòi phụt đuôi mạn trái bùng lên một luồng khí nén cực ngắn với âm thanh đanh gọn: *Xoỵt!*
Mũi tàu *Chim Vá* khẽ chếch sang trái một góc chưa đầy một độ, vừa đủ để phần đuôi tàu văng nhẹ sang phải theo quán tính con lắc, tránh cho cánh tản nhiệt không bị chiếc cọc neo quét trúng trong đường tơ kẽ tóc. Mũi thép gỉ sượt qua lớp sơn chịu nhiệt ngoài vỏ tàu ở khoảng cách chỉ vỏn vẹn ba mươi xăng-ti-mét, để lại một vệt bóng ma lạnh gáy trong tầm nhìn.
Nhưng cú bẻ lái tức thì đó lập tức khiến phần mũi tàu nhao thẳng về phía một gờ đá hematite nhô ra sắc lẹm của khối K-12!
“Dầm số hai đang chịu tải vặn xoắn chín mươi phần trăm!” Đỗ Linh hét lên cảnh báo khi kim đồng hồ đo ứng suất cơ học vọt thẳng sang vạch đỏ thẫm. “Không được phép kích hoạt vòi phụt ngược chiều! Dầm sẽ gãy đôi ngay lập tức!”
*Điểm hỏa xung thứ hai và thứ ba liên hoàn!*
Thay vì phụt hãm ngược chiều để chống lại quán tính, Hải bình tĩnh đến rợn người. Anh bẻ cần lái theo một góc nghiêng mười lăm độ sang mạn đối nghịch, đồng thời dùng các ngón tay nhấn dập cả hai van vi sai đuôi cùng một lúc. Hai luồng phản lực khí nén phụt ra với một chênh lệch áp suất cực kỳ tinh vi, tạo ra một mô-men xoắn nhẹ nhàng nhưng chuẩn xác đến từng mi-li-mét.
Toàn bộ thân tàu *Chim Vá* nghiêng đi một góc điệu nghệ, lướt xiên qua khoảng không hẹp hòi nghẹt thở giữa hai tảng đá khổng lồ như một lưỡi dao mỏng trượt qua khe hở của một chiếc cối xay đang vận hành.
*Keng!*
Một tiếng va quệt kim loại khô khốc, chói tai vang lên từ chóp cánh tản nhiệt đuôi, làm rung chuyển dữ dội cả sàn buồng lái. Một cơn chấn động truyền qua hệ thống khung xương tàu, khiến các khớp dầm rên rỉ ken két. Nhưng con tàu không hề dừng lại. Động lượng quán tính đã giải phóng đẩy nó trượt vút về phía trước.
Ánh sáng rực rỡ từ không gian mở đột ngột ùa vào qua khung kính buồng lái, xua tan hoàn toàn bóng tối ngột ngạt của khe đá tử thần.
“Chúng ta đã qua khe!” Nhi reo lên, giọng cô bé vỡ òa trong tiếng khóc nghẹn ngào vì nhẹ nhõm. “Khoảng cách an toàn! Hai khối đá K-12 và K-14 vừa sập chặt vào nhau ở phía sau đuôi tàu!”
Phía sau lưng họ, hai khối quặng sắt nặng hàng nghìn tấn nghiến chặt vào nhau với một lực va đập khủng khiếp. Không có âm thanh nào truyền qua chân không, nhưng qua camera quan sát đuôi, phi hành đoàn thấy rõ khoảng không gian mà *Chim Vá* vừa hiện diện chỉ vài tích tắc trước đó đã bị xóa sổ hoàn toàn, bùng lên một đám mây bụi đá và tia lửa kim loại lấp lánh dưới ánh mặt trời xa xôi.
Lê Hải từ từ thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực anh phập phồng dữ dội. Anh buông lỏng hai bàn tay đang run rẩy vì sức ép cơ học và sự căng thẳng thần kinh tột độ. Phạm Vân lập tức bước tới, cô không nói một lời nào, chỉ lặng lẽ áp một miếng gạc tẩm dung dịch làm mát lạnh ngắt vào mu bàn tay anh, rồi khẽ siết nhẹ như một lời công nhận câm lặng nhưng đầy trân trọng.
“Báo cáo tình trạng kết cấu,” An lên tiếng, giọng anh vẫn đanh lại khi mắt dán chặt vào các thông số đo biến dạng của hệ thống khung dầm. “Độ biến dạng dư đo được trên dầm số hai: mười bốn phần trăm. Vẫn nằm trọn trong giới hạn chịu lực an toàn của các tấm nẹp titan. Thân tàu hoàn toàn toàn vẹn. Hệ thống động lực phụ trợ hoạt động bình thường.”
“Nhìn về phía trước kìa,” Trần Kha đưa bàn tay thô ráp chỉ qua ô kính chắn gió, giọng ông run lên vì xúc động.
Giữa một vùng không gian tương đối tĩnh lặng, được bao bọc và che chắn bởi một vành đai các khối đá nhỏ trôi dạt chậm rãi, một công trình nhân tạo vĩ đại bằng thép đặc và kính chịu lực đang từ từ hiện ra từ bóng tối vũ trụ.
Đó là trạm Ngọn Đèn Năm.
Khung tháp phát laser công suất năm trăm megawatt sừng sững vươn lên giữa không gian bao la, nhưng hình ảnh của nó lúc này trông thảm hại và cô độc đến thắt lòng. Dàn tháp quang học khổng lồ nặng tám mươi tấn—trái tim của hệ thống định vị chùm tia—đang bị vặn vẹo, kẹt cứng cơ học ở một góc lệch hai mươi mốt độ so với đường chân trời quang học hướng về phía trạm mẹ Bạch Luân. Đó chính là vết tích câm lặng của vụ tháo trộm cụm bánh răng trục vít bằng đồng năm xưa mà Trần Kha đã cúi đầu thú nhận trong nỗi ân hận tột cùng.
“Chúng ta đã chính thức tiếp cận vùng kiểm soát an toàn của Trạm Năm,” Đỗ Linh kiểm tra lại đồng hồ đo thời gian, giọng cô ánh lên một tia hy vọng mong manh nhưng mãnh liệt. “Nhờ cú cắt thẳng qua tim mê cung của anh Hải, chúng ta đã bảo toàn được quỹ thời gian quý giá. Đồng hồ hành trình hiện tại chỉ còn đúng bốn mươi chín giờ ba mươi phút. Chúng ta có một cơ hội duy nhất để thực hiện Biên bản kỹ thuật số 17: dùng hệ thống tời kéo bằng cáp aramid của tàu để giằng kéo, cưỡng bức xoay tháp quang học về lại đúng góc trục.”
Hải khẽ gật đầu. Anh đưa bàn tay vẫn còn rát bỏng vươn tới cần gạt cơ học, chuẩn bị kích hoạt quy trình điều khiển vi sai để áp sát tai neo chịu lực trên thân tháp laser:
“Chuẩn bị sẵn sàng hệ thống cáp tời aramid ở khoang sau. Toàn tàu chuẩn bị tiếp cận, chúng ta bắt đầu khóa mục tiêu neo giữ…”
Lời của Hải còn chưa kịp dứt thì còi báo động quét radar chủ động của Tạ Nhi đột ngột rú lên một hồi chói tai, rền rĩ chưa từng thấy kể từ đầu chuyến hải trình. Tín hiệu âm thanh cảnh báo va chạm khẩn cấp cấp độ một đập thình thình vào màng nhĩ của mọi người.
“Báo động đỏ! Có vật thể lạ tăng tốc đột ngột ở góc phần tư số bốn!” Nhi thét lên, thanh âm lạc hẳn đi vì kinh hãi. Mắt cô dán chặt vào một chấm đỏ rực vừa bùng sáng bất thường trên màn hình định vị chiến thuật. “Đó là Tàu kéo tự hành mang mã hiệu 07!”
Cách mạn phải của *Chim Vá* chưa đầy năm trăm mét, con tàu kéo tự hành hình khối hộp vuông vức khổng lồ—cỗ máy vốn dĩ đang trôi dạt vô định trong trạng thái ngủ đông cơ học suốt nhiều ngày qua—bỗng nhiên phát ra một chuỗi tia lửa điện chằng chịt, sáng lóa quanh khoang điều khiển buồng máy. Rơ-le cơ điện cũ kỹ, rỉ sét bên trong khối xử lý của nó vừa bị kích hoạt bất thình lình bởi một xung lệnh rác ngẫu nhiên còn sót lại đang trôi nổi trong mạng lưới viễn thông thuộc địa.
Cụm động cơ đẩy chính chạy bằng năng lượng đồng vị của Tàu kéo 07 bất ngờ khai hỏa toàn lực. Một luồng lửa ion màu xanh tím rực rỡ, hung hãn phun trào ra từ các vòi xả phía đuôi, đẩy khối thép nặng hàng trăm tấn lao vút đi giữa không gian với một gia tốc điên cuồng, mù quáng.
Nhưng mối hiểm họa hủy diệt chết người không nằm ở bản thân con tàu kéo điên loạn đó.
Phía sau đuôi của nó, một sợi cáp thép cứu hộ chuyên dụng có đường kính mười phân, dài hơn bốn trăm mét, vốn đang chùng xuống lơ lửng giữa khoảng không chân không, nay dưới gia tốc cực đại đột ngột của con tàu đã bị giật căng vút thành một đường thẳng tắp, cứng đờ như một thanh xà kim loại.
Được kéo lê bởi cỗ máy hàng trăm tấn đang tăng tốc không kiểm soát, sợi cáp khổng lồ xé toạc chân không, quét ngang qua hành lang tiến nhập của *Chim Vá* với vận tốc kinh hoàng của một lưỡi hái tử thần.