Đám Cưới Ở Làng Không NgườiCh.3 / 20
Chapter 3

Người Mang Thiệp

Rời khỏi vòng tay níu kéo tuyệt vọng của bà Lan trong ráng chiều muộn màng, An và Vy lặng lẽ bước xuống con dốc đất trơn trượt để hội ngộ với Phúc ở đầu lối mòn dẫn vào thung lũng sông. Phía sau lưng họ, những mái ngói xi măng xám xịt của khu tái định cư Đồng Mới đã bắt đầu nhạt nhòa dần trong màn sương mỏng, trơ trọi và quạnh quẽ trên những sườn đồi thấp cằn cỗi.

Không khí sau trận mưa rào nặng hạt ban ngày ở vùng giáp ranh không hề đem lại cảm giác trong trẻo hay tươi mát của đồng nội. Ngược lại, nó chỉ đánh thức và giữ rịt lại một thứ mùi ẩm mốc nồng nặc, ngai ngái của đất ải ngậm nước lâu ngày và xác mùn thực vật đang thối rữa. Ánh nắng chiều vội vã tắt lịm phía sau những chỏm đồi hoang vu, nhường toàn bộ vòm trời cho những dải mây màu xám chì sà xuống rất thấp, tựa hồ như một tấm chăn ướt sũng đang từ từ ép chặt lấy ngọn cây. Lối đi phía trước từng là một bờ đê đất đỏ nhỏ hẹp, nhưng qua bao mùa nước dâng và những chuyến xe thồ cày xới, mặt đất nay đã biến thành những rãnh sình đặc quánh. Nước tù đọng trong các hố móng nông lấp loáng những vệt váng dầu màu cầu vồng lẫn với xác lá mục bốc lên thứ mùi khăng khẳng của đầm lầy cạn.

Phúc đứng tựa lưng vào chiếc xe máy Dream lùn cà tàng, lớp sơn xanh nguyên bản trên sườn xe đã bong tróc nham nhở để lộ những mảng kim loại gỉ sét màu nâu sẫm. Chiếc pô xe dài ngoằng bám dày những lớp bùn đất khô cứng như vảy rùa, dù động cơ đã tắt từ trước nhưng hơi nóng khét lẹt của dầu máy cũ vẫn phả ra hầm hập giữa làn không khí ẩm ướt. Nhận ra bóng dáng hai người đang bước thấp bước cao từ dốc đê đi xuống, Phúc khẽ giật mình, vội vàng ném mẩu thuốc lá đang hút dở xuống vũng nước đục ngầu dưới chân. Chiếc mũi giày vải bảo hộ lao động cáu bẩn, sờn rách mép của anh ta giẫm mạnh lên đó, xoay tròn vài lượt cho đến khi tàn thuốc chìm hẳn vào bùn lầy đặc quánh.

Đôi mắt Phúc trũng sâu, quầng thâm đen sì vì thiếu ngủ, nhưng vẻ bồn chồn lộ rõ trong từng cử chỉ. Trên tay Phúc lúc này không còn là xấp phong bao bìa đỏ in chữ mạ vàng tanh tưởi mùi bùn đất như lúc anh ta xuất hiện ở thành phố vào buổi chiều. Thay vào đó, anh ta đang xách một chiếc lồng tre đan mắt cáo khá lớn, nan lồng dày và chắc, toàn bộ bên ngoài được phủ kín mít bằng một tấm vải điều màu đỏ sẫm. Thứ sắc đỏ ấy không hề tươi tắn mà thâm sì, loang lổ những vệt ẩm ướt, giống hệt màu máu đọng lâu ngày trên những tấm thiệp cưới quái đản mà An đã tận mắt nhìn thấy.

Ngay khoảnh khắc An và Vy vừa bước chân tới gần mép đầm, từ bên dưới lớp vải điều bỗng phát ra những âm thanh lục cục dồn dập. Một sinh vật sống bên trong chiếc lồng dường như vừa bị kích động dữ dội; nó điên cuồng đập cánh phành phạch, cựa sắt sắc nhọn va chan chát vào các nan tre kêu lách cách liên hồi. Tấm vải phủ rung bần bật theo từng nhịp giãy giụa hoảng loạn, làm tung ra một mùi hôi tanh nồng nặc của lông vũ ẩm ướt quyện với mùi phân gia cầm.

Vy khựng lại, đôi chân chững lại trên mép cỏ ướt. Chiếc quai ba lô dã ngoại trên vai cô khẽ siết chặt khi đôi mắt cô dán chặt vào tấm vải đỏ đang co giật từng chập một cách bất thường.

“Anh Phúc, trong chiếc lồng đó là cái gì vậy?” Vy cất tiếng hỏi, giọng cô giữ vẻ bình thản nhưng ánh nhìn không hề rời khỏi những cử động giãy giụa điên cuồng kia.

Phúc thót người, vội vàng dùng cả cẳng tay đè chặt lên nóc lồng tre để ghìm con vật bên dưới lại. Sự căng thẳng lộ rõ trên từng thớ thịt trên mặt anh ta. Khóe môi Phúc giật giật, rồi anh ta cố nặn ra một nụ cười gượng gạo méo mó:

“Không có gì đâu cô Vy... Gà trống thôi mà. Một con gà trống thiến còn sống nguyên vẹn, nhà trai cậy nhờ tôi xách từ ngoài này vào trong làng để làm lễ bái tạ tổ tiên theo đúng phong tục tập quán riêng của dòng tộc họ Hoàng.” Phúc khẽ nuốt nước bọt, cổ họng anh ta phát ra một tiếng ực khô khốc như thể vừa nuốt phải một ngụm cát. Anh ta đưa mắt nhìn lên bầu trời đang sập tối rất nhanh, rồi lại liếc nhìn con đường mòn đang dần chìm vào ráng chiều nhờ nhợ, giọng nói đầy vẻ sốt ruột: “Hai người làm sao mà lề mề quá vậy? Dưới xóm Đồng Mới có chuyện gì mà dùng dằng níu kéo mãi thế? Nhanh chân lên chứ, sương mù dưới đáy thung lũng bắt đầu bốc lên dữ dội rồi kìa. Lỡ mất giờ lành nhà trai mở tiệc khoản đãi quan khách thì khốn khổ cả lũ chúng ta!”

“Giờ lành?” An bước lên phía trước một bước, giọng cậu trầm xuống và lạnh tanh. Đôi mắt cậu vẫn còn hằn lên những tia máu đỏ sau cuộc đối chất căng thẳng, nghẹt thở với mẹ Lan và dì Thoa bên bậu cửa gian nhà vách ván. Cậu nhìn thẳng vào đôi mắt đang đảo liên hồi của người bạn học cũ. “Một đám cưới ma tổ chức vào đúng giờ Tý giữa đêm rằm tháng Bảy âm hồn mở cửa... mà cũng cần phải chọn giờ lành sao, anh Phúc?”

Nụ cười gượng gạo trên gương mặt Phúc lập tức tắt ngấm. Da mặt anh ta tái mét đi dưới ánh sáng le lói cuối cùng của buổi hoàng hôn tàn tạ. Ánh mắt Phúc lúng túng né tránh cái nhìn sắc như dao cạo của An, bàn tay đang nắm quai xách bằng dây dù của chiếc lồng tre siết chặt đến mức các khớp ngón tay hằn lên trắng bệch:

“An... chú... chú đừng có nói gở mồm gở miệng như thế!” Phúc hạ giọng, nhưng âm vực run rẩy nghe rõ mồn một. “Người làng mình phiêu dạt, tha hương cầu thực bao nhiêu năm trời nay, vất vả cay đắng đủ đường. Nay anh Minh với chị Hạnh gom góp, tằn tiện làm được một cái lễ tươm tất mời bà con chòm xóm về chung vui, chú làm phận em họ mà cứ mở miệng ra là nói mấy lời xui xẻo, độc địa thế thì tội người ta lắm! Mau đi thôi, cái ngữ xe máy này không tài nào lội qua nổi vùng sình lầy ngập úng đâu, phải cuốc bộ men theo triền sông đá sỏi đấy!”

Nói đoạn, Phúc chẳng buồn ngó ngàng đến chiếc xe máy cũ kỹ. Anh ta thậm chí không buồn khóa cổ xe, cứ thế vứt mặc chiếc Dream nằm chỏng chơ bên vệ cỏ dại rậm rạp. Một tay xách chiếc lồng tre phủ vải đỏ, tay kia cầm chiếc đèn pin vỏ sắt to bản đã tróc sơn, Phúc săm săm rảo bước đi trước. Mỗi bước chân của anh ta dộng mạnh xuống nền đất nhão nhoét lại tạo ra những tiếng lép bép, nhóp nhép nặng nề. Dưới lớp vải điều màu huyết dụ, con gà trống dường như đánh hơi thấy mùi ẩm mốc chết chóc của vùng thung lũng phía trước nên lại bắt đầu cựa quậy, những chiếc móng nhọn hoắt cào rào rào vào nan tre như muốn xé toạc chiếc lồng để thoát thân.

An và Vy đưa mắt nhìn nhau trong tích tắc. Vy khẽ gật đầu, bàn tay đưa lên kéo lại khóa kéo của chiếc áo khoác gió chuyên dụng, kiểm tra lại vị trí của chiếc điện thoại và cuốn sổ ghi chép trong túi trong. Cả hai cùng rảo bước bám sát theo sau lưng Phúc, bước chân dẫm lên những vệt cỏ dập nát bốc mùi ngai ngái.

Con đường mòn dẫn sâu xuống lòng chảo địa giới làng cũ Vĩnh Trầm từ lâu đã không còn mang dáng dấp của một lối đi dân sinh bình thường. Mười hai năm trôi qua kể từ đêm kinh hoàng năm ấy, khi con đê đất bị dòng nước lũ hung hãn xé toạc cuốn trôi cả một ngôi làng trù phú vào lòng sông, thiên nhiên hoang dã đã giành lại quyền kiểm soát tuyệt đối. Lối mòn thực chất chỉ là một dải đất bồi hẹp ngoằn ngoèo, ngập ngụa phù sa non trơn trượt như bôi mỡ, nằm kẹp giữa hai vùng hiểm trở: một bên là bãi sình lầy đen ngòm, nước tù đọng bốc mùi xú uế của rễ cây thối rữa và xác sinh vật chết ngạt, còn bên kia là một vạt rừng cỏ lau bạt ngàn cao vượt quá đầu người.

Những bông lau trắng đục, bạc phếch vì sương gió và hơi ẩm, đung đưa xào xạc theo từng cơn gió luồn từ phía lòng sông Vĩnh Trầm thổi thốc lên. Mỗi cơn gió quét qua lại mang theo hơi lạnh buốt giá phả thẳng vào mặt, kèm theo vị tanh nồng đặc trưng của lớp bùn đáy sông bị xáo trộn. Dưới bước chân bì bõm của họ, thỉnh thoảng lại có tiếng cành củi mục gãy giòn tan, hoặc những bọc rác rưởi, mảnh chiếu rách, mẩu quần áo mục nát từ trận đại hồng thủy năm nào vùi sâu dưới lớp trầm tích nay bị xói mòn trồi lên lởm chởm, nhìn từ xa chẳng khác nào những khúc xương khô của người chết đuối còn sót lại bên bờ nước.

Càng dấn sâu xuống đáy thung lũng, ánh sáng ngày tàn càng bị nuốt chửng nhanh chóng bởi những tán cây gai rậm rạp đan cài vào nhau trên đầu. Màn sương đêm từ mặt nước sông bốc lên cuồn cuộn, không tan biến vào thung lũng mà cứ lững lờ trôi ngang tầm thắt lưng người đi, nhớp nháp, ẩm ướt và lạnh buốt như chạm vào da thịt người chết. Chiếc lồng tre trên tay Phúc liên tục va đập lách cách vào mạn sườn anh ta theo từng bước dằn xóc. Cứ mỗi lần mũi chân cả nhóm tiến gần hơn về phía khúc quanh lòng sông, con gà trống bên trong lại rướn dài chiếc cổ dưới tấm vải đỏ, phát ra những tiếng “khẹc... khẹc...” ngột ngạt, nghẹn ứ nơi cuống họng. Đôi chân có cựa nhọn của nó cào cấu dữ dội vào đáy lồng, làm tung ra một làn bụi lông mỏng dính màu xám tro len lỏi qua các khe đan.

Đang đi phăm phăm, Phúc bỗng nhiên khựng phắt lại. Bước chân anh ta trượt dài trên lớp bùn non, chiếc đèn pin trên tay chao đảo một vòng cung rộng trên nền trời mù mịt. Luồng sáng vàng vọt quét ngang qua một vạt lau rậm rạp phía bìa rừng, làm lóe lên một bóng người đang đứng bất động trong bóng tối.

An giật thót mình, phản xạ tự nhiên khiến cậu lập tức dang rộng cánh tay chắn ngang trước người Vy. Giữa nơi đồng không mông quạnh, sương giăng mịt mù và không một bóng nhà cửa này, sự hiện diện đột ngột của bất kỳ ai cũng đủ khiến sống lưng người ta lạnh toát.

Đó là một người phụ nữ trẻ. Cô đứng nép mình bên một gốc dại ngay chỗ rẽ vào con đường mòn xuyên rừng, dáng người mảnh khảnh và gầy gò đến mức chiếc áo khoác thô màu xanh đen dường như đang nuốt trọn lấy bờ vai khẳng khiu. Cô mặc một bộ quần áo sẫm màu, giản dị đến mức thê lương và ảm đạm; hai ống quần bết chặt bùn non đặc quánh lên tận đầu gối, chứng tỏ cô đã phải lội bộ một quãng đường rất dài qua những vùng sình lầy ngập úng. Gương mặt cô trắng bệch không một giọt máu, đôi mắt trũng sâu đượm một vẻ u uất, đau đáu đến nao lòng. Hai cánh tay gầy guộc của cô ôm khư khư trước ngực một chiếc túi vải thô màu đen tuyền, khóa kéo hé mở một khoảng nhỏ để lộ ra mép của vài cọc tiền vàng mã viền đỏ, những nén nhang thẻ chưa thắp và góc của một tập hồ sơ kẹp giấy tờ màu nâu cũ kỹ đã quăn queo mép.

“Ai đó?!” Phúc quát khẽ, giọng nói run rẩy lộ rõ vẻ kinh hãi tột cùng. Luồng ánh sáng từ chiếc đèn pin sắt rung bần bật trên gương mặt người phụ nữ.

Người phụ nữ nheo mắt lại trước luồng sáng chói gắt, khẽ đưa mu bàn tay khẳng khiu lên che trán rồi cất giọng. Âm thanh phát ra từ cổ họng cô khàn đặc và run rẩy như tiếng gió rít qua khe cửa mục:

“Anh Phúc... là em đây mà. Loan đây.”

Phúc thở phào một hơi dài thượt, cả người anh ta chùng xuống như vừa trút được một gánh nặng ngàn cân, nhưng chỉ một giây sau, đôi lông mày rậm rạp của anh ta lại nhíu chặt lại thành một búi đầy vẻ bực bội và hoài nghi:

“Loan? Sao em lại ở đây một mình vào cái giờ này? Đi đường rừng ban đêm nguy hiểm rình rập thế này... Sao không chịu đứng đợi ở ngoài bến đò cùng người ta?”

“Đò nào chở chuyến này nữa hả anh,” người phụ nữ tên Loan khẽ lắc đầu, giọng trĩu nặng một nỗi cay đắng ngậm ngùi. “Người ta nghe nhắc tới làng cũ là xua tay đuổi đi như đuổi tà rồi. Em phải đi đường tắt men theo bờ đê từ xóm dưới ngược lên đây. Em sợ... em sợ mình đến trễ.”

Vy khẽ lách người bước lên nửa bước, đứng song song với An. Đôi mắt sắc sảo của cô chăm chú quan sát từng chi tiết nhỏ nhất trên trang phục, tư thế và nét mặt của người phụ nữ lạ mặt. Bằng trực giác và kinh nghiệm tích lũy sau nhiều chuyến đi điền dã nghiên cứu nhân học, Vy cảm nhận rất rõ ràng rằng người phụ nữ này hoàn toàn không mang tâm thế hay diện mạo của một vị khách đang trên đường đi dự tiệc hỷ.

“Chào chị,” Vy cất tiếng, giọng điệu mềm mỏng nhưng cẩn trọng dò xét. “Chị là Loan... em gái ruột của cô dâu Hạnh phải không?”

Loan từ từ quay sang nhìn Vy, rồi ánh mắt cô chuyển dời sang khuôn mặt An. Đôi mắt u buồn, trống rỗng của cô thoáng dao động dữ dội khi nhận ra những nét thân quen trên gương mặt An—những đường nét gầy gò, cương nghị có quá nhiều điểm tương đồng đến kỳ lạ với Hoàng Minh. Cô khẽ gật đầu, hai cánh tay gầy guộc lại càng siết chặt chiếc túi vải thô màu đen vào lồng ngực:

“Phải. Tôi là Loan. Chị Hạnh là chị gái ruột của tôi. Còn hai người... hai người là người nhà bên họ nhà trai của anh Minh?”

“Tôi là An, em họ của anh Minh. Còn đây là Vy, bạn tôi,” An đáp lời, ánh mắt cậu dán chặt vào chiếc túi đen mà Loan đang giữ khư khư như mạng sống. Cậu không thể nào kiềm chế được nỗi nghi ngại và hoang mang đang dâng lên cuồn cuộn trong lồng ngực. “Chị Loan... hôm nay là ngày vui lớn của chị Hạnh, sao chị lại mặc đồ màu u tối thế này? Cả chiếc túi kia nữa... trông như...”

Vy tiếp lời ngay tắp lự, ngón tay cô chỉ thẳng vào những cọc giấy tiền vàng mã và chân nhang đỏ đang lấp ló sau mép khóa kéo:

“Trông như đồ dùng để đi cúng tang, đi viếng người đã khuất vậy. Có ai đi dự đám cưới của chị gái ruột thịt mà lại mang theo đồ cúng người chết thế này không chị?”

Câu hỏi sắc bén và thẳng thắn của Vy như một mũi kim đâm trúng vào chỗ hiểm, khiến toàn thân Loan sững sờ. Đôi môi mỏng dính của cô mím chặt lại, tái nhợt và run rẩy. Loan lảng tránh ánh nhìn soi mói của Vy, đôi mắt u uất lại hướng về phía khoảng không gian mịt mùng sương khói của khu rừng lau phía trước, nơi những rặng cây khẳng khiu vươn lên giữa nền trời tối sẫm như những cánh tay ma quái đang vẫy gọi.

“Đồ đạc riêng của gia đình thôi... chẳng có gì to tát đâu,” Loan đáp nhát gừng, giọng nói nghẹn lại nơi cuống họng. Bàn tay run rẩy của cô đưa lên vén lại vài lọn tóc ướt sũng bết dính nước mưa bên thái dương. “Tôi vào làng... chỉ để gặp chị tôi một lần cuối. Tôi cần phải gặp tận mặt để xác nhận cho rõ một việc. Mười hai năm đằng đẵng trôi qua rồi... tôi phải tự mình hỏi cho ra lẽ, nếu không thì cả đời này tôi không thể nào nhắm mắt được.”

An nhìn sâu vào đáy mắt đau đớn, cùng quẫn của Loan và hiểu ra tất cả ngay trong khoảnh khắc ấy. Loan biết. Người phụ nữ này biết tường tận rằng chị gái mình đã vùi thây dưới đáy sông Vĩnh Trầm từ mười hai năm trước. Những tờ giấy kẹp trong tập hồ sơ màu nâu cũ kỹ kia, chẳng cần mở ra An cũng có thể đoán định được: đó là giấy báo tử, là biên bản xác nhận mất tích, là những dòng di vật cuối cùng của nạn nhân đêm vỡ đê kinh hoàng. Loan không hề bị che mắt bởi bức màn dối trá ngọt ngào như cậu; cô biết rõ nơi mình đang bước tới là cõi chết, nhưng sự giằng xé của tình thâm và nỗi ám ảnh quá khứ vẫn thúc đẩy cô dấn thân vào con đường tăm tối này, bất chấp mọi hiểm nguy rình rập.

“Được rồi, được rồi! Đừng có đứng đây mà tra hỏi, vặn vẹo nhau như công an hỏi cung phạm nhân thế!” Phúc sốt ruột cắt ngang cuộc đối thoại, anh ta giơ cao chiếc lồng tre lên xua xua tay trong không khí. Con gà trống bên trong lại giãy giụa đập cánh phành phạch đáp lời, làm rơi rụng mấy sợi lông tơ xám vương vãi trên tà áo sờn rách của Phúc. “Gặp được nhau ở đây là cái duyên, cái may rồi, cùng đi một thể cho có bạn có bè đỡ sợ. Nhưng tôi nói trước cho mấy người nghe, phải nghe cho thật kỹ: làng Vĩnh Trầm bây giờ không giống như cái làng cũ êm đềm ngày xưa đâu. Lệ làng ở đây ngặt nghèo và quái lạ lắm, muốn bảo toàn mạng sống, muốn bình an vô sự trở về thì nhất nhất phải nghe theo lời tôi dặn!”

Phúc đột ngột hạ thấp giọng xuống chỉ còn như một tiếng thì thào bí hiểm. Đôi mắt anh ta lấm lét đảo quanh những lùm cây lau sậy rậm rạp chung quanh, như thể sợ rằng trong những bụi rậm tăm tối kia đang có vô số đôi tai vô hình lắng nghe từng lời mình nói. Gió đêm thung lũng bắt đầu thổi mạnh hơn, kéo theo những tiếng rít u u ghê rợn luồn qua các khe đá nứt nẻ ven lòng suối cạn.

“Lát nữa khi bước chân qua cổng làng, cứ đi thẳng một mạch vào sân đình,” Phúc gằn từng tiếng một, giọng nói run run cố gượng ép vẻ trang nghiêm, đạo mạo. “Ngay trước cửa chính của ngôi đình có kê một cái bàn gỗ mộc trải vải đỏ, trên mặt bàn luôn đặt sẵn một cuốn sổ đón khách lớn cùng nghiên mực. Bất kể là ai, dù là họ hàng ruột thịt hay khách phương xa, hễ đã đặt chân vào dự tiệc thì bắt buộc phải tự tay cầm bút lông ghi rõ rành rọt họ tên đầy đủ của mình vào cuốn sổ đó! Đó là quy củ ngặt nghèo của các cụ bồi tế trong ban giữ đình truyền lại, cốt để nhà trai kiểm danh, biết đích xác ai đến mừng, ai vắng mặt mà sắp xếp mâm cỗ cho chu toàn. Kẻ nào bước vào mà không chịu ghi tên, các cụ sẽ coi là kẻ bất kính đến phá đám, dứt khoát không bao giờ cho bước chân qua bậu cửa đâu.”

An khẽ nhíu mày, sự ngờ vực trong lòng càng lúc càng dâng cao:

“Ghi tên vào sổ đón khách? Đám cưới thời buổi nào mà lại kiểm soát khách khứa chặt chẽ, khắt khe như lính điểm danh hành quân ngoài mặt trận vậy?”

“Đã bảo đó là lệ riêng của họ tộc người ta từ ngàn đời nay rồi mà!” Phúc gắt gỏng lên, mồ hôi hột lấm tấm rỉ ra đầy trên trán dù ngọn gió đêm đang thổi buốt đến thấu xương. “Chưa hết đâu! Còn một điều cấm kỵ tối quan trọng nữa, nhớ cho kỹ mà giữ lấy thân: một khi đã bước chân vào bên trong đình, đã an tọa vào mâm cỗ rồi thì tuyệt đối, tuyệt đối không được tự ý đứng dậy bỏ về giữa chừng! Phải nán lại chung vui thâu đêm suốt sáng, ăn uống chuyện trò cùng gia chủ cho đến khi con gà trống này...” Phúc giơ bổng chiếc lồng tre lên ngang ngực, bàn tay run rẩy vỗ mạnh hai cái vào lớp vải điều đỏ sẫm, “...cho đến khi nó cất tiếng gáy vang lần thứ ba trước lúc rạng đông hé rạng, thì mới được phép đứng dậy rời khỏi mâm tiệc để ra về. Đó là tục lệ tiễn khách cổ truyền của làng Vĩnh Trầm. Khắc cốt ghi tâm lấy lời tôi: gà chưa gáy đủ ba tiếng thì cấm tiệt không một ai được bước chân nửa bước ra khỏi cổng đình!”

Không gian chung quanh dường như ngưng đọng lại sau lời căn dặn quái đản và rùng rợn của Phúc. Tiếng gió luồn qua ngọn cỏ lau bỗng chốc nghe như tiếng khóc hờ oán hận của những linh hồn chết oan khuất vọng lên từ đáy sông sâu.

Vy lặng lẽ rút từ trong túi áo khoác ra một cuốn sổ tay bìa da nhỏ cùng một chiếc bút bi bấm. Dưới ánh sáng vàng vọt, chập chờn của chiếc đèn pin vỏ sắt mà Phúc đang cầm, ngòi bút của cô lướt thoăn thoắt trên trang giấy trắng mịn, ghi chép lại từng chi tiết mấu chốt: *Sổ đón khách — bắt buộc tự tay ghi tên — không được về giữa chừng — giam lại đến tiếng gà gáy thứ ba trước lúc bình minh*.

Ghi xong, Vy ngẩng đầu lên. Ánh mắt cô sắc sảo, lạnh lùng xoáy thẳng vào gương mặt đầy vẻ căng thẳng của Phúc, rồi cô nghiêng đầu nhìn sang An, hạ giọng phân tích với vẻ điềm tĩnh của một người làm khoa học:

“An, anh có thấy những điều này phi lý đến mức bất thường không? Em đã dành nhiều năm đi điền dã, khảo sát phong tục cưới hỏi truyền thống ở khắp các dải đất duyên hải miền Trung, từ Quảng Bình, Quảng Trị vào tận Quảng Nam, Bình Định... Em khẳng định chưa từng có bất kỳ một làng xã, một dòng họ nào tồn tại cái hủ tục ép buộc khách khứa phải ở lại ăn tiệc thâu đêm suốt sáng đến tận canh năm, chờ gà gáy đủ ba lượt mới cho ra về cả. Lễ cưới của người Việt bao đời nay bao giờ cũng diễn ra vào ban ngày hoặc lúc chập tối, khách ăn xong, chúc phúc cho đôi trẻ rồi cáo từ ra về để gia đình dọn dẹp, nghỉ ngơi. Việc bắt ép khách ở lại qua đêm giữa một phế tích hoang tàn, cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài... cái này căn bản không phải là phong tục cưới hỏi, mà là một nghi thức giam lỏng linh hồn thì đúng hơn.”

An siết chặt hai bàn tay thành nắm đấm, khớp xương kêu răng rắc. Từng lời nói ngắt quãng, từng giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt khắc khổ của mẹ Lan ban chiều lại dội về văng vẳng bên tai cậu: *“Nếu con bước chân vào ngôi làng đó, con sẽ không bao giờ, không bao giờ quay trở lại được nữa đâu con ơi!”* Và cả tiếng thì thào rợn tóc gáy của dì Thoa giữa gian nhà nghi ngút khói hương: *“Chiếc thuyền cứu nạn năm ấy chỉ còn đúng một chỗ ngồi duy nhất... Nó đã nhường sự sống cho con, thì bây giờ con về thăm nó một lần... Nó chỉ muốn có một ngày vui trọn vẹn thôi mà...”*

Mọi mảnh ghép kỳ quái lúc này đang dần ráp nối lại thành một bức tranh rùng rợn: từ tấm thiệp hồng nồng nặc mùi bùn tanh, con gà trống bị nhốt kín quẫy đạp điên cuồng, cuốn sổ đón khách bắt buộc phải điểm danh từng người, cho đến cái mốc ba tiếng gà gáy rạng đông. Tất cả dường như là những nút thắt của một chiếc thòng lọng vô hình, được giăng ra một cách tỉ mỉ để chờ đợi những kẻ còn sống ngây thơ tự nguyện chui đầu vào.

“Anh Phúc,” An cất tiếng, thanh âm lạnh ngắt như băng giá giữa mùa đông. “Nếu như... có người bước vào đình mà nhất quyết không chịu đặt bút ghi tên vào cuốn sổ đó thì sao? Hoặc nếu có người muốn rời đi trước khi con gà trống cất tiếng gáy đầu tiên, thì chuyện gì sẽ xảy ra?”

Phúc đứng sững lại giữa lối mòn, toàn bộ sống lưng anh ta cứng đờ như một khúc gỗ mục. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi khi ánh đèn pin hắt ngược lên gương mặt, An nhìn thấy rõ ràng một sự hoảng loạn tột cùng, một nỗi kinh hoàng nguyên thủy lóe lên trong đáy mắt người bạn học cũ. Phúc mấp máy bờ môi nhợt nhạt, bàn tay nắm quai xách của chiếc lồng tre siết chặt đến mức run rẩy không ngừng:

“Thì... thì các cụ trong ban giữ đình sẽ không nhận phần lễ, coi như chú chưa từng đặt chân đến đây. Kẻ nào chưa ghi tên vào sổ thì... thì muốn đi lúc nào chẳng được, trước nửa đêm quay lưng bước ra vẫn còn kịp đường sống. Nhưng mà... một khi ngòi bút đã hạ xuống, một khi tên tuổi đã nằm trên trang giấy và bước chân đã qua bậu cửa đình rồi thì...” Phúc đột ngột ngưng bặt, bỏ lửng câu nói giữa chừng. Anh ta quay ngoắt người đi, bước chân dồn dập, vội vã như thể đang cố chạy trốn khỏi chính những lời ma quái mà mình vừa lỡ miệng thốt ra. “Thôi! Đừng có đứng đó mà hỏi lằng nhằng, hỏi dại hỏi dột nữa! Đi nhanh lên, sắp tới khúc ngoặt đầm lầy rồi!”

Loan vẫn lầm lũi bước đi bên cạnh Vy. Đôi mắt người phụ nữ ấy dại đi, vô hồn nhìn vào khoảng tăm tối hun hút của con đường mòn ngập ngụa cỏ dại. Loan không rút sổ ghi chép như Vy, cũng chẳng buồn mở miệng tranh cãi, gặng hỏi như An. Cô chỉ dùng hết sức lực tàn tạ của hai cánh tay gầy guộc ôm chặt lấy chiếc túi vải đen đựng tiền vàng và hồ sơ tử tuất vào lòng, như thể đó là mảnh ván cứu sinh duy nhất giúp cô bấu víu để không bị chìm nghỉm vào bóng đêm u uất. Có lẽ đối với một người đã mòn mỏi suốt mười hai năm đằng đẵng trong nỗi đau mất người thân như Loan, việc được nhìn thấy tận mắt người chị gái—dù là người hay là ma—còn quan trọng hơn bất kỳ mối hiểm nguy rình rập nào, kể cả khi cái giá phải trả cho cuộc hội ngộ ấy chính là mạng sống của bản thân cô.

Cả bốn con người nối đuôi nhau lội qua đoạn đường sình lầy sâu nhất của thung lũng. Bùn non ở đoạn này dâng cao quá mắt cá chân, nhão nhoét và dính chặt lấy đế giày, như muốn níu chặt từng bước chân người sống kéo tụt xuống lòng đất mẹ. Hai bên lối mòn, những bức tường cỏ lau sậy cao lút đầu người đung đưa răng rắc, khép chặt lại phía sau lưng họ như một cánh cổng vô hình vừa đóng sập, cô lập hoàn toàn nhóm người với thế giới văn minh bên ngoài con đê. Không gian chung quanh rơi vào một sự tĩnh mịch đến rợn người; không một tiếng ếch nhái uôm uôm quen thuộc của vùng sông nước, không một tiếng côn trùng rả rích trong đêm sương. Chỉ còn lại tiếng thở dốc nặng nhọc của bốn sinh mệnh, tiếng bùn nhóp nhép dưới gót giày, và tiếng quẫy đạp thỉnh thoảng lại bùng lên điên cuồng của con gà trống trong chiếc lồng tre bọc vải đỏ.

Trước mặt họ, một khúc ngoặt gắt ôm sát lấy chân một mỏm đồi đá rêu phong sừng sững hiện ra giữa màn sương mù. Đó là khúc ngoặt cuối cùng men theo triền uốn lượn của dòng sông Vĩnh Trầm—ranh giới tự nhiên ngăn cách giữa vùng đất bồi hoang vu bên ngoài và toàn bộ vùng lòng chảo thung lũng nơi làng cũ từng ngự trị. Bước qua khỏi mỏm đá ấy, địa giới thực sự của ngôi làng đã bị xóa sổ cách đây mười hai năm sẽ chính thức phơi bày.

Đúng vào khoảnh khắc An chuẩn bị nhấc chân bước qua mỏm đá rêu phong đánh dấu ranh giới, chiếc điện thoại thông minh nằm sâu trong túi quần bò của cậu bỗng nhiên rung lên bần bật.

Âm thanh chuông điện thoại mặc định vang lên réo rắt giữa màn đêm tĩnh mịch sắc lạnh như một lưỡi dao sắc nhọn xé toạc bầu không khí u uất, ngột ngạt. Phúc giật nảy mình như bị điện giật, anh ta quay phắt người lại, hai mắt trợn trừng nhìn trân trối vào túi quần của An như thể nhìn thấy một vật thể nguy hiểm sắp sửa phát nổ.

An vội vàng móc chiếc điện thoại ra khỏi túi. Ánh sáng xanh lét từ màn hình cảm ứng hắt lên gương mặt căng thẳng của cậu, nhấp nháy dòng chữ hiển thị cuộc gọi đến: **“Mẹ đang gọi...”**

Ngón tay An run run, cậu vội vàng vuốt màn hình bấm nút nghe, rồi áp chặt điện thoại vào tai:

“Alo? Mẹ! Mẹ đấy à?!”

Từ đầu dây bên kia, không hề có tiếng trả lời bình thường của con người, mà chỉ có những tiếng thở dốc hỗn hển, ngắt quãng trong cơn hoảng loạn tột cùng, xen lẫn những tiếng nấc nghẹn ngào xé ruột của bà Lan. Âm thanh vô tuyến bị nhiễu loạn dữ dội bởi màn sương mù dày đặc và địa hình lòng chảo quái đản, phát ra những tiếng rè rè chói tai, rợn người như tiếng móng tay sắc nhọn cào cấu trên một tấm tôn rỉ sét:

“An... An ơi! Con... con đang ở đâu đấy hả con?!” Tiếng bà Lan vỡ òa ra qua loa thoại, lẫn trong tiếng gió rít gào và tiếng còi xe inh ỏi của bến đò nơi bà đang tuyệt vọng tìm cách đuổi theo con trai trong đêm tối.

“Mẹ! Con đang ở ngay sát cổng làng cũ rồi,” An nói gấp, giọng cậu lạc đi. “Mẹ đừng tìm cách đuổi theo nữa, vô ích thôi! Con phải vào tận nơi này để làm cho ra lẽ mọi chuyện—”

“Nghe mẹ nói đây! Con ơi, nghe mẹ nói cho thật kỹ đây!” Giọng bà Lan đột ngột thét lên thất thanh qua ống nghe, âm thanh bị từ trường kỳ quái của vùng thung lũng bóp méo, biến dạng đến mức méo mó, thê thảm. Tín hiệu sóng chập chờn lúc được lúc mất, từng câu từng chữ rơi rụng ra như những mảnh thủy tinh vỡ vụn cào xé màng nhĩ: “Đừng... đừng viết... rọt rẹt... An ơi! Tuyệt đối... không được viết tên... vào bất cứ... rè rè rè... cuốn sổ nào... đừng ký tên... tên con... sẽ bị thế mạng... nợ mạng năm đó... không được viết tên vào bất cứ...!”

“Mẹ?! Mẹ nói cái gì cơ?! Thế mạng là sao?! Mẹ nói rõ hơn đi, con không nghe thấy gì cả!” An gào lên trong tuyệt vọng, cậu dùng cả hai tay áp chặt chiếc điện thoại vào sát tai.

Thế nhưng, đáp lại lời gào thét của cậu chỉ còn là những tiếng rít chói tai kéo dài đằng đẵng như tiếng hú man dại của gió lốc qua các hang đá ngầm. Trên góc phải màn hình cảm ứng, ba vạch sóng viễn thông đột ngột tụt dốc không phanh xuống còn một vạch chập chờn, nhấp nháy yếu ớt đúng một nhịp cuối cùng, rồi toàn bộ cột sóng vụt tắt lịm. Thay thế vào đó là một biểu tượng vòng tròn màu xám với một đường gạch chéo đỏ ngòm lạnh lùng hiện lên: **Không có dịch vụ**.

Màn hình điện thoại chớp nháy một cái rồi tối sầm lại hoàn toàn, phản chiếu khuôn mặt tái ngắt của An trong mặt kính đen bóng.

Sự im lặng chết chóc một lần nữa lập tức đổ sụp xuống không gian, nặng nề như một cỗ quan tài vừa đóng nắp. Xung quanh bốn con người, màn sương đêm trắng đục đang lờ lững bỗng nhiên cuộn trào dữ dội, cuộn xoáy như một con thủy quái khổng lồ vừa bị đánh thức khỏi giấc ngủ vùi mười hai năm dưới đáy bùn. Ngọn gió từ lòng sông Vĩnh Trầm thổi thốc lên từng cơn buốt giá, làm tà áo khoác của cả bốn người bay phần phật trong đêm đen.

Phúc đứng chết trân ở ngay đầu khúc ngoặt, ánh mắt đờ đẫn nhìn chằm chằm vào chiếc điện thoại đã hoàn toàn mất tín hiệu trong tay An. Trên gương mặt gầy guộc của anh ta, nỗi sợ hãi tột cùng lúc trước dường như đã bị rút cạn, nhường chỗ cho một vẻ cam chịu lạnh lẽo, tuyệt vọng đến rùng mình.

“Hết sóng rồi phải không?” Phúc khẽ thì thào, âm thanh phẳng lặng một cách bất thường, không còn chút gợn sóng cảm xúc nào. “Đã bước chân tới cái địa giới này rồi thì trần đời không có thứ sóng vô tuyến nào lọt qua nổi nữa đâu. Ở đây... chỉ có người chết nói chuyện với nhau thôi.”

Vy bước nhanh tới sát bên cạnh An, bàn tay cô khẽ nắm chặt lấy cổ tay áo của cậu. Bàn tay Vy lạnh ngắt, và cả hai đều cảm nhận được một luồng hàn khí thấu xương đang từ từ ngấm qua từng lớp vải, ăn sâu vào tận tủy sống.

Loan không nói nửa lời, cô lặng lẽ chỉnh lại chiếc túi đen trên ngực, đôi mắt hướng thẳng về phía mỏm đá rêu phong.

Phúc không buồn quay đầu lại nhìn họ thêm một lần nào nữa. Anh ta lẳng lặng nhấc bổng chiếc lồng tre phủ vải điều lên, rồi sải những bước chân dứt khoát vượt qua mỏm đá cuối cùng của con đường mòn. An, Vy và Loan chầm chậm nối bước theo sau, từng bước chân như bước vào một thế giới hoàn toàn tách biệt khỏi cõi nhân gian.

Và ngay khoảnh khắc bốn người vừa đặt chân qua khỏi khúc ngoặt định mệnh, một cảnh tượng kinh hoàng hiển hiện trước mắt họ: màn sương đêm dày đặc đang giăng kín như bức tường thành bỗng nhiên tách đôi sang hai bên một cách kỳ ảo, tựa như một bức rèm nhung đen khổng lồ của một sân khấu cổ xưa vừa được một bàn tay vô hình kéo sang hai mé.

Hiện ra trước mắt họ hoàn toàn không phải là một bãi đất hoang tàn ngập chìm trong sự hoang phế, câm lặng và tăm tối của một ngôi làng đã chết mười hai năm.

Ngay tại lối vào, hai trụ cổng làng bằng gạch vôi vữa nứt nẻ, loang lổ rêu phong—nơi vẫn còn hằn rõ mồn một một vệt ngấn nước lũ màu nâu xám ngang tầm đầu người, dấu tích câm lặng của mực nước hung tàn từng dìm chết hàng trăm sinh mạng vô tội trong đêm vỡ đê năm nào—nay lại được người ta treo lên hai chiếc đèn lồng giấy lớn hình tròn màu đỏ rực rỡ. Ánh sáng từ hai chiếc lồng đèn tỏa ra không phải là màu vàng ấm áp của trần gian, mà là một thứ ánh sáng đỏ quạch, ma quái và đặc quánh như máu tươi, hắt những vệt bóng dài ngoằng, méo mó soi rọi khắp con đường lát đá xanh dẫn thẳng vào trung tâm ngôi làng.

Và rồi, từ sâu bên trong những phế tích hoang tàn ngập chìm trong ánh sáng đỏ rực của làng cũ Vĩnh Trầm, tiếng kèn bóp méo mó rền rĩ, tiếng trống khẩu đám cưới chát chúa bỗng đồng loạt trỗi lên rộn rã, tưng bừng đến rợn người, văng vẳng trôi bồng bềnh trên mặt nước sông đen ngòm như mực.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories