Xuyên Về Làm Chủ Tiệm SáchC.32 / 36
Chương 32

Chữ Chì Lên Khuôn

Tiếng mảnh kính vỡ giòn tan trên nền gạch bông kéo giật Tuệ Anh và Vĩnh khỏi niềm hân hoan vừa chớm nở của bản hợp đồng hợp tác phân phối.

Âm thanh sắc lẹm, khô khốc ấy rơi xuống giữa lúc gian nhà cổ của tiệm Mộc vẫn còn vương vấn mùi mực tươi từ chữ ký của Trần Minh Châu và hơi gió ẩm mát sau cơn mưa rào buổi chiều. Tuệ Anh vội quay phắt lại. Dưới ánh sáng vàng vọt hắt ra từ ngọn đèn chụp trên bàn thu ngân, ông giáo Trịnh Văn Nghiêm đang đứng chết lặng ngay bậu cửa gỗ, hai bàn tay buông thõng chới với giữa không trung. Dưới chân ông, chiếc kính lão gọng đồi mồi đã gãy rời một bên càng, tròng kính thủy tinh dày cộp vỡ làm ba mảnh sắc nhọn, nằm chỏng chơ bên cạnh vệt nước mưa còn đọng trên những ô gạch hoa văn xám bạc.

“Thầy!” Vĩnh thảng thốt kêu lên, nhanh nhẹn lách qua chiếc bàn gỗ pallet bước tới.

“Tôi… tôi vô ý quá. Già cả rồi, lẩm cẩm lóng ngóng…” Ông giáo Trịnh ngượng ngùng thanh minh, giọng run run nghẹn lại nơi cuống họng. Gương mặt xương xẩu hằn sâu những nếp nhăn của ông thoáng co rúm lại trong sự bối rối tột cùng. Ông vội vã khom lưng, những ngón tay gầy guộc nổi rõ từng đường gân xanh run rẩy lần mò xuống sàn nhà để nhặt mảnh vỡ.

“Thầy đừng chạm vào, mảnh kính bén lắm!” Tuệ Anh bước nhanh tới, nhẹ nhàng nhưng dứt khoát giữ lấy bả vai gầy của ông. Qua lớp áo sơ mi trắng ngả màu cháo lòng sờn rách ở mép cổ áo, cô cảm nhận được da thịt của người thầy già đang ướt một mảng mồ hôi lạnh buốt. “Anh Vĩnh lấy chổi quét ngay đi. Thầy, để con đỡ thầy vào ghế ngồi nghỉ một lát.”

Vĩnh gật đầu, vội vàng chạy ra góc chân cầu thang lấy chiếc chổi đót và cái xẻng rác bằng tôn, vừa quét cẩn thận từng dăm thủy tinh li ti vừa nhìn người thầy già với ánh mắt đầy âu lo. Tuệ Anh ân cần dìu ông giáo Trịnh đến chiếc ghế tựa mây quen thuộc đặt ở góc đọc sách, nơi có luồng gió thoáng từ giếng trời thổi xuống làm dịu đi cái nồng nặc của hơi đất ẩm bốc lên từ sân sau. Ông ngồi thụp xuống ghế như vừa kiệt sức sau một chặng đường dài, đôi vai sụp xuống, đôi mắt kèm nhem không còn kính bảo hộ cứ chớp liên hồi, ngơ ngác nhìn quanh căn phòng lờ mờ những bóng hình nhòe nhoẹt.

“Khổ quá, dạo này trời cứ chập choạng tối là mắt tôi mờ nhanh như có ai phủ một lớp sương dầu lên trước mặt,” ông Trịnh lấy mu bàn tay dụi mạnh vào khóe mắt, buông một tiếng thở dài nghe xót xa. Đầu ngón tay ông hãy còn vương chút vụn phấn viết bảng đã ăn sâu vào kẽ móng qua mấy mươi năm đứng trên bục giảng. “Lúc nãy từ đầu hẻm đi vào, tôi chỉ thấy ánh đèn tiệm Mộc chao đảo thành từng vệt lớn, bước chân lên ngạch cửa gỗ mà không liệu được độ cao, quẹt phải mép cửa nên đánh rơi cả kính. May mà chưa đạp phải mảnh vỡ…”

Tuệ Anh rót một tách trà sen ấm nóng từ chiếc bình ủ bọc vải hoa, cẩn thận đặt vào tay ông. Hơi nước mỏng manh mang theo hương sen thoang thoảng bốc lên, phả vào gương mặt đượm vẻ mệt mỏi của ông giáo già. Nhìn người thầy cả đời gắn bó với con chữ, từng nâng niu từng trang sách cổ của Petrus Ký nay phải nheo mắt lần tìm thành chén gốm thô, trong lòng Tuệ Anh dấy lên một nỗi lo âu kín đáo, sắc lạnh như chính mảnh kính vừa vỡ tan dưới sàn gạch.

Dự án *Hồn Đất Phù Sa* của cụ Huỳnh Tấn Nghĩa không phải một tác phẩm văn xuôi thông thường để người ta có thể đọc lướt qua hay phó mặc cho những tay thợ in sắp chữ theo thói quen. Đó là tập đại thành khảo cứu địa chí đan xen hàng trăm từ cổ Nam Bộ, các thuật ngữ gốc Khmer, gốc Chăm cùng các dị bản văn bản học chữ Nôm phức tạp vốn chỉ tồn tại trong các thư tịch chép tay từ nửa đầu thế kỷ trước. Từng địa danh như lung, bàu, giồng, rạch, từng tên gọi của các giống lúa mùa nổi hay tập quán sinh hoạt của lưu dân khẩn hoang đều được cụ Nghĩa ghi chép bằng thứ văn phong uyên bác nhưng khúc triết. Điều kiện bắt buộc mà ông Huỳnh Tấn Sĩ đưa ra từ căn gác gỗ ở Đà Lạt là toàn bộ bản thảo phải do chính tay ông giáo Trịnh hiệu đính từng nét chữ, từng dấu thanh. Nếu thị lực của ông sa sút nhanh thế này ngay trước khi bản in thử lên khuôn, tiến độ xuất bản sẽ ra sao?

Tuy nhiên, nhìn vẻ ngượng ngùng và lòng tự trọng bị tổn thương của người trí thức già, Tuệ Anh nén chặt nỗi bất an lại sau một nụ cười ấm áp:

“Không sao đâu thầy ạ, kính vỡ thì ngày mai con nhờ anh Vĩnh đưa thầy ra tiệm kính mắt trên đường An Dương Vương đo lại số độ mới. Thầy xem này, cô Minh Châu vừa rời khỏi đây. Chúng con đã ký xong biên bản thỏa thuận hợp tác thương mại rồi.”

Cô cầm bản hợp đồng giấy trắng mực đen còn thơm mùi mực con dấu đưa tới gần tầm mắt ông. Ông giáo Trịnh đón lấy tờ giấy, đưa sát tận sống mũi, nheo đôi mắt đùng đục cố đọc từng dòng chữ lớn ở tiêu đề. Khi lướt đến con số phân phối độc quyền ba trăm ấn bản cùng điều khoản đặt cọc tiền mặt sáu trăm ngàn đồng, nét mặt căng thẳng của ông giãn dần ra, nhường chỗ cho một sự xúc động sâu xa.

“Con bé Minh Châu… nó giữ đúng phẩm cách của nhà buôn chữ tử tế đấy,” ông Trịnh khẽ gật đầu, ngón tay run run miết nhẹ lên con dấu tròn đỏ thắm. “Dì Lan của cô ở dưới suối vàng, chắc tối nay đã có thể mỉm cười thanh thản.”

Tuệ Anh nhìn Vĩnh đang gom những mảnh thủy tinh cuối cùng vào chiếc xẻng rác bằng tôn, rồi nhìn người thầy già đang nâng niu tờ giấy hợp đồng. Nỗi lo âu về thị lực của ông vẫn như hòn than âm ỉ dưới tàn tro, nhưng mục tiêu trước mắt đã hiện ra sáng tỏ. Họ đã vượt qua trận bão lụt, vượt qua âm mưu phá hoại của Lê Bá Khôi, và giờ đây, cánh cửa bước vào xưởng in đã chính thức mở toang.

***

Sáng hôm sau, bầu trời Sài Gòn sau cơn bão lớn quang đãng lạ thường. Nắng sớm tháng Sáu nhuộm một màu vàng óng ả lên những mái ngói rêu phong của phố cổ Chợ Lớn. Từng vệt nắng xiên qua tán cây bàng cổ thụ, rọi xuống lòng đường còn loang lổ những vũng nước mưa đã dần bốc hơi cạn kiệt. Không khí trên đường Trần Nhân Tôn thoang thoảng mùi hoa ngọc lan đầu mùa từ những góc vườn nhỏ quyện với mùi đất ẩm vừa khô ráo.

Tại tiệm Mộc, không khí làm việc đã rộn ràng từ lúc bình minh vừa ló dạng. Tiếng chổi quét sàn xào xạc, tiếng giẻ lau miết trên mặt kính cửa tiệm và tiếng lách cách của những chồng sách được xếp gọn vang lên không dứt. Trên chiếc bàn gỗ dài ở gian giữa, nơi từng là bàn làm việc quen thuộc của dì Lan, Tuệ Anh cẩn thận mở chiếc hộp thiếc Danisa đựng quỹ tiền mặt của tiệm. Chiếc hộp thiếc tròn vẽ hình những chiếc bánh quy bơ Đan Mạch đã trầy xước vài góc, vốn là vật giữ tiền gia bảo của tiệm sách suốt nhiều năm qua.

Bên cạnh cô, các xấp tiền giấy cotton và tiền giấy polymer đời đầu của thập niên chín mươi được phân loại ngay ngắn thành từng cọc riêng biệt trên mặt gỗ thông vàng nhạt. Những tờ mười ngàn đồng màu đỏ thắm in hình mỏ dầu Bạch Hổ, những tờ hai mươi ngàn đồng màu xanh lơ in hình Chùa Cầu Hội An, và cả xấp tiền mệnh giá năm mươi ngàn đồng màu xanh lá cây đậm mang hình bến cảng Nhà Rồng vừa nhận từ tay Trần Minh Châu chiều hôm trước. Mùi giấy bạc mới cũ đan xen, một thứ mùi tanh nồng của mực in bảo an và mồ hôi con người, gợi lên sức nặng cụ thể của lao động chân chính.

“Tổng cộng tiền cọc từ sáu mươi lăm phiếu đăng ký đỡ đầu bản in của độc giả là chín trăm mười ngàn đồng,” Tuệ Anh vừa lật ngón tay kiểm đếm vừa đọc rành rọt từng con số cho Vĩnh ghi vào sổ cái. Đầu ngón tay cô lướt qua từng tờ bạc mười ngàn, vuốt lại những mép gấp bị quăn do người ta cất kỹ trong túi áo bà ba hay kẹp trong cuốn sổ tay. “Cộng với sáu trăm ngàn đồng tiền mặt ứng trước phân phối của Nhà sách Minh Châu, cùng hai trăm mười ngàn đồng tiền tự do trích từ doanh thu thuê truyện và bán sách bọc kiếng ba ngày qua... Tổng quỹ khả dụng của chúng ta hiện có đúng một triệu bảy trăm hai mươi ngàn đồng.”

Vĩnh đặt chiếc bút máy xuống cuốn sổ bìa cứng bọc vải hoa, ngước nhìn cọc tiền dày dặn được buộc bằng những sợi dây thun bản to chắc chắn. Ánh mắt chàng sinh viên kiến trúc ngập tràn niềm thán phục và tự hào:

“Vậy là chúng ta vượt mức một triệu năm trăm ngàn đồng tiền cọc giấy in cho chú Thành An rồi! Còn dư hơn hai trăm ngàn đồng để dự phòng phí đóng tập và tiền đo kính mắt mới cho thầy Trịnh.”

“Ừ, mình phải giữ tuyệt đối đúng hẹn với xưởng An Thành,” Tuệ Anh mỉm cười, đôi mắt sáng ngời ánh lên sự quyết tâm. Cô cẩn thận trích đúng một triệu năm trăm ngàn đồng tiền mặt, chia đều thành ba tệp tiền năm trăm ngàn, rồi xếp phẳng phiu vào một chiếc túi vải bạt dù quân đội màu xanh rêu có khóa kéo chắc chắn. Chiếc túi này nguyên là túi đựng tài liệu của cha Vĩnh để lại, vải bạt dày dặn, chống thấm nước tốt, quai đeo bện bằng sợi dù bền chắc. Số tiền này không đơn thuần là những con số cơ học; nó là mồ hôi, nước mắt, là niềm tin son sắt và cả sự tín nhiệm của từng độc giả, từng thầy cô giáo cựu học sinh Petrus Ký, từng bạn trẻ mê sách và cả bà con lao động trong con hẻm nghèo này đã chắt bóp gom góp lại giữa lúc đời sống kinh tế còn bao bề bộn.

Ngay lúc đó, tiếng bước chân bước đi chầm chậm ngoài hiên khiến Tuệ Anh ngẩng đầu lên. Tiếng đầu gậy gỗ nện xuống mặt đường xi măng phát ra từng nhịp “cộc… cộc…” khô khốc, quen thuộc đến mức chỉ cần nghe thoáng qua là cả tiệm đã nhận ra ai đang tới. Qua khung cửa kính tiệm Mộc vừa được lau sáng bóng, cô nhìn thấy bà Tư Lành đang chống chiếc gậy gỗ mun đi ngang qua.

Người chủ nhà khó tính mặc chiếc áo bà ba lụa màu tro quen thuộc, cổ đeo chuỗi hạt trầm đen nhánh, bước đi chậm rãi nhưng vững chãi. Đến trước khoảng sân nhỏ của tiệm sách, bà khựng lại vài giây. Bà không bước vào, cũng không cất tiếng cằn nhằn hay giục giã tiền nhà như mọi khi. Bà chỉ đứng đó, ngước đôi mắt nghiêm nghị, đục mờ vì tuổi tác lên nhìn bảng hiệu gỗ của tiệm Mộc vừa được Vĩnh và mấy bạn sinh viên quét lại một lớp sơn bóng nâu trầm bảo vệ sau trận bão. Chữ “MỘC” khắc chìm thếp nhũ vàng dưới ánh nắng sớm trông sáng sủa, trang nghiêm lạ thường.

Ánh mắt bà Tư đăm chiêu, dáo dác nhìn qua những dãy kệ sách ngay ngắn bên trong, nhìn những chậu cây lưỡi hổ xanh mướt đặt bên bậc thềm rồi khẽ lắc đầu. Một thoáng đắn đo, nửa như ngỡ ngàng, nửa như trăn trở hiện rõ trên vầng trán nhăn nheo của bà cụ trước khi bà lặng lẽ quay gót, tiếp tục bước đi về phía quán cà phê cóc đầu hẻm.

Tuệ Anh nhìn theo bóng lưng hơi còng của bà chủ nhà, trong lòng thoáng chút suy tư. Cô biết sự kiên trì, thái độ đàng hoàng và sức sống mãnh liệt của tiệm Mộc trong cơn bão vừa qua đã làm lay động phần nào bức tường định kiến sắt đá của bà Tư Lành. Nhưng mối đe dọa từ tay môi giới điện máy quận Nhất vẫn còn lơ lửng như một thanh gươm treo trên đầu sợi tóc. Tay môi giới ấy sẵn sàng trả tiền thuê cao gấp rưỡi bằng tiền mặt đô-la Mỹ để biến gian nhà cổ này thành kho chứa tủ lạnh bãi rác và máy giặt cũ. Tiệm Mộc chỉ có thể tự cứu lấy mình nếu chứng minh được giá trị và sự phát triển ổn định lâu dài bằng sự thành công của cuốn sách đầu tay này.

“Chị Tuệ Anh ơi! Em với má sang nè!”

Tiếng gọi trong trẻo, lanh lảnh như tiếng chim chuyền cành của bé Hạnh phá tan bầu không khí trầm mặc. Cô bé mười hai tuổi mặc chiếc áo hoa thẳng thớm, mái tóc thắt bím đuôi sam lắc lư theo từng nhịp chân sáo bước thoăn thoắt vào tiệm. Đi ngay phía sau em là chị Thu Cúc, trên tay bưng một chiếc rổ tre phủ mảnh vải điều đỏ thắm, từ dưới lớp vải bốc lên làn khói mỏng thơm nức mùi xôi vò đậu xanh mới đồ.

“Bữa nay nghe nói cô Tuệ Anh với chú Vĩnh đi ký hợp đồng in sách lớn, tui đồ xửng xôi nếp cái mang sang cho hai đứa ăn lấy thảo, lấy may mắn thuận buồm xuôi gió,” chị Thu Cúc tươi cười xởi lởi, đặt chiếc rổ tre lên quầy phục vụ của góc cà phê. Chị đưa tay vén lại mấy lọn tóc mai ướt mồ hôi bên thái dương, nụ cười thuần hậu làm rạng rỡ cả khuôn mặt tảo tần.

“Em cảm ơn chị Cúc nhiều lắm, mùi xôi thơm quá chừng,” Tuệ Anh xúc động đón lấy chiếc rổ tre. Mở lớp vải điều ra, từng hạt xôi nếp vàng óng, tơi xốp, bám đều lớp đậu xanh giã mịn bùi ngậy phả hương thơm ngào ngạt khắp gian phòng.

Bé Hạnh thì nhanh thoăn thoắt kéo chiếc ghế đẩu lại gần bàn thu ngân, đôi mắt sáng ngời nhìn vào xấp phiếu thu màu nâu nhạt in hình vân mây phong cách Đông Dương mà Vĩnh đã kéo lưới thủ công hôm trước:

“Chị Tuệ Anh cứ yên tâm đi xưởng in với chú Vĩnh! Ở tiệm đã có em với má lo. Em đã học thuộc bảng cửu chương rồi, hôm qua thầy Trịnh còn khen em viết chữ ngay ngắn trên sổ bạn đọc nữa đó. Em sẽ phân loại cẩn thận từng cùi phiếu thu theo số thứ tự từ 001 đến 065, rồi ghi tên từng cô chú đặt mua trước vào sổ cái mới!”

Chị Thu Cúc đứng bên cạnh nhìn con gái, gương mặt sạm nắng ánh lên niềm tự hào rạng rỡ. Người mẹ nghèo khẽ vuốt mái tóc con, rồi ngập ngừng nhìn Tuệ Anh, giọng nghẹn ngào xúc động:

“Tối qua con Hạnh nó kèm tui đánh vần được hết tên của thầy giáo Trịnh với chữ ‘Mộc’ rồi đó cô Tuệ Anh. Tui ở lại đây phụ nó trông quầy với châm nước trà cho khách quen. Ai tới hỏi mua sách hay đóng tiền cọc đợt hai, con Hạnh ghi sổ còn tui giữ tiền bỏ vô hộp thiếc cho cô, bảo đảm không suy suyển một cắc!”

Nhìn sự gắn bó, chung lòng của hai mẹ con chị Cúc, Tuệ Anh cảm thấy một luồng hơi ấm len lỏi, sưởi ấm toàn bộ tâm can. Tiệm Mộc không còn là một thực thể kinh doanh đơn độc của riêng cô giữa thập niên chín mươi xa lạ này nữa. Nó đã hòa vào nhịp sống của khu phố, trở thành một phần máu thịt, một điểm tựa văn hóa và tinh thần của cả con hẻm lao động nghèo này.

“Nhờ cả vào hai mẹ con chị nhé,” Tuệ Anh siết chặt quai chiếc túi vải bạt dù đựng tiền cọc, gật đầu ra hiệu cho Vĩnh.

Vĩnh đã chuẩn bị sẵn chiếc cặp táp da sờn góc đựng các bản vẽ thiết kế quy cách kỹ thuật và tập bản thảo sạch được bọc kỹ trong giấy xi măng. Anh dắt chiếc xe đạp Martin 107 màu xanh ngọc ra trước hiên, nụ cười rạng rỡ trên gương mặt vuông vức rắn rỏi:

“Đi thôi Tuệ Anh, xưởng An Thành đang đợi chúng ta!”

***

Xưởng in An Thành nằm sâu trong một con hẻm ngoằn ngoèo rợp bóng cây trứng cá trên đường Lý Thái Tổ. Con hẻm rải đá dăm lổn nhổn, hai bên là những bức tường gạch cũ kỹ phủ rêu xanh. Càng đi sâu vào trong, sự tĩnh lặng của phố xá dường như bị nuốt chửng bởi một thực tại khác, một thế giới ngập tràn âm thanh và mùi vị của nền sản xuất cơ khí thời kỳ đầu đổi mới.

Ngay từ đầu ngõ, mùi dầu luyn bôi trơn máy móc nồng đậm, mùi mực in công nghiệp hơi hắc xộc thẳng vào cánh mũi. Tiếng kim loại va đập đều đặn, rộn rã như nhịp đập của một trái tim cơ khí khổng lồ vang vọng khắp không gian: tiếng máy xén giấy chém ngọt qua từng xấp ram giấy dày cộp, tiếng trục lăn rít lên trên những tấm cao su, và tiếng lách cách không ngớt của những con chữ chì chạm vào khay gá. Đó là một dãy nhà xưởng rộng lớn kết cấu khung thép tiền chế lợp tôn kẽm, mang đậm dấu ấn kiến trúc công nghiệp những năm chín mươi. Dưới những tấm tôn sáng, bụi giấy bay lơ lửng trong không khí như những hạt phấn nhỏ li ti dưới luồng ánh sáng ban mai.

Ngô Thành An đón hai người ngay tại phòng làm việc nhỏ ngăn bằng vách kính nhìn thẳng ra khu xưởng chính. Căn phòng bày biện giản dị đến mức khắc khổ: một chiếc bàn gỗ lim xước xát mặt bàn vì dao rọc giấy, chiếc quạt trần ba cánh quay vù vù thổi hơi nóng phần phật, và những giá gỗ chất đầy các tập morasse lưu trữ của báo chí thành phố. Người đàn ông trung niên với vóc dáng tầm thước, mái tóc hoa râm cắt ngắn gọn gàng và đôi bàn tay dính vài vệt mực đen vĩnh viễn không tẩy sạch đang cắm cúi soi kính lúp lên một tờ morasse in thử của một tờ nhật báo buổi sáng.

“Đúng mười giờ kém mười lăm. Chú em với cô chủ tiệm giữ đúng giờ giấc đấy,” Thành An ngước lên, đặt chiếc kính lúp bằng đồng thau xuống bàn gỗ lim, nở một nụ cười kín đáo nhưng thẳng thắn. Đôi mắt ông quầng thâm vì những ca trực đêm theo dõi máy chạy, nhưng ánh nhìn vẫn sắc sảo như lưỡi dao xén giấy. “Thế nào? Đủ tiền giấy mặt chưa?”

Không để chủ xưởng phải nghi ngại hay chờ đợi, Tuệ Anh kéo khóa chiếc túi vải dù quân đội, trân trọng đặt bọc tiền mặt một triệu năm trăm ngàn đồng lên mặt bàn gỗ. Từng cọc tiền được xếp ngay ngắn, phân loại rành rọt theo mệnh giá, phẳng phiu và tinh tươm như vừa bước ra từ két sắt ngân hàng. Cạnh bọc tiền, cô cẩn thận đặt bộ hồ sơ pháp lý gồm quyết định xuất bản liên kết có dấu mộc đỏ chót của Nhà xuất bản Văn Nghệ Thành phố, văn bản chấp thuận tác quyền có chứng thực chữ ký của ông Huỳnh Tấn Sĩ tại Ủy ban nhân dân phường trên Đà Lạt, và bản sao biên bản thỏa thuận thương mại với Nhà sách Minh Châu.

Đôi mắt nhà nghề sắc sảo của Ngô Thành An sáng lên. Ông không vội đếm tiền ngay mà cầm tập văn bản pháp lý lên, đưa tay lật từng trang, xem xét tỉ mỉ từng con dấu, từng chữ ký của các bên liên quan. Ở cái thời buổi vàng thau lẫn lộn, sách lậu hoành hành khắp các sạp sách vỉa hè, sự chỉn chu về mặt pháp lý là tấm bình phong duy nhất bảo vệ xưởng in khỏi những cuộc thanh tra bất chợt của cơ quan quản lý văn hóa.

Sau khi đã hài lòng với giấy tờ, Thành An thoăn thoắt đếm lại xấp tiền mặt. Những ngón tay thô ráp của ông miết qua từng tờ bạc với tốc độ đáng kinh ngạc của một chủ xưởng đã lăn lộn hàng chục năm trong nghề ấn loát. Tiếng đếm tiền soàn soạt vang lên giòn giã trong gian phòng nhỏ.

“Đủ một triệu năm trăm ngàn đồng tiền mặt đặt cọc vật tư đợt một,” Thành An gật đầu dứt khoát, kéo ngăn kéo bàn sắt bỏ bọc tiền vào rồi xoay chìa khóa lại cẩn thận. Ông với lấy tập hợp đồng in ấn lập sẵn bằng máy đánh chữ ba liên đặt trên bàn, nắn nót ký tên bằng chiếc bút kim tinh màu đỏ rồi đóng con dấu đỏ vuông vức của Xưởng in An Thành lên mép giấy. “Hợp đồng chính thức xác lập. Mười lăm triệu đồng tiền cọc giấy ruột Bãi Bằng và bộ chữ chì Didot của cô Lan ngày xưa, cộng với một triệu rưỡi tiền mặt hôm nay, xưởng chúng tôi chính thức nhận trọn gói hợp đồng sản xuất một ngàn bản ấn phẩm *Hồn Đất Phù Sa*.”

Tuệ Anh đón lấy bản hợp đồng ba liên giấy than xanh lét, đặt bút ký tên với một cảm xúc nghẹn ngào khó tả. Từng nét chữ *Lương Tuệ Anh* hằn sâu trên mặt giấy than như một cột mốc xác lập lời hứa thiêng liêng mà cô dành cho người dì quá cố và lịch sử của tiệm sách Mộc. Cô đang tiếp bước con đường mà dì Lan đã dở dang, mang những con chữ tử tế vượt qua giông bão để đến với bạn đọc.

“Đi theo tôi, tôi dẫn hai người vào xem cỗ máy sắp sinh ra đứa con tinh thần của các người,” Thành An đứng dậy, khoát tay đầy hào hứng.

Bước qua cánh cửa kính cách âm dày dặn, tiếng ồn cơ khí ập vào tai như một bản hòa tấu mạnh mẽ của thời đại công nghiệp. Cả một không gian nhà xưởng rộng hàng trăm mét vuông bừng sáng dưới ánh đèn nê-ông dài ngoằng treo lơ lửng từ xà thép. Hàng chục công nhân mặc áo bảo hộ xanh công nhân đậm màu đang thoăn thoắt làm việc bên những chiếc máy dập Typo phẳng to lớn như những cỗ xe tăng thép.

Thành An dẫn họ len qua những lối đi hẹp chất đầy những cuộn giấy in khổng lồ, dừng lại trước một cỗ máy in Typo cơ khí hiệu Heidelberg đời cũ do Đức chế tạo. Cỗ máy to lớn, đồ sộ, kim loại đen bóng được bảo dưỡng cẩn thận đến từng con ốc, từng bánh răng truyền động. Mùi mỡ bò bôi trơn quyện với mùi dầu hỏa lau máy bốc lên ngai ngái. Cạnh cỗ máy là dãy tủ gỗ nhiều tầng chứa hàng ngàn ngăn kéo nhỏ xíu gọi là hòm chữ, bên trong lấp lánh hàng vạn con chữ chì đúc bằng hợp kim chì - antimon sắc sảo, xếp theo trật tự bảng chữ cái và dấu thanh tiếng Việt.

Hai người thợ sắp chữ già đeo kính lão dày cộp đang đứng cặm cụi bên bàn làm việc, tay cầm chiếc thước tỉa bằng đồng thau sáng loáng. Bàn tay họ thoăn thoắt như những nghệ nhân thêu thùa, gắp từng con chữ chì nhỏ xíu từ khay chia, lật ngược mặt chữ theo nguyên lý gương soi, xếp thẳng tắp vào thước rồi nhẹ nhàng chuyển từng dòng chữ vào chiếc khung thép hình chữ nhật đặt nằm ngang.

“Các cô cậu nhìn thấy chưa?” Thành An chỉ tay vào bàn sắp chữ, giọng ông trầm xuống đầy nghiêm cẩn, át đi tiếng ầm ầm của xưởng máy. “Mỗi trang sách của cuốn *Hồn Đất Phù Sa* này có gần một ngàn con chữ chì Didot cỡ 11 point. Thợ của tôi phải gắp từng con chữ, từng dấu thanh, từng khoảng trắng cách chữ bằng chì để ghép thành một trang in hoàn chỉnh. Sau khi ghép đủ mười sáu trang cho một tay sách, họ phải dùng các nêm thép và búa gõ gỗ chuyên dụng để khóa chặt khung lại. Toàn bộ khối kim loại nặng hàng chục ký đó sẽ không được phép xê dịch dù chỉ một phần mười milimét khi trục lăn đè xuống.”

Thành An quay sang nhìn thẳng vào mắt Tuệ Anh, nét mặt đanh lại trong vẻ nghiêm khắc của một người thợ thủ công tôn thờ sự hoàn hảo:

“Tôi cảnh báo trước cho cô biên tập viên trẻ biết: in Typo chữ chì không giống như in lụa hay in offset hiện đại! Chữ chì một khi đã lên khuôn và khóa chặt trên trục lăn, công sức đổ vào là vô cùng khủng khiếp. Nếu bản morasse kéo thử bị sai một con chữ, thợ phải nới lỏng toàn bộ nêm thép, cẩn thận dùng nhíp gắp con chữ sai ra để đổi chữ mới mà không làm xô lệch các con chữ xung quanh. Nhưng nếu sai một từ làm thay đổi độ dài của dòng, hoặc sót mất một câu khiến cả đoạn bị thụt lùi hay tràn dòng, chúng tôi bắt buộc phải rã nát toàn bộ cả trang sách ra, sắp lại từng con chữ từ đầu! Tốn công, tốn giờ và cực kỳ tốn chi phí nhân công. Cho nên, khâu hiệu đính bản morasse đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối, không được phép lơ đễnh dù chỉ một dấu phẩy.”

Tuệ Anh chăm chú lắng nghe, từng lời nói của Thành An như khắc sâu vào tiềm thức nghề nghiệp của cô. Cô hiểu rõ sự khắc nghiệt của công nghệ in ấn cơ khí thập niên chín mươi. Đây không phải thời đại số hóa năm 2026, nơi người ta chỉ cần vài cú nhấp chuột trên màn hình máy vi tính hay chỉnh sửa một tập tin dàn trang trong nháy mắt. Ở đây, mỗi con chữ đều mang sức nặng vật lý thực thụ của kim loại, của mực in dầu khoáng và mồ hôi của những người thợ thủ công lành nghề. Bất kỳ một sai sót nhỏ nào cũng phải trả giá bằng hàng giờ lao động và sự hao hụt vật tư không thể vãn hồi.

“Cháu đã nắm rất rõ quy trình kỹ thuật, thưa chú An,” Tuệ Anh điềm đạm đáp, ánh mắt sáng ngời sự tự tin của một người làm nghề am tường. “Quy chuẩn morasse của tiệm Mộc sẽ tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng ký hiệu hiệu đính quốc tế, đảm bảo thợ sắp chữ nhìn vào là hiểu ngay vị trí cần chỉnh.”

Đến lượt Vĩnh bước lên. Anh mở chiếc cặp táp da sờn, cẩn thận lấy ra một xấp bản vẽ kỹ thuật và mẫu ma-két bìa được bọc trong giấy can phẳng phiu, không hề có một nếp gấp nhỏ.

“Chú An, đây là bản thiết kế ma-két bìa và đồ họa trang nhã do cháu trực tiếp thực hiện bằng tay theo đúng quy cách in chữ chì và khắc kẽm,” Vĩnh nói, trải bản vẽ lên chiếc bàn gỗ phẳng cạnh dàn máy Heidelberg.

Thành An nheo mắt nhìn xuống bản thiết kế. Đó là một tác phẩm đồ họa thủ công tuyệt mỹ, mang đậm phong vị hoài cổ và thanh lịch của Sài Gòn xưa. Bìa sách vẽ lại hình ảnh một khúc sông Cửu Long mênh mang với chiếc ghe tam bản lướt nhẹ trên sóng nước, hai bên bờ là rặng dừa nước nghiêng bóng dưới trời chiều. Từng nét vẽ mây trời, sóng nước đều được kẻ bằng bút sắt ngòi mảnh với mực nho đen tuyền, đều tăm tắp và dứt khoát. Phía trên, tựa sách *Hồn Đất Phù Sa* được Vĩnh kẻ tay theo lối chữ typography Pháp cổ điển, các đường nét chân chữ dày dặn, gãy gọn, phân tách rạch ròi giữa mảng âm bản và dương bản.

“Cậu học kiến trúc à?” Thành An gật gù khen ngợi, ngón tay thô ráp của ông miết nhẹ theo đường viền khung hoa văn vân mây bao quanh bìa sách. “Nét vẽ rất mộc mạc nhưng bố cục vô cùng chuẩn xác. Cậu đã cố tình tính toán độ dày của nét vẽ để khi ăn mòn axit làm bản kẽm sẽ không bị đứt nét, và các khoảng trống đủ rộng để máy dập lực mạnh không làm mực bị lem nhem sang vùng trắng. Khá lắm! Đồ họa này hoàn toàn tương thích với kỹ thuật in Typo hai màu của xưởng tôi.”

Nhìn nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt nghiêm nghị của người chủ xưởng khó tính, Vĩnh khẽ thở phào, quay sang nhìn Tuệ Anh với một ánh mắt lấp lánh niềm vui. Sự thấu hiểu và gắn kết giữa hai người trong từng chi tiết công việc dường như đã vượt qua ranh giới của sự hợp tác đơn thuần; nó là sự đồng điệu sâu sắc của những tâm hồn cùng trân quý cái đẹp, sự chuẩn mực và lao động chân chính.

Tuy nhiên, nụ cười của Thành An vụt tắt khi ông quay người, ngước nhìn lên cuốn lịch treo tường bằng sắt tây ở góc xưởng. Trên cuốn lịch in hình phong cảnh chùa Hương đã ố vàng, những con số ngày tháng hiện lên rõ mồn một. Ông rút chiếc bút chì cài bên vành tai, gõ nhẹ ba tiếng “cộc… cộc… cộc…” lên mặt bàn máy dập:

“Khen ngợi thế là đủ rồi. Bây giờ đến phần quan trọng nhất: lịch chạy máy!”

Thành An khoanh một vòng tròn đỏ đậm lên ô ngày mười lăm tháng Sáu trên cuốn lịch:

“Tôi thông báo cho hai người biết, ca máy dập Typo phẳng Heidelberg này chỉ có thể dành riêng cho dự án *Hồn Đất Phù Sa* trong vòng đúng năm ngày tới! Đến ngày mười sáu, xưởng chúng tôi phải dọn sạch máy để chạy một lô sách giáo khoa tăng cường cho mùa tựu trường theo hợp đồng chỉ tiêu nhà nước. Không thể hoãn, không thể chậm dù chỉ nửa ngày!”

Ông nghiêm giọng, ánh mắt xoáy sâu vào Tuệ Anh như muốn đo lường sức chịu đựng của cô gái trẻ:

“Chiều nay, kíp thợ sắp chữ của tôi sẽ hoàn tất việc gắp chữ cho ba tay sách đầu tiên và kéo bản morasse thử nghiệm số một bằng giấy rơm bọc mực tươi. Sáng mai, cô phải cử người sang lấy bản morasse này về. Tôi cho tiệm Mộc đúng năm ngày để các vị khảo dị, tra cứu và sửa sạch lỗi tuyệt đối trên mặt giấy. Bản morasse trả về xưởng phải là bản ‘sạch như lau như ly’. Chỉ khi cô ký duyệt morasse cuối cùng, thợ của tôi mới dám khóa chặt trục lăn và đóng điện dập đại trà một ngàn cuốn.”

Năm ngày!

Con số rơi xuống như một nhát búa nện vào không gian ngột ngạt của xưởng in. Toàn bộ gần bốn trăm trang bản thảo dày đặc từ cổ, thuật ngữ phương ngữ phức tạp và các đoạn dị bản Chăm, Nôm đòi hỏi sự thẩm định của ông giáo Trịnh phải được hoàn tất sạch lỗi chỉ trong một trăm hai mươi giờ đồng hồ. Đó là một khối lượng công việc khổng lồ, đòi hỏi sự tập trung cao độ và đôi mắt tinh tường của một học giả hàng đầu.

Tuệ Anh cảm thấy một áp lực nghẹt thở đè nặng lên lồng ngực. Nhịp tim cô đập nhanh hơn, từng thớ cơ căng cứng lại. Nhưng khi đưa mắt nhìn cỗ máy Heidelberg uy nghi và những con chữ chì Didot sáng bóng đang nằm đợi trên khay gỗ—những con chữ mang trong mình ký ức của dì Lan và công sức của biết bao con người—cô siết chặt hai bàn tay, ngẩng cao đầu đón nhận thử thách:

“Năm ngày là đủ, thưa chú An. Tiệm Mộc cam đoan trước khi đóng trục lăn, bản morasse sẽ hoàn toàn sạch lỗi.”

Thành An nhìn sâu vào mắt cô gái trẻ, thấy trong đó một ngọn lửa kiên định không hề lay chuyển. Ông khẽ gật đầu một cái đầy vẻ tôn trọng:

“Được! Tôi tin bản lĩnh của cô chủ tiệm Mộc.”

***

Chiều muộn hôm ấy, cơn mưa rào đặc trưng của phương Nam lại kéo đến bất chợt. Mưa xối xả trên những mái tôn xưởng in, biến con hẻm Lý Thái Tổ thành một dòng suối nhỏ chảy xiết. Nhưng rồi mưa tạnh cũng nhanh như khi nó đến, trả lại cho Sài Gòn một bầu không khí dịu mát và mặt đường Trần Nhân Tôn ướt đẫm, phản chiếu ánh đèn đường lấp lánh như dát bạc.

Vĩnh đạp xe chở Tuệ Anh về lại tiệm Mộc. Chiếc xe đạp Martin 107 lướt êm trên mặt đường loang loáng nước. Ngồi ở yên sau, Tuệ Anh cẩn thận ôm chặt trong lòng chiếc cặp da chống nước, bên trong chứa xấp bản morasse đầu tiên gồm bốn mươi tám trang sách vừa được thợ xưởng An Thành kéo thử thủ công bằng tay trên máy ép nhỏ. Mùi mực in tươi nồng nặc quyện với mùi giấy Bãi Bằng ngai ngái xộc thẳng vào mũi cô, mang theo sức sống phập phồng của một tác phẩm sắp sửa tái sinh.

Khi bước chân vào tiệm, khung cảnh ấm cúng quen thuộc lại hiện ra trước mắt xua tan mọi mệt mỏi đường xa. Gian nhà cổ sáng bừng lên trong ánh đèn ấm áp. Trên chiếc bàn dài, bé Hạnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình: sáu mươi lăm phiếu thu đỡ đầu sách đã được phân loại cẩn thận, xếp thành từng tệp nhỏ ngay ngắn buộc bằng sợi len đỏ thắm. Chị Thu Cúc đang cẩn thận dùng khăn vải lau sạch từng vệt bụi bặm trên quầy tính tiền, chốc chốc lại mỉm cười nhìn con gái.

Trên chiếc bàn tròn bên góc cà phê, ngọn đèn dầu hỏa được vặn bấc to, tỏa ra thứ ánh sáng vàng dịu dàng, xua đi bóng tối chập choạng đang buông xuống gian phòng. Chiếc quạt trần quay nhè nhẹ, phả luồng gió mát lành từ giếng trời xuống không gian đọc sách.

Ông giáo Trịnh đã ngồi đợi ở đó từ lâu. Ông ngồi ngay ngắn, dáng vẻ trầm tư như một pho tượng cổ khắc tạc vào thời gian. Trên sống mũi ông là chiếc kính lão cũ tạm thời được Vĩnh dùng một sợi dây thép nhỏ buộc lại bên càng gãy lúc sáng để dùng tạm trong lúc chờ đo kính mới.

“Có bản in thử rồi hả hai đứa?” Ông Trịnh sốt sắng ngẩng lên khi nghe tiếng bước chân, giọng run run vì hồi hộp.

“Dạ có rồi thầy ạ! Xưởng An Thành vừa kéo thử ba tay sách đầu tiên chiều nay,” Tuệ Anh bước nhanh tới, nhẹ nhàng đặt xấp giấy in khổ lớn còn thơm mùi mực mới lên mặt bàn gỗ trước mặt người thầy già. “Chú Thành An khen bản thảo chuẩn mực lắm, nhưng lịch máy in chỉ cho phép chúng ta hiệu đính trong vòng năm ngày thôi ạ.”

Ông giáo Trịnh vội vã kéo ngọn đèn dầu lại gần hơn, run rẩy đưa hai bàn tay gầy gầy vuốt phẳng trang morasse đầu tiên của phần khảo dị địa danh Cửu Long. Ánh mắt ông tràn trề sự háo hức thiêng liêng của một đời người gìn giữ văn hóa, một người học giả cuối cùng đứng ra bảo bọc cho những giá trị xưa cũ không bị dòng đời xô bồ cuốn trôi.

Tuệ Anh và Vĩnh kéo ghế ngồi xuống bên cạnh ông, lòng tràn ngập hy vọng chuẩn bị cho đêm làm việc đầu tiên. Chiếc bút máy ngòi kim tinh và lọ mực đỏ đã được đặt sẵn sàng bên cạnh tập giấy morasse.

Thế nhưng, chỉ sau vài giây chăm chú nhìn vào mặt giấy, đôi lông mày hoa râm của người thầy già bỗng chốc nhíu chặt lại. Đôi mắt ông chớp lia lịa sau tròng kính nứt, con ngươi đục mờ giãn ra trong sự bất lực cùng cực. Ông nghiêng đầu sang bên này rồi lại ghé sát mắt xuống mặt giấy, cố tìm kiếm tiêu cự cho thị lực đang suy tàn của mình. Bàn tay đang cầm chiếc bút máy màu đen khựng lại giữa không trung, bắt đầu run lên bần bật. Những giọt mồ hôi hột rịn ra trên trán ông, chảy dài xuống gò má gầy guộc.

Không gian tiệm Mộc bỗng chốc rơi vào một sự im lặng ngột ngạt đến rợn người, chỉ còn nghe thấy tiếng ngọn bấc đèn dầu lách tách cháy và tiếng gió đêm thổi qua khe cửa gỗ.

Ngồi trước xấp morasse đầu tiên vừa kéo thử từ xưởng về, ông giáo Trịnh khẽ lắc đầu thở dài:

“Mắt tôi mờ đặc rồi Tuệ Anh à, những dòng chữ cứ dính chặt vào nhau...”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn