Xuyên Về Làm Chủ Tiệm SáchC.22 / 36
Chương 22

Ngăn Kép Của Chiếc Tủ Gỗ

Gói vải điều màu đỏ sẫm nằm im lìm trên chiếc bàn gỗ mộc, tỏa ra mùi long não cay nồng quyện lẫn mùi bụi giấy cũ mục khi ông giáo Trịnh chậm rãi cởi từng nút thắt trước ánh mắt chăm chú của Tuệ Anh.

Bên ngoài, cái nắng trưa oi ả của đất Sài Gòn cuối mùa khô năm 1996 đã bắt đầu rọi xiên qua những tàng me cổ thụ trên đường Trần Nhân Tôn. Nắng dội xuống mặt đường nhựa bốc lên một làn hơi mờ ảo, hắt những vệt bóng lá chao nghiêng dập dờn lên khung cửa liếp bằng gỗ tạp đã bạc màu. Sự náo động vừa mới lắng xuống cách đây chưa đầy một giờ—vụ một nhóm phụ huynh bị kẻ xấu giật dây vây ráp trước cửa tiệm đòi rút tiền cọc mua sách giáo khoa đầu cấp, dưới bàn tay kích động ngấm ngầm đầy hiểm độc của Lê Bá Khôi—vẫn còn để lại chút dư âm căng thẳng lảng bảng trong từng góc nhà. Mấy vỏ bao thuốc lá con mèo bị ai đó vò nát dưới bậu cửa, những vệt chân dính đất đỏ kéo dài từ mép vỉa hè vào tận chân quầy thu ngân còn chưa kịp quét dọn.

Nhưng lúc này, bên trong tiệm Mộc, mọi tạp âm cơ hội và xô bồ của phố thị dường như đã bị gạt phắt lại phía sau cánh cửa gỗ khép hờ. Tiếng còi xe Honda Dame rú ga ngoài ngã tư, tiếng rao lạc xoong lanh lảnh hay tiếng cãi cọ vụn vặt của mấy bà bán chuối chiên đầu ngõ chợt lùi xa như ở một thế giới khác. Trên căn gác lửng sát mái tôn, tiếng lưỡi đục gõ đều đặn vào thớ gỗ của Vĩnh đã ngừng bặt tự lúc nào. Người thanh niên thợ mộc trẻ tuổi vốn tính ý tứ và nhạy cảm; anh nhận ra sự xuất hiện đường đột của ông giáo Trịnh cùng chiếc gói vải đỏ thắt nút chữ nhật kia không đơn thuần là một chuyến ghé thăm thường nhật. Anh đã lặng lẽ quét dọn đống phoi bào vương vãi, xếp gọn gàng lưỡi bào, thước góc vào hòm đồ nghề, rồi ngồi im thin thít bên khung dầm, nhường lại khoảng thinh lặng tuyệt đối cho căn phòng khách nhỏ hẹp phía dưới.

Tuệ Anh nín thở. Lồng ngực cô khẽ phập phồng theo từng cử động của đôi bàn tay già nua. Những ngón tay gầy guộc, nổi rõ từng đường gân xanh xao và lốm đốm những vết đồi mồi của người thầy giáo hưu trí đang lần giở từng nếp vải gấp đã sờn rách mép chỉ. Lớp vải điều này có lẽ đã được cắt ra từ một tấm khăn phủ bàn thờ xưa cũ, sợi vải bông thô ráp đã ngả sang sắc đỏ bầm như màu máu đọng.

Khi lớp vải cuối cùng mở ra, Tuệ Anh thoáng sững sờ. Bên trong không phải là một cuốn kỳ thư đóng bìa da mạ vàng, cũng chẳng phải một cọc tiền giấy bạc xanh xao hay những tờ công trái ngân khố như cô từng mường tượng.

Nằm lọt thỏm giữa lòng tấm vải đỏ là một chiếc hộp gỗ trắc nhỏ xíu chỉ nhỉnh hơn bàn tay người lớn một chút. Mặt gỗ trắc đen nhánh, mịn như sừng, các góc cạnh được đóng mộng đuôi én tinh vi đến mức khó lòng tìm ra khe hở. Chiếc hộp được khóa chặt bằng một chiếc móc đồng hình bán nguyệt đã hoen rỉ xanh rì bởi lớp ten đồng bám chặt. Đi kèm với chiếc hộp là một chiếc chìa khóa đồng mỏng dính, dài chừng hai đốt ngón tay, cán chìa được đục một lỗ tròn nhỏ luồn sợi chỉ đỏ đã ngả sang màu nâu đất của thời gian.

Ông giáo Trịnh ngước lên. Đôi mắt già nua kèm nhèm sau cặp tròng kính lão dày cộp viền đồi mồi khẽ chớp, nhìn xoáy vào gương mặt thanh tú nhưng còn vương nét nhọc nhằn của Tuệ Anh. Ông không vội mở miệng. Đôi môi mỏng khô khốc của ông mím chặt lại như đang cố ghìm nén một khối cảm xúc nặng trĩu vừa bị đánh thức từ đáy sâu ký ức. Rất lâu sau, giọng ông mới cất lên, trầm đục, run rẩy nhưng mang sức nặng của những năm tháng dĩ vãng bi tráng:

“Dì Lan của cháu... cả đời này sống vì chữ nghĩa, mà rồi cũng khổ vì chính cái nghiệp chữ nghĩa ấy. Cái ngày dì ấy nằm trên giường bệnh ở Chợ Rẫy, trong cái phòng cấp cứu nồng nặc mùi cồn trắng và thuốc sát trùng, những cơn đau của chứng ung thư phổi đã gặm nhấm dì đến trơ xương. Những lúc mê man thì thôi, nhưng hễ cứ hồi tỉnh lại đôi chút, dì ấy chỉ dùng hết tàn lực nắm chặt lấy cánh tay thầy mà trăn trối. Dì không dặn chuyện ma chay, cũng chẳng bận tâm xem sau khi mất đi ai sẽ khóc ai sẽ cười. Dì Lan chỉ nói đúng một điều, lặp đi lặp lại như một lời thề nguyền trăn trối.”

Ông Trịnh ngừng lại, đưa bàn tay run rẩy chạm vào mặt gỗ trắc mát lạnh:

“Dì ấy bảo, tiệm Mộc này có thể sập vì nợ nần, những giá sách kia có thể bị mối mọt đục rỗng, và người đời có thể xỉ vả dì là kẻ kinh doanh thất bại. Món nợ có thể bóp nghẹt dì, nhưng có một thứ... tuyệt đối không được để lọt vào tay phường buôn chữ xổi thìa, càng không thể để trôi dạt ra các vựa ve chai đồng nát hay bị người ta đem nhóm lò theo tro bụi.”

Tuệ Anh siết chặt hai bàn tay vào mép chiếc áo sơ mi cộc tay bằng vải sợi bông thô. Trái tim cô như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Ký ức về người phụ nữ mảnh khảnh, luôn mặc chiếc áo bà ba màu lam cũ, lặng lẽ ngồi bên bàn kiểm kê từng trang sách rách dưới ánh đèn dầu leo lét hiện về rõ mồn một trong tâm trí cô.

“Thưa thầy,” giọng Tuệ Anh khẽ run nhưng rành rọt từng tiếng, “thứ mà dì Lan gửi gắm... có phải liên quan trực tiếp đến bộ chữ chì mười lăm triệu đang bị niêm phong ở xưởng in An Thành không ạ? Món nợ mà mấy hôm trước bác Sáu Phước bên xóm thợ từng gặng hỏi cháu...”

Ông giáo Trịnh khẽ gật đầu, nhưng rồi lại chậm rãi lắc đầu. Ánh mắt ông dời khỏi chiếc hộp gỗ, nhìn ra khoảng sân ngập nắng ngoài hiên, nơi bụi đường đang bay là là trên các kệ sách cũ:

“Đó chỉ là cái vỏ bên ngoài thôi cháu. Mười lăm triệu đồng tiền đúc bộ chữ chì kiểu mới và tiền đặt cọc mua hàng chục ram giấy xốp ngoại nhập là mồ hôi nước mắt, là toàn bộ gia sản mà dì Lan gom góp được sau mấy bận cắn răng bán tháo những bộ từ điển, những pho sách cổ quý giá nhất của dòng họ ngoài Huế đưa vào. Nhưng cái ruột của nó, linh hồn của toàn bộ canh bạc định mệnh ấy, không nằm ở xưởng in An Thành bên Chợ Lớn, cũng chẳng nằm ở bến than Phú Định. Nó vẫn ở ngay trong ngôi nhà này. Nó ở ngay trên căn gác xép mà cháu nằm đặt lưng mỗi đêm, ngày ngày nghe tiếng mọt nghiến gỗ ken két suốt bao năm qua.”

Ông giáo chống tay lên mặt bàn, chậm rãi đứng dậy. Dáng người ông cao gầy, hơi còng xuống dưới tấm áo âu phục màu xám tro đã bạc phếch hai bên cùi chỏ. Ông phủi nhẹ vạt áo, rồi hướng ánh mắt trầm mặc lên cầu thang gỗ hẹp dẫn lên gác lửng:

“Đi với thầy. Chiếc chìa khóa đồng này chỉ là một nửa câu chuyện thôi. Nửa còn lại, nằm ở chính sự kiên định và tấm lòng của người giữ tiệm.”

Tuệ Anh vội vàng đứng lên, vòng tay qua đỡ lấy một bên khuỷu tay gầy guộc của ông giáo. Hai thầy trò từng bước chậm rãi bước lên những bậc cầu thang gỗ bằng lim xanh đã mòn vẹt ở giữa tâm bậc. Mỗi bước chân đặt xuống lại làm phát ra tiếng cót két khô giòn, âm thanh quen thuộc của ngôi nhà phố cổ đã đi qua ngót nửa thế kỷ dầm dãi nắng mưa Sài Gòn.

Mùi dầu bóng mới quét trên hệ vì kèo chịu lực mà Vĩnh vừa gia cố cách đây hai ngày xộc vào cánh mũi, hòa quyện với mùi giấy ẩm tích tụ dưới lớp ngói móc và mùi vôi vữa cũ kỹ, tạo nên một thứ phong vị vừa thô mộc, vừa bí bách nhưng lại chan chứa cảm giác chở che.

Trên căn gác lửng, trần nhà khá thấp, người lớn đứng thẳng gần như chạm đầu vào mè gỗ. Chiếc bàn làm việc bằng gỗ sồi sứt sẹo của dì Mộc Lan vẫn nằm ở vị trí cũ, kê sát vào vách ván ghép ngang, ngay phía dưới khung cửa sổ con nhìn ra rặng me sau hẻm. Trên mặt bàn vẫn còn chiếc lọ sành cắm dở mấy chiếc bút lông đã rụng lông và một nghiên mực bằng đá đen khô cạn.

Ánh nắng rọi qua những kẽ ván hở chiếu thành những vệt sáng vàng rực, cắt chéo qua hông một chiếc tủ sách cổ khổng lồ. Đó là một chiếc tủ đứng ba buồng bằng gỗ sồi sẫm màu có từ thời thuộc Pháp, chân tủ được chạm trổ hình móng rồng quắp lấy viên ngọc đã sứt mẻ đôi chỗ. Các đợt kệ gỗ dày dặn bên trong buồng tủ đã cong oằn xuống vì phải oằn mình gánh đỡ hàng ngàn cuốn sách qua nhiều biến thiên thời cuộc.

Vĩnh đang đứng lau mồ hôi bên cạnh khung cửa sổ, chiếc khăn rằn vắt vẻo trên vai. Thấy ông giáo Trịnh và Tuệ Anh bước lên, anh vội vã khẽ cúi đầu chào, thu chiếc bào tay vào góc rồi toan lách người bước xuống thang để tránh nghe những chuyện riêng tư của gia đình. Nhưng ông giáo Trịnh đã giơ bàn tay khẳng khiu ra, cất giọng ngăn lại:

“Vĩnh, cháu cứ ở lại đây. Cháu là người làm thợ mộc, cháu hiểu rõ thớ gỗ, đường mộng và sự chân thành của kết cấu hơn ai hết. Chuyện này, phàm là người có lòng son với tiệm Mộc, có tình yêu với những trang sách này, thì đều nên chứng kiến.”

Vĩnh thoáng chút ngỡ ngàng, đôi mày rậm khẽ nhíu lại vì bất ngờ. Nhưng nhìn vẻ mặt trang nghiêm như đi vào chốn từ đường của ông giáo, anh khẽ dạ một tiếng rồi lặng lẽ lui lại, đứng nép mình bên cạnh cây cột cái, đôi mắt sáng chăm chú dõi theo từng cử động nhỏ nhất.

Ông giáo Trịnh bước tới sát bên hông phải của chiếc tủ gỗ sồi ba buồng. Ông khom lưng, đưa bàn tay sần sùi lần mò thật chậm dọc theo đường gờ chỉ nổi chạy dọc từ đỉnh nóc tủ xuống chân móng rồng, dừng lại ở vị trí cách mặt sàn chừng ba gang tay.

Tại điểm tiếp giáp giữa vách hông và thanh đố đứng, có một vết chạm khắc chìm hình một đóa hoa lan năm cánh nhỏ chỉ bằng đồng xu một hào. Vết khắc ấy đã bị bóng dầu, bụi bặm và mồ hôi tay của người sử dụng qua nhiều thập kỷ mài mòn đến mức nhẵn thín, gần như chìm nghỉm và hòa lẫn một cách hoàn hảo vào những đường vân gỗ tự nhiên uốn lượn. Nếu không phải là người từng được chỉ dẫn tận tay, tuyệt đối không một ai có thể nhận ra sự khác biệt giữa vết khắc ấy với một mắt gỗ tật ngẫu nhiên.

“Cháu nhìn kỹ vào đây,” ông giáo Trịnh chỉ đầu ngón tay run run vào giữa nhụy của đóa hoa lan gỗ. “Dì Lan của cháu vốn xuất thân từ dòng dõi gia giáo trâm anh ngoài cố đô Huế, tính tình cẩn mật, chu đáo và kín kẽ khôn cùng. Người đời thường chỉ nhìn vào những thứ lộ thiên; kẻ trộm hay kẻ tham lam khi vào nhà này chỉ rình mò cạy mở chiếc rương gỗ lim bọc đồng dưới kho sau, hoặc lùng sục những cuốn tiểu thuyết bìa da mạ vàng ngoài sạp sách. Nhưng dì Lan hiểu thấu thói đời. Những gì dì ấy coi là sinh mạng, là báu vật không thể đánh mất, dì chỉ cất giữ ở nơi gần mình nhất, nơi mà mỗi tối khi mệt mỏi đặt lưng xuống tấm phản này, chỉ cần vươn tay ra trong bóng tối là có thể chạm tới.”

Ông giáo quay mặt lại, nhìn thẳng vào Tuệ Anh, giọng ông chùng xuống trang trọng:

“Cháu dùng ngón tay cái của mình, ấn mạnh vào nhụy của đóa lan ba lần theo đúng nhịp thức: đầu tiên là thật mạnh, lần thứ hai thật nhẹ, lần thứ ba thì dồn lực ấn sâu rồi gạt dứt khoát sang phía bên phải. Sau khi nghe chốt bên trong dịch chuyển, cháu hãy tra chiếc chìa đồng này vào lỗ mộng khuất dưới đường phào chỉ.”

Tuệ Anh đón lấy chiếc chìa khóa đồng mỏng dính từ lòng bàn tay nóng ấm của ông giáo. Kim loại đồng lành lạnh áp vào da thịt khiến sống lưng cô khẽ run lên. Một cảm giác hồi hộp vô hình bóp nghẹt khí quản, khiến từng nhịp đập nơi lồng ngực dội lên thành tiếng lùng bùng bên tai.

Cô quỳ một bên gối xuống sàn gác lửng bụi bặm. Mùi gỗ sồi già đanh, ngai ngái mùi dầu trẩu cổ xưa và mùi bụi phấn thời gian tích tụ trong các kẽ tủ phả thẳng vào mặt. Tuệ Anh hít một hơi thật sâu, định thần lại, rồi đặt đầu ngón tay cái lên vết khắc hình hoa lan. Thớ gỗ dưới tay cô mát rượi, trơn nhẵn như đá ngọc sau hàng ngàn lần được bàn tay dì Lan ve vuốt.

*Một.* Tuệ Anh dồn trọng tâm cơ thể, ấn mạnh ngón cái vào tâm đóa hoa.

Một tiếng *“khục”* khô khốc, trầm đục vang lên từ sâu thẳm bên trong kết cấu gỗ dày, tựa như một then cài bằng sắt non bị kéo bật khỏi ổ sau nhiều năm tháng ngủ vùi.

*Hai.* Cô nới lỏng lực tay, chỉ ấn nhẹ một lực vừa đủ như cái chạm cánh ve.

*Ba.* Cô hít một hơi, dồn toàn bộ sức mạnh nơi đầu ngón tay, ấn sâu xuống rồi miết dứt khoát sang bên phải.

Một tiếng tách kim loại nhỏ xíu nhưng đanh gọn tiếp nối. Ngay lập tức, Tuệ Anh luồn chiếc chìa khóa đồng mỏng vào khe hở hẹp chỉ vừa khít một lưỡi dao cạo nằm ẩn kín đáo ngay phía dưới đường chỉ gờ trang trí. Chiếc chìa khóa trượt vào êm ru như đi vào một khối sáp ong. Cô khẽ xoay cổ tay một góc chín mươi độ.

*Tách!*

Âm thanh cơ học chuẩn xác vang lên giòn giã giữa gian gác tĩnh lặng.

Trước ánh mắt kinh ngạc trố tròn của Vĩnh và cái thở phào trút được gánh nặng nghìn cân của ông giáo Trịnh, toàn bộ mảng ván ốp bên hông phải của chiếc tủ—phần ván mà bao năm qua ai cũng nghĩ là một khối gỗ sồi đặc liền khối chịu lực—bất ngờ cựa mình trượt nhẹ ra ngoài chừng ba phân.

Một làn bụi phấn thời gian màu xám tro, mịn như tro rơm, khẽ bay tản ra trong luồng nắng trưa rọi qua khe ván, tạo thành một quầng sương mờ ảo chao lượn.

Cái ngăn kéo bí mật ấy, một cấu trúc kép nằm dọc ép sát vào vách lưng tủ sách, đã nằm im lìm trong bóng tối hoang lạnh suốt ngót ba mươi năm qua, kiên nhẫn chờ đợi bàn tay của một hậu nhân đích thực đến đánh thức.

Tuệ Anh nén chặt tiếng thở dài đang chực vỡ òa, cẩn trọng lồng các đầu ngón tay vào mép gỗ vừa hé lộ, từ từ kéo ngăn kéo ra ngoài. Ngăn kéo không quá sâu, chỉ chừng một gang tay, nhưng chiều cao chạy dài gần hết thân tủ. Toàn bộ lòng trong của ngăn kéo không dùng gỗ sồi thô mà được đóng mộng hoàn toàn bằng gỗ tuyết tùng đỏ—loại danh mộc quý hiếm có khả năng tiết ra tinh dầu thơm tự nhiên, xua đuổi tuyệt đối các loài mọt gỗ, gián bọ và ngăn chặn độ ẩm nhiệt đới hủy hoại giấy mực.

Và trong lòng ngăn kéo tuyết tùng ấy, không hề có vàng ròng, châu ngọc hay khế ước nhà đất.

Nằm trang trọng ở tầng trên cùng là một xấp thư từ bằng loại giấy pơ-luya mỏng tang, thứ giấy viết thư thời chiến đã ngả sang màu vàng hổ phách đượm buồn. Xấp thư được cột ngay ngắn bằng một dải ruy băng lụa màu lam nhạt, các mép vải đã tưa chỉ và sờn bạc.

Ngay bên dưới xấp thư là một khối văn bản đồ sộ, một tập bản thảo dày cộp chừng bốn trăm trang, khổ giấy A4 đời cũ dày dặn, được đóng gáy cẩn thận bằng chỉ gai và kẹp chặt giữa hai tấm bìa các-tông ép màu xám cứng cáp. Những dòng chữ đánh máy cơ học hiện lên qua lớp giấy bảo vệ, đều tăm tắp với những vệt mực tím đậm nhạt không đồng đều đặc trưng của máy chữ cổ.

Tuệ Anh cảm thấy hai bàn tay mình run lên bần bật. Bằng sự nâng niu và cung kính vô bờ của một người đã dành cả đời mình ở kiếp trước cho nghề biên tập và làm sách, cô nhẹ nhàng luồn hai tay xuống đáy khối tài liệu, nhấc bổng toàn bộ tập bản thảo và xấp thư ra khỏi ngăn kéo bí mật, rồi từ từ đặt chúng lên mặt bàn làm việc bằng gỗ sồi của người dì quá cố.

Một mùi hương đặc biệt lập tức lan tỏa trong không gian chật hẹp của căn gác xép: mùi ngai ngái của bột giấy cũ pha lẫn chất kết dính từ vỏ cây, mùi mực in hóa chất của ba thập niên trước, hòa quyện với hương thơm the mát, ấm áp của gỗ tuyết tùng. Thứ mùi hương ấy đối với người phàm trần có thể chỉ là mùi của đồ cũ mốc meo, nhưng đối với những ai trót mang nghiệp chữ nghĩa vào thân, đó là mùi của linh hồn, mùi của lịch sử đang thở những hơi thở phập phồng sau một giấc ngủ dài.

Ông giáo Trịnh kéo chiếc ghế đẩu gỗ lại gần mép bàn, chậm rãi ngồi xuống. Đôi mắt già nua của ông long lanh ngấn nước. Ông đưa những ngón tay gầy guộc, run rẩy khẽ chạm vào dải ruy băng lụa lam buộc xấp thư, cất giọng thì thầm như sợ làm kinh động đến một linh hồn đang an nghỉ:

“Cháu mở ra xem đi... Hãy nhìn tận mắt di sản mà dì Lan của cháu đã dùng cả mạng sống để gìn giữ.”

Tuệ Anh cẩn thận gỡ nhẹ nút thắt dải lụa lam đã mục ải. Sợi lụa khẽ rạn ra dưới tác động nhẹ của ngón tay.

Xấp thư gồm đúng mười hai phong bì, tất cả đều được gửi qua hệ thống bưu điện Sài Gòn từ những năm cuối thập niên 1960 kéo dài cho đến tận những ngày đầu mùa xuân năm 1975 đầy biến động. Những phong bì thư đã ngả màu ố vàng thời gian, mép dán đã bong tróc, bên trên dán những con tem xưa in hình cảnh trí chùa Thiên Mụ, phong cảnh sông nước Cửu Long hay hình ảnh những cô gái Nam Bộ chèo ghe. Những con dấu nhật ấn bưu điện hình tròn mờ nhạt bằng mực tím than ghi rõ những địa danh của một thời quá vãng: *Bưu cục Đa Kao - Gia Định*, *Trung tâm Bưu chính Bến Nghé - Sài Gòn*, và có cả những phong bì mang dấu bưu điện từ miền cao nguyên xa xôi: *Đà Lạt*.

Góc trên bên trái của người gửi chỉ vỏn vẹn ba chữ cái viết hoa nắn nót: *H.T.N.*

Nhưng khi ánh mắt nhà nghề của Tuệ Anh lướt nhanh xuống góc dưới của bức thư đầu tiên, nhìn thấy chữ ký bay bổng, dứt khoát viết bằng mực xanh đen Parker với những nét sổ sắc lẹm cùng thủ bút mang phong thái của một bậc túc nho uyên bác, tim cô bất giác đập lỗi một nhịp, mồ hôi rịn ra ướt đẫm lòng bàn tay.

Đó là thủ bút và chữ ký của Nhà văn - Học giả Huỳnh Tấn Nghĩa.

Trong dòng chảy văn học, văn hóa và nghiên cứu Nam Bộ suốt thế kỷ hai mươi, cái tên Huỳnh Tấn Nghĩa là một tượng đài sừng sững nhưng cũng bao phủ bởi màn sương huyền thoại đầy u uẩn.

Khác với những học giả chỉ ngồi trong thư viện máy lạnh hay những nhà văn salon chỉ biết dệt gấm thêu hoa nơi đô hội, Huỳnh Tấn Nghĩa là một bậc sĩ phu tân học đã dành trọn vẹn cả cuộc đời lang bạt kỳ hồ để điền dã khắp các ngóc ngách của lục tỉnh Nam Kỳ. Ông lặn lội trên những chiếc ghe chài dọc sông Tiền, sông Hậu, ăn bờ ngủ bụi nơi những cánh rừng tràm U Minh, sống cùng những phu đốn củi, những thợ đáy cá linh, những người mở đất từ thuở hồng hoang mang gươm đi mở cõi.

Ông ghi chép tỉ mỉ đến từng chi tiết vụn vặt nhất: từ một biến thể phát âm trong câu hò đối đáp trên sông Mang Thít, cách phân biệt các loại ghe ngo, ghe lườn, chiếc cối xay lúa bằng đất nện, cho đến những nghi thức tang ma, cưới xin cổ sơ hòa quyện giữa ba nền văn hóa Việt - Chăm - Khmer. Tác phẩm của ông không đơn thuần là văn chương nghệ thuật; đó là bách khoa toàn thư sống, là máu thịt, là linh hồn phù sa nghìn năm của miền đồng bằng trù phú.

Nhưng sau những biến động dữ dội của lịch sử năm 1975, ông lui về ở ẩn hoàn toàn. Tác phẩm của ông dần trở nên khan hiếm tột cùng, những bản in trước chiến tranh bị thời gian và thời cuộc tản mát, tiêu tán gần hết. Trong suốt ba thập niên sau đó, tên tuổi của Huỳnh Tấn Nghĩa chỉ còn tồn tại dưới dạng những giai thoại truyền khẩu đầy tiếc nuối trong giới sưu tầm cổ thư và các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian sành sỏi nhất. Người ta vẫn đồn đại rằng, trước khi gác bút quy ẩn, cụ Nghĩa đã hoàn thành một công trình tùy bút và khảo cứu vĩ đại nhất đời mình—một cuốn sách tổng kết toàn bộ đời văn và học thuật của cụ—nhưng không một ai biết bản thảo ấy đã lưu lạc về phương trời nào.

Và lúc này, bản thảo huyền thoại ấy đang nằm ngay trước mắt Tuệ Anh.

Bàn tay run rẩy của cô nhẹ nhàng lật mở tấm bìa các-tông màu xám của tập tập bản thảo dày cộp.

Trên trang tiêu đề đầu tiên, được gõ bằng phông chữ cơ học vuông vức của chiếc máy chữ hiệu Remington, những dòng chữ đánh máy đậm nét hiện ra đập thẳng vào tâm trí người đọc:

*“HỒN ĐẤT PHÙ SA — TÙY BÚT VÀ KHẢO CỨU DỌC MIỀN SÔNG NƯỚC CỬU LONG”* *Tác giả: Huỳnh Tấn Nghĩa* *Bản thảo hoàn chỉnh cuối cùng — Bản tác giả thủ đính, hoàn tất tại Cần Thơ, mùa thu năm 1974.*

Kèm theo gần bốn trăm trang văn bản đánh máy thẳng tắp là hàng chục trang phụ bản ghi chép tay bằng bút mực sắt, những trang sơ đồ minh họa được vẽ bằng mực nho vô cùng tỉ mỉ. Đó là bản vẽ cấu trúc giải phẫu chi tiết của từng loại ghe mui ống, ghe chài, ghe lườn; những sơ đồ mặt bằng các ngôi đình làng cổ ven sông Tiền; những nốt ký âm các điệu lý, câu hò cổ truyền chưa từng xuất hiện trong bất kỳ cuốn giáo trình âm nhạc hay từ điển nào.

Vĩnh đứng phía sau, nghển cổ nhìn qua vai Tuệ Anh. Khi ánh mắt người thợ mộc trẻ tuổi va vào một trang phụ bản vẽ tay mô tả chi tiết hệ kết cấu nhà rường Nam Bộ với những vì kèo mắt ngỗng và các khớp mộng xuyên tâm, miệng anh bất giác há hốc, hai mắt mở to đầy vẻ kinh ngạc:

“Trời đất ơi... Chị Tuệ Anh nhìn xem! Cái bản vẽ mộng đuôi cá và vì kèo tam đoạn của nhà cổ Bình Thủy này... Ngay cả trong thư viện của khoa Kiến trúc trường Đại học Kiến trúc tụi con cũng tuyệt đối không có tài liệu nào chi tiết đến từng phân tấc như thế này! Các thầy giáo trong trường con năm ngoái từng than thở rằng tất cả các bản vẽ gốc khảo sát kiến trúc dân gian Nam Bộ từ thời trước bảy lăm đều đã bị thất lạc hoặc hư hỏng sau chiến tranh hết rồi... Sao ở đây lại có bản vẽ tay gốc của chính cụ Huỳnh thế này?!”

Tuệ Anh không thể thốt nên lời. Lồng ngực cô rung lên từng hồi mãnh liệt. Những ngón tay của một biên tập viên xuất bản chuyên nghiệp—người từng thẩm định hàng trăm bản thảo đỉnh cao ở thế kỷ hai mươi mốt—đang run rẩy lướt nhẹ qua từng bề mặt trang giấy giòn rụm.

Cô nhận ra ngay lập tức giá trị vô lượng của tập tài liệu này. Đây không phải là một tập hợp các bài báo rời rạc hay những ghi chép tản mạn của một lãng tử qua đường. Đây là một công trình văn hóa mẫu mực, một kiệt tác khảo cứu văn học dân tộc ở đỉnh cao chói lọi, một viên ngọc quý hoàn hảo đã bị lớp bụi thời gian và sự khắc nghiệt của định mệnh vùi lấp suốt ba mươi năm ròng rã!

Nhưng rồi, ánh mắt cô chợt khựng lại.

Nằm kẹp kín đáo giữa trang tiêu đề bản thảo và lá thư đầu tiên là một phong bì thư màu trắng ngà còn khá mới. Phong bì không dán kín mép, bên trên có nét chữ viết tay mềm mại, thanh thoát nhưng đã hơi run rẩy, viết bằng loại mực tím Cửu Long vô cùng quen thuộc:

*“Gửi cháu gái Tuệ Anh của dì — Nếu một ngày cháu mở được ngăn kéo này.”*

Nét chữ của dì Lương Mộc Lan.

Tuệ Anh cảm thấy một luồng điện chạy dọc sống lưng, làm cay xè sống mũi. Cô từ từ rút tờ giấy học trò kẻ ngang đôi bên trong phong bì ra. Mực tím đã hơi nhòe đi ở vài dòng, dấu vết không thể chối cãi của những giọt nước mắt mặn chát từng rơi xuống trang giấy trong những đêm khuya vắng vẻ, khi người phụ nữ đơn độc ấy phải một mình cắn răng chịu đựng những cơn đau thể xác gặm nhấm trước lúc giã từ cõi đời.

Tuệ Anh hít một hơi thật sâu để ngăn cho tiếng nấc không bật ra khỏi cổ họng, rồi khẽ cất giọng đọc từng con chữ trăn trối của người dì ruột thịt:

*“Tuệ Anh thương yêu của dì,*

*Khi đôi bàn tay cháu chạm vào những trang giấy này, có lẽ thân xác tàn tạ của dì đã trở về với cát bụi, hoặc tro cốt đã được rải trên dòng sông Hương nơi quê cha đất tổ, và tiệm Mộc bé nhỏ của chúng ta có thể đã không còn chống đỡ nổi những cơn giông bão nghiệt ngã của thời cuộc.*

*Suốt bao nhiêu năm qua, dì nợ cháu một lời xin lỗi chân thành nhất. Dì đã bắt cháu phải chôn vùi những năm tháng thanh xuân tươi đẹp nhất của một cô gái trẻ trong cái xó nhà ẩm mốc này, phải cùng dì oằn lưng gánh vác một tiệm sách cũ ngập ngụa trong nợ nần, bụi bặm và sự cơ hàn. Người đời nhìn vào Mộc, họ chỉ thấy một đống giấy vụn vô giá trị, thấy những cuốn truyện kiếm hiệp ba xu thuê mướn vài trăm đồng hay những món nợ tiền thuê nhà mà bà Tư Lành tháng nào cũng đứng chống nạnh réo đòi ráo riết ngoài cửa. Nhưng cháu ơi, dì chưa từng một giây, một phút nào hối hận vì đã quyết giữ lấy ngôi nhà này.*

*Mười lăm triệu đồng—toàn bộ số tiền dì bán đi mảnh đất hương hỏa cuối cùng của ông bà ngoại cháu ngoài Huế, cùng toàn bộ số tiền gom góp sau những bận nuốt nước mắt bán tháo những bộ sách cổ quý giá nhất—dì đã dồn hết vào xưởng in An Thành bên Chợ Lớn. Dì làm vậy để đặt đúc riêng một bộ chữ chì kiểu mới sắc sảo và giữ độc quyền hàng chục ram giấy xốp ngoại nhập phẩm chất cao. Người ta bảo dì bị điên, người ta chửi dì là con mụ gàn dở, tự rước một món nợ khổng lồ vào thân giữa cái thời buổi nhiễu nhương kim tiền, cái thời mà người ta chỉ đua nhau buôn bán mì gói, tủ lạnh bãi rác hay in lậu những cuốn truyện tranh nhảm nhí để thu tiền tươi thóc thật. Nhưng họ làm sao hiểu được, cháu ơi!*

*Một tiệm sách chân chính không bao giờ có thể tồn tại lâu dài nếu nó chỉ biết sống lay lắt bằng lòng trắc ẩn của xóm giềng, hay bằng cách bán tháo dĩ vãng, gặm nhấm từng cuốn sách rách nát để qua ngày đoạn tháng. Tiệm Mộc chỉ thực sự có linh hồn, chỉ thực sự có lý do để kiêu hãnh ngẩng cao đầu tồn tại giữa cuộc đời này, khi chính nó tự tay hồi sinh và đưa ra ánh sáng một tác phẩm tuyệt bản có giá trị vĩnh cửu cho đời.*

*Bản thảo 'Hồn Đất Phù Sa' của bác Huỳnh Tấn Nghĩa chính là sinh mạng của dì, là món nợ ân tình sâu nặng nhất mà cả một đời làm nghề sách dì chưa trả xong. Năm xưa, trên giường bệnh trước lúc lâm chung, bác Nghĩa đã nắm tay dì, trao trọn niềm tin rằng dì sẽ đưa đứa con tinh thần này đến tay độc giả một cách đàng hoàng, trang trọng và danh chính ngôn thuận nhất. Nhưng sức người có hạn, bệnh tật đã đánh gục dì giữa chừng... Dì bất lực nhìn tâm nguyện đời mình dang dở.*

*Tuệ Anh, dì viết những dòng này không phải để trói buộc cuộc đời cháu vào đống nợ nần của dì. Nếu cháu cảm thấy gánh nặng này quá lớn, hãy đem toàn bộ bản thảo và hộp gỗ này giao lại cho thầy giáo Trịnh. Thầy sẽ biết cách gửi gắm nó vào một thư viện quốc gia nào đó an toàn. Nhưng nếu trong huyết quản cháu vẫn còn chảy trôi tình yêu cháy bỏng với con chữ, nếu cháu muốn tiệm Mộc này được đứng vững bằng chính đôi chân kiêu hãnh của nó, thì hãy thay dì bước tiếp con đường này. Hãy thay dì đưa 'Hồn Đất Phù Sa' bước ra ánh sáng.*

*Hãy luôn ghi nhớ lời dạy của tiền nhân, cháu nhé: Làm sách không đơn thuần là một cái nghề để kiếm cơm nuôi miệng. Làm sách, tự ngàn đời nay, là một lời hẹn ước thiêng liêng với thời gian...”*

Những dòng chữ cuối cùng trên trang giấy học trò như run rẩy, xiêu vẹo hẳn đi. Những nét mực tím kéo dài thành những vệt ngoằn ngoèo đứt quãng, phản chiếu nỗi đau đớn dữ dội của những cơn co thắt lồng ngực mà người phụ nữ kiên cường ấy phải trải qua trước khi trút hơi thở cuối cùng trong đêm tối cô quạnh.

Tuệ Anh từ từ gập lá thư lại, áp chặt nó vào lồng ngực mình.

Một giọt nước mắt nóng hổi lặng lẽ lăn dài trên gò má cô, rơi tách xuống mặt bàn gỗ sồi khô khốc, làm loang ra một chấm sẫm màu trên thớ gỗ.

Trong khoảnh khắc thiêng liêng ấy, mọi sự giằng xé, hoang mang, những cảm giác lạc lõng và chênh vênh của một linh hồn vừa xuyên không từ năm 2026 trở về ba mươi năm trước bỗng chốc tan biến sạch trơn, không còn để lại một gợn sóng.

Ở thế giới tương lai kia, cô từng là một biên tập viên xuất bản thành đạt nhưng kiệt quệ và rệu rã. Cô từng ngột ngạt đến nghẹt thở giữa những chỉ số KPI doanh thu vô hồn, từng thất vọng đến cùng cực khi phải chạy theo những cuốn sách thị trường nông cạn phục vụ cho thị hiếu mì ăn liền, từng cay đắng nhìn những thuật toán máy móc đo lường độc giả như những con số thống kê lạnh lùng. Nhưng giờ đây, đứng giữa căn gác xép ọp ẹp của năm 1996, chạm tay vào những trang di cảo thấm đẫm mồ hôi và nước mắt của hai thế hệ đi trước, Tuệ Anh chợt nhận ra lý do vì sao định mệnh lại đưa cô trở về nơi này.

Dì Mộc Lan không chỉ để lại cho cô một căn nhà phố cũ kỹ và một đống nợ nần ngập đầu. Dì đã trao lại cho cô một đức tin, một ngọn lửa nghề nghiệp thuần khiết và một phẩm giá cao quý nhất của người làm văn hóa: phẩm giá của người gác đền cho những giá trị vĩnh cửu.

“Dì Lan nói đúng...” Tuệ Anh khẽ thì thầm, giọng cô vẫn còn nghẹn ngào vì xúc động nhưng ánh mắt ngước lên đã rực sáng một ngọn lửa kiên định khác thường. “Một tiệm sách không thể sống bằng sự rủ lòng thương hại, càng không thể cứu vãn bằng cách bán rẻ linh hồn của mình.”

Cô ngẩng cao đầu, nhìn thẳng vào đôi mắt già nua đang chăm chú dõi theo mình của ông giáo Trịnh:

“Thưa thầy, cháu sẽ làm! Cháu sẽ không giao nộp bản thảo này cho bất kỳ ai, cũng không để nó ngủ vùi trong bóng tối thêm một ngày nào nữa. Cháu sẽ thay dì Lan hoàn thành tâm nguyện này—cháu sẽ đưa 'Hồn Đất Phù Sa' ra ánh sáng, đàng hoàng và kiêu hãnh nhất!”

Ông giáo Trịnh nhìn cô gái trẻ trước mặt, bờ mi mắt kèm nhèm của ông cũng đỏ hoe. Người thầy giáo già đưa bàn tay xương xẩu run rẩy vỗ nhẹ lên mu bàn tay Tuệ Anh, gật đầu liên hồi:

“Tốt... Tốt lắm con! Nghe được những lời này của con, dì Lan của con dưới suối vàng chắc chắn có thể ngậm cười nhắm mắt rồi. Nhưng Tuệ Anh à, thầy phải nói thật để con hiểu: Làm một cuốn sách lớn giữa cái thời buổi này... khó khăn và nghiệt ngã hơn con tưởng tượng gấp trăm vạn lần.”

Tuệ Anh khẽ đưa tay quệt khô vệt nước mắt trên má, nở một nụ cười điềm tĩnh đầy tự tin. Cô kéo tập bản thảo lại gần mình hơn, lật giở từng trang với sự cẩn trọng tột bậc. Lúc này, bản năng, kinh nghiệm và những kỹ năng thẩm định văn bản đỉnh cao của một biên tập viên kỳ cựu bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ trong từng huyết mạch.

Cô cúi sát xuống mặt giấy, ngón tay nhẹ nhàng miết qua những mép rìa ố vàng. Con mắt nhà nghề sắc bén giúp cô nhận diện ngay lập tức những thách thức vật lý nghiệt ngã đang phơi bày trước mắt:

“Thưa thầy, cháu hiểu rõ những khó khăn đó. Và thách thức đầu tiên đe dọa sinh mạng của tác phẩm này không phải là xưởng in hay tiền bạc, mà chính là tình trạng vật lý hiện tại của các trang bản thảo.”

Tuệ Anh đưa tay vẫy nhẹ để ông giáo Trịnh và Vĩnh bước lại gần mép bàn hơn, rồi cô chỉ ngón tay vào rìa mép của những trang giấy đánh máy:

“Thầy và anh Vĩnh nhìn xem. Toàn bộ các trang văn bản này được gõ trên loại giấy Bãi Bằng pha bột rơm rạ—thứ vật tư khan hiếm và kém phẩm chất của thời kỳ trước năm 1975. Do công nghệ sản xuất thời bấy giờ còn thô sơ, hàm lượng axit dư thừa trong bột giấy quá cao. Trải qua hơn hai mươi năm nằm dưới mái tôn nóng hầm hập của Sài Gòn, lượng axit nội tại này đã thúc đẩy quá trình oxy hóa cellulose diễn ra cực kỳ dữ dội. Toàn bộ phần rìa giấy bên ngoài đã bị ngả sang màu vàng cháy, khô đanh lại và giòn vụn chẳng khác nào những miếng bánh tráng nướng phơi nắng.”

Nói đoạn, cô cẩn thận rút chiếc nhíp tre nhỏ trong hộp đồ nghề của dì Lan, gắp nhẹ vào mép ngoài của một góc trang giấy; ngay tức khắc, một mảnh vụn li ti vỡ vụn rụng xuống mặt bàn gỗ sồi.

“Chưa hết đâu ạ,” Tuệ Anh tiếp tục lật giở một cách vô cùng khẽ khàng, chỉ vào những đốm màu hoa cau xám xịt đang loang lổ ở góc dưới các trang phụ bản. “Đây là dấu hiệu của nấm mốc hoa cau, loại nấm ăn giấy cực kỳ nguy hiểm trong môi trường nhiệt đới gió mùa. Dù gỗ tuyết tùng đã ngăn được côn trùng đục khoét, nhưng độ ẩm không khí Sài Gòn vẫn len lỏi vào được. Nếu chúng ta không sớm tiến hành các biện pháp xử lý khử axit bằng dung dịch kiềm nhẹ, diệt khuẩn nấm mốc bằng cồn y tế nồng độ chuẩn và cô lập bản thảo trong môi trường vi khí hậu tiêu chuẩn, thì chỉ cần trải qua trọn vẹn mùa mưa bão năm nay thôi, toàn bộ mực đánh máy sẽ bị loang nhòe, và các trang giấy sẽ dính bết lại với nhau thành một khối bột mục vô phương cứu vãn.”

Ông giáo Trịnh trố mắt nhìn Tuệ Anh, vẻ mặt lộ rõ sự kinh ngạc tột độ. Ông vốn biết đứa cháu gái của bà bạn già là một cô gái thông minh, tháo vát và biết phụ giúp việc tiệm, nhưng những thuật ngữ chuyên môn sâu sắc về “hàm lượng axit trong bột giấy”, “oxy hóa cellulose”, “xử lý vi khí hậu” và cách thẩm định tình trạng hoại tử của tài liệu cổ mà cô vừa phân tích rành rọt lại mang dáng dấp của một chuyên gia phục chế lưu trữ hàng đầu ở các viện bảo tàng trung ương hay thư viện quốc gia! Điều đó hoàn toàn vượt xa tầm hiểu biết thông thường của một cô gái hai mươi sáu tuổi chỉ quanh quẩn bán sách cũ trên đường Trần Nhân Tôn giữa năm 1996.

Tuy nhiên, sự từng trải của một bậc túc nho cả đời gắn bó với giới học thuật dạy cho ông Trịnh biết rằng: Trên đời này có những người sinh ra đã mang thiên bẩm kỳ tài đối với chữ nghĩa, và cái tâm của người đối diện mới là điều đáng trân quý nhất. Ông không gặng hỏi nguồn gốc những kiến thức ấy, chỉ khẽ vuốt chòm râu bạc, trầm ngâm gật đầu:

“Cháu nói trúng phóc từng điểm một! Tập bản thảo này, hồi trận lụt năm Thìn tràn vào nhà, dì Lan đã phải dùng vải màn bọc bột long não, rải vôi sống hút ẩm rồi bọc kín trong ba lớp giấy dầu mới cứu thoát khỏi dòng nước ngập. Nhưng giữ được cái xác giấy đến ngày nay đã là kỳ tích, còn chuyện cứu lấy cái hồn con chữ bên trong thì gian nan gấp bội phần.”

Tuệ Anh gật đầu đồng tình, ánh mắt cô chăm chú quét qua một đoạn văn bản đánh máy dày đặc những nét bút sửa chữa:

“Dạ, cháu thấy trên các trang viết có rất nhiều tầng văn bản chồng lấn lên nhau. Cụ Huỳnh Tấn Nghĩa đã tự tay dùng bút mực ngỗng mực tím để đính chính, thêm bớt hàng trăm chú thích bên lề. Đáng chú ý nhất là có rất nhiều từ ngữ cổ miền Tây, những từ dùng chữ Nôm Nam Bộ bản địa, và đặc biệt là hệ thống danh từ riêng phiên âm từ tiếng Khmer và tiếng Chăm cổ dọc vùng Châu Đốc, An Giang. Nếu không có một bậc túc nho uyên bác, am tường sâu sắc về ngữ âm học lịch sử và phong thổ miền Tây như thầy đứng ra chủ trì khâu khảo dị và hiệu đính morasse, thì khi đưa sang xưởng in An Thành, những người thợ sắp chữ chì dù có tay nghề giỏi đến đâu cũng sẽ sắp sai chính tả, làm biến dạng hoặc tầm thường hóa toàn bộ vẻ đẹp nguyên bản của tác phẩm.”

“Chuyện đối chiếu văn bản, hiệu đính ngữ nghĩa và rà soát từng chữ Nôm, thầy xin gánh vác trọn vẹn!” Ông giáo Trịnh vỗ mạnh tay xuống mặt bàn, giọng ông đanh thép và đầy hào khí như thời ông còn đứng trên bục giảng của trường Đại học Văn khoa Sài Gòn trước đây. “Thầy sẽ dọn hẳn một bàn làm việc trên này, cùng cháu thức trắng thâu đêm suốt sáng để rà từng dấu phẩy, từng dị bản. Chú Thành An bên xưởng in An Thành là chỗ bạn vong niên nối khố của thầy, cậu ấy là người trọng nghĩa khí, bao năm qua vẫn giữ nguyên bộ chữ chì và lô giấy xốp cho dì Lan mà không đòi một đồng tiền lưu kho. Chỉ cần bản thảo được cháu biên tập hoàn chỉnh và sạch sẽ, xưởng in sẽ lập tức cho lên khuôn máy dập!”

Không khí trên căn gác lửng bỗng chốc sục sôi nhiệt huyết. Giữa căn phòng ngập mùi bụi giấy cũ, dường như có một luồng sinh khí mới đang bừng bừng trỗi dậy.

Thế nhưng, đúng lúc ấy, Vĩnh—người nãy giờ vẫn đứng tựa lưng vào cây cột cái, im lặng lắng nghe từ đầu đến cuối—bỗng cất tiếng. Giọng anh trầm ấm nhưng mang theo một nỗi băn khoăn vô cùng thực tế của một người làm nghề kỹ thuật:

“Thưa thầy, thưa chị Tuệ Anh... Con nghe hai người bàn chuyện làm sách mà con cũng thấy rạo rực trong lòng. Nhưng con có một thắc mắc nhỏ này... Dù chúng ta có bản thảo gốc trong tay, có chữ chì, có giấy xốp và có cả xưởng in sẵn sàng dập máy, nhưng về mặt pháp lý... chúng ta có quyền in cuốn sách này không ạ? Con nghe mấy anh sinh viên trên trường kháo nhau rằng Nhà nước mình dạo này đang bắt đầu siết rất chặt Luật Xuất bản và vấn đề bản quyền tác giả. Nếu chúng ta tự ý in ra mà không có giấy tờ hợp pháp, chẳng những sách sẽ bị đội quản lý thị trường tịch thu, tiêu hủy ngay khi vừa rời xưởng, mà tiệm Mộc còn mang tiếng là phường in lậu, ăn cắp chữ nghĩa của người đã khuất. Chuyện đó... tiệm Mộc tuyệt đối không thể làm được, phải không chị?”

Câu hỏi mộc mạc nhưng sắc bén như một nhát đục chuẩn xác của Vĩnh lập tức kéo bừng cả hai người lớn tuổi trở về với thực tại nghiệt ngã.

Tuệ Anh nhìn Vĩnh với ánh mắt đầy tán thưởng. Người thanh niên thợ mộc này tuy vẻ ngoài thô ráp, ít nói, nhưng đầu óc lại vô cùng tỉnh táo và minh bạch.

Đúng vậy! Đây chính là lằn ranh đỏ sống còn giữa một nhà xuất bản chân chính với những đầu nậu in lậu trục lợi bất chính. Tuệ Anh là một biên tập viên xuất bản chuyên nghiệp của thế kỷ hai mươi mốt—thời đại mà tác quyền và quyền sở hữu trí tuệ được tôn sùng như đạo luật tối thượng của văn minh nhân loại. Cô trở về quá khứ để cứu tiệm Mộc, nhưng tiệm Mộc tuyệt đối không thể được cứu vớt bằng một hành vi vi phạm pháp luật hay chà đạp lên đạo đức nghề nghiệp. Nếu 'Hồn Đất Phù Sa' ra đời dưới danh nghĩa một ấn phẩm in chui, thì toàn bộ sự hy sinh của dì Mộc Lan và tâm huyết của cụ Huỳnh Tấn Nghĩa sẽ bị vấy bẩn hoàn toàn.

Tuệ Anh quay sang nhìn ông giáo Trịnh, ánh mắt tràn đầy sự nghiêm cẩn:

“Thầy ơi, Vĩnh nói rất đúng ạ. Trong lá thư trăn trối, dì Lan cũng nhấn mạnh rằng phải đưa tác phẩm ra đời một cách 'danh chính ngôn thuận'. Vậy còn vấn đề tác quyền hợp pháp của cố nhà văn Huỳnh Tấn Nghĩa thì sao ạ? Cụ đã tạ thế từ lâu, vậy hiện nay ai là người nắm giữ quyền thừa kế di sản tinh thần này?”

Nụ cười hào sảng trên môi ông giáo Trịnh bỗng chốc tắt ngấm. Nét mặt ông chùng xuống, phủ lên một vẻ u hoài và e ngại sâu sắc.

Ông khẽ thở dài một tiếng nặng nhọc, đưa mắt nhìn ra ngoài khung cửa sổ con, nơi những tàng me cổ thụ đang xao xác rụng lá dưới ngọn gió trưa phương Nam.

Không nói một lời, ông giáo đưa tay rút lá thư cuối cùng nằm dưới đáy xấp thư của nhà văn Huỳnh Tấn Nghĩa gửi cho dì Mộc Lan, đề ngày 15 tháng 3 năm 1975—chỉ ít tuần trước ngày đất nước hoàn toàn thống nhất. Ông cẩn thận lật mặt sau của tờ giấy pơ-luya mỏng manh, nơi có một dòng tái bút ngắn ngủi được viết bằng nét mực tím đã phai mờ, nhạt nhòa theo năm tháng.

Ngón tay trỏ nổi gân của ông giáo dừng lại ở dòng địa chỉ viết tay nắn nót ở góc dưới cùng:

*“Tái bút: Thưa cô Lan, nếu mai này tôi có mệnh hệ nào đột ngột trên bước đường phiêu bạt, toàn bộ quyền định đoạt, xuất bản cũng như bảo hộ đối với di cảo 'Hồn Đất Phù Sa' xin giao trọn cho con trai độc nhất của tôi: Huỳnh Tấn Sĩ. Hiện nó đang sống khép kín tại Biệt thự số 14, đường Yersin, thành phố Đà Lạt.”*

Tuệ Anh chăm chú đọc từng chữ trên dòng tái bút. Một tia hy vọng vừa nhen nhóm trong lòng cô:

“Vậy là rõ ràng rồi thưa thầy! Người thừa kế duy nhất và hợp pháp theo pháp luật chính là con trai cụ—chú Huỳnh Tấn Sĩ. Chúng ta chỉ cần lên Đà Lạt, tìm gặp chú ấy, trình bày toàn bộ tâm nguyện của dì Lan, đưa bản thảo gốc và bộ thư từ này ra đối chứng, xin chữ ký ủy quyền tác quyền để nộp lên Cục Xuất bản xin cấp giấy phép in là mọi chuyện sẽ hoàn toàn danh chính ngôn thuận!”

Thế nhưng, trái với sự lạc quan của Tuệ Anh, ông giáo Trịnh chỉ lắc đầu chậm rãi, nụ cười trên gương mặt già nua méo mó một vẻ chua chát:

“Tuệ Anh à... Mọi chuyện ở đời này nếu chỉ đơn giản như những dòng chữ trên giấy thì dì Lan của cháu đã không phải ôm hận xuống suối vàng.”

Ông tháo cặp kính lão dày cộp xuống, lấy vạt áo xám tro lau đi lau lại tròng kính đã mờ hơi sương, rồi cất giọng trầm buồn, từng tiếng một rơi vào không gian tĩnh mịch:

“Cậu Huỳnh Tấn Sĩ... không phải là một người dễ gặp, càng không phải là một người dễ mở lòng. Sau những biến cố gia đình quá đỗi tang thương và nghiệt ngã vào giữa thập niên bảy mươi, người mẹ và người em gái duy nhất của cậu ấy qua đời trong một vụ tai nạn thảm khốc, cậu Sĩ đã hoàn toàn suy sụp. Cậu ấy rời bỏ giảng đường đại học ở Sài Gòn, cắt đứt toàn bộ liên lạc với giới văn nghệ sĩ, báo chí và bạn bè thân hữu, một mình ôm theo những kỷ vật đau buồn lui lên sống ẩn dật giữa rừng thông lạnh lẽo của xứ sương mù Đà Lạt suốt hơn hai mươi năm qua.”

Ông giáo ngừng lại một nhịp, ánh mắt lộ rõ vẻ âu lo khi nhìn vào gương mặt trẻ trung của Tuệ Anh:

“Người ta đồn rằng, cậu ấy căm ghét cay đắng chốn thị thành và đặc biệt căm ghét những kẻ kinh doanh chữ nghĩa. Cậu ấy xem tất cả những ai tìm đến hỏi mua di cảo của cha mình đều là phường con buôn tàn nhẫn, chỉ chực lao vào xâu xé và trục lợi trên mồ hôi, nước mắt của người đã khuất. Cháu có biết không, cách đây ba năm, một giám đốc nhà xuất bản danh tiếng bậc nhất thành phố này, rồi cả những tay trùm buôn sách sừng sỏ nhất vùng Chợ Lớn đã từng đích thân lái xe hơi, mang theo cả bao tải tiền mặt lên Đà Lạt gõ cửa căn biệt thự ấy để hỏi mua bản quyền in di cảo Huỳnh Tấn Nghĩa. Kết quả là gì cháu biết không? Cậu Sĩ thậm chí không thèm mở khóa cổng sắt, đứng trong sân xua chó ra đuổi họ đi, ném thẳng những cọc tiền cọc qua hàng rào sắt nhọn mà không thèm nhìn lấy một lần!”

Ông giáo Trịnh đặt hai tay lên vai Tuệ Anh, giọng ông run run đầy khẩn thiết:

“Bản quyền tác phẩm này hiện đang nằm trọn vẹn trong tay một người thừa kế nổi tiếng khó tính, lập dị và cay nghiệt bậc nhất xứ này. Cậu ấy đóng chặt cánh cửa lòng mình với cả thế giới bên ngoài. Muốn có được chữ ký chấp thuận của cậu ấy để hồi sinh 'Hồn Đất Phù Sa', cháu không thể dùng tiền bạc, càng không thể dùng những lời ngon ngọt đãi bôi ngoài đầu môi chót lưỡi.”

Một cơn gió trưa từ phương Nam bất chợt thổi thốc qua khung cửa sổ con của căn gác lửng. Gió cuốn theo hơi nóng hầm hập của phố thị và mùi hương hoa me chua dịu, làm lật bay phần phật những mép giấy giòn rụm của tập bản thảo ba mươi năm tuổi trên bàn. Những tiếng giấy xào xạc vang lên như tiếng thì thầm của quá khứ đang thúc giục.

Tuệ Anh đứng sững giữa căn gác xép ngập tràn mùi gỗ tuyết tùng và bụi phấn thời gian. Cô đưa mắt nhìn dòng địa chỉ mờ nhạt trên lá thư ố vàng: *Biệt thự số 14, đường Yersin, Đà Lạt.*

Trong tâm trí cô, hình ảnh một vùng cao nguyên mù sương với những đồi thông reo vi vút trong giá lạnh hiện lên mờ ảo. Ở nơi đó, có một người đàn ông cô độc đang tự giam cầm mình trong những vết thương quá khứ, ôm giữ sự khắt khe tột cùng đối với từng di sản của người cha quá cố.

Con đường phía trước để giải cứu tiệm Mộc và hoàn thành lời hẹn ước với dì Lan tưởng chừng như vừa hé mở một tia hy vọng, thì nay lại vấp phải một bức tường thành kiên cố và lạnh lẽo hơn bao giờ hết.

Nhưng nhìn vào ngọn lửa đang cháy âm ỉ trong tập bản thảo trên tay, Tuệ Anh biết rằng mình sẽ không bao giờ lùi bước. Chuyến đi lên xứ sương mù không còn là một sự lựa chọn, mà đã trở thành một định mệnh mà cô buộc phải dấn thân.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn