Những Lá Thư Không Gửi
Lợi dụng tiếng trống chèo réo rắt kéo đám đông tuần phiên về phía sân khấu đình làng, An và Vy tách nhóm lẻn vào con ngõ dẫn tới căn nhà quét vôi mới tinh của Minh.
Gió từ phía đầm lầy thổi thốc qua những rặng tre gai xao xác, cuốn theo tiếng đàn nhị nỉ non, ai oán và tiếng mõ điểm từng nhịp dồn dập của canh tiệc ma quái. Phía sau lưng họ, khoảng sân đình thênh thang vẫn đang chìm ngập trong thứ ánh sáng đỏ quạch, nhờ nhờ như máu loãng hắt ra từ hàng trăm chiếc đèn lồng giấy bồi treo dọc các hàng cột quân. Dưới quầng sáng nhập nhòe ấy, những bóng người mặc áo thụng xanh, áo nâu sồng không hề có gót chân đang chụm đầu nâng những chén rượu mừng đầy váng bùn đen, miệng cười toe toét để lộ hàm răng đen nhánh hoặc xám xịt màu tử khí. Sau cuộc trốn chạy nghẹt thở khỏi sự truy lùng của gã tuần đinh Bảy ở ngôi trường tiểu học hoang phế trên gò đất cao, từng thớ thịt trên bắp chân và sống lưng An vẫn còn giật giật từng cơn vì căng thẳng tột độ. Lớp phấn rôm mỏng manh pha trộn bột lá ngải khô mà cô Duyên đã vội vã phủ lên người họ để che giấu hơi ấm cùng mùi da thịt của người sống đã bắt đầu trôi dần, nhạt nhòa dưới những làn sương đêm buốt giá đang túa ra từ lòng đất ẩm.
Loan và Phúc đã được gửi lại nấp tạm trong bụi nứa rậm rạp gần rãnh thoát nước sau chái tây của ngôi đình cổ. Nơi góc tối sực mùi bùn ứ đọng ấy, Phúc đang ngồi thụp xuống, hai bàn tay run rẩy bấu chặt lấy chiếc chìa khóa bằng đồng đen nặng trịch—vật gia bảo mà cậu vừa đánh cắp được, thứ duy nhất có thể mở toang ngách cửa bí mật dẫn thẳng vào hậu cung gian thờ họ Hoàng. Nhiệm vụ sống còn của An và Vy lúc này là phải chắt chiu từng khoảnh khắc ngắn ngủi, tận dụng khoảng thời gian ban giữ đình cùng lũ quỷ sai đang mải mê dâng rượu, phục vụ các mâm cỗ đầy ắp đồ tanh tao trước giờ khắc điểm canh ba để tìm cho ra căn phòng cũ của Minh.
An cần một bằng chứng xác thực cuối cùng. Cậu cần một sự thật trần trụi, tàn nhẫn đến mấy cũng được, cốt để dập tắt chút hy vọng mù quáng, ngây dại vẫn đang âm ỉ cào xé trong lồng ngực mình suốt từ chiều đến giờ.
Con ngõ nhỏ lát bằng những hàng gạch nghiêng đã mòn vẹt mép dẫn sâu hun hút vào xóm trong vắng tanh, tuyệt nhiên không một bóng người qua lại. Hai bên bờ rào râm bụt xơ xác rũ rượi những cành lá úa tàn sau trận úng ngập triền miên năm cũ, chỉ có ánh trăng rằm tháng Bảy nhợt nhạt, trơn tuột chảy dài trên nền đất nhớp nháp như một lớp mỡ lợn đông đặc. Càng đi sâu vào con ngõ, tiếng trống chèo sau lưng càng mờ dần, nhường chỗ cho tiếng côn trùng rên rỉ yếu ớt và tiếng nước bì bõm dưới các rãnh mương không thông dòng. Trước mắt họ, căn nhà ba gian hai chái của gia đình Minh sừng sững hiện ra giữa màn đêm thăm thẳm. Nó trông tinh tươm, phẳng phiu và sạch sẽ một cách bất thường, hoàn toàn lạc lõng giữa khung cảnh hoang phế, đổ nát của làng Vĩnh Trầm bị chôn vùi dưới bùn lầy.
Những bức tường bao quanh căn nhà được quét một lớp vôi trắng mới toanh, trắng lóa mắt dưới ánh trăng lạnh, tỏa ra mùi vôi sống nồng hắc, cay xè xộc thẳng vào mũi, lấn át cả mùi ẩm mục ngai ngái của cây cỏ dại xung quanh. Cánh cổng gỗ sơn màu cánh gián với chiếc then cài chắc chắn vẫn còn nguyên vẻ mới mẻ. Khoảng sân gạch trước nhà phẳng lì, được quét tước sạch bóng không vương một chiếc lá rụng hay cọng rác nào, từng hàng ngói mũi hài đỏ au trên mái dường như chỉ vừa mới được thợ ngõ đảo lại vào chiều hôm qua để đón một sinh hoạt hệ trọng. Mọi thứ được ngụy tạo một cách tỉ mỉ, công phu và hoàn hảo đến mức rợn người, hệt như một tổ ấm hạnh phúc, ấm êm đang hân hoan mở rộng vòng tay chờ đón cô dâu mới bước chân qua ngưỡng cửa.
Nhưng ngay khi bước chân của An vừa dẫm lên thềm gạch của bờ hồi phía sau, một luồng khí lạnh buốt từ dưới lòng đất ẩm xông thẳng qua đế giày, chạy dọc lên sống lưng khiến da gà cậu nổi rần rần.
Căn nhà của Minh bề ngoài sạch sẽ thơm tho mùi vôi mới, nhưng phần chân tường hậu sát mép đất vẫn lộ ra những vệt bùn lũ khô khốc, xám ngoét chưa từng một lần được gột rửa. Lớp vôi trắng tinh khôi chỉ được người ta vội vã quét cẩn thận từ tầm ngang ngực trở lên để đánh lừa những ánh nhìn lướt qua trong đêm tối của những kẻ lạ mặt. Còn phía sát mặt đất, nơi bóng tối của bờ tường che khuất và ánh trăng không rọi tới, là một dải phù sa dày cộm màu nâu xỉn, nứt nẻ chằng chịt như lớp da rắn lột, hằn rõ vệt ngấn nước lũ ngập ngang thắt lưng người lớn từ mười hai năm về trước. Những mảng rêu khô quắt queo, mục rỗng bám chặt vào từng mạch vữa chân móng gạch, tỏa ra thứ mùi hôi nồng nặc, tanh tưởi của xác tôm cá chết sình bị chôn vùi dưới đáy sông sâu ngần ấy năm tháng.
Căn nhà này chưa bao giờ thoát khỏi lưỡi hái oan nghiệt của dòng lũ dữ năm Thìn. Nó chưa từng được phục dựng để đón sự sống; nó thực chất chỉ là một nấm mồ tập thể được người cõi âm vội vã đắp điếm lên bằng vôi sống và những ảo ảnh ma quái nhằm lừa gạt người trần.
"Cẩn thận đấy," Vy ghé sát tai An thì thầm, hơi thở ấm nóng của cô phả nhẹ lên vành tai lạnh ngắt của cậu, đối lập hoàn toàn với bầu không khí tanh nồng đang bủa vây gian nhà. Ngón tay Vy bấu chặt lấy cổ tay An, những móng tay bấm sâu vào lớp vải áo khoác như một lời nhắc nhở sinh tử. "Bên trong không có tiếng động nào, nhưng đừng mất cảnh giác. Đám người cõi âm không bước đi như chúng ta đâu."
An khẽ gật đầu, cố nén tiếng đập thình thình nơi lồng ngực. Cậu đưa tay đẩy nhẹ cánh cửa ngách bằng gỗ tạp bên hông chái nhà. Then cài bằng gỗ bên trong dường như đã mục ải từ lâu, nhưng được ai đó khéo léo gá tạm lại bằng một gióng tre khô đã ngả màu vàng vượn. Cánh cửa cọt kẹt rên rỉ một chuỗi âm thanh khô khốc trong đêm tĩnh mịch, hé mở một khe hở hẹp vừa đủ để hai người nghiêng mình lách qua.
Bước chân vào bên trong gian nhà chính, không khí ngột ngạt, tù đọng lập tức ập tới như thể họ vừa chui vào một căn hầm mộ bị niêm phong kín mít hàng thế kỷ. Mùi ẩm mốc của gỗ mọt, mùi vải vóc ngâm nước lâu ngày quyện chặt lấy cái lạnh âm u khiến lồng ngực An tức tối, nghẹt thở. Gian nhà ngoài hoàn toàn trống trơn, không có bàn ghế tiếp khách, không có phản gỗ gụ bóng loáng như trong ký ức thuở nhỏ. Ở chính giữa chỉ trơ trọi một chiếc bàn thờ tổ tiên đóng bằng gỗ mít đã nứt toác một đường dài từ mặt bàn xuống tận chân tiện, bên trên đặt một bát hương sành nguội ngắt với lớp chân nhang mốc meo, phủ đầy tàn tro xám xịt.
Men theo dãy hành lang hẹp tối tăm dẫn về gian buồng phía đông, An bước từng bước dè chừng vào căn phòng ngủ cũ của Minh.
Nơi này từng là chốn thân thương mà hai anh em cậu cùng chen chúc ngủ chung mỗi dịp hè An được mẹ Lan cho đi tàu hỏa về quê chơi. Ký ức tuổi thơ ùa về trong tâm trí An với hình ảnh Minh ngồi bên chiếc bàn học gỗ tạp, chong ngọn đèn dầu hỏa hạt đỗ dạy cậu gấp từng chiếc thuyền giấy, nắn nót từng con cào cào bằng lá dừa, nụ cười hiền lành và đôi mắt ấm áp luôn sẵn sàng đứng ra che chở cho đứa em họ yếu ớt nơi phố thị mỗi khi bị lũ trẻ trong làng trêu chọc.
Thế nhưng, căn phòng lúc này chỉ còn lại sự âm u, lạnh lẽo đến rợn người. Một chiếc giường gỗ lim trơ trọi đặt sát góc tường ẩm ướt, trên giường phủ một tấm chiếu cói đã ngả màu ố vàng vì nước ngập, mép chiếu thêu đôi chim bồ câu ngậm hoa sen bằng chỉ đỏ nay đã mục nát, mủn ra từng mảng lớn như những vết lở loét. Khung cửa sổ bằng gỗ mở he hé nhìn thẳng ra vườn chuối rậm rạp phía sau, nơi bóng những tàu lá chuối rách tơi tả lay động chập chờn dưới ánh trăng muộn màng, in những vệt đen ngoằn ngoèo lên bậu cửa sổ tựa như những bàn tay ma quái đang vẫy gọi.
An đảo mắt nhìn quanh khắp bốn góc phòng, lồng ngực cậu thắt nghẹn lại từng cơn đau đớn. Cậu nhớ như in lời cô Duyên vừa răn đe ở lớp học đổ nát trên gò đất: *“Thằng Minh nó tính toán kỹ lắm, từ ngày còn sống nó đã cẩn thận từng li từng tí, nó không bao giờ để lại thứ gì mà không có mục đích của nó đâu.”*
Nếu quả thực Minh đã cúi đầu đồng ý với lão tộc trưởng Từ Lẫm để cướp đoạt thân xác cậu, nếu cuộc hôn lễ rước dâu này thực chất chỉ là một cái bẫy đoạt hồn tinh vi được giăng ra suốt hơn một thập kỷ đằng đẵng, thì chắc chắn mọi dấu vết của sự chuẩn bị ghê tởm ấy phải được cất giấu ngay trong chính căn phòng này.
An quỳ sụp xuống sàn đất nện ẩm ướt, hai đầu gối thấm đẫm hơi lạnh buốt giá. Cậu cúi thấp người, ghé sát mặt nhìn sâu vào khoảng tối tăm, ngột ngạt dưới gầm chiếc giường gỗ lim.
Dưới lớp bụi bặm dày đặc và những mạng nhện giăng mắc chằng chịt qua năm tháng, một góc gỗ màu nâu sẫm, phủ đầy đất cát khô nhô ra ngoài. Đó chính là chiếc hòm gỗ đựng sách vở cũ của Minh thời anh còn miệt mài ôn thi tú tài ở trường huyện. An hít một hơi sâu, đưa hai bàn tay luồn vào bóng tối, nắm lấy quai sắt gỉ sét rồi dùng hết sức bình sinh kéo mạnh chiếc hòm ra ngoài gian phòng. Bốn chiếc bánh xe gỗ nhỏ bên dưới cọ xát ken két trên nền đất nện, phát ra những âm thanh khô khốc, ghê rợn như tiếng xương cốt cọ vào nhau. Chiếc hòm nặng trịch một cách kỳ lạ. Ổ khóa đồng chữ u bên ngoài đã bị hoen rỉ xanh lét, đóng chặt một lớp phù sa khô cứng như đá vôi.
Không chần chừ một giây, An rút chiếc tuốc nơ vít nhỏ bằng thép trong túi áo khoác—thứ cậu đã kịp mượn từ túi đồ nghề sửa xe của Phúc khi họ còn ở bến đò—cắm ngập mũi sắt nhọn vào khe hở của chiếc tai khóa đã mục. Bằng một cái bẩy dứt khoát và dồn hết sức nặng của cánh tay, thanh chốt gỉ sét kêu lên một tiếng *rắc* giòn tan rồi gãy rời ra.
Nắp hòm bật mở tung, phả thẳng vào mặt An một luồng khí lạnh ngắt nồng nặc mùi giấy cũ ẩm mốc, hòa lẫn thứ mùi bùn tanh tưởi quen thuộc của đáy sông sâu khiến cậu phải đưa tay lên che mũi, ho sặc sụa.
Bên trong chiếc hòm gỗ tối tăm dưới gầm giường, An bàng hoàng nhìn thấy một xấp thư phủ bụi dày đặc chưa từng được dán tem, nằm đè lên một tập giấy ghi chép đóng gáy thô sơ dày cộp.
Xấp thư nằm ngay ngắn trên cùng, được buộc cẩn thận bằng một sợi dây đay đã sờn rách hết các thớ sợi. Từng chiếc phong bì màu ngà đều đã được dán kín miệng bằng hồ dán đã khô giòn, bên ngoài nắn nót từng dòng chữ bằng mực Cửu Long xanh nay đã phai sang màu tím mờ nhạt: *Gửi mẹ Thoa ở Đồng Mới*, *Gửi em An ở thành phố*, *Gửi bác Lan ở phố Khâm Thiên*. Có những phong bì đã bị nước lũ ngấm vào làm ố vàng loang lổ khắp bốn góc mép, nhưng nét chữ ngay ngắn, đĩnh đạc bên trên thì không thể nào lẫn vào đâu được—đó chính là chữ viết của Minh, nét chữ cứng cỏi, gãy góc và luôn nghiêng đều một góc bốn mươi lăm độ về bên phải.
An run rẩy vươn tay chạm vào xấp thư. Đầu ngón tay cậu chạm vào lớp giấy thô ráp, lạnh như chạm vào da thịt người chết. Những bức thư này chưa từng một lần được dán tem bưu điện, chưa từng một lần rời khỏi ngôi làng chìm này để đến tay người nhận. Suốt mười hai năm ròng rã, người nằm dưới đáy bùn lầy chỉ biết chong đèn viết thư cho những người thân còn đang sống ngoài ánh sáng mặt trời, rồi lại lặng lẽ tự tay cất giấu chúng vào đáy hòm mục nát, ngày qua ngày gặm nhấm sự cô độc tột cùng cùng nỗi uất hận không đáy đối với số phận nghiệt ngã.
Thế nhưng, thứ khiến tim An đập thình thình như muốn xé toạc lồng ngực lại chính là tập giấy kẻ ngang nằm ngay bên dưới xấp thư chưa gửi.
Đó là một tập giấy bãi bằng dày cộp, bốn mép giấy đã quăn queo và ngả màu cháo lòng, được khâu lại vụng về bằng những mũi chỉ dù thô sơ dùng để vá lưới đánh cá, tạo thành một cuốn sổ tay dã chiến. Bìa sổ không hề ghi tên tuổi hay tiêu đề, chỉ có một vệt mực tàu đỏ lòm quẹt ngang như một vết chém, tựa như một dấu niêm phong ma quái của cõi âm.
An run rẩy lật mở trang giấy đầu tiên dưới ánh sáng leo lét từ chiếc đèn pin điện thoại được Vy cẩn thận dùng những ngón tay che bớt ánh sáng để tránh hắt qua khe cửa sổ.
Những dòng chữ đầu tiên đập vào mắt An khiến toàn bộ máu huyết trong cơ thể cậu như đông cứng lại thành băng giá.
An bàng hoàng, chết lặng đọc từng trang ghi chú nắn nót, tỉ mỉ của Minh ghi chép lại từng thói quen sinh hoạt nhỏ nhặt nhất của chính bản thân cậu: từ cách cầm đũa bằng tay trái, vết sẹo mờ ở đầu gối chân phải, cho đến tên tuổi, tính nết của từng người bạn trên thành phố. Tất cả những chi tiết vụn vặt ấy đều do chính bà Thoa và Phúc lén lút tuồn vào làng trong suốt nhiều năm qua.
*“Ngày 12 tháng 8 năm...: Thằng An cầm đũa bằng tay trái, ngón trỏ hơi quặp sâu vào trong khi gắp những món đồ ăn nóng. Mẹ Thoa bảo nó từng bị bỏng nước sôi ở đầu ngón tay cái hồi ba tuổi nên từ đó có cái tật ấy. Cần phải tập cầm đũa tay trái hàng đêm, tập gắp những hạt đỗ đen khô trên đĩa cho thật thuần thục, tuyệt đối không được để lộ sơ hở khi ngồi ăn cơm cùng người ngoài.”*
*“Ngày 4 tháng Chạp năm...: Thằng An có một vết sẹo nhỏ hình móng ngựa ở ngay phía trên xương bánh chè đầu gối chân phải. Năm mười bốn tuổi nó tập đi chiếc xe đạp Phượng Hoàng bị ngã cày đầu gối xuống dốc đê làng cũ. Vết sẹo dài chừng hai đốt ngón tay, mỗi khi mùa đông gió bấc về thường hay ngứa ngáy và tấy đỏ viền mép. Thân xác nó khi đoạt về chắc chắn sẽ còn nguyên vết sẹo này. Mẹ dặn phải ghi nhớ thật kỹ vị trí từng milimét, để những đêm trở trời mẹ có xoa dầu xoa bóp cho cũng không được giật mình co chân lại.”*
*“Tháng 3 năm...: Thằng bạn thân nhất của nó ở trên thành phố tên là Tuấn, làm cùng công ty xây dựng trên đường Giải Phóng, hai đứa hay rủ nhau đi uống bia hơi vỉa hè vào mỗi chiều thứ Sáu sau giờ tan sở. Con bé Vy thì chia tay nó hai năm trước nhưng hai đứa vẫn giữ liên lạc làm bạn bè, con bé ấy vẫn có thói quen mua cà phê sữa ít đường mang đến tận bàn làm việc cho nó mỗi sáng sớm. Phúc vừa gửi lời vào bảo thằng An mỗi lần căng thẳng hay phải suy nghĩ việc lớn thường có thói quen vô thức đưa tay xoay xoay chiếc nhẫn bạc ở ngón áp út bàn tay phải. Ghi nhớ: xoay đúng ba vòng chầm chậm theo chiều kim đồng hồ.”*
Từng dòng chữ viết tay bằng mực tím hiện lên sắc lạnh, rùng rợn và tàn nhẫn đến gai người. Đó hoàn toàn không phải là những trang nhật ký ghi lại nỗi nhớ thương, niềm hoài niệm của một người anh họ đoản mệnh hướng về đứa em trai may mắn còn sống sót ngoài cõi dương.
Đó là một bản hồ sơ trinh sát lạnh lùng! Một cuốn cẩm nang huấn luyện đoạt xác được chuẩn bị tỉ mỉ, công phu đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất suốt hơn bốn nghìn ngày đêm tăm tối, nhằm phục vụ cho một cuộc tráo hồn hoàn hảo không tì vết!
Dưới mỗi mục ghi chú về thói quen, cử chỉ hay ký ức của An, Minh đều cẩn thận ghi chú rõ ràng nguồn gốc thông tin bằng nét mực son đỏ: *“Mẹ Thoa vào thăm bến Cây Gạo đêm rằm tháng Bảy kể lại”*, *“Thằng Phúc mang thư và lời nhắn từ bến xe thành phố về”*, *“Mẹ mang trộm chiếc áo sơ mi cũ của nó vào để ướm thử chiều rộng của bờ vai và chiều dài cánh tay”*.
Một cơn buồn nôn dữ dội từ đáy dạ dày cuộn lên, chẹn ngang cổ họng An. Cậu thấy đất trời, sàn nhà như đang chao đảo, sụp đổ hoàn toàn dưới chân mình. Hai tai cậu lùng bùng những tiếng gào thét của dòng nước lũ năm xưa. Hóa ra mười hai năm qua, mỗi lần cậu lặn lội bắt xe đò về thăm dì Thoa ở xóm tản cư Đồng Mới, mỗi lần cậu ngồi bên mâm cơm ấm cúng ăn bát canh cua rau đay do chính tay dì nấu, mỗi lần Phúc ghé qua phòng trọ chật hẹp ở ngoại thành đưa cho cậu nải chuối tiêu hay gói cốm đầu mùa làm quà quê... tất cả những ân tình ấy đều là những con mắt rình rập, dò xét!
Họ đã âm thầm đo đạc từng thói quen, chụp lại từng vết tích trên da thịt cậu, ghi nhớ từng thói quen vô thức nhất của cậu để lén lút tuồn vào cõi âm tăm tối này cho một kẻ chết đuối học thuộc lòng! Sự chăm sóc ân cần, đôi mắt ngấn lệ của dì Thoa khi săm soi bờ vai gầy của cậu chiều nay ở Đồng Mới, sự xuất hiện đột ngột của Phúc với tấm thiệp cưới sũng nước... tất cả không phải là tình thân máu mủ; tất cả chỉ là những mắt xích tàn độc trong một âm mưu đoạt mạng thế thân kéo dài suốt hơn một thập kỷ!
"An... cậu nhìn lên vách gỗ kìa."
Giọng Vy run rẩy cất lên bên tai An, kéo giật cậu ra khỏi cơn bàng hoàng chết lặng. Bàn tay Vy chỉ thẳng về phía chiếc gương soi bằng đồng cũ kỹ gắn chặt trên vách gỗ đối diện chiếc giường ngủ lim.
An nặng nề ngẩng đầu lên. Từng khớp xương trên cơ thể cậu như đông cứng lại, đôi chân nặng trĩu như đeo hai khối chì ngàn cân khi bước từng bước run rẩy về phía góc phòng.
Vy chỉ cho An chiếc gương treo tường: viền gương dán kín các mẩu giấy tập bắt chước chữ ký của An, chứng minh Minh đã chuẩn bị tỉ mỉ để thế chỗ em trai bước ra cuộc sống bình thường.
Mặt gương tròn tráng thủy ngân đã cũ kỹ, bề mặt bị nước lũ ăn mòn tạo thành những vệt mốc xám ngoét loang lổ như da người chết đuối, phản chiếu méo mó khuôn mặt trắng bợt, hốc hác của An dưới ánh sáng le lói. Nhưng điều kinh hoàng nhất lại nằm ở phần khung gỗ bao quanh chiếc gương ấy. Hàng chục, hàng trăm mẩu giấy học sinh xé vội từ những cuốn vở ô ly cũ được dán kín mít quanh viền gương bằng thứ nhựa cây quánh đặc, khô khốc.
Trên mỗi mẩu giấy nhỏ bé ấy, chỉ có duy nhất một cái tên, một chữ ký được viết đi viết lại hàng trăm, hàng ngàn lần: *Hoàng Văn An*.
Những nét ký trên các mẩu giấy dán ở góc trên cùng bên trái còn gãy khúc, run rẩy, vụng về và mang đậm phong cách viết chữ của Minh với những nét sổ thẳng đuột. Nhưng càng xuôi về những mẩu giấy dán ở nửa dưới khung gương, nét chữ ký càng trở nên mềm mại, phóng khoáng, dứt khoát một cách đáng sợ. Từng đường uốn lượn của chữ *H*, cái gạch chân dài uốn nhẹ về phía đuôi và dấu chấm tròn đặc trưng ở cuối chữ ký—tất cả đều giống hệt, giống đến mức hoàn hảo như thể được đúc từ một khuôn với chữ ký của An trên thẻ căn cước công dân, trên các bản hợp đồng thiết kế xây dựng ở thành phố... và giống hệt chữ ký mà chính tay An đã run rẩy hạ bút trên cuốn sổ đón khách ngoài gian tiền tế đình làng lúc nửa đêm nay!
Xen kẽ giữa những mẩu giấy tập chữ ký là những mẩu giấy nhỏ hơn ghi chú cặn kẽ về dáng đi và biểu cảm: *“Bước chân của thằng An hơi nghiêng một chút về phía bên phải do chân thuận dài hơn chân trái khoảng nửa phân. Lưng nó có tật hơi gù xuống khi ngồi làm việc lâu trước màn hình máy tính. Khi nói chuyện với người lạ hoặc người lớn tuổi, ánh mắt nó thường có xu hướng nhìn tránh vào cằm đối phương thay vì nhìn thẳng vào mắt.”*
Minh đã đứng trước tấm gương ma quái này bao nhiêu đêm? Suốt mười hai năm chìm ngập dưới đáy sông bùn lầy lạnh lẽo, giữa cõi chết không có ánh mặt trời, người anh họ mà An hằng tôn thờ đã đứng ở góc phòng này bao nhiêu canh giờ chỉ để nhìn vào tấm gương mờ đục, tập tành từng cử chỉ, từng bước đi để biến mình thành một bản sao hoàn chỉnh của Hoàng Văn An?
Anh ta không đơn thuần chỉ muốn một thân xác người sống để hít thở bầu không khí dương gian; anh ta muốn tước đoạt toàn bộ danh tính, cướp lấy toàn bộ cuộc đời, công việc, bạn bè, tương lai và từng mảnh ký ức trần thế của cậu để đường hoàng bước ra ngoài ánh sáng mặt trời!
"Anh ấy... anh ấy đã tính toán tất cả mọi thứ ngay từ đầu," An thì thào, giọng cậu vỡ vụn ra thành từng mảnh cay đắng nghẹn ngào nơi cuống họng. "Anh ấy chưa từng coi em là một đứa em trai cần che chở... Đối với anh ấy, em chỉ là một cái vỏ rỗng... một bộ quần áo vừa vặn bằng xương bằng thịt để anh ấy mặc vào khi ngày rằm tháng Bảy tới."
"An, chúng ta không thể chần chừ ở đây thêm một giây nào nữa," Vy nắm chặt lấy cánh tay An, giật mạnh về phía cửa ngách. Đôi mắt cô ánh lên sự quyết liệt, căng thẳng tột độ. "Toàn bộ tập tài liệu và cuốn sổ này là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy giao ước quỷ quái này đã được lên kế hoạch từ rất lâu. Phúc và bà Thoa đều là những kẻ đồng lõa tàn nhẫn. Chúng ta phải mang ngay cuốn sổ này về sân đình, tìm gặp cụ Từ Lẫm và đối chất trước mặt toàn bộ dân làng trước khi tiếng cồng điểm canh ba gióng lên!"
*KẸT... KÉTTT...*
Một tiếng cọt kẹt chói tai, rợn người đột ngột vang lên cắt ngang lời Vy.
Cánh cửa gỗ của gian buồng hé mở từ từ rồi bật tung ra; Minh đứng sững sờ ở ngưỡng cửa với khuôn mặt tái nhợt và ánh mắt đau đớn cùng cực, bắt gặp trọn vẹn khoảnh khắc An đang run rẩy cầm những trang tài liệu định mệnh trên tay.
Cả gian phòng lập tức chìm vào một khoảng lặng chết chóc, ngột ngạt đến mức có thể nghe thấy cả tiếng sương đêm rỏ từng giọt tanh tách từ mái ngói xuống thềm gạch bên ngoài.
Gió lạnh từ ngoài ngõ lùa thốc vào qua cánh cửa mở toang, mang theo hơi sương buốt giá và mùi phù sa nồng nặc của đáy sông sâu. Minh đứng sừng sững ở đó, nổi bật giữa bóng tối trong bộ áo dài gấm đỏ rực của chú rể, tà áo thêu hoa văn chữ hỷ lấp lánh sắc vàng dưới ánh trăng rọi qua ô cửa. Nhưng trên khuôn mặt anh ta, không hề có nét rạng rỡ, hân hoan của một tân lang sắp bước vào tiệc cưới, cũng chẳng còn sót lại vẻ dịu dàng, ấm áp của người anh họ hiền lành thuở nào.
Lớp da mặt Minh trắng bợt, căng bóng như sáp nến bị ngâm trong nước lũ lâu ngày, hai hốc mắt trũng sâu hoắm, đen ngòm như hai cái giếng cạn không đáy. Nơi cổ áo gấm đỏ cài then ngọc, những vệt bầm tím bầm đen hoại tử lờ mờ hiện rõ trên làn da lạnh ngắt, rỉ ra những giọt nước bùn mỏng manh.
Ánh mắt vô hồn của Minh rơi thẳng vào tập giấy dày cộp đang nằm trong tay An, rồi chậm rãi quét qua những mẩu giấy tập chữ ký dán chi chít quanh viền chiếc gương đồng. Một thoáng bối rối, hoảng hốt xẹt qua gương mặt người chết, nhưng nó nhanh chóng bị dập tắt, thay thế bằng một vẻ đau đớn tột cùng pha lẫn sự lạnh lùng tàn nhẫn của kẻ đã bị dồn vào chân tường cõi âm.
"Em không nên tự ý bước chân vào căn phòng này, An à," Minh cất tiếng. Giọng nói của anh ta không còn vẻ trầm ấm, mộc mạc như khi đón cậu ở cổng làng lúc chập tối; nó khàn đặc, ẩm ướt và run rẩy như tiếng gió rít qua những thân lau sậy mục rỗng dưới đáy đầm lầy.
An siết chặt tập giấy trong tay, các đốt ngón tay cậu trắng bệch ra vì giận dữ và đau đớn. Cậu nhìn thẳng vào đôi mắt đen ngòm của người anh mà mình đã từng tôn thờ suốt mười hai năm qua, cảm thấy từng mảnh ký ức trong trẻo của tuổi thơ đang bị xé toạc, vò nát không thương tiếc.
"Anh đã đứng trước chiếc gương này tập làm em suốt bao nhiêu năm rồi, anh Minh?" An nghẹn ngào hỏi, từng lời nói run lên bần bật trong làn nước mắt uất nghẹn. "Tập cầm đũa bằng tay trái... tập nhớ vết sẹo móng ngựa ở đầu gối... tập cả chữ ký và dáng đi của em nữa? Suốt mười hai năm qua, mỗi lần mẹ Thoa gửi thư vào cõi này, mỗi lần thằng Phúc mang đồ tiếp tế vào làng, anh đều ngồi đây, tỉ mỉ ghi chép từng thói quen của em chỉ để chờ đợi ngày cướp lấy mạng sống của em sao?"
Minh không hề lùi bước. Anh ta bước một bước nặng nề qua ngưỡng cửa gỗ, tiến vào gian phòng. Đôi bàn chân đi đôi giày vải đen thêu hoa văn của anh ta nện xuống nền đất ẩm ướt mà tuyệt nhiên không hề phát ra một tiếng động nhỏ nào của sức nặng cơ thể người sống.
Không còn vẻ dịu dàng giả tạo, Minh cay đắng thừa nhận anh đã đồng ý với ông Từ Lẫm để lấy thân xác An, biện bạch rằng anh đã chết oan khi tuổi trẻ vừa chớm và xứng đáng được sống lại để báo hiếu mẹ Thoa.
"Phải! Anh đã gật đầu đồng ý với cụ Từ Lẫm!" Minh gằn giọng, đôi mắt anh ta bùng lên một ngọn lửa lân tinh xanh lét, lập lòe đầy vẻ ma quái. "Vào cái đêm rằm tháng Bảy ba năm trước, khi cụ Từ Lẫm mở cuốn sổ hộ gốc của làng ra và chấm ngọn bút lông vào nghiên mực son đỏ, chính anh đã quỳ rạp xuống dưới chân cụ để xin cụ nối tên anh với tên em! Anh đã phải chờ đợi ngày này suốt mười hai năm ròng rã dưới đáy sông Vĩnh Trầm! Em có biết... em có từng tưởng tượng nổi mười hai năm nằm im dưới lớp bùn đen lạnh buốt, thối rữa, ngột ngạt ấy nó dài đằng đẵng và kinh hoàng đến chừng nào không hả An?"
Khuôn mặt Minh vặn vẹo trong sự uất hận tột cùng, hai bàn tay buông thõng bên hông siết chặt lại thành nắm đấm, làm lộ ra những chiếc móng tay thâm đen bám đầy rong rêu khô quắt.
"Năm đó anh mới tròn hai mươi tuổi, An à!" Minh gào lên trong một hơi thở nghẹn ngào sực mùi tử khí, từng thớ thịt trên mặt anh ta giật giật. "Anh vừa mới dựng xong ba gian nhà này bằng chính mồ hôi nước mắt của mình! Anh vừa mới mang buồng cau lá trầu sang nhà bên dạm ngõ hỏi cưới cái Hạnh! Tuổi trẻ của anh còn chưa kịp bắt đầu, bao nhiêu ước mơ, bao nhiêu dự định cho tương lai đều bị một cơn lũ quái ác cuốn phăng đi sạch sẽ trong một đêm rằm tháng Bảy nghiệt ngã! Anh chết oan uổng, chết tức tưởi khi chưa kịp làm được một điều gì cho bản thân, chưa kịp báo hiếu cho cha mẹ! Mẹ Thoa ở ngoài Đồng Mới ngày nào cũng lặn lội ra bờ sông ngóng đợi, khóc thương anh đến mức mù lòa cả hai con mắt, mái tóc mẹ bạc trắng như cước vì nỗi đau mất con! Anh xứng đáng được sống lại! Anh có quyền được bước ra ngoài kia bằng xương bằng thịt để phụng dưỡng mẹ già, để đi nốt quãng đời mà ông trời đã cướp đoạt trắng trợn của anh!"
"Và cái giá của việc anh được sống lại là phải giết chết em sao?" Vy phẫn nộ bước xấn lên một bước, dang rộng hai tay chắn nửa người phía trước An, đôi mắt cô rực lửa trừng trừng nhìn thẳng vào khuôn mặt xám ngoét của con ma chú rể. "Anh gọi sự cướp đoạt tàn độc ấy là công bằng à? Anh muốn bước ra ngoài ánh sáng để làm một đứa con hiếu thảo bằng cách dìm đứa em ruột thịt của mình xuống đáy bùn lầy sâu thẳm để thế chỗ cho anh? Anh có từng nghĩ mẹ Lan ở thành phố sẽ sống ra sao nếu bà mất đi đứa con trai duy nhất không hả tên ích kỷ kia?"
Minh khẽ cười nhạt, một nụ cười thê lương, méo mó và lạnh lẽo đến tận cùng xương tủy khiến khuôn mặt anh ta càng thêm quỷ dị dưới bóng trăng.
"Dì Lan vẫn còn gia đình êm ấm ở trên thành phố, dì Lan còn có công việc, có họ hàng bên ngoại chăm sóc. Còn mẹ Thoa của anh... mẹ anh chẳng còn ai trên cõi đời này nữa cả! Mẹ chỉ có một mình anh là chỗ dựa duy nhất thôi!" Minh nhìn chằm chằm vào An, ánh mắt anh ta vừa như van lơn cầu khẩn, lại vừa như một sự ép buộc lạnh lùng, tàn nhẫn. "Chuyện này... chính mẹ Thoa đã gật đầu đồng ý rồi. Chính mẹ đã dặn thằng Phúc phải tìm mọi cách mang tấm thiệp cưới lên tận phòng trọ đón em về đây. Mẹ bảo thân xác này vốn dĩ mang dòng máu của dòng họ Hoàng, thuộc về đất tổ Vĩnh Trầm này. Em đã được sống an nhàn ở thành phố suốt mười hai năm qua trong sung sướng, được học hành đỗ đạt, được hưởng trọn vẹn tất cả những gì mà đáng lẽ ra anh cũng có quyền được hưởng nếu cơn lũ không ập đến. Bây giờ nhường lại cho anh vài chục năm cuộc đời thì có gì là quá đáng đối với một người anh như anh?"
An nghẹn ngào chất vấn Minh về tình anh em ruột thịt và ranh giới đạo đức; việc Minh cứu An mười hai năm trước không thể biến thành bản án tử hình đòi mạng đổi mạng sau ngần ấy năm.
"Anh Minh... anh có còn nhớ những lời anh từng dạy em vào buổi chiều trước cái đêm làng bị lũ cuốn trôi không?" Những giọt nước mắt nóng hổi trào ra, lăn dài trên đôi gò má tái nhợt của An, làm nhòe đi hình bóng người anh trai gầy gò trong bộ áo cưới đỏ rực trước mắt. "Năm đó, anh ngồi trên bậc thềm này, anh bảo em rằng: làm anh thì phải biết dang tay che chở cho em, làm người sống trên đời thì phải có liêm sỉ và giữ trọn đạo đức làm người! Suốt mười hai năm qua, em sống trong sự dằn vặt, cắn rứt lương tâm khôn nguôi vì em luôn đinh ninh rằng chính mình đã cướp mất cơ hội sống sót của anh trên chuyến thuyền cứu hộ năm ấy! Em luôn tự nguyền rủa bản thân hèn nhát, tự trách mình tại sao lại được sống sót trong khi người anh tốt bụng của mình phải nằm lại vĩnh viễn dưới lòng sông lạnh giá!"
An dứt khoát bước lên phía trước một bước, đối mặt trực diện với Minh. Cậu thò tay vào túi áo ngực, rút ra cuốn sổ điểm danh sơ tán đã ố vàng của cô Duyên, rồi đập mạnh nó cùng tập tài liệu ghi chép thói quen của Minh xuống mặt bàn gỗ mít mục nát, tạo nên một tiếng vang chát chúa:
"Nhưng sự thật tàn nhẫn đằng sau tất cả là gì? Ở trường tiểu học trên gò đất, cô Duyên đã cho em xem tận mắt cuốn sổ điểm danh của ban cứu hộ đêm rằm tháng Bảy năm ấy! Anh đã bước chân lên chiếc thuyền cứu hộ số hai an toàn từ lúc mười giờ đêm! Chính anh đã tự ý nhảy xuống thuyền bơi ngược dòng nước lũ chảy xiết chỉ để quay lại tìm chị Hạnh! Còn em... em được người ta bế lên chiếc thuyền số ba mãi tận gần nửa đêm khi nước đã ngập nóc nhà! Em không hề cướp chỗ của anh trên chuyến thuyền định mệnh ấy! Em không hề nợ anh mạng sống này! Em không nợ anh bất cứ điều gì cả!"
Minh khựng phắt lại, toàn thân anh ta run lên bần bật. Đồng tử trong đôi mắt đen ngòm co rút lại dữ dội khi nhìn thấy những nét chữ quen thuộc của cô Duyên trên trang sổ điểm danh sơ tán đã ố vàng vì thời gian. Một thoáng hoảng loạn, tủi hổ và vỡ vụn bùng lên trên gương mặt trắng bợt như sáp của anh ta.
"Kể cả... kể cả năm xưa anh có thực sự nhường chiếc thuyền cứu hộ ấy cho em đi chăng nữa," giọng An lạc hẳn đi, run rẩy trong tiếng nấc uất nghẹn từ tận đáy lòng, "thì sự hy sinh cao cả ấy cũng không bao giờ, và vĩnh viễn không một ai có quyền biến nó thành một bản án tử hình để đòi mạng đổi mạng sau mười hai năm trời! Tình anh em ruột thịt gắn bó từ thuở ấu thơ của chúng ta không phải là một món nợ máu tanh tưởi để anh tính toán, ghi chép từng thói quen, tập tành từng nét chữ ký rồi lừa gạt em quay về chốn bùn lầy này nhằm tước đoạt linh hồn em! Nếu anh dùng sự phản bội hèn hạ và cái chết oan ức của em để bước ra ngoài ánh sáng mặt trời, anh nghĩ mẹ Thoa sẽ ôm lấy anh như một đứa con hiếu thảo, hay mẹ sẽ run rẩy kinh hoàng trước một con quỷ đội lốt người sống hả anh Minh?"
Từng lời, từng chữ của An thốt ra như những nhát dao sắc nhọn đâm thẳng vào chút lương tri tàn tạ còn sót lại trong linh hồn người chết.
Minh lảo đảo lùi lại nửa bước, hai bàn tay run rẩy đưa lên ôm chặt lấy đầu. Cơ thể anh ta co giật từng cơn dữ dội dưới lớp áo dài gấm đỏ lộng lẫy. Từ hai khóe mắt sâu hoắm, những vệt nước bùn tanh tưởi, đen ngòm bắt đầu rỉ ra, chảy dài thành hai dòng đen sì trên đôi gò má xám ngoét tử khí.
"Anh... anh không còn đường lui nữa rồi, An ơi..." Giọng Minh nghẹn đắng lại, vừa đau đớn, vừa tuyệt vọng đến tột cùng. "Tên của hai đứa mình... đã bị mực chu sa của cụ Từ Lẫm nối chặt vào nhau trong cuốn sổ hộ gốc dưới gầm bàn thờ đình làng rồi! Con gà trống tế thần ngoài sân đình đã cất tiếng gáy đầu tiên báo hiệu giờ giao hoán! Cụ Từ Lẫm đã dùng bùa máu khóa chặt ranh giới quanh làng... Nếu đêm nay anh từ bỏ... nếu anh không lấy được thân xác này trước khi trời rạng... anh sẽ vĩnh viễn tan biến thành tro bụi dưới đáy sông lạnh buốt, không bao giờ... không bao giờ còn có cơ hội được nhìn thấy ánh mặt trời nữa..."
Minh bất thần ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt giằng xé điên cuồng giữa một chút tình thân ruột thịt cuối cùng còn sót lại và nỗi khát khao sinh tồn mù quáng của một linh hồn bị giam cầm suốt mười hai năm đằng đẵng dưới đáy bùn tăm tối.
Minh nhìn thẳng vào mắt An, giọng nghẹn lại: 'Anh đã chết thay em một lần rồi, An. Lần này trả lại cho anh có gì là sai?'