Đám Cưới Ở Làng Không NgườiCh.4 / 20
Chapter 4

Ghi Tên Dự Cưới

Bước chân vừa vượt qua ngưỡng cổng làng nứt nẻ, nơi ranh giới vô hình giữa hai thế giới dường như vừa khẽ mở ra rồi khép lại, toàn bộ khung cảnh hoang phế, sình lầy và tăm tối phía sau lưng họ đột ngột tan biến như một ảo ảnh bị xé toạc.

Thay vào khoảng không tịch mịch của một vùng đất chết là một con đường lát gạch nghiêng phẳng phiu, sạch bong không vương một vết bùn đỏ, chạy dài tít tắp dưới vòm trời đêm cao lồng lộng. Cảm giác trơn trượt, nhơm nhếch bết chặt lấy từng đế giày ba-ta suốt mấy dặm đường bùn lầy ngoài thung lũng vừa mới đây thôi bỗng chốc nhẹ bẫng; luồng gió buốt buốt rợn gáy mang theo mùi cỏ mục, mùi thây lá ủng rữa và hơi ẩm tanh nồng bốc lên từ lòng đầm lầy ven sông Đáy như bị một bức tường vô hình, kiên cố chặn đứng lại ngoài mép cổng.

Không còn thứ xú khí ẩm mốc của một bình nguyên bị lãng quên suốt mười hai năm ròng rã. Không gian nơi đây sực nức hương thơm nồng nàn, ngọt lịm của trầm hương thượng hạng quyện lẫn với mùi lá nếp thơm dìu dịu bốc lên từ những nồi xôi vừa dỡ, mùi thịt lợn thui rơm vàng ruộm nướng trên than hồng, và hơi ấm da diết, mơn man phả vào từng thớ thịt. Hai rặng tre già ken dày chạy dọc hai bên đường làng không hề trơ trọi, xơ xác hay gãy gục như những bụi tre chết rũ, ngập ngụa trong rác rưởi trôi dạt mà họ vừa chứng kiến ngoài thung lũng bồi. Từng thân tre ở đây đều óng ả một sắc vàng mỡ gà, thân thẳng tắp, cành lá xanh mướt mải đan cài vào nhau như một mái vòm tự nhiên, rì rào reo vui trong ngọn gió đêm mát rượi. Đèn lồng giấy đỏ được treo từng đôi một trên các cành tre la đà, đung đưa nhịp nhàng theo từng đợt gió thoảng, tỏa ra thứ ánh sáng ấm áp, rực rỡ, nhuộm hồng mặt gạch đỏ au dẫn thẳng vào trung tâm làng.

Chỉ rảo bước thêm vài chục trượng, một không gian hội hè tưng bừng, huyên náo bỗng choáng ngợp mở toang ra trước mắt họ. Sân đình làng Vĩnh Trầm sáng rực lên như một ngày hội lớn của cả tổng xưa kia, ánh sáng chan hòa xua tan mọi góc khuất u uất của màn đêm. Đèn kéo quân khổng lồ quay tít mù bên hiên tả vu, đèn lồng bát giác bằng lụa đỏ treo kín các đường xà gồ, vì kèo gỗ lim và giăng thành từng chuỗi dài uốn lượn quanh những gốc đa, gốc bàng cổ thụ rợp bóng.

Tiếng đàn nhị ở đâu đó cất lên, nốt trầm nốt bổng kéo dài réo rắt, khi nỉ non tha thiết như tiếng than thở của dòng sông, khi lại bừng bừng trỗi dậy hòa cùng tiếng trống hội giòn giã, dồn dập điểm từng hồi thúc giục. Tiếng cười nói râm ran, tiếng cụng ly leng keng, tiếng người gọi nhau í ới nổi lên ầm ĩ, lấn át hoàn toàn cái lặng câm chết chóc của vùng đồng hoang bãi sậy bên ngoài.

Trên mặt sân đình thênh thang lát toàn bằng những phiến đá tảng xanh phẳng lì, hàng chục dãy bàn tiệc phủ vải điều đỏ thắm đã được kê ngay ngắn từ bao giờ. Trên mỗi chiếc bàn gỗ, mâm cỗ nào cũng đầy ắp những món sơn hào hải vị của một đám cưới chốn thôn quê thời thịnh vượng: những đĩa xôi gấc đỏ tươi nghi ngút khói thơm lừng mùi nước cốt dừa, gà trống thiến luộc vàng ươm bóng nhẫy ngậm bông hoa hồng nhung đỏ thắm ở mỏ, những khoanh giò lụa trắng mịn cắt hình cánh phượng xếp khéo léo bên đĩa nộm hoa chuối, cùng những hũ rượu nếp cái hoa vàng nút lá chuối khô đang tỏa ra thứ hương men nồng cay ngây ngất.

Ngồi rải rác ở một số dãy bàn tiệc phía ngoài sân, đã có dăm bảy vị khách sống khác đến từ chập tối. Có người mang nét mặt quen thuộc của những xóm giềng cũ làng Vĩnh Trầm từng trôi dạt ra các tỉnh lân cận sau trận lũ năm Thìn, có người là họ hàng xa xôi từng theo gia đình di tản vào tận miệt đồi nương phía tây; họ ngồi túm tụm lại với nhau bên mép chiếu, vẻ mặt dẫu còn vương chút mơ hồ, bảng lảng, ngơ ngác trước sự hồi sinh kỳ lạ đến khó tin của ngôi làng cũ, nhưng trước mâm cao cỗ đầy rực rỡ và những chén rượu nồng sóng sánh trên tay, họ vẫn cất tiếng chào hỏi, cười nói rôm rả. Họ nói về mùa màng, về những năm tháng tha hương, như thể tất cả vừa tìm lại được một chốn dung thân bình yên, một mái nhà êm ấm đã ngỡ vĩnh viễn vùi sâu dưới đáy bùn từ thuở thiếu thời.

An sững sờ chôn chân tại mép sân đình, hai bàn tay buông thõng bên sườn khẽ co giật, lồng ngực đập thình thịch những nhịp đập cuống cuồng, hỗn loạn. Cậu đứng chết trân giữa hai làn ranh giới: một bên là thực tại lộng lẫy, rộn rã tiếng cười vui của ngày hội làng, và một bên là những lời gào thét đến xé ruột xé gan của mẹ trong chiếc điện thoại bàn vừa dứt cách đây chưa đầy mười phút. Tiếng thét thất thanh của bà Lan—*“Đừng viết tên vào bất cứ cuốn sổ nào... tên con sẽ bị thế mạng...”*—vẫn đang dội lại bần bật, nhức nhối trong màng nhĩ cậu như một lời nguyền rủa kinh hoàng. Thế nhưng, khung cảnh trước mắt cậu lúc này lại quá đỗi sống động, quá đỗi ấm áp và thực tế, đối lập hoàn toàn với nỗi sợ hãi tăm tối, điên loạn mà người mẹ ở xóm Đồng Mới đã vẽ ra.

“An! Có phải em An đấy không?!”

Một tiếng gọi giật thốt lên từ phía bậc thềm đá của gian tiền tế, xé toang sự bàng hoàng đang bủa vây lấy tâm trí An.

Từ cửa chính đại đình, một bóng người đàn ông cao ráo, đĩnh đạc trong bộ áo dài gấm chú rể màu đỏ tươi thêu chữ Hỷ bằng chỉ vàng óng ả đang thoăn thoắt bước xuống những bậc đá xanh. Dáng đi hơi nghiêng về phía trước, bờ vai rộng nhưng hơi xuôi, và nụ cười hiền hậu làm hiện rõ lúm đồng tiền mờ bên má phải—tất cả những đường nét ấy không thể lẫn vào đâu được: chính là Hoàng Minh, người anh họ lớn hơn An ba tuổi, người đã từng cõng cậu đi qua những mùa nước cạn, người mà ký ức tuổi thơ của cậu hằng khắc sâu. Minh không hề có vẻ gì là tiều tụy, xanh xao hay biến dạng của một kẻ từng bị dòng nước lũ đỏ ngầu nuốt chửng như những lời đồn đại rợn người. Trái lại, dưới ánh sáng lung linh của hàng trăm ngọn nến và đèn lồng đỏ, làn da anh hồng hào, đôi mắt sáng ngời lấp lánh niềm hạnh phúc vỡ òa của một người đàn ông trong ngày vui trọng đại nhất cuộc đời.

Chưa kịp để An định thần hay thốt lên một lời nào, Minh đã sải bước tới gần, dang rộng hai cánh tay ôm ghì lấy cậu vào lòng.

“Em về thật rồi! Cuối cùng em cũng về rồi, An ơi!”

Giọng Minh nghẹn ngào, run rẩy trong từng hơi thở dồn dập vì xúc động. Hai bờ vai vạm vỡ ẩn dưới lớp áo gấm đỏ rung lên bần bật, và An cảm nhận rất rõ những giọt nước mắt nóng hổi của người anh họ rơi lã chã, thấm ướt một mảng vai áo mỏng của mình.

“Mười hai năm rồi... Mười hai năm đằng đẵng... Anh cứ ngỡ cả đời này mình sẽ không bao giờ còn cơ hội nhìn thấy em bằng xương bằng thịt nữa!”

An đứng sững trong vòng tay siết chặt. Mọi nghi hoặc sắc nhọn, mọi sự đề phòng lạnh lùng mà cậu dày công dựng lên suốt dọc đường đi men theo triền đê hoang vắng bỗng chốc rạn nứt trước dòng nước mắt chân thành, trước hơi thở dập dồn của tình máu mủ ruột rà. Sống mũi An cay xè. Cậu ngập ngừng đưa bàn tay run rẩy vỗ nhẹ lên tấm lưng rộng của anh họ:

“Anh Minh... Thực sự là anh... anh vẫn còn sống sao?”

Minh khẽ buông An ra một chút, nhưng hai bàn tay vẫn áp chặt lấy hai bên bả vai cậu, ánh mắt chan chứa yêu thương và nỗi niềm hoài niệm nhìn xoáy vào từng nét mặt của người em trai:

“Chứ còn ai vào đây nữa hả thằng em của anh? Em lớn ngồng lên thế này rồi, ra dáng đàn ông đĩnh đạc lắm rồi! Em có nhớ cái ngày hai anh em mình ngồi câu cá ở bến Cây Gạo không? Ngay cái buổi chiều oi nồng trước cái đêm bão lũ kinh hoàng ấy, anh đã hứa gì với em? Anh bảo khi nào cu An của anh trưởng thành, biết uống chén rượu cay, biết gánh vác việc họ việc làng, anh nhất định sẽ về ăn mừng ngày em thành người lớn. Mười hai năm trôi qua, anh lưu lạc phương nào cũng chỉ mong có ngày này. Anh chưa từng quên một lời nào, An à!”

Ký ức thời thơ ấu tràn về trong tâm trí An như một cơn lốc dữ dội. Mảnh thư cũ ố vàng nằm dưới đáy chiếc hộp sắt han gỉ mà cậu cất giữ cẩn thận ở thành phố, những dòng chữ mực cửu long nắn nót hẹn ngày tương phùng—tất cả bỗng nhiên trùng khớp đến đau đớn, xót xa. Nỗi ngờ vực trong lòng An như một tảng băng gặp nắng ấm, dần dần tan biến đi từng chút một.

Thế nhưng, ngay khoảnh khắc Minh mỉm cười dịu dàng, đưa bàn tay phải lên khẽ vuốt qua gáy An để chỉnh lại cổ áo khoác đã xộc xệch cho cậu, An bất giác khựng lại toàn thân. Một cơn ớn lạnh thấu xương, buốt nhói như có một lưỡi dao băng cắm phập vào tủy sống, đột ngột lan nhanh dọc theo sống lưng cậu.

Đầu ngón tay của Minh khi lướt qua làn da thịt sau gáy An lạnh ngắt. Đó không phải cái lạnh của gió mùa hay sương đêm bến bãi; đó là cái lạnh buốt giá, tê dại của một khối băng vĩnh cửu bị vùi sâu dưới đáy bùn ngàn năm, một cảm giác hoàn toàn tuyệt diệt mọi sinh khí, không hề có lấy một tia ấm áp tự nhiên của dòng máu nóng đang chảy trong cơ thể con người. Cảm giác ma quái ấy rợn người đến mức toàn bộ chân lông trên cánh tay và sau gáy An đồng loạt dựng đứng lên. Theo bản năng sinh tồn trỗi dậy mãnh liệt, An giật nảy mình, lùi vội lại nửa bước, đôi mắt mở to nhìn trân trân vào bàn tay người anh họ.

Minh dường như nhận ra ngay cái giật mình kinh hãi của em trai. Anh thoáng chững lại, hàng lông mày hơi nhíu vào một thoáng rồi rất nhanh chóng, anh thu tay về, nở một nụ cười trừ hiền hậu và ấm áp nhằm xua đi bầu không khí gượng gạo vừa chớm nở:

“Gió đêm ngoài bến sông thổi vào độc quá, tay anh buốt cóng cả đi đấy mà. Mấy hôm nay lo dựng lại khung rạp, dọn dẹp từng phiến đá sân đình để đón bà con, anh thức trắng mấy đêm liền, người ngợm cứ rệu rã ra. Em đừng để ý nhé.”

Vy đứng ngay sát phía sau An từ nãy đến giờ. Đôi mắt đen láy, sắc sảo và đầy tính quan sát của cô gái làm công tác nghiên cứu không hề bỏ sót một biểu cảm nhỏ nhất nào trên gương mặt Minh, từ chiếc cúc áo gấm viền chỉ vàng tinh xảo cho đến nếp gấp thẳng thớm, không một vết nhăn ở gấu quần anh ta. Vy bước lên nửa bước, đứng song hàng với An, cất tiếng chào bằng một giọng điệu vừa giữ lễ nghi phép tắc nhưng lại ngầm vạch ra một khoảng cách cảnh giác rõ rệt:

“Chào anh Minh. Không biết anh còn nhớ tôi không? Nhưng anh Minh này... suốt mười hai năm qua, cả nhà bác Thoa ngoài phố huyện lẫn mẹ anh An đều khẳng định anh đi làm ăn xa tít tận phương Nam, bặt vô âm tín, không một cánh thư, không lấy một cú điện thoại báo bình an. Tại sao mãi đến tận bây giờ, anh lại bất ngờ gửi thiệp về tận nơi mời cưới? Hơn nữa, nơi này... ngôi làng Vĩnh Trầm này, trên bản đồ địa chính của huyện đã bị xóa sổ hoàn toàn từ sau trận vỡ đê năm ấy rồi mà?”

Những câu hỏi của Vy sắc bén như dao cạo, đâm thẳng vào những mâu thuẫn phi lý đang bao trùm lấy không gian này. Thế nhưng, trước sự chất vấn gay gắt ấy, Minh không hề tỏ ra lúng túng, bối rối hay có chút gì phật ý. Anh thở dài một hơi dài thườn thượt, khóe mắt chùng xuống, để lộ một nét mặt trĩu nặng sự ân hận và đắng cay khôn nguôi:

“Vy đấy phải không? Bao nhiêu năm rồi em vẫn thông minh, tinh ý và cẩn trọng như ngày nào. Anh hiểu chứ. Anh hiểu mọi người giận anh, trách anh là đứa con bất hiếu, đứa cháu bạc bẽo quên gốc quên nguồn. Mười hai năm trước, sau cái đêm nước lũ cuồn cuộn tràn qua bến Cây Gạo cuốn phăng đi tất cả, anh may mắn thoát chết trôi dạt vào bờ nhưng hai bàn tay trắng hoàn toàn. Nhà cửa trôi mất, làng xóm tan hoang, anh thấy mình bất tài vô dụng, xấu hổ không còn mặt mũi nào nhìn mẹ, nhìn em. Anh chỉ biết cắm đầu theo chân những thuyền đánh cá lạ mặt đi biệt xứ vào tận vùng biển Cà Mau, Kiên Giang.”

Minh đưa tay chỉ về phía rặng tre xanh mướt mải phía sau mái đình cong vút, nơi có một lối mòn nhỏ dẫn thoai thoải về phía xóm bến nước cũ:

“Nghề đi biển rày đây mai đó, đầu sóng ngọn gió, bão giông ập đến lúc nào chẳng hay. Suốt ngần ấy năm, anh làm lụng quần quật như một kẻ đi đày khổ sai, chắt bóp từng đồng bạc lẻ chỉ mong có ngày tích cóp được chút vốn liếng đàng hoàng quay về. Mãi đến đầu năm nay, anh mới dành dụm đủ. Anh bí mật tìm cách liên lạc nhờ cậy người ta chuộc lại mảnh đất hương hỏa của cha ông, rồi lẳng lặng thuê thợ giỏi về tu sửa lại nếp nhà ba gian, rồi mới dám sang thưa chuyện cùng bố mẹ Hạnh. Hạnh đã chờ anh... cô ấy đã chôn vùi cả mười hai năm thanh xuân tươi đẹp nhất của đời người con gái trong sự mòn mỏi, đợi chờ một người không biết còn sống hay đã chết. Anh không thể ích kỷ làm một đám cưới qua quýt ở nơi đất khách quê người được. Anh muốn trở về đúng mảnh đất chôn nhau cắt rốn này, thắp nén nhang thơm tạ tội trước ban thờ tổ tiên dòng họ Hoàng, rồi mới đàng hoàng rước cô ấy về làm vợ. Anh muốn bù đắp cho Hạnh, cho mẹ, và muốn được gặp lại đứa em trai duy nhất của mình.”

Từng lời, từng chữ của Minh thốt ra rành rọt, khúc chiết, đượm buồn và chan chứa đạo lý ân tình đến mức không một ai có thể nỡ lòng buông lời bắt bẻ. Hình ảnh một người đàn ông phiêu bạt góc bể chân trời, mang trong mình nỗi mặc cảm tội lỗi nặng nề và quyết tâm trở về phục dựng lại cơ đồ của tổ tiên để tạ lỗi với người thương—đó là câu chuyện mang trọn vẹn vẻ đẹp đạo đức truyền thống mà bất kỳ người Việt nào cũng có thể đồng cảm và tha thứ.

Nghe những lời ruột gan ấy, khóe mắt An đỏ hoe, sống mũi cay cay. Những nghi ngờ u ám về tấm bia tưởng niệm bị trét đầy bùn đất ở nghĩa trang Đồng Mới, cùng những lời cảnh báo ma quái của mẹ dường như bị đẩy lùi vào một xó xỉnh tăm tối, mờ mịt trong tâm trí cậu. Cậu muốn tin. Cậu thực sự muốn tin rằng người anh họ bằng xương bằng thịt của mình đã trở về.

Trong lúc Minh đang mải mê giãi bày tâm sự cùng An và Vy dưới ánh sáng rực rỡ của dàn đèn lồng, thì ở một góc tối hun hút bên chái đình phía đông, một cảnh tượng khác đang lặng lẽ diễn ra trong sự ngột ngạt đến nghẹt thở.

Phúc một tay xách chiếc lồng tre phủ kín vải điều đỏ thắm, bước từng bước run rẩy về phía bóng tối của rặng duối già. Dưới ánh sáng tù mù, vàng vọt hắt ra từ ngọn đèn bão treo lủng lẳng trên chiếc cột gỗ hiên ngoài, một bóng người đàn ông lực lưỡng, hộ pháp đang khoanh tay đứng đợi tự bao giờ. Người đó có bờ vai rộng và dày như một tấm phản gỗ lim, khuôn mặt vuông vức với những đường nét thô ráp, lạnh tanh như được đẽo ra từ đá tảng. Đó là Bảy, người giữ trật tự và tuần đinh của đình làng Vĩnh Trầm năm xưa. Bảy vận một bộ quần áo bà ba bằng vải chàm sẫm màu, đôi mắt sâu hoắm, đùng đục không gợn lấy một tia cảm xúc hay một chút thần sắc của người sống. Khi nhìn thấy chiếc lồng tre trên tay Phúc, khóe môi thâm sì của Bảy hơi giật giật.

“Gà... gà tế đây,” Phúc nói lắp bắp, giọng run rẩy bần bật như người đang lên cơn sốt rét rừng giữa mùa đông. Anh ta vội vã chìa chiếc lồng ra, dúi mạnh quai xách vào bàn tay thô kệch của Bảy, tuyệt nhiên không dám ngẩng đầu nhìn thẳng vào khuôn mặt vô hồn của người đàn ông đối diện. “Đúng con gà trống thiến nuôi thả vườn ngoài làng, giống gà ri thuần chủng chưa từng đạp mái, lông mượt như tơ, mào cờ đỏ chót đúng y như lời dặn của các ông dạo trước. Tôi... tôi giao xong việc rồi đấy nhé. Phần việc của tôi coi như xong. Giờ tôi phải quay xe về ngay kẻo đêm muộn đường sá khó đi.”

Bảy đưa bàn tay to bè, sần sùi đón lấy chiếc lồng tre. Những ngón tay cứng quắc của ông ta siết chặt lấy nan tre khiến chiếc lồng kêu lên răng rắc. Sinh vật bị nhốt bên trong dường như cảm nhận được tử khí nồng nặc đang bủa vây, đột ngột đập cánh quẫy đạp điên cuồng, chiếc mỏ nhọn hoắt va vào thành lồng lách cách trong cơn hoảng loạn tột cùng. Thế nhưng, ánh mắt đùng đục của Bảy hoàn toàn không để tâm đến con gà tế. Ánh nhìn lạnh lẽo, nhớp nhúa của ông ta lướt qua bả vai đang run rẩy của Phúc, phóng thẳng về phía sân đình, ghim chặt vào bóng dáng mảnh mai của Vy đang đứng cách đó không xa. Cái nhìn săm soi, trần trụi và lạnh toát đến tận xương tủy ấy tựa như ánh mắt của một gã đao phủ đang đo đạc từng tấc da thịt của một con mồi béo bở.

Phúc không hề nhận ra ánh mắt kinh tởm ấy của Bảy. Toàn bộ tâm trí người tài xế lúc này chỉ bị chi phối bởi một nỗi sợ hãi tột cùng: phải trốn chạy. Anh ta lập tức xoay gót, cúi gầm mặt toan cắm đầu chạy thục mạng ra hướng cổng làng để thoát khỏi cái thung lũng quái dị này trước khi màn đêm hoàn toàn khép chặt mọi lối thoát.

Thế nhưng, đôi chân Phúc mới vừa sải được hai bước vội vã, một bàn tay gầy guộc, khẳng khiu nhưng cứng như gọng kìm sắt bất thần thò ra từ bóng tối đen ngòm sau gốc đa cổ thụ, tóm chặt lấy bả vai anh ta.

“Phúc! Em đi đâu mà vội vàng thế?”

Phúc giật bắn người, toàn thân cứng đờ như bị sét đánh ngang tai. Một luồng khí lạnh buốt truyền từ năm ngón tay kia xuyên thẳng qua lớp áo khoác gió dày cộm, chạy thẳng vào tim anh ta. Phúc kinh hoàng, từ từ ngước cặp mắt dại đi vì khiếp đảm lên nhìn.

Đứng sừng sững chắn ngay trước mặt anh ta là Quân—người anh trai ruột thịt cùng chung khúc ruột, người đã vùi thây dưới lòng sông Đáy lạnh lẽo trong cái đêm vỡ đê kinh hoàng mười hai năm về trước. Quân vẫn mặc nguyên chiếc áo nâu vá chằng vá đụp ở hai bên vai—chiếc áo của người chèo đò ngang năm nào mà mẹ từng tự tay khâu từng đường kim mũi chỉ. Khuôn mặt Quân gầy gò, hốc hác, làn da xám ngoét màu bùn non, nhưng đôi mắt anh ta khi nhìn xuống Phúc lại chan chứa một vẻ ân cần, trìu mến và tha thiết đến nao lòng.

“Anh... Anh Quân... Sao lại...” Phúc lắp bắp, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng kêu lách cách thảm hại.

“Mười hai năm rồi, anh em mình chưa từng được ngồi chung một mâm, chưa từng nói với nhau được một lời trọn vẹn,” Quân khẽ siết nhẹ bàn tay trên vai em trai, giọng nói trầm ấm, nghẹn ngào nhưng văng vẳng như vọng lên từ một đáy giếng sâu hoắm. “Đêm nay là ngày đại hỷ của làng, cũng là cái đêm hiếm hoi duy nhất anh có cơ hội gặp lại em. Phúc ơi, mẹ ở nhà dạo này có khỏe không em? Bệnh đau khớp xương của bà mỗi khi trời trở gió đông có còn hành hạ bà thâu đêm suốt sáng nữa không? Em... em ở lại với anh đêm nay đi. Ngồi xuống ăn với anh một bữa cơm đoàn viên, uống với anh một chén rượu ấm rồi hẵng đi, được không em? Chẳng lẽ... chẳng lẽ tình nghĩa anh em ruột thịt mười mấy năm trời xa cách, ngần ấy năm anh nằm cô quạnh lạnh lẽo dưới đáy bùn sâu, lại không đáng để em ngồi lại với anh trọn một canh giờ sao Phúc?”

Từng câu, từng chữ của Quân như những nhát búa nện thẳng vào phần yếu mềm nhất trong tâm can Phúc. Ánh mắt người anh trai nhìn anh ta vừa đau đớn, vừa khẩn khoản van nài, bàn tay trên vai dẫu lạnh ngắt như băng đá nhưng cái siết chặt run rẩy lại chứa chan trọn vẹn nỗi niềm của người anh cả cả đời chịu thương chịu khó, từng nhường cho em củ sắn lùi, từng nhận đòn roi thay em thuở thiếu thời.

Phúc đứng chết lặng giữa hai ngả đường nghiệt ngã. Nỗi sợ hãi bản năng trước cái chết và sự ma quái đang gào thét thúc giục anh ta phải giằng ra mà chạy, nhưng mặc cảm tội lỗi của kẻ còn sống sót cùng sợi dây liên kết máu mủ ruột rà lại trói chặt hai chân anh ta xuống nền gạch đỏ. Phúc nghẹn ngào, nước mắt trào ra nơi khóe mi, không tài nào nhấc nổi bước chân tháo chạy được nữa.

“Mời các quan viên hai họ và tân khách bước vào tiền tế!”

Một tiếng xướng trầm hùng, vang rền như tiếng chuông đồng cổ từ sâu bên trong đại đình đột ngột vọng ra, xé toạc bầu không khí náo nhiệt của sân tiệc. Âm thanh ấy mang một uy lực vô hình đến lạ kỳ; ngay khi tiếng xướng vừa dứt, tiếng đàn nhị réo rắt, tiếng trống hội tưng bừng cùng tiếng cười nói rôm rả của hàng trăm con người ngoài sân đình bỗng nhiên đồng loạt chùng xuống, im bặt trong một nhịp thở nghẹn ngào.

Minh lập tức buông tay khỏi người An, quay sang nhìn cậu và nở một nụ cười rạng rỡ, tươi tắn như hoa nở mùa xuân:

“Cụ Từ Lẫm gọi vào làm lễ rồi kìa. Đi thôi em, vào bái vọng tổ tiên dòng họ mình rồi anh dẫn ra nhận bàn tiệc danh dự.”

Nói rồi, không đợi An trả lời, Minh quay người rảo bước dẫn đường. An, Vy và Loan chầm chậm bước theo sau anh, từng bước leo lên những bậc tam cấp bằng đá xanh rêu phong, tiến thẳng vào gian tiền tế của ngôi đình cổ Vĩnh Trầm.

Bước chân qua bậu cửa gỗ lim cao ngang đầu gối, một không gian thâm nghiêm, u tịch và lạnh lẽo đến rợn ngợp lập tức bao trùm lấy họ. Trái ngược hẳn với vẻ tưng bừng sáng rực ngoài sân, gian tiền tế ngập chìm trong thứ ánh sáng mờ ảo, chập chờn phát ra từ những cây nến bạch lạp to bằng bắp tay cắm trên các giá đồng hình chim hạc. Không khí ở đây đặc quánh, ngột ngạt, sực nức mùi trầm hương thượng hạng quyện lẫn với mùi khói sáp nến khét lẹt và một mùi ẩm mốc sâu kín của gỗ mục ngâm nước lâu ngày. Bốn hàng cột lim khổng lồ, to chừng một vòng tay người ôm không xuể, đen bóng như sừng tê giác, trên thân cột chạm khắc những hình rồng uốn lượn, phượng múa lượn lờ trong mây với những đường đục đẽo tinh xảo nhưng u uất.

Ở chính giữa gian tế, ngay phía trước ban thờ tổ sơn son thếp vàng rực rỡ ngập tràn bài vị, cụ Từ Lẫm đang đứng sừng sững như một pho tượng cổ. Râu tóc cụ bạc phơ như cước, chòm râu dài chấm tận ngực, vóc người quắc thước trong bộ áo thụng lam trang trọng của bậc chủ tế tối cao trong làng. Phong thái cụ uy nghi, đạo mạo, toát lên vẻ phiêu diêu, đĩnh đạc của một bậc túc nho tiên phong đạo cốt nắm giữ toàn bộ lề lối của vùng đất này.

Trên chiếc bàn hương án lớn bằng gỗ gụ bóng loáng kê ngay lối vào để nghênh đón khách thập phương, một cuốn sổ khổ lớn bọc bằng gấm điều lụa đỏ thắm đã được mở sẵn từ bao giờ. Nằm ngay ngắn bên cạnh cuốn sổ là một nghiên mực tàu bằng đá đen nhánh vừa được mài óng ả, nước mực đen tuyền sóng sánh như một vũng nước không đáy; và một chiếc bút lông thân bằng trúc cật vót nhọn, đầu lông cừu trắng muốt đã được chấm đẫm mực đen, nằm gác hờ trên chiếc giá sứ hoa lam.

An liếc mắt nhìn vào mặt giấy của cuốn sổ đang mở rộng. Đó là loại giấy dó cổ truyền thống dày dặn, thớ giấy nổi vân rõ rệt, màu ngả vàng nhuốm màu thời gian tựa như đã tồn tại qua hàng thế kỷ. Trên những trang giấy đầu tiên, đã có sẵn hàng chục cái tên được viết nắn nót, cẩn thận bằng thứ mực tàu đen nhánh—chính là tên tuổi, quê quán của những người khách sống khác đến từ chập tối mà cậu vừa trông thấy ngồi ngoài sân tiệc. Từng nét chữ chân phương, rành rọt hiện lên trên nền giấy dó, mang một vẻ trang trọng, bất di bất dịch tựa như những vết son sắt được khắc ghi vĩnh viễn vào một văn bản hành chính của cõi âm ti.

Cụ Từ Lẫm khẽ ngước đôi mắt sáng quắc lên nhìn đoàn người vừa bước vào. Ánh mắt sắc như dao cau của cụ chậm rãi lướt qua từng gương mặt với một sự soi xét kín đáo đến lạnh gáy, rồi cuối cùng dừng lại, ghim chặt vào người An. Cụ khẽ đưa bàn tay khẳng khiu lên vuốt chòm râu bạc, cất giọng trầm hùng, trang nghiêm vang vọng khắp các vì kèo gỗ:

“Lề lối gia tộc ngàn đời của đất Vĩnh Trầm ta xưa nay vốn lấy chữ Lễ làm đầu, lấy chữ Hiếu làm gốc rễ. Đêm nay là ngày lành tháng tốt, trời đất giao hòa, chú rể Hoàng Minh hoàn tất hôn lễ nghênh hôn sau mười hai năm bôn ba chìm nổi, trở về tạ ơn tiên tổ, bái tạ thần linh. Phàm đã là người cùng huyết thống dòng họ, người thân bằng quyến thuộc, hay khách quý nhận được thiệp hồng quang lâm đến chung vui, trước khi bước chân vào chiếu tiệc thụ lộc đều phải tự tay cầm bút ghi rõ tên họ của mình vào sổ danh bộ đón khách này. Có như thế, nhà trai mới có danh chính ngôn thuận để dâng sớ bái cáo tổ tiên nơi khám thờ, xin thánh thần phù hộ độ trì cho người đi kẻ ở, cho người sống kẻ khuất đều được phúc thọ an khang, vạn sự hanh thông.”

Từng lời nói của cụ Từ Lẫm vang lên đường bàng, rành rọt, mang trọn vẹn cái sức nặng ngàn cân của gia phong, lễ giáo và đạo lý tổ tiên ngàn đời. Ở chốn đình trung thâm nghiêm này, trước mặt đấng bề trên tôn kính và trước bàn thờ tổ tiên họ Hoàng nghi ngút khói trầm, những lời ấy nghe thuận tình hợp lý đến mức không một ai có thể tìm ra bất kỳ một lý do nào để từ chối một thủ tục lễ nghi thông thường và trang trọng đến thế.

Cụ Từ Lẫm hơi lùi lại nửa bước, khẽ nghiêng mình, đưa ngón tay gầy guộc chỉ về phía chiếc bút lông đặt bên nghiên mực:

“Ai là em trai ruột thịt của chú rể, người nối dõi tông đường của chi họ dưới xuôi, xin mời bước lên ghi danh trước để khai tiệc!”

Minh quay sang nhìn An, trong ánh mắt anh họ ngập tràn vẻ tự hào, kỳ vọng và khích lệ vô bờ bến. Anh khẽ đặt tay lên vai An, đẩy nhẹ cậu về phía trước nửa bước:

“An, em thay mặt cho nhánh họ nhà mình dưới phố huyện, bước lên viết tên em đi. Mười hai năm rồi... bàn thờ tổ tiên họ Hoàng mới lại có tên của một người con trai còn sống trong gia đình ta dâng cáo lên tiên tổ.”

An nhìn chằm chằm vào cuốn sổ bìa gấm điều đỏ rực đang nằm im lìm trên mặt bàn hương án. Giấy trắng mực đen bày ra trước mắt, nhưng trong một tích tắc ngắn ngủi, một tia chớp kinh hoàng bỗng lóe lên trong đại não cậu. Giọng nói nghẹn ngào, hoảng loạn đến tột cùng của mẹ lại một lần nữa dội về, gầm rú trong tâm trí: *“Đừng... đừng bao giờ viết tên vào bất cứ cuốn sổ nào... tên con sẽ bị thế mạng đấy An ơi!”*

Cổ họng An khô khốc. Cậu đứng chần chừ, mồ hôi lạnh bắt đầu rỉ ra ướt đẫm lòng bàn tay. Nhưng nếu cậu từ chối ngay lúc này thì sao? Trước mặt cụ Từ Lẫm uy nghiêm, trước mặt người anh họ vừa rơi những giọt nước mắt nóng hổi vì gặp lại mình, và trước hàng chục ánh mắt của dân làng ngoài kia—hành động từ chối ấy chẳng khác nào một cái tát trời giáng vào thể diện của Minh, một sự sỉ nhục báng bổ vào ngày vui duy nhất của đời anh, và là một tội bất hiếu, bất kính không thể dung thứ đối với tổ tiên họ Hoàng. Làm sao một người anh trai bằng xương bằng thịt, người vừa ôm chặt cậu khóc nức nở, người vừa kể vanh vách những kỷ niệm ấu thơ ở bến Cây Gạo, lại có thể đang tâm giăng ra một cái bẫy chết người để hại chính đứa em ruột thịt của mình? Lời mẹ dặn ở xóm Đồng Mới... có lẽ chỉ là sự hoang tưởng, điên loạn của một người đàn bà góa bụa bị nỗi ám ảnh của trận lũ năm xưa đè nặng đến mất trí mà thôi.

Nghĩ đến đó, An hít một hơi thật sâu, nuốt sự sợ hãi nghẹn ứ nơi cuống họng xuống, dứt khoát bước tới bên bàn hương án. Cậu vươn tay ra, cầm lấy cán chiếc bút lông.

Cán trúc chạm vào da thịt lạnh ngắt, buốt giá hệt như ngón tay của Minh ban nãy. An hơi khựng lại một nhịp, nhưng rồi cậu vẫn chấm nhẹ đầu lông cừu vào nghiên mực tàu sóng sánh, rồi run rẩy hạ ngòi bút xuống trang giấy dó còn bỏ trống đầu tiên.

Mực tàu đen nhánh, thơm nồng mùi muội than và xạ hương, rẽ theo từng chuyển động của ngòi bút. Từng nét chữ *Hoàng Văn An* hiện lên rõ ràng, dứt khoát và ngay ngắn trên nền giấy ngà vàng.

“An! Đừng viết—”

Tiếng kêu thất thanh của Vy vang lên từ phía sau. Cô vừa nhận ra điều gì đó bất thường trong độ dày của mặt giấy, vội vã lao lên toan chụp lấy cán bút lông trên tay An, nhưng tất cả đã quá muộn màng. Nét móc cuối cùng của chữ *An* vừa vặn khép lại trên mặt giấy dó. Thứ mực tàu đen ngòm, đặc quánh như một giọt máu đen lập tức ngấm sâu, bám chặt vào từng thớ xơ của trang giấy, biến thành một vết chàm vĩnh viễn không thể tẩy xóa.

Vy đứng sững sờ chôn chân tại chỗ, khuôn mặt thanh tú bỗng chốc trắng bệch, không còn một giọt máu. Là một người làm công tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân học, sự nhạy cảm đối với các nghi thức hiến tế và phong tục huyền bí mách bảo cho cô biết rằng một cái bẫy vô hình vừa sập xuống. Không khí tiệc tùng lộng lẫy ngoài kia, sự nhiệt tình của dân làng, tất cả đều mang một vẻ giả tạo đến rợn người. Thế nhưng, khi nhìn thấy cái tên của An đã nằm trơ trọi trên trang giấy chết chóc ấy, nhìn bóng dáng cô độc của cậu em trai đứng trơ trọi giữa gian tiền tế nghi ngút tử khí, trái tim Vy thắt lại một cơn đau buốt nhói.

Cô không thể quay lưng bỏ chạy. Cô không thể để mặc An ở lại chốn này một mình đối mặt với những thứ quái dị chưa rõ hình thù. Nếu đây là một bản giao ước sinh tử, nếu số phận đã buộc chặt họ vào nhau trong chuyến đi này, thì dù phía trước có là hầm lửa hay vực sâu không đáy, cô cũng phải bước vào để cùng cậu tìm một con đường sống.

Cắn chặt môi dưới đến rớm máu, Vy lạnh lùng bước lên, giật lấy chiếc bút lông từ bàn tay đang thẫn thờ của An. Dù ngón tay cô run lên bần bật vì sợ hãi, nhưng nét chữ *Nguyễn Thụy Vy* vẫn được viết xuống ngay bên cạnh tên của An—ngay ngắn, thanh thoát và kiên quyết như một lời thề cam kết cùng chung hoạn nạn.

Ngay phía sau họ, Loan bước tới bên chiếc bàn gỗ gụ như một kẻ mộng du bị tước đoạt toàn bộ tri giác. Đôi mắt mở to, ngây dại của cô gái trẻ không hề nhìn vào cuốn sổ, cũng không nhìn vào cụ Từ Lẫm hay nghiên mực tàu. Toàn bộ ánh nhìn của Loan dán chặt vào bức rèm điều đỏ thắm đang rủ xuống nặng nề ở gian ngăn cách tiền tế với buồng trong—nơi cô tin chắc rằng người chị gái ruột thịt Lê Thị Hạnh của mình đang ngồi mặc áo cô dâu, đang đau đớn chờ đợi đứa em gái đến tương phùng.

Đối với Loan lúc này, nỗi khát khao cháy bỏng được nhìn thấy mặt chị, được ôm lấy người chị mà cô hằng yêu quý, được nghe chính miệng chị giải thích về tờ giấy báo tử nghiệt ngã và những uẩn khúc trong cái đêm nước lũ mười hai năm trước đã thiêu rụi hoàn toàn mọi nỗi sợ hãi, mọi bản năng sinh tồn thông thường của một con người. Dù cuốn sổ này có là bẫy rập của ma quỷ, là khế ước bán linh hồn hay là cửa tử, chỉ cần được bước qua bức rèm điều kia để gặp lại chị Hạnh một lần duy nhất trong đời, cô sẵn sàng trả bằng bất cứ giá nào.

Không một giây do dự hay ngập ngừng, Loan run rẩy đón lấy cây bút lông từ tay Vy, cúi rạp người xuống mặt bàn, cắn răng viết thật nhanh tên mình: *Lê Thị Loan*.

Đúng lúc ấy, bên ngoài thềm đá xanh vang lên những tiếng bước chân lê lết nặng nề. Phúc bị Quân lôi xềnh xệch bước vào tận mép bàn hương án. Gương mặt người tài xế lúc này xám ngoét như mặt một cái thây ma vừa vớt dưới nước lên, mồ hôi lạnh túa ra ướt đầm trán, chảy ròng ròng xuống cằm dù ngọn gió đêm thổi qua tiền tế buốt giá đến tê người. Phúc nhìn trừng trừng vào cuốn sổ bìa gấm điều đỏ rực như nhìn thấy một hố huyệt chôn sống chính bản thân mình. Là một người sinh ra và lớn lên ở vùng đất này, Phúc hiểu rõ hơn bất kỳ ai hết cái luật tục man rợ và đáng sợ của làng Vĩnh Trầm: một khi kẻ sống đã tự tay đặt bút ghi danh tính của mình vào sổ của làng, sợi dây trói buộc của cõi âm sẽ lập tức siết chặt lấy linh hồn họ, biến họ thành vật hiến tế thế mạng không thể chối từ.

“Viết đi em,” Quân ghé sát khuôn mặt lạnh toát vào tai Phúc, giọng nói thì thào, tha thiết nhưng mang theo một sức ép ghê rợn, hơi thở buốt giá phả từng luồng vào vành tai em trai. “Viết tên em vào đi Phúc, để anh em mình được danh chính ngôn thuận ngồi chung một mâm cỗ đêm nay. Em nỡ lòng nào để anh... nỡ lòng nào để anh trai em phải tiếp tục cô độc, lạnh lẽo dưới đáy bùn lầy thêm một lần nữa sao em?”

Bàn tay Quân trên bả vai Phúc siết mạnh thêm một nấc, những ngón tay gầy guộc như những chiếc đinh sắt cắm sâu vào da thịt anh ta. Sức nặng ngàn cân của sự đòi hỏi, của nỗi oán hận và tình thương máu mủ tích tụ suốt mười hai năm ròng rã dội thẳng vào tâm can Phúc, bẻ gãy hoàn toàn chút ý chí phản kháng mong manh cuối cùng của người tài xế giao hàng nhút nhát.

Phúc buông xuôi, phát ra một tiếng thở dài thảm thiết, nghẹn ngào như tiếng khóc uất ức. Bàn tay run lẩy bẩy như người lên cơn co giật của anh ta chìa ra, đón lấy cây bút lông từ tay Loan. Dưới ánh nến chập chờn, ma quái, ngòi bút lông cừu run rẩy vạch từng nét chữ nguệch ngoạc, méo mó trên trang giấy dó: *Trần Văn Phúc*.

Ngay khoảnh khắc nét chữ cuối cùng của Phúc vừa hoàn tất, một làn gió âm u, lạnh toát từ một góc tối không rõ nguồn gốc bỗng thốc mạnh qua gian tiền tế. Ngọn lửa của hàng chục cây nến bạch lạp trên bàn hương án chao đảo dữ dội, ngọn lửa đỏ quạch bốc cao lên một cách bất thường rồi đột ngột hạ thấp xuống, chỉ còn leo lét như những đốm lân tinh. Luồng ánh sáng ma quái ấy hắt những cái bóng đen ngoằng ngoẵng, méo mó của bốn người sống đổ dài, run rẩy trên bức tường gạch vôi loang lổ vết ố của ngôi đình cổ.

Danh sách bốn vị khách sống có mặt trong đêm nay đã được hoàn tất một cách trọn vẹn, không thiếu sót dù chỉ một người.

Cụ Từ Lẫm đứng sừng sững bên bàn hương án, đôi mắt sáng quắc như mắt chim ưng nhìn chăm chú vào trang giấy dó. Trong đáy mắt sâu hoắm, đục ngầu của ông lão râu tóc bạc phơ bỗng lóe lên một tia sáng rực rỡ, lạnh lẽo và thỏa mãn đến rùng mình. Đó là ánh mắt của một kẻ vừa hoàn thành một mưu đồ to lớn sau bao năm tháng mòn mỏi đợi chờ.

Cụ chậm rãi đưa hai bàn tay khô khốc ra, cầm cuốn sổ lên, lấy đầu ngón tay trỏ vuốt nhẹ qua bốn cái tên còn ướt đẫm mực tàu. Tuyệt nhiên không nói thêm một lời nào với đám khách sống đang đứng chết lặng trước mặt, cụ Từ Lẫm thò tay vào trong ngực áo, lấy ra một tờ giấy bản mỏng dính màu vàng ố đã được chuẩn bị sẵn từ trước bên cạnh nghiên mực. Bằng những ngón tay khẳng khiu như những nhánh củi khô, cụ thoăn thoắt chấm bút vào nghiên, cẩn thận chép lại chính xác từng chữ, từng nét của bốn cái tên vừa xuất hiện: *Hoàng Văn An*, *Nguyễn Thụy Vy*, *Lê Thị Loan*, *Trần Văn Phúc*.

Chép xong, cụ đưa tờ giấy bản lên ngang miệng, cẩn thận thổi nhẹ một hơi cho ráo bớt mực đen. Cụ gấp mảnh giấy lại làm tư một cách tỉ mỉ, rồi nhét sâu vào trong ống tay áo thụng lam rộng thùng thình của mình. Xong xuôi, cụ đặt cuốn sổ lớn bìa gấm điều nằm nguyên vẹn lại trên chiếc bàn hương án gỗ gụ ở gian tiền tế, hoàn toàn không mang nó đi theo.

Cụ Từ Lẫm quay lưng lại, tà áo thụng lam phất nhẹ trong gió lạnh. Cụ cất từng bước chân chậm rãi, không phát ra một tiếng động, đi thẳng về phía cánh cửa gỗ lim nặng nề ngăn cách gian tiền tế với chốn hậu cung sâu thẳm phía sau khám thờ—nơi cất giữ cuốn sổ hộ gốc bọc da trâu yểm bùa cùng bí mật ngàn đời của giao ước đổi chỗ man rợ.

“Keng!”

Một tiếng then cài bằng đồng nặng trịch va đập vào ổ khóa vang lên khô khốc, đanh gọn từ phía bên trong hậu cung, khóa chặt hoàn toàn lối vào cấm địa. Âm thanh kim loại lạnh lẽo ấy như một nhát búa đóng đinh vào số phận của những kẻ vừa ký tên. Toàn bộ gian tiền tế bỗng chìm nghỉm vào một khoảng lặng nghẹt thở, chết chóc, chỉ còn lại cuốn sổ đón khách bìa đỏ nằm trơ trọi, cô độc dưới ánh nến leo lét.

An bàng hoàng quay đầu nhìn lại Minh. Chú rể trong bộ áo gấm đỏ rực thêu chữ Hỷ vẫn đang đứng sừng sững ngay cạnh cậu, nhưng nụ cười tươi tắn, ấm áp và rạng rỡ ban nãy bỗng nhiên vụt tắt ngấm, biến mất không còn một dấu vết. Thay vào đó, khóe miệng Minh hơi trễ xuống một cách vô cảm, đôi mắt anh ta đờ đẫn, trống rỗng và vô hồn, nhìn chằm chằm vào cánh cửa hậu cung vừa đóng sập lại, tựa như một con rối gỗ vừa bị người ta đột ngột giật đứt mất sợi dây điều khiển.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories