Mẻ thuốc không thành đan
Đêm buông xuống gian Phòng Đan Hỏa tĩnh mịch, ngọn lửa đỏ cam từ nhánh địa hỏa được dẫn lên bập bùng dưới đáy lò Thanh Đồng, soi rõ gương mặt lấm tấm mồ hôi của Tô Linh Chi khi cô thận trọng cho từng vị thảo dược sơ chế vào lò.
Căn phòng xây bằng đá chẻ nằm sâu dưới nền đất Bách Thảo Đường luôn có một mùi ngai ngái quen thuộc: mùi bồ hóng bám lâu năm trên vách đá ráp, mùi khoáng thổ bốc lên từ lòng đất ẩm và hương thuốc ngưng tụ qua hàng trăm mẻ luyện của sư phụ Tô Hoài Sơn. Từng phiến đá xanh lót nền đều đã ngả sang màu xám xịt vì khói lửa địa hỏa hun đúc qua hàng chục năm ròng, những kẽ nứt li ti nơi chân tường đọng lại một lớp bột chu sa và vụn lưu huỳnh khô khốc. Nhưng đêm nay, ngoài việc chuẩn bị hai mươi hũ Cao Sinh Cơ thô để mai đổi phân ủ và cọc tre với Thôn Hạ Vân, Linh Chi còn gom góp nốt những nhúm vụn thảo dược tích trữ dưới đáy hòm: một nắm rễ Hoàng Kỳ rừng đã thái lát phơi khô, nửa lượng Phục Linh giã nhỏ, ít hạt linh cốc loại ba cùng vài nhánh Cam Thảo Vân Mộng hơi quắt queo.
Nàng muốn thử sức luyện một mẻ Ích Khí Hoàn nhất phẩm sơ giai.
Phiên chợ mồng năm bên bờ suối trấn Thanh Khê chỉ còn bốn ngày nữa là tới. Trong túi vải gai giắt bên hông của nàng hiện thời chỉ có vẻn vẹn ba mươi hai đồng tiền đồng thau cùng hai mẩu linh thạch vụn mỏng dính. Những đồng tiền thau đã mòn vẹt mép nằm lẻ loi trong góc bao gai, còn hai mẩu linh thạch vụn thì mờ đục, linh khí bên trong cạn kiệt đến mức chỉ cần bóp nhẹ cũng có thể vỡ vụn thành cát bụi. Khoản nợ một trăm hai mươi linh thạch hạ phẩm như một tảng đá ngàn cân đè nặng trên lưng, mà điều lệ thứ mười bảy của Thương hội Tứ Hải đòi hỏi nàng phải nộp đủ mười hai linh thạch vào ngày rằm tháng bảy để giữ lại căn nhà và ba mẫu linh điền.
Chỉ cần trễ hẹn một ngày, văn khế thế chấp sẽ lập tức có hiệu lực, đám chấp sự áo xám của thương hội sẽ kéo đến cắm cọc phong tỏa từng tấc đất mà sư phụ nàng đã nhọc nhằn khai khẩn. Muốn có linh thạch, nàng phải có hàng hóa bán được ở chợ phiên; mà ở phiên chợ ấy, ngoài cao dán và lá thuốc thô cho phàm nhân, đan dược tu sĩ cấp thấp mới thực sự là thứ có thể đổi lấy linh thạch vụn một cách nhanh chóng. Người đến chợ phiên không chỉ có dân cày hay thợ săn vùng phụ cận, mà còn có những tán tu áo rách rưới từ khắp các hẻm núi Vân Mộng đổ về tìm kiếm đan dược bổ khí giá rẻ để chuẩn bị cho những chuyến đi săn nguy hiểm trong rừng sâu.
Linh Chi hít sâu một hơi, điều động luồng linh lực mỏng manh thuộc tầng thứ ba cảnh giới Luyện Khí trong kinh mạch. Luồng khí tức mỏng manh như một sợi tơ mảnh lướt qua các khiếu huyệt, tuy yếu ớt nhưng dẻo dai phi thường nhờ công pháp thổ nạp mộc hệ mà sư phụ đã truyền dạy từ thuở nàng mới lên sáu. Hai bàn tay nhỏ nhắn của nàng áp sát vào hai bên tai lò, cẩn thận dẫn dắt ngọn lửa địa hỏa bốc lên qua cửa gió.
Lửa địa hỏa ngầm vốn mang tính hung bạo, hung hăng liếm vào lớp đồng dày cộp của thân lò, phát ra những tiếng vo ve trầm đục như tiếng bầy ong vò vẽ bị nhốt kín. Linh Chi khẽ nhắm mắt, dùng thần thức vụn vặt cảm nhận từng tia nhiệt lượng đang lan tỏa qua lớp kim loại dày.
Thảo dược lần lượt tan chảy trong lòng lò nung. Đầu tiên là Hoàng Kỳ để tạo khí cơ thuần hậu. Những lát rễ màu vàng nhạt, sần sùi thớ gỗ rừng già vừa chạm đáy lò nóng rực liền uốn cong lại, rỉ ra những giọt nhựa sẫm màu thơm nồng mùi đất rừng đầu hạ. Nàng dùng linh lực nâng niu dòng nhựa ấy, không để ngọn lửa liếm trúng làm cháy xém mép ngoài. Tiếp đến là Phục Linh để hòa hoãn tính táo. Đám bột trắng đục rơi xuống như một cơn mưa tuyết nhỏ, chạm vào chất nhựa Hoàng Kỳ liền nhanh chóng hút lấy chất ẩm, trương nở ra rồi hóa thành một lớp hồ dẻo quánh, tỏa ra mùi thanh đạm của nấm rừng bám rễ tùng bách ngàn năm. Cuối cùng là dịch chiết linh cốc để định hình đan thai. Từng giọt dịch tinh bột linh cốc loại ba đục ngầu do chính tay nàng nghiền nát chiều qua rơi tõm vào trung tâm khối thuốc, tạo nên những tiếng xèo xèo êm tai.
Dưới sự khống chế kiên nhẫn của Mộc linh căn pha Hỏa, đám dược liệu dần hóa thành một khối chất lỏng sền sệt màu vàng nâu, lăn tăn sôi và tỏa ra một làn khói trắng mang hương thơm ngọt mát dịu dàng. Mùi hương ấy luồn qua kẽ thông gió nhỏ trên nắp lò, bay lượn lờ trong gian phòng đá hẹp, xua tan đi cái lạnh ẩm bốc lên từ lòng đất sâu.
Mọi thứ dường như đang diễn ra vô cùng thuận lợi. Khối dược dịch bắt đầu thu nhỏ lại, chuyển từ trạng thái lỏng loãng sang dạng keo quánh, chuẩn bị bước vào giai đoạn then chốt nhất: ngưng đan thành những viên hoàn tròn trịa. Linh Chi cẩn thận giảm bớt một phần tư lưu lượng gió ở van dẫn khí, chuẩn bị dùng thuật "Ngưng Khí Khóa Đan" để chia khối keo thuốc thành bốn viên tròn đều đặn. Hai tay nàng hơi run rẩy vì linh lực tiêu hao quá nửa, nhưng khóe môi đã thấp thoáng một nụ cười nhẹ nhõm. Nếu mẻ này thành công, bốn viên Ích Khí Hoàn hạ phẩm dẫu có nhiều tạp chất thì ở chợ phiên vẫn có thể đổi được ít nhất ba mẩu linh thạch vụn nguyên vẹn.
Đúng lúc đó, đáy lò Thanh Đồng phát ra một tiếng rạn rất khẽ, tựa như tiếng vỏ trứng mỏng bị nứt dưới sức ép.
"Xì..."
Một tiếng rít sắc nhọn xé toạc không gian yên ắng. Ngay tại đường nứt cũ chạy dọc từ bụng lò xuống tận chân đế—vết nứt mà sư phụ từng dùng bột đất sét chịu nhiệt và bột thạch anh để trám tạm—bỗng xì ra một luồng khí nóng bỏng rát. Khí áp bên trong lò bị xáo trộn dữ dội. Do áp lực bộc phát cục bộ qua khe hở, luồng phong hỏa tuần hoàn giữ cân bằng nhiệt độ bỗng chốc đứt gãy, khiến hơi nóng bị thổi thốc ra ngoài, kéo theo một đợt nhiệt độ tụt dốc không phanh ở nửa thân lò phía tây.
Linh Chi biến sắc. Nàng vội vàng siết chặt van dẫn địa hỏa, dồn linh lực vào lòng bàn tay nhằm bịt kín khí tức đang thất thoát. Thế nhưng, nhánh địa hỏa bên dưới dường như cũng chập chờn rung rinh, ngọn lửa đỏ cam bỗng chao đảo như một dải lụa gặp gió lớn, không tài nào bù đắp kịp lượng nhiệt vừa sụt giảm. Lớp đất sét trám tạm thời từ ba năm trước nay đã lão hóa, dưới sức ép của hỏa độc tích tụ lâu ngày liền vỡ vụn thành từng mảng nhỏ rơi lả tả xuống rãnh dẫn lửa, để lộ ra một khe hở dài chừng nửa ngón tay đỏ rực ánh thép nung.
Không khí lạnh từ gian phòng ẩm thấp lập tức ùa vào qua khe nứt, chạm trán với luồng hơi thuốc đang sôi sục bên trong.
Bên trong lò, khối dược dịch đang trên đà co cụm thành đan hoàn lập tức mất đi lực nâng của luồng nhiệt đối lưu. Tiếng sôi lục bục tắt ngấm, thay vào đó là âm thanh sền sệt nặng nề buông xuôi. Lực ngưng tụ bị phá vỡ hoàn toàn trong chớp mắt. Dược dịch không thể ngưng kết tròn trịa, tan rã cấu trúc đan thai rồi chầm chậm lắng xuống, bám chặt vào đáy lò thành một lớp cao quánh sệt sẫm màu.
"Hỏng rồi..."
Linh Chi thốt lên một tiếng nghẹn ngào, mồ hôi trên trán rịn ra ướt đẫm hai bên tóc mai, lăn dài xuống gò má rồi rơi tõm vào nền đá xám. Trái tim nàng thắt lại vì tiếc của. Chỗ dược liệu ấy tuy là đầu thừa đuôi thẹo nhặt nhạnh trong kho, nhưng đối với hoàn cảnh kiệt quệ hiện tại của Bách Thảo Đường, mỗi một lát Hoàng Kỳ khô đều là mồ hôi nước mắt, là hy vọng đổi lấy vài ba đồng tiền mua gạo hay nửa thỏi linh thạch vụn. Nàng đứng sững người bên cạnh chiếc lò đang nguội dần, hai bàn tay tê dại vì linh lực bị phản phệ nhẹ, lồng ngực phập phồng những nhịp thở gấp gáp xen lẫn thất vọng ê chề.
Nàng cắn chặt môi, buông tay khỏi tai lò, dùng một que sắt cẩn thận cạy nắp Thanh Đồng ra. Làn khói mù mịt ùa lên bao trùm lấy gian phòng nhỏ.
Theo lẽ thường ở các lò luyện đan, một khi ngưng đan thất bại giữa chừng do mất nhiệt đột ngột, dược tính sẽ xung đột, khối thuốc bên trong nếu không phát nổ thì cũng sẽ cháy khét thành một đống tro đen hôi hám chứa đầy đan độc, chẳng còn chút giá trị nào ngoài việc nạo bỏ đi làm phân bón. Đan độc hình thành khi hỏa khí mất khống chế thiêu rụi phần linh dịch mỏng manh, biến những tinh chất thuần khiết thành cặn bã chứa tính ăn mòn kinh mạch ghê gớm.
Thế nhưng, chiếc mũi nhỏ nhắn và khứu giác bẩm sinh cực kỳ bén nhạy của Linh Chi bỗng khẽ giật giật.
Nàng không ngửi thấy mùi khét lẹt của carbon cháy xém, cũng không có mùi hôi hắc nồng nặc của dược chất bị biến đổi thành độc tính. Làn khói bốc lên từ lòng lò Thanh Đồng tuy dày đặc nhưng lại mang theo một mùi thơm ấm áp, ngai ngái mùi đất và dịu ngọt như mật mía được đun sôi vừa độ. Không hề có vị đắng chát làm cay sống mũi, cũng chẳng có chút cảm giác ngột ngạt buồn nôn nào của hỏa sát tà khí.
Linh Chi nheo mắt, dùng chiếc thìa gỗ cán dài khều nhẹ một vệt cao thuốc dính ở rìa lò, đưa lên gần mũi cẩn thận phân biệt từng tầng hương khí.
Linh tính của Mộc căn lập tức phản hồi: Hoàng Kỳ rừng không bị đốt cháy mà chỉ tiết ra toàn bộ chất nhựa dưỡng khí; Phục Linh dưới tác động của luồng nhiệt hạ dốc đều đặn đã hòa tan hoàn toàn vào lớp tinh bột linh cốc, tạo thành một chất nền dẻo quánh; Cam Thảo Vân Mộng làm tròn vai trò điều hòa, gột rửa đi tính táo nhiệt của ngọn lửa địa hỏa ban đầu. Nói cách khác, mẻ thuốc này thất bại trong việc cô đọng linh lực thành đan hoàn cho tu sĩ uống vào đan điền, nhưng tinh chất cốt lõi của các vị thảo mộc bên trong lại vô tình chuyển hóa thành một trạng thái cực kỳ ổn định mang tính ôn bình thuần hậu.
Sự sụt giảm nhiệt độ đột ngột không phá hủy cấu trúc dược chất, mà ngược lại, đã "đóng băng" quá trình biến đổi hóa học ở một điểm cân bằng kỳ lạ: phần linh khí bốc phát biến mất, để lại phần dược tính thuần khiết bám chặt vào lớp tinh bột dẻo dai.
"Không cháy... Dược lực không hề phân rã thành độc tố, mà chỉ hạ từ dạng bốc phát thành dạng lắng tụ." Nàng lẩm bẩm, ánh mắt trong veo bừng sáng lên một tia hy vọng mới mẻ.
Sư phụ Tô Hoài Sơn từng dạy nàng: *“Người luyện đan vụng về chỉ biết nhìn vào hình dáng viên thuốc tròn hay méo, kẻ hiểu thấu dược lý lại nhìn vào bản chất của cái mầm thuốc xem nó có thể dùng để cứu giúp sinh linh hay không. Trời đất sinh ra cỏ cây vốn chẳng có thứ nào là phế phẩm, chỉ có kẻ bốc thuốc không biết dùng đúng chỗ mà thôi.”*
Nàng nhớ như in những buổi chiều tà, khi hai thầy trò ngồi bên chiếc chõng tre trước sân phơi thuốc, sư phụ thường cầm những cọng rễ cây xơ xác bị người ta vứt bỏ ven đường mà giảng giải cho nàng nghe về "dược tính quy kinh". Sư phụ bảo, đan đạo của giới tu chân ngày nay đã quá sa đà vào việc truy cầu linh khí nồng đậm để đột phá cảnh giới, mà quên mất rằng cỏ cây sinh ra từ đất mẹ trước hết là để che chở, xoa dịu những nỗi đau đớn thể xác của muôn loài.
Linh Chi nhìn lớp cao vàng nâu quánh đặc dưới đáy chiếc lò nứt, trong đầu bất chợt hiện lên hình ảnh đôi bàn tay nứt nẻ, gân guốc của bác Trần Đại Phúc ban chiều, cùng lời kể về những người thợ cày, thợ rừng ở Thôn Hạ Vân quanh năm dầm mưa dãi nắng, khớp gối sưng vù, lưng còng rạp vì chứng phong hàn ngấm sâu vào cơ bắp. Bác Phúc từng bảo, cứ mỗi độ cuối thu chuyển sang đông, hay những ngày mưa dầm dề kéo dài suốt nửa tháng, nửa cái lưng của bác lại đau buốt như có hàng ngàn mũi kim châm vào tủy xương, đến mức cúi xuống cấy một dảnh mạ cũng phải nghiến răng ứa nước mắt.
Người phàm không có kinh mạch thông suốt như tu sĩ, lục phủ ngũ tạng mỏng manh, nếu uống đan dược chứa linh khí cuồn cuộn vào bụng chẳng những không bổ béo gì mà còn có thể bị linh lực công phạt làm nứt toác ruột gan. Ngay cả một viên Ích Khí Hoàn hạ phẩm chứa đầy tạp chất của tu sĩ cấp thấp, người phàm uống vào cũng có thể bị hỏa khí thiêu đốt kinh lạc, nhẹ thì nôn ra máu, nặng thì đứt mạch máu mà chết. Nhưng nếu là một loại thuốc bôi ngoài da, thẩm thấu chậm rãi qua từng thớ thịt thì sao?
Lớp biểu bì của con người vốn là tấm lá chắn tự nhiên, nó có thể ngăn chặn tà khí từ bên ngoài xâm nhập, nhưng đồng thời cũng tiếp nhận sự ấm áp của các loại thảo mộc có tính ôn thông hoạt huyết. Nếu có thể biến lớp cao quánh này thành một thứ thuốc xoa bóp ngoài da, dẫn dược lực của Hoàng Kỳ và Phục Linh đi thẳng vào các ổ khớp sưng tấy...
Nghĩ là làm, Linh Chi lập tức hành động. Nàng không dập lửa mà gạt nhẹ cần điều tiết, giữ cho nhánh địa hỏa chỉ còn le lói một đốm than đỏ hồng như mắt mèo trong bóng tối. Ngọn lửa liu riu vừa đủ để giữ ấm đáy lò, không để khối cao bị đông cứng lại thành mảng sáp khô khốc.
Nàng chạy thoăn thoắt sang góc phòng, nơi kê chiếc giá gỗ ba tầng chất đầy các loại hũ sành, lọ gốm chứa dược liệu sơ chế dự trữ. Nàng lấy xuống một hũ sáp ong rừng được bọc kín bằng lá chuối khô và một lọ gốm nhỏ chứa dịch chiết hoa cúc núi phơi sương—thứ nước cất hoa cúc vàng rực do chính tay nàng hái từ các khe đá trên đỉnh Vân Mộng hồi đầu thu năm ngoái, nổi tiếng với công năng thanh nhiệt giải độc, làm dịu các vết sưng tấy và xua tan khí lạnh bế tắc.
Từng giọt dịch hoa cúc núi ấy được chưng cất qua ba tầng vải lọc, giữ lại trọn vẹn cái the mát thanh tao của sương sớm vùng núi cao. Còn tảng sáp ong rừng màu nâu sẫm kia là báu vật mà nàng đổi được từ một người thợ săn hồi đầu năm, sáp ong tự nhiên chưa hề pha tạp, dẻo quánh và thơm lừng mùi mật hoa ngàn năm.
Dùng dao con cắt một miếng sáp ong to bằng quả trứng chim le le, Linh Chi thả ngay vào lòng lò Thanh Đồng đang còn âm ấm. Miếng sáp màu vàng óng gặp nhiệt liền từ từ tan chảy, hòa quyện vào lớp cao thảo mộc quánh dẻo. Nàng cầm chiếc thìa gỗ mun, dùng sức cổ tay khuấy đều theo chiều thuận của kinh lạc. Đôi mắt nàng chăm chú quan sát từng bọt khí nhỏ li ti nổi lên rồi vỡ tan.
Việc khuấy thuốc này đòi hỏi sự kiên nhẫn vô bờ. Lực tay phải đều đặn, không được quá nhanh làm bọt khí lọt vào quá nhiều, cũng không được quá chậm khiến sáp ong bị vón cục ở rìa lò. Nàng vận một sợi linh lực Mộc hệ cực mỏng truyền qua cán thìa mun, cảm nhận sự giao hòa giữa sáp ong và dịch thuốc thảo mộc. Khi sáp ong và dịch thuốc đã quyện chặt thành một thể thống nhất, mặt thuốc trở nên bóng loáng như một mặt hồ gương phẳng lặng, nàng nghiêng miệng lọ gốm, rỏ từng giọt dịch hoa cúc núi vào giữa tâm xoáy.
"Xèo..."
Một làn sương mỏng mang hương thơm the mát, thanh khiết của hoa cúc lập tức bốc lên, trung hòa hoàn hảo cái ấm nồng của Hoàng Kỳ và Cam Thảo. Dưới tác động của ngọn lửa nhỏ liu riu, lớp bã thuốc vốn có nguy cơ bị vứt bỏ vào hố rác nay đã biến hình thành một khối cao mềm mượt như mỡ đông, sắc óng ánh như hổ phách non, tỏa ra luồng hơi ấm dịu dàng mà không hề gay gắt. Từng làn khói mỏng bốc lên mang theo hương thơm dễ chịu đến mức làm dịu hẳn sự căng thẳng thần kinh tích tụ suốt mấy ngày qua trong đầu Linh Chi.
Linh Chi dùng đầu ngón tay khẽ quệt một chút cao nguội ở miệng thìa, xoa nhẹ lên mu bàn tay mình.
Chất cao chạm vào da thịt liền tan ra nhẹ nhàng, mướt mịn như tơ lụa mà không hề gây cảm giác nhờn rít, bết dính khó chịu. Một cảm giác mát rượi ban đầu do dịch hoa cúc núi mang lại nhanh chóng nhường chỗ cho một luồng hơi ấm âm ỉ, dịu nhẹ len lỏi qua từng lỗ chân lông, làm giãn những đường gân đang căng cứng vì cả ngày vất vả đào rãnh cuốc đất. Cơ bắp trên bàn tay nàng như được ngâm trong bồn nước suối ấm, cảm giác nhức mỏi rã rời bấy lâu tan biến một cách thần kỳ. Luồng hơi ấm ấy không hề bốc hỏa công tâm như khi tu sĩ nuốt đan dược, mà nó cứ chầm chậm tỏa ra, êm đềm như một bàn tay ấm áp xoa bóp đều đặn lên các khớp xương nhỏ nơi cổ tay.
"Tuyệt thật... Giảm đau, thư cân hoạt lạc, lại hoàn toàn không có linh lực bộc phát làm tổn thương huyết nhục người thường!" Linh Chi mừng rỡ thì thào. Đôi mắt nàng sáng lấp lánh trong bóng tối gian phòng hầm. Thứ này đối với các tu sĩ cao cao tại thượng có lẽ chẳng đáng một đồng xu, nhưng đối với những người phàm quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời ở Thôn Hạ Vân hay bến sông Thanh Khê, nó chính là thần dược cứu mạng giúp họ bớt đi những đêm dài mất ngủ vì đau đớn.
Ngay lúc nàng đang say sưa ngắm nghía thứ cao dược vừa tạo ra, một bóng đen nhỏ thó từ trên xà nhà bằng gỗ lim thoăn thoắt tụt xuống bờ vai nàng, rồi đáp nhẹ như một chiếc lá khô lên mặt bàn đá bên cạnh lò luyện.
Đó là Đậu Đậu. Chú Tầm Hương Thử non toàn thân phủ một lớp lông xám tro mềm mượt, hai cái tai tròn xoe vểnh lên nghe ngóng, cái mũi hồng hào nhỏ như hạt đỗ liên tục hít hà trong không khí. Nó chớp chớp đôi mắt đen láy như hạt cườm, nghiêng đầu nhìn chằm chằm vào chiếc thìa gỗ dính vệt cao thuốc màu hổ phách. Đậu Đậu vốn là con thú nhỏ do nàng nhặt được bên bìa rừng mùa mưa năm ngoái khi nó bị một con chim ưng săn đuổi gãy mất một chân sau. Được nàng cứu chữa và nuôi nấng bằng vụn linh thảo, con vật nhỏ này quấn quýt nàng không rời nửa bước.
"Đậu Đậu, đừng có nghịch bậy, đây là thuốc đấy." Linh Chi cười khẽ, nhưng không ngăn cản.
Loài Tầm Hương Thử trời sinh có khứu giác nhạy cảm gấp trăm lần người thường đối với linh thảo và độc tố. Nếu trong thuốc có chứa tạp chất nguy hại hay đan độc còn sót lại từ hỏa khí ngầm, con vật nhỏ này sẽ lập tức hắt hơi thối lui, thậm chí cuộn tròn người lại tìm nơi trốn chạy. Bản năng sinh tồn của loài gặm nhấm tìm kiếm linh dược hoang dã chưa bao giờ lừa dối chúng trước những thứ có hại cho sinh mệnh.
Thế nhưng, Đậu Đậu chẳng những không lùi bước mà còn rón rén bước lại gần. Nó hít thật sâu một hơi, râu mép rung rung đầy vẻ khoái chí, hai cái chân trước nhỏ xíu cào cào lên mặt bàn đá vẻ sốt ruột. Rồi nó bạo dạn vươn chiếc lưỡi nhỏ xíu màu hồng liếm láp một vệt cao dính trên thành thìa gỗ.
Nó nhai nhai cái miệng nhỏ, sau đó thong thả ngồi bệt xuống mặt bàn, đưa hai chân trước lên vuốt vuốt chùm râu, phát ra những tiếng "khẹc khẹc" êm ái trong cổ họng như một đứa trẻ vừa được nếm kẹo ngọt. Hoàn toàn không có co giật, không có nôn mửa, cũng chẳng có chút biểu hiện khó chịu nào của việc trúng độc. Nó thậm chí còn lười biếng vươn vai một cái, ngáp dài để lộ hai chiếc răng cửa trắng tinh rồi cuộn tròn đuôi lại bên cạnh lọ gốm ấm áp.
"Mày thích mùi này à?" Linh Chi bật cười, đưa ngón tay xoa nhẹ lên cái bụng tròn xoe của nó. Đậu Đậu liền cọ cọ đầu vào ngón tay nàng, phát ra tiếng thở khò khè nhè nhẹ, tỏ vẻ vô cùng thỏa mãn.
Sự xác nhận của Đậu Đậu tiếp thêm cho Linh Chi sự tự tin tuyệt đối. Bản năng của loài thú tìm hương không bao giờ sai lầm: mẻ thuốc này không có độc, lại có dược tính ôn hòa đến mức ngay cả một con thú non mỏng manh nuốt vào bụng cũng không hề hấn gì.
Nàng lập tức quay về bàn con, thắp sáng ngọn đèn dầu hạt cải. Ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn xua tan bóng tối xung quanh chiếc bàn gỗ mộc thô sơ. Linh Chi mở cuốn sổ tay bọc giấy dó đã ố vàng của mình ra. Cuốn sổ này đã mòn rách bốn góc, bên trong chi chít những dòng ghi chép của sư phụ từ hàng chục năm trước, và xen kẽ là những nét chữ nhỏ nhắn, mảnh dẻo của nàng. Thói quen này nàng học được từ chính sư phụ: bất kỳ một mẻ thuốc nào, dù thành công rực rỡ hay thất bại ê chề, đều phải được ghi chép lại rành mạch từng chi tiết nhỏ nhất. Người làm nghề thuốc mà qua loa tắc trách với từng cân lạng thảo mộc thì sớm muộn cũng biến chén thuốc cứu người thành chén độc dược giết người.
Nàng chấm bút lông vào nghiên mực mực nho, nắn nót viết từng dòng chữ ngay ngắn:
*“Ngày mồng hai tháng bảy, giờ Hợi.* *Lò Thanh Đồng rạn nứt tại thân dưới, nhiệt độ thất thoát đột ngột làm hỏng mẻ Ích Khí Hoàn.* *Dược liệu sử dụng: Hoàng Kỳ rừng ba đồng cân, Phục Linh hai đồng cân, dịch chiết linh cốc loại ba nửa lượng, Cam Thảo Vân Mộng một đồng cân.* *Cứu vãn: Đun lửa nhỏ liu riu, phối thêm ba đồng cân sáp ong rừng làm chất nền, hòa mười giọt dịch chiết hoa cúc núi.* *Hiện tượng: Khối dược hòa quyện thành dạng cao dẻo mềm, màu hổ phách trong suốt, mùi thơm mát hơi ấm. Dược tính chuyển hóa từ bổ khí sang tán ứ hoạt huyết, làm dịu cơ gân thớ thịt.* *Thử nghiệm sơ bộ: Tầm Hương Thử liếm thử không phản ứng ngộ độc; bôi thử trên da người có cảm giác ấm dịu, thẩm thấu nhanh, không gây mẩn đỏ ngứa rát.* *Tạm đặt tên: Thư Cân Dưỡng Cốt Cao.”*
Viết xong, nàng khẽ thổi nhẹ cho nét mực mau khô. Nhìn những dòng chữ mực đen nhánh trên nền giấy dó ngả vàng, lòng nàng dâng lên một cảm giác bình yên kỳ lạ. Dù tương lai còn mịt mờ, dù món nợ lớn vẫn treo lơ lửng trên đầu, nhưng ít nhất đêm nay nàng đã không bỏ cuộc, nàng đã tìm ra một con đường nhỏ xuyên qua bụi rậm gai góc.
Linh Chi cẩn thận múc chất cao còn đang ấm nóng từ đáy lò ra hai mươi chiếc hũ sành nhỏ—loại hũ tráng men thô mà nàng vẫn dùng để đựng cao trị bỏng thường ngày. Chiếc thìa gỗ mun xúc từng muỗng cao hổ phách sánh mịn rót vào miệng hũ, tiếng thuốc chảy róc rách nghe thật vui tai. Lượng thuốc vừa vặn lấp đầy mười tám hũ, nàng chừa lại hai hũ mẫu: một hũ để tiệm dùng thử cho khách ghé qua xem bệnh và một hũ bọc cẩn thận trong tấm vải điều sạch sẽ để mang đi kiểm định.
Khi những hũ cao nguội hẳn, lớp thuốc bên trong đông lại thành một khối mỡ dẻo bóng bẩy, tỏa ra mùi hương dịu dàng thanh thoát. Nàng dùng giấy dầu đậy kín miệng từng chiếc hũ, rồi dùng dây gai mảnh buộc chặt lại theo hình chữ thập cẩn thận.
Sau khi đã hoàn tất nốt việc nấu mẻ Cao Sinh Cơ thông thường để sáng mai giao cho nhóm thanh niên Thôn Hạ Vân gánh phân ủ lên, trời bên ngoài đã bắt đầu le lói ánh rạng đông. Tiếng gà rừng gáy le te vọng lại từ sườn núi xa xôi, xé toạc màn sương mù dày đặc đang bao phủ khắp núi Vân Mộng.
Sương mù sáng sớm trên núi Vân Mộng lạnh buốt thấu xương. Hơi ẩm ngấm qua kẽ liếp, đọng thành những giọt nước long lanh trên mái tranh hiên nhà. Linh Chi chỉ kịp rửa mặt bằng nước suối lạnh cho tỉnh táo. Làn nước mát lạnh làm da mặt nàng se lại, xua tan đi sự mỏi mệt của một đêm dài thức trắng bên lò lửa. Nàng mặc vào bộ y phục vải thô màu cỏ úa gọn gàng, vạt áo vén lên giắt gọn bên hông, búi mái tóc đen nhánh bằng một dải lụa đơn sơ rồi cất chiếc hũ sành mẫu cùng cuốn sổ ghi chép vào chiếc giỏ mây đeo bên hông.
Nàng đi qua gian chái đông. Căn phòng này vốn là nơi chứa thảo dược khô, nay đã được dọn dẹp ngăn nắp làm chỗ dưỡng thương cho người khách lạ. Cánh cửa liếp vẫn khép hờ, bên trong vọng ra tiếng thở đều đặn, trầm ổn của Mặc Trúc. Người kiếm tu ấy dù đang trọng thương, kinh mạch tổn hại nặng nề nhưng tính kỷ luật vẫn vô cùng nghiêm ngặt, ranh giới giữa hai gian phòng luôn được giữ gìn đúng như giao ước. Linh Chi không đánh thức anh, chỉ để lại một âu cháo linh cốc ấm trên chiếc chõng tre ngoài hiên kèm mảnh giấy dặn dò ngắn gọn về giờ uống thuốc, rồi một mình cất bước xuống núi.
Con đường mòn từ sườn nam núi Vân Mộng uốn lượn qua những rặng trúc xanh rì, dẫn thẳng xuống thị trấn Thanh Khê. Những thân trúc vươn thẳng tắp lên nền trời mờ đục, lá trúc đẫm sương sớm thỉnh thoảng lại khẽ nghiêng mình trút xuống những giọt nước lạnh buốt rớt trên vai áo nàng. Buổi sớm mai, thị trấn đã bắt đầu rộn rã tiếng đòn gánh kĩu kịt của những người bán rau từ các làng phụ cận gánh hàng vào chợ, tiếng búa đập chan chát từ phường rèn sắt đầu cầu và tiếng nước vỗ bì bõm nơi bến thuyền buôn bán tấp nập của Thương hội Tứ Hải.
Mùi khói bếp từ những quán bán bánh bao hấp, mùi dầu mỡ chiên quẩy và mùi bùn non ngai ngái từ lòng sông hòa quyện vào nhau, tạo nên cái không khí ồn ã, tràn trề sức sống của một thị trấn vùng biên giới tu chân.
Linh Chi không rẽ vào những con phố buôn bán sầm uất mà đi thẳng về phía nam trấn, nơi tọa lạc một tòa viện trang nghiêm xây bằng đá xám cổ kính. Trên cổng lớn treo một tấm biển gỗ đào khắc ba chữ thiếp vàng trầm mặc: *Dược Sư Hội*.
Đây là nơi cai quản mọi quy chuẩn về thảo dược, kiểm định phẩm cấp đan phương và phân xử những tranh chấp nghề nghiệp của cả vùng non nước Vân Mộng. Khác với vẻ lộng lẫy xa hoa, lầu son gác tía của Vạn Đan Các cách đó hai dãy phố—nơi các đan sư áo lụa bóng bẩy luôn ngẩng cao đầu tự phụ—Dược Sư Hội mang một không khí tĩnh lặng, nghiêm cẩn và có phần lạnh lùng của những người làm việc dựa trên quy tắc và bằng chứng thực tế. Những bức tường đá xám phủ rêu xanh đứng sừng sững qua bao năm tháng như một lời nhắc nhở về sự chuẩn xác và đạo đức tối thượng của nghề cứu người.
Bước vào đại sảnh lát đá hoa cương mát lạnh, Linh Chi nhìn thấy vài vị học đồ đan sư áo xám đang cặm cụi phân loại các sọt mẫu phẩm dược liệu gửi về từ các hiệu thuốc trong vùng. Tiếng dao thái thuốc xào xạc, tiếng cân tiểu ly va chạm lách cách tạo nên một nhịp điệu quen thuộc. Nàng bước tới bàn tiếp nhận bằng gỗ lim bóng loáng, khẽ cúi đầu hành lễ:
"Kính thưa quản sự, tiểu nữ là Tô Linh Chi ở Bách Thảo Đường trên núi Vân Mộng, hôm nay mang một mẫu cao dược mới chế biến đến xin làm kiểm định tính an toàn và độc tính tồn dư."
Vị học đồ trạc ngoài hai mươi tuổi ngẩng đầu lên, vừa nghe thấy cái tên Bách Thảo Đường liền khẽ biến sắc, ánh mắt lộ vẻ tò mò pha lẫn chút ái ngại. Chuyện Tô Hoài Sơn đột ngột bế quan để lại món nợ lớn và một đống hỗn độn đã lan truyền khắp giới dược sư mấy ngày qua. Người ta đồn rằng Bách Thảo Đường sắp bị xiết nợ, rằng nữ đệ tử duy nhất của Tô lão đầu sắp phải cuốn gói rời khỏi núi Vân Mộng. Gã toan mở miệng hỏi thêm bằng giọng trịch thượng thì từ cánh cửa vòm phía sau đại sảnh, một giọng nói trầm tĩnh, dứt khoát vang lên:
"Đưa con bé vào phòng thẩm định số hai cho ta."
Người vừa bước ra là một nữ tử trung niên vận trường bào màu chàm giản dị, vạt áo thêu một đóa linh lan nhỏ màu bạc—biểu trưng của đan sư ngũ phẩm. Mái tóc bà búi cao cài một chiếc trâm ngọc bích mộc mạc, không hề có thêm bất kỳ trang sức cầu kỳ nào. Gương mặt bà có những đường nét cương nghị, đuôi mắt hằn sâu vài nếp nhăn của sự từng trải và những đêm dài thức trắng bên bàn thí nghiệm, đôi mắt sắc sảo như muốn nhìn thấu tâm can người đối diện.
Đó chính là Kỷ Như Tâm, Phó hội trưởng Dược Sư Hội Thanh Khê.
"Kỷ tiền bối." Linh Chi vội vàng vòng tay hành lễ một cách cung kính. Nàng biết rất rõ, vị phó hội trưởng này nổi tiếng khắp trấn là người chí công vô tư, nghiêm khắc đến mức lạnh lùng, ghét nhất những kẻ dối trá, bốc đồng hay mượn danh đan sư để bán những thứ thuốc chưa qua kiểm chứng nhằm kiếm chác bất chính. Đã có không ít học đồ xuất thân danh gia vọng tộc bị bà thẳng tay tước bỏ tư cách chỉ vì gian lận một lạng dược liệu hay ghi chép sai lệch thời gian hỏa hầu.
"Đi theo ta." Kỷ Như Tâm chỉ buông một câu ngắn gọn rồi quay người bước vào gian phòng kiểm định phía sau, tà áo màu chàm khẽ lay động theo từng bước chân dứt khoát.
Căn phòng thẩm định số hai rộng rãi nhưng bày biện cực kỳ ngăn nắp. Bốn phía tường kê kín những kệ gỗ chứa đầy các bình thau đựng dung dịch thử nghiệm, các loại bột khoáng chất và hàng trăm thẻ tre ghi chép bệnh án cũ. Không khí trong phòng phảng phất mùi cồn thuốc nồng nàn và mùi tinh dầu thông the mát. Ở chính giữa phòng đặt một chiếc bàn đá nguyên khối, bên trên khảm một chiếc trận bàn bằng đồng thau bát giác—đây là Khảo Dược Trận Bàn chuyên dùng để đo lường nồng độ hỏa độc, tạp chất và độ tinh khiết của dược liệu.
Kỷ Như Tâm ngồi xuống chiếc ghế bành bọc da hươu, đưa mắt nhìn Linh Chi đang đứng ngay ngắn trước bàn:
"Ngươi mang thứ gì đến? Thuốc thang hay đan hoàn?"
"Thưa tiền bối, là cao xoa bóp ngoài da." Linh Chi bình tĩnh đáp, hai tay nâng chiếc hũ sành nhỏ cùng cuốn sổ tay giấy dó đặt lên bàn đá. "Tối qua tiểu nữ luyện thuốc không may gặp sự cố nhiệt độ tụt dốc, đan hoàn không thể thành hình. Tiểu nữ nhận thấy dược chất không bị thiêu cháy mà chuyển hóa thành tính ôn bình, nên đã thêm sáp ong và dịch hoa cúc núi để tinh chế thành loại cao xoa này, nhằm giảm đau nhức gân cốt cho phàm nhân lao động nặng."
Chân mày Kỷ Như Tâm khẽ nhướng lên. Bà không vội mở hũ thuốc mà đưa tay cầm lấy cuốn sổ tay giấy dó trước. Những ngón tay thon dài, có vết chai mỏng nơi đầu ngón do cầm dao gạt thuốc lâu năm lật mở từng trang giấy.
Khi lật mở từng trang giấy, ánh mắt sắc sảo của vị phó hội trưởng bỗng khựng lại. Từng nét chữ ngay ngắn, từng mục ghi chép tỉ mỉ từ giờ giấc mở lò, thành phần dược liệu theo đồng cân, hiện tượng rạn nứt của lò Thanh Đồng, sự thay đổi của khí tức, cho đến quy trình xử lý cứu vãn và bước thử nghiệm sơ bộ trên Tầm Hương Thử... tất cả đều rành mạch, logic và chuẩn xác đến đáng kinh ngạc.
Phong cách ghi chép này... quá đỗi quen thuộc. Đã bao nhiêu năm rồi bà không nhìn thấy cách ghi nhật ký luyện dược cẩn thận đến từng li từng tí như thế này kể từ ngày Tô Hoài Sơn dọn lên ở ẩn trên sườn nam núi Vân Mộng?
Năm xưa, hai người bọn họ từng là đồng môn dưới trướng một vị danh sư danh chấn phương nam, cũng từng cùng nhau thức trắng đêm bên những lò đan rực lửa, từng tranh cãi nảy lửa về việc liệu có nên công bố những đan phương chưa thực sự hoàn thiện hay không. Hoài Sơn luôn cố chấp, luôn muốn ôm đồm mọi thứ vào mình và đòi hỏi sự an toàn tuyệt đối cho người bệnh đến mức cực đoan. Lão thà chịu nghèo khổ, thà bế quan quanh năm chứ nhất quyết không chịu cúi đầu trước những quy tắc thương mại hóa đầy thực dụng của các thương hội lớn. Nhìn thấy cuốn sổ của Linh Chi, nhìn thấy từng nét gạch đầu dòng cẩn trọng y hệt như nét bút của Tô lão đầu năm nào, trong lòng Kỷ Như Tâm dâng lên một cảm xúc phức tạp, vừa bùi ngùi hoài niệm, vừa có chút xót xa cho hoàn cảnh hiện tại của đứa trẻ mồ côi này.
Bà khẽ thở dài một tiếng không để lộ ra ngoài, cẩn thận gấp cuốn sổ lại rồi mở nắp chiếc hũ sành.
Mùi hương thảo mộc thanh dịu, ngai ngái mùi đất ấm và thơm ngát hương hoa cúc lập tức lan tỏa khắp căn phòng đá. Kỷ Như Tâm khẽ gật đầu, đưa hũ thuốc lên gần mũi hít nhẹ một hơi để phân giải các tầng hương, sau đó dùng một que bạc mỏng lấy ra một lượng cao bằng hạt đỗ xanh, đặt vào tâm điểm của chiếc trận bàn bằng đồng thau.
"Ong..."
Bà điểm nhẹ một ngón tay vào trận nhãn, rót vào đó một luồng linh lực tinh thuần của tu sĩ Trúc Cơ. Mặt trận bàn lập tức sáng lên những đường vân trận pháp màu lam nhạt, các ký tự bát quái cổ xưa bắt đầu xoay chuyển nhịp nhàng quanh tâm điểm. Vệt cao thuốc trên que bạc từ từ tan chảy dưới sức nóng vô hình của trận pháp, bốc thành một làn khói mỏng màu trắng ngà lượn lờ bên trên các ký tự cổ.
Tám phương vị của trận bàn lần lượt lóe sáng: Phương Khảm hiện sắc xanh biếc—chỉ số thủy tính ổn định, độ ẩm thích hợp, dung môi giữ nước hoàn hảo. Phương Ly hiện sắc đỏ nhạt rồi nhanh chóng chuyển sang màu cam ấm—hỏa độc bằng không, nhiệt tính hung bạo của địa hỏa đã được thuần hóa hoàn toàn thành nhiệt lượng ôn dưỡng. Phương Cấn hiện sắc vàng đất sâu lắng—dược lực bồi bổ tỳ vị, dưỡng cơ nhục ôn hòa, không có dấu hiệu xâm lấn tạng phủ. Ký tự "Độc" màu đen mun ở rìa ngoài cùng của trận bàn tuyệt nhiên không hề phát ra một tia sáng nào, vẫn nằm im lìm trong trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối.
Kỷ Như Tâm chăm chú quan sát sự lưu chuyển của làn khói thuốc trong suốt nửa tuần hương, ghi nhận tốc độ phân rã của tinh chất thảo mộc dưới tác động của linh áp trận pháp. Không hề có khói đen, không có tia lửa lẹt đẹt do tạp chất phát nổ, cũng không có mùi hôi khét biến chất. Khi ngọn đèn trận pháp từ từ tắt ngấm, làn khói trắng ngà tan biến vào không khí để lại một vệt sáp trong veo trên đĩa bạc, bà mới thu tay về, nét mặt tuy vẫn nghiêm nghị nhưng trong ánh mắt đã bớt đi vài phần xa cách lạnh lùng ban đầu.
"Dược tính thuần khiết, tính ôn lương dung hòa, hoàn toàn không có tạp chất độc hại hay tàn dư hỏa sát từ địa hỏa." Kỷ Như Tâm chậm rãi đưa ra kết luận chuyên môn, giọng nói bình thản nhưng đầy sức nặng. "Hoàng Kỳ bổ khí hoạt huyết, kết hợp với hoa cúc tán phong nhiệt, sáp ong khóa ẩm giữ ấm ngoài biểu bì. Khối cao này quả thực có công năng sơ thông kinh lạc ở tầng nông rất tốt, an toàn tuyệt đối cho phàm nhân không có linh căn."
Linh Chi thở phào một hơi nhẹ nhõm, tảng đá đè nặng trong lồng ngực suốt từ đêm qua như vừa được nhấc ra, hai vai nàng khẽ chùng xuống trong thoáng chốc:
"Tạ ơn Kỷ tiền bối đã công tâm soi xét."
Kỷ Như Tâm kéo một tờ giấy bản màu vàng nhạt có đóng sẵn dấu chìm hình đỉnh lô của Dược Sư Hội lại gần. Bà nhấc chiếc bút lông sói chấm mực đỏ son, thoăn thoắt viết giấy chứng nhận kiểm định an toàn bằng những dòng chữ chân phương, rành mạch:
"Loại Thư Cân Dưỡng Cốt Cao này của ngươi đủ tiêu chuẩn lưu hành. Ta cấp cho Bách Thảo Đường giấy chứng nhận độc tính an toàn và quyền lưu hành dưới dạng cao bôi dân dụng tại phiên chợ trấn Thanh Khê."
Bà ấn chiếc ngọc ấn bằng đá thanh ngọc của Dược Sư Hội xuống góc dưới tờ giấy, tiếng đóng dấu "cộp" một cái vang lên dứt khoát trên mặt bàn đá. Dấu mực đỏ tươi như son in hằn hình chiếc đỉnh ba chân trang nghiêm. Nhưng khi đưa tờ chứng nhận cho Linh Chi, bàn tay Kỷ Như Tâm bỗng giữ chặt mép giấy, không buông ra ngay. Ánh mắt sắc sảo, nghiêm khắc của bà xoáy thẳng vào đôi mắt trong veo của thiếu nữ trẻ:
"Tuy nhiên, Tô Linh Chi, ngươi phải nhớ kỹ lời ta dặn đây."
"Tiểu nữ xin lắng nghe." Linh Chi nghiêm trang đứng thẳng người, hai tay chắp trước bụng, cung kính cúi đầu.
"Thứ này chỉ là cao bôi xoa bóp dân dụng dành cho người thường lao động nặng, tuyệt đối không phải là đan dược!" Giọng nói của Kỷ Như Tâm đanh lại, từng lời từng chữ như gõ vào đá, vang vọng khắp căn phòng kiểm định tĩnh mịch. "Tu vi của ngươi hiện thời mới chỉ ở Luyện Khí tầng ba, chưa từng thông qua kỳ khảo hạch Đan sư nhất phẩm chính thức của hội quán, không có bài vị đan sư do Dược Sư Hội cấp. Trên nhãn thuốc dán ngoài hũ, ngươi chỉ được phép ghi rõ: 'Bách Thảo Đường chế tác', thành phần thảo mộc và công dụng xoa bóp ngoài da. Tuyệt đối không được gắn hai chữ 'linh đan', không được mượn danh đan dược tu sĩ để nâng giá hay lòe bịp người mua."
Bà dừng lại một chút, ánh mắt lướt qua vẻ mặt bình thản, không chút gợn sóng hay bất mãn của nàng rồi nói tiếp, âm lượng hạ thấp xuống nhưng tính răn đe lại tăng thêm bội phần:
"Hiện tại Vạn Đan Các đang dòm ngó Bách Thảo Đường ráo riết từng ngày từng giờ. Lục Cảnh Minh là kẻ lọc lõi, tâm địa hẹp hòi lại nắm trong tay thế lực buôn bán đan dược của cả vùng này. Hắn đang chờ xem bao giờ thì Bách Thảo Đường sụp đổ để thâu tóm toàn bộ số linh điền màu mỡ trên núi Vân Mộng. Nếu ngươi sơ suất để lộ ra một kẽ hở nào về mặt pháp lý hay quy chuẩn nghề nghiệp, hắn sẽ lập tức dùng quy chế của phường nghề để bóp chết ngươi ngay lập tức. Chỉ cần một lá đơn tố cáo ngươi bán đan dược giả mạo chưa qua kiểm định cấp đan sư, hội quán cũng không thể đứng ra bảo vệ ngươi trước áp lực của các gia tộc lớn. Đừng để sự nóng vội kiếm tiền trả nợ làm hoen ố tấm biển hiệu mà Tô Hoài Sơn đã gây dựng cả đời. Ngươi có hiểu rõ điều đó không?"
Linh Chi không hề cảm thấy bị xúc phạm hay tủi thân trước lời cảnh cáo gay gắt ấy. Ngược lại, nàng cảm nhận được sự bảo bọc kín đáo và bài học nghề nghiệp vô cùng quý báu đằng sau vẻ mặt sắt đá của vị phó hội trưởng. Ở cái chốn tu chân tàn khốc đầy rẫy sự tranh đoạt này, người ngoài chỉ mong ngươi vấp ngã để dẫm đạp lên, chỉ có người thực sự muốn tốt cho ngươi, muốn bảo vệ di sản của người xưa mới thẳng thắn chỉ ra ranh giới sống còn để ngươi không bước hụt xuống vực sâu vạn trượng.
Nàng lùi lại nửa bước, chắp hai tay lại ngang mày, cúi người hành một đại lễ đúng mực của hàng hậu bối trước bậc tiền bối đức cao vọng trọng:
"Lời tiền bối răn dạy, Linh Chi xin khắc cốt ghi tâm. Bách Thảo Đường mở ra là để bốc thuốc cứu người, xoa dịu nỗi đau của bệnh nhân, tuyệt đối không vì vài đồng linh thạch vụn mà dối trên lừa dưới, làm điều xằng bậy trái với y đức. Dù có phải đi từng bước chậm chạp, tiểu nữ cũng sẽ giữ vững sự trong sạch cho tấm biển hiệu của sư phụ."
Kỷ Như Tâm nhìn dáng vẻ khiêm nhường nhưng sống lưng thẳng tắp như cây trúc non trước gió của nàng, trong đáy mắt thoáng hiện lên một tia tán thưởng hiếm hoi. Đứa trẻ này tuy tu vi còn thấp, linh căn bình thường, nhưng tâm tính trầm ổn, kiên định phi thường—một phẩm chất quý giá hơn vạn lần những kẻ ỷ vào thiên phú cao mà ngông cuồng, xốc nổi.
Bà buông tay khỏi tờ giấy chứng nhận, khẽ xua tay áo:
"Cầm lấy đi. Phí kiểm định mười lăm đồng tiền đồng, lần này tạm ghi nợ vào sổ của Bách Thảo Đường, bao giờ bán được thuốc thì trả sau. Về chuẩn bị hàng cho tốt đi."
"Đa tạ Kỷ tiền bối!"
Linh Chi cẩn thận đón lấy tờ giấy chứng nhận còn thơm mùi mực son, hai tay nâng niu gấp lại phẳng phiu theo nếp rồi cất sâu vào trong vạt áo ngực, nơi gần trái tim mình nhất. Nàng nâng niu nó như một báu vật đầu đời do chính tay mình tạo ra bằng mồ hôi, nước mắt và sự kiên trì vượt qua nghịch cảnh.
Rời khỏi Dược Sư Hội, ánh nắng sớm đã chan hòa khắp các mái ngói rêu phong của trấn Thanh Khê. Nắng vàng rọi xuống những con ngõ lát đá xanh, làm bốc hơi những giọt sương đêm còn đọng lại trên mái hiên. Từng đoàn thuyền buôn từ hạ lưu sông Vân Mộng bắt đầu cập bến, những cánh buồm nâu từ từ hạ xuống, tiếng hò reo của phu khuân vác, tiếng gọi nhau í ới của các thương gia rộn rã cả một góc trời.
Linh Chi rảo bước về phía con suối uốn lượn ven rìa thị trấn, nơi bãi cỏ thoai thoải xanh mướt đang được các tiểu thương dựng sẵn những khung lều tre chuẩn bị cho ngày hội lớn. Những cọc tre tươi cắm sâu vào lòng đất ẩm, những tấm bạt vải thô màu nâu đất căng lên phần phật trong gió sớm. Mùi bùn non quyện với hương hoa dại ven bờ suối thoang thoảng bay trong gió sớm. Dòng nước suối trong vắt róc rách chảy qua những phiến đá cuội tròn nhẵn, phản chiếu ánh mặt trời lấp lánh như dát bạc.
Dù khó khăn vẫn còn trùng điệp phía trước, dù món nợ một trăm hai mươi linh thạch hạ phẩm vẫn như bóng ma đè nặng từng ngày, dù chiếc lò Thanh Đồng dưới hầm đá vẫn còn mang vết nứt sâu hoắm cần được khắc phục và nhánh địa hỏa vẫn chập chờn chưa thuần phục, nhưng bước chân của thiếu nữ mười tám tuổi lúc này lại nhẹ nhàng và vững chãi hơn bao giờ hết. Trong giỏ mây của nàng đã có hướng đi mới, trong tim nàng đã có niềm tin kiên định không gì lay chuyển nổi.
Phiên chợ ngày mồng năm bên bờ suối trấn Thanh Khê sắp mở cửa vào sáng sớm.