Xuyên Về Làm Chủ Tiệm SáchC.1 / 36
Chương 1

Mùi Bụi Giấy Năm Một Chín Chín Sáu

Cơn đau buốt nơi gáy kéo Lương Tuệ Anh ra khỏi bóng tối mịt mùng, nhưng thứ xộc thẳng vào khứu giác đầu tiên không phải mùi cồn sát trùng hay dung dịch tẩy rửa nồng nặc của bệnh viện, mà là mùi giấy mục ẩm nồng quyện chặt với thứ ẩm khí đặc quánh của vùng nhiệt đới – một mùi hương vừa thân thuộc đến nhói lòng, lại vừa xa lạ đến rợn ngợp.

Đó là cái mùi ngai ngái, chua nhẹ đặc trưng của chất lignin trong bột gỗ qua nhiều thập kỷ bị phân hủy dưới nhiệt độ và độ ẩm phương Nam, quyện với mùi chua mốc của keo dán gáy bằng hồ tinh bột thiu cùng lớp bụi mịn bám sâu vào từng thớ xơ thực vật. Tuệ Anh khẽ rên lên một tiếng nghẹn ứ nơi cuống họng. Toàn bộ khung xương, bắp thịt trên cơ thể cô ê ẩm, rệu rã như thể vừa bị nghiền qua một cỗ máy cán trục công nghiệp. Cô chớp mắt liên tục, cố xua đi những đốm lân tinh màu xám tro đang nhảy múa loạn xạ trong tầm nhìn mờ đục.

Trước mắt cô không phải trần thạch cao phẳng lì sơn trắng gắn hệ thống đèn LED âm trần dải nhiệt 4000K dịu mắt, cũng chẳng có những đầu phun chữa cháy tự động bằng khí FM-200 của kho lưu trữ số hóa hiện đại mà cô đã gắn bó suốt bảy năm tuổi trẻ. Phía trên đầu cô lúc này là những thanh ván ghép mỏng manh, sần sùi, ngả sang màu nâu xám xịt của thời gian. Trên lớp trần gỗ ọp ẹp ấy loang lổ những vệt ố tròn viền đen sẫm như những chiếc bản đồ địa lý dị dạng – dấu tích không thể nhầm lẫn của biết bao mùa mưa dầm dề ngấm qua từng khe đinh của mái tôn rỉ sét.

Cô đang nằm nghiêng trên nền gạch bông cổ điển, loại gạch hai mươi phân hoa văn chữ thập màu xanh xám viền trắng ngà đã sứt sẹo nhiều góc, bề mặt nhẵn thó nhưng phủ một lớp bụi mịn ram ráp. Không khí xung quanh đặc quánh, oi bức và ngột ngạt đến mức buồng phổi như bị đè nặng dưới một tảng đá, hoàn toàn trái ngược với luồng gió nhân tạo khô lạnh mười tám độ C của căn phòng điều hòa trung tâm tại nhà xuất bản vào một buổi tối tăng ca muộn năm 2026.

Ký ức gần nhất dội về trong tâm trí cô đột ngột và sắc lạnh như một nhát dao: một buổi tối muộn vắng lặng đến rợn người, cô đứng chênh vênh trên chiếc thang trượt kim loại cao hơn ba mét để với lấy tập tài liệu khảo dị bản thảo văn học đầu thế kỷ hai mươi nằm ở dãy kệ trên cùng. Đôi chân cô run rẩy vì kiệt sức sau chuỗi ngày chạy đua điên cuồng với các chỉ số báo cáo quý, mắt mờ đi vì nhìn màn hình máy tính bảng và các bảng biểu đối soát liên tục mười hai tiếng đồng hồ. Rồi một tiếng *cạch* khô khốc vang lên khi bánh xe trượt trật khỏi đường ray kim loại. Cảm giác hẫng hụt xé toạc lồng ngực, tiếng khung thép va đập chan chát vào giá đỡ bằng thép không gỉ, và sau cùng là cú va chạm kinh hoàng khi gáy cô đập mạnh xuống nền bê tông phủ sơn epoxy bóng loáng.

Vậy mà bây giờ, lưng cô lại không chạm vào sàn bê tông lạnh buốt ấy. Lưng cô đang tì lên những tấm bìa các-tông lót sơ sài, nhem nhuốc vết chân và bụi bặm.

Tuệ Anh chật vật chống hai bàn tay xuống sàn để nhấc thân mình dậy. Một cơn buồn nôn dữ dội lập tức dội ngược lên thực quản khiến cô phải nhắm nghiền mắt lại, cả người nghiêng ngả, tựa hẳn lưng vào một kiện hàng to lớn phía sau. Khắp gian phòng chật hẹp chỉ chừng mười lăm mét vuông là những thùng các-tông rách rưới, mép thùng toác hoác vì lớp băng dính giấy nâu đã khô khốc bong keo, để lộ ra hàng trăm gáy sách ố vàng chen chúc, ép chặt vào nhau. Có những chồng sách không có hộp chứa, được xếp cao ngất ngưởng từ mặt sàn lên sát trần gỗ, xiêu vẹo nghiêng ngả như những tòa tháp cổ chực đổ sụp xuống bất cứ lúc nào nếu có một chấn động nhẹ.

Nơi này là một gian kho sau. Một gian kho chứa sách cũ thực thụ, bừa bộn, ngột ngạt và bí bách đến cùng cực.

"Đây là đâu chứ...?" Tuệ Anh lẩm bẩm.

Giọng cô khản đặc, thô ráp như có ai rải một nắm cát vụn vào sâu trong thanh quản. Nhưng điều khiến cô lạnh toát sống lưng không phải sự khô rát ấy, mà là âm sắc phát ra từ chính vòm họng mình: nó nghe lạ hoắc, thanh mảnh hơn, trong trẻo hơn, nhưng lại chất chứa một ngữ điệu trầm buồn mệt mỏi mà cô chưa từng có.

Cô bàng hoàng giơ hai bàn tay lên trước mặt. Dưới ánh sáng nhập nhoạng lọt qua khe ván, đôi bàn tay hiện ra với những ngón thon dài nhưng gầy guộc, móng tay cắt ngắn sát thịt sạch sẽ, đầu ngón trỏ và ngón cái dính những vệt mực xanh tím mờ mờ cùng lớp bụi giấy xám bám chặt vào khóe móng. Không có chiếc nhẫn bạc chữ nhật cô tự mua tặng mình ở ngón trỏ, cổ tay gầy guộc trơ xương không hề có vết hằn đỏ quen thuộc của dây cao su đồng hồ thông minh. Bộ quần áo công sở may đo đắt tiền bằng sợi tổng hợp cao cấp đã biến mất; thay vào đó là chiếc áo sơ mi cộc tay bằng vải thô màu hạt dẻ cài cúc nhựa đục xỉn màu và chiếc quần tây đen ống suông rộng thùng thình, chất vải thô ráp cọ sát vào làn da mỏng manh tạo cảm giác ngứa ngáy, khó chịu.

Một luồng gió hầm hập từ đâu thổi luồn qua khe nẹp cửa sổ bằng gỗ lá sách mục nát ở góc tường, mang theo hơi nóng hầm hập của một trưa hè phương Nam cùng tiếng rao lanh lảnh, ngân dài từ một con hẻm sâu hút vọng lại:

*"Ai... xôi vò chè đường đậu đen hôn..."*

Tiếng rao ấy như một nhát búa gõ thẳng vào màng nhĩ cô. Âm thanh mộc mạc, vang vọng trong không gian tĩnh lặng giữa trưa, chân thực và sống động đến mức không một phần mềm giả lập âm thanh, không một bộ phim tư liệu nào của thế kỷ hai mươi mốt có thể tái tạo hoàn hảo được cái hồn cốt ấy. Đó là tiếng thở của một đời sống đô thị cũ xưa, nơi nhịp sống chưa bị bóp nghẹt bởi tiếng còi xe inh ỏi và sóng vô tuyến chằng chịt.

Tuệ Anh vịn tay vào mép một kiện sách dày cộp ngay bên cạnh – cuốn từ điển Pháp - Việt bìa cứng khổ lớn đã long gáy, lộ cả lớp chỉ khâu mục ruỗng – để gượng đứng thẳng dậy. Khớp gối cô run rẩy dữ dội, lảo đảo như người vừa trải qua một trận ốm thập tử nhất sinh. Khoảng không trước mắt cô chao đảo một nhịp dài, bóng tối chực ập xuống rồi mới từ từ ổn định lại.

Ngay cạnh chỗ cô vừa nằm là chân một chiếc cầu thang gỗ dốc đứng, hẹp đến mức chỉ vừa đủ một người nghiêng mình bước lên. Bậc thang bằng gỗ thông đã mòn vẹt ở chính giữa, trũng xuống và nhẵn thó do dấu chân người qua lại suốt bao nhiêu năm tháng.

Một trực giác sắc bén của người làm công tác biên tập – luôn tìm kiếm nguồn gốc và manh mối của văn bản – mách bảo cô rằng phía trên chiếc gác lửng kia là nơi duy nhất chứa đựng câu trả lời cho mớ hỗn độn hoang đường này.

Cô bám chặt lấy tay vịn bằng thanh gỗ tròn thô ráp, cẩn trọng đặt từng bước chân nặng nề lên bậc thang. Gỗ dưới chân kêu lên những tiếng *cọt kẹt... cọt kẹt...* khô khốc, vang vọng rõ mồn một trong không gian tĩnh mịch của căn nhà kho. Càng lên cao, nhiệt độ càng tăng lên rõ rệt. Toàn bộ hơi nóng tích tụ dưới mái tôn mỏng manh phả thẳng vào mặt, vào cổ cô nóng rát khi đỉnh đầu cô vượt qua sàn gác lửng.

Căn gác lửng này thậm chí còn chật chội và thấp hơn cả gian kho bên dưới. Chiều cao từ sàn ván lên đến xà gồ mái tôn chỉ chừng hơn hai mét, người lớn đứng thẳng có cảm giác như mái nhà chực ụp xuống đỉnh đầu. Một tấm nệm bông ép mỏng bọc vải hoa nhí đã bạc màu sợi chỉ đặt ngay góc tường sát sàn ván, chiếc gối bông gòn xẹp lép nằm chơ vơ.

Thế nhưng, chiếm trọn phần lớn không gian gác lửng lại là một chiếc bàn làm việc bằng gỗ gõ cũ kỹ kê sát vách ván phía trước. Mặt bàn dày dặn nhưng đã chịu đựng quá nhiều thăng trầm: bề mặt chi chít những vết mực tím loang lổ đã ngấm sâu vào thớ gỗ, những vệt cắt ngang dọc sắc ngọt của dao rọc giấy, và một khoảng sáng bóng ở góc phải do cổ tay người ngồi tì lên hàng vạn lần.

Tuệ Anh bước chầm chậm lại gần chiếc bàn, từng chuyển động của đôi bàn chân trần trên sàn ván đều rụt rè, cẩn trọng như thể sợ rằng nếu mình bước quá mạnh, ảo ảnh này sẽ vỡ tan và kéo cô chìm sâu hơn vào một cơn ác mộng vĩnh hằng.

Trên mặt bàn ngổn ngang những chồng giấy pơ-lu mỏng manh, ngả màu vàng ngà, vài cây bút máy ngòi mài kim loại sáng bóng cắm trong một chiếc lon sữa đặc rỗng đã được gọt mép cẩn thận. Ở góc bàn bên phải, cạnh một chiếc gạt tàn bằng thủy tinh dày đựng mẩu than đóm đã tàn lụi từ lâu, có một chiếc ví cầm tay bằng vải bố màu chàm sờn rách ở các góc mép.

Bàn tay Tuệ Anh run lên bần bật khi vươn ra. Ngón tay cô chạm vào bề mặt vải bố thô ráp, bụi bặm. Cô cầm chiếc ví lên, kéo then trượt kim loại đã hoen rỉ kêu lên một tiếng *rẹt* khô khốc.

Bên trong ví không có bất kỳ một chiếc thẻ từ ngân hàng nào, không có thẻ căn cước gắn chip điện tử với mã QR quen thuộc. Chỉ có vài tờ tiền giấy cotton mỏng dính, phẳng phiu nhưng đã cũ: hai tờ giấy bạc một nghìn đồng màu tím in hình đàn voi Tây Nguyên kéo gỗ, ba tờ hai nghìn đồng màu hồng nâu in hình xưởng dệt sợi Nam Định, và vài tờ năm trăm đồng màu đỏ gạch. Những tờ tiền mang một niên đại xa xăm mà cô chỉ từng thấy trong bộ sưu tập tiền cổ của ông nội.

Và nằm ép sát ngăn trong cùng là một tấm bìa cứng ép plastic mờ đục, lớp nhựa ép đã bắt đầu bong rộp ở các góc mép.

Đó là một tấm Giấy chứng minh nhân dân.

Tuệ Anh nín thở, ngón tay run rẩy rút tấm thẻ ra đưa lên sát tầm mắt. Dưới vệt sáng vàng vọt lọt qua khe ván hở của vách tường, từng dòng chữ đánh máy cơ học bằng mực đen hiện lên rõ mồn một, sắc nét đến tàn nhẫn:

*Họ và tên: LƯƠNG TUỆ ANH* *Sinh ngày: 14 tháng 10 năm 1970* *Nguyên quán: Thừa Thiên Huế* *Nơi ĐKHK thường trú: Đường Trần Nhân Tôn, Phường 2, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh.*

Bức ảnh chân dung đen trắng dập dấu nổi giáp lai nơi góc trái ghi lại gương mặt một cô gái trẻ chừng hăm sáu tuổi. Tóc cắt ngắn ngang cằm vén gọn sau vành tai, đôi mắt hai mí rõ nét nhưng sâu thẳm và thăm thẳm một nỗi âu lo, bờ môi khép chặt với nét cương nghị phảng phất vẻ u sầu, cô độc.

"Lương Tuệ Anh... sinh năm 1970?"

Tiếng thốt lên nghẹn ngào vỡ vụn trong cổ họng cô. Lồng ngực Tuệ Anh thắt nghẽn lại, từng mạch máu nơi thái dương giật lên thình thịch.

"Mình sinh năm 1997... Mình hai mươi chín tuổi vào năm 2026 cơ mà..."

Nếu người trong bức ảnh này sinh năm 1970, và nhìn dáng vẻ còn trẻ măng thế kia, vậy thì thực tại này... rốt cuộc đang ở vào năm nào?

Ngay dưới đáy chiếc ví vải bố, một bức thư gấp tư bằng giấy kẻ ngang học trò khẽ trượt ra, rơi xuống mặt bàn gỗ. Mép giấy kẻ ô li đã quăn queo, ngả sang màu vàng ố của mồ hôi tay, và những dòng chữ viết bằng mực bút máy màu xanh đen nhòe nhoẹt ở vài chỗ, loang lổ thành những đốm tròn mờ nhạt như thể từng bị những giọt nước mắt nóng hổi rơi trúng khi người viết đang hấp hối.

Tuệ Anh nuốt một ngụm nước bọt cay đắng, cẩn thận mở từng nếp gấp đã sờn rách của bức thư:

*"Tuệ Anh thương của dì,* *Khi con cầm bức thư này, có lẽ dì Lan đã không còn gượng thêm được nữa để cùng con mở cửa tiệm mỗi sớm mai. Bác sĩ ở Chợ Rẫy bảo phổi của dì đã mục cả rồi, thuốc thang đắt đỏ mấy cũng chỉ mua thêm được vài tuần ho ra máu. Dì không tiếc thân mình, chỉ thương con gái mồ côi vừa học xong ra trường đã phải gánh lấy cái nợ trần ai này.*

*Tiệm sách Mộc là tâm huyết cả đời của ông ngoại con, rồi đến tay dì. Dì giữ nó suốt những năm tháng khốn khó nhất, nhưng dì vụng tính, buôn bán không theo kịp người ta, lại hay thương vay khóc mướn cho mấy đứa sinh viên nghèo nên nợ nần chồng chất. Tiệm này, dì trao lại trọn vẹn cho con. Giấy tờ nhà đất không có, chỉ có hợp đồng thuê với bà Tư Lành. Con ráng giữ lấy tiệm nếu còn duyên, bằng không... nếu cùng đường quá, con cứ bán tháo hết đống sách cũ đi lấy tiền dằn túi mà tìm đường sinh sống khác. Đừng vì chấp niệm của người đi trước mà chôn vùi tuổi xuân ở cái góc phố mục nát này.*

*Có mấy bọc sách chuyên khảo quý của ba con để lại ở đáy tủ kho, con nhớ để ý, đừng để mối ăn.* *Dì xin lỗi con nhiều lắm.* *Dì Lương Mộc Lan."*

Lá thư kết thúc bằng một vệt mực kéo dài, run rẩy và đứt đoạn đột ngột, như thể bàn tay người viết đã hoàn toàn buông xuôi, kiệt sức trước khi kịp ký tên một cách trọn vẹn.

Bên cạnh lá thư, nằm ngổn ngang trên mặt bàn gỗ là một xấp biên lai thu chi viết tay dở dang cùng hai cuốn sổ cái bìa cứng bọc vải hoa văn đã sờn gáy. Bằng con mắt nghề nghiệp của một biên tập viên đã quen rà soát từng con số, từng dòng văn bản và cấu trúc bảng biểu phức tạp, Tuệ Anh lập tức nhận ra sự hỗn loạn bất thường trong hệ thống sổ sách này: các cột số liệu doanh thu và chi phí bị gạch xóa chi chít, nham nhở.

Có những khoản tiền ghi bằng mực tím nhạt của một người phụ nữ cẩn thận bị đè lên bởi một nét mực bi xanh thô bạo, nguệch ngoạc. Số tiền nợ mặt bằng và nợ mối sách từ các nhà xe, các vựa ve chai dường như được ghi nhận một cách mâu thuẫn, chồng chéo giữa hai cuốn sổ cái khác nhau đặt hờ hững nơi mép tủ. Tiền vào thì ít ỏi vài ba chục ngàn lẻ tẻ, tiền ra thì toàn những khoản nợ gối đầu khổng lồ không rõ nguồn cơn.

Thế nhưng lúc này, tâm trí cô hoàn toàn không còn chỗ trống cho những phép tính kế toán hay sự nghi vấn về sổ sách.

Tuệ Anh vô tình quay đầu lại và bắt gặp một mảnh gương vỡ hình tam giác được đóng đinh gá tạm vào góc chiếc cột gỗ thông chịu lực của căn gác. Cô bước vội tới, hai tay bám chặt vào thân gỗ xù xì, ghé sát mặt vào mảnh gương.

Hình ảnh phản chiếu trong mặt gương ố vàng, phủ đầy những chấm thủy ngân bị oxy hóa bong tróc là một khuôn mặt hoàn toàn chân thực, sống động và đầy sức sống sinh học. Đúng là ngũ quan quen thuộc của cô – sống mũi thẳng thanh tú, đôi mắt hơi xếch nhẹ nơi khóe mắt tạo nét sắc sảo, vầng trán cao bướng bỉnh – nhưng làn da căng mịn hơn rất nhiều, không có những nếp nhăn li ti nơi đuôi mắt hay bọng thâm quầng do ánh sáng xanh của màn hình máy tính gây ra suốt bảy năm ròng rã cày cuốc trong ngành xuất bản hiện đại. Trẻ hơn gần một thập kỷ.

Thế nhưng, nét mày mỏi mệt, vẻ kiệt quệ từ tận đáy mắt và dáng vẻ của một kẻ luôn phải gánh vác cả thế giới trên vai thì chẳng khác chút nào so với bản thân cô ở tuổi hai mươi chín.

"Không thể nào... Đây là một cơn mê sảng... Mình chỉ đang bị chấn thương sọ não... Mình đang nằm trong phòng cấp cứu của Bệnh viện Chợ Rẫy hay Gia Định..."

Tuệ Anh lẩm bẩm trong sự hoảng loạn tột cùng. Bàn tay cô theo phản xạ tự nhiên của một con người hiện đại thọc sâu vào túi quần tây.

Điện thoại đâu? Chiếc iPhone 15 vỏ titan màu xám của cô đâu? Chiếc đồng hồ thông minh hay rung lên cảnh báo nhịp tim đập nhanh đâu?

Túi quần trống trơn, ngón tay cô chỉ chạm vào lớp lót vải thô mỏng manh dính bụi chỉ và vài hạt cát nhỏ. Cô cuống cuồng lộn tung túi quần, lao lại lục tung mặt bàn làm việc, lật từng xấp giấy kẻ ngang, cúi rạp người bới tung gầm chiếc giường gỗ ọp ẹp.

Không có màn hình phẳng. Không có dây cáp sạc bọc dù. Không có bất kỳ một linh kiện bán dẫn hay vi mạch điện tử nào. Không có tín hiệu mạng Wi-Fi, không có sóng 4G, không có cả một chiếc bóng đèn huỳnh quang tiết kiệm điện thế hệ mới.

Thứ duy nhất đang vận động một cách lạnh lùng trong căn phòng tĩnh mịch này là một chiếc đồng hồ cơ quả lắc bằng gỗ ép rẻ tiền treo trên vách ván thông.

*Tích tắc... tích tắc... tích tắc...*

Tiếng cơ khí kim loại khô khốc gõ từng nhịp buốt giá vào không gian oi ả. Quả lắc bằng đồng xỉn màu đu đưa qua lại đều đặn như một chiếc máy đếm nhịp tàn nhẫn.

Ngay bên dưới chiếc đồng hồ cơ ấy, được treo trang trọng bằng một sợi dây cước cẩu thả, là một tấm lịch bloc treo tường dày cộp in hình cành đào phai đón xuân rực rỡ nhưng đã phủ một lớp bụi mỏng.

Tuệ Anh sững sờ, hai chân như bị đóng đinh cứng ngắc xuống sàn ván gỗ.

Tờ lịch màu trắng viền đỏ của ngày hôm nay ghi rõ con số to bản, đậm nét: **Ngày 18 tháng 5 năm 1996**.

Phía dưới con số ấy là dòng chữ nhỏ ghi ngày âm lịch: *Ngày mùng 2 tháng 4 năm Bính Tý*.

Và ở phần chân bìa các-tông cứng đỡ lốc lịch, một dòng chữ in lưới màu vàng đã hơi tróc vảy: *Nhà sách - Dịch vụ văn hóa Quận 10. Địa chỉ: Đường Trần Nhân Tôn, TP. Hồ Chí Minh.*

Năm 1996.

Ba mươi năm. Cô đã thực sự bị quăng ngược lại đúng ba mươi năm trong dòng chảy vô tận của thời gian.

Cú ngã chí mạng từ chiếc thang trượt trong kho lưu trữ số hóa hiện đại năm 2026 không đưa linh hồn cô vào phòng hồi sức cấp cứu trắng toát mùi thuốc tẩy, mà ném thẳng cô vào thể xác của một cô gái trẻ mang cùng tên họ Lương Tuệ Anh, hai mươi sáu tuổi, giữa lòng một Sài Gòn của những năm chín mươi đầy biến động và phân hóa, trong một tiệm sách cũ mang tên Mộc đang ngắc ngoải bên bờ vực sụp đổ hoàn toàn.

Tuệ Anh vịn chặt hai tay vào mép bàn gỗ gõ, các đầu ngón tay trắng bệch vì dùng lực quá mạnh. Lồng ngực cô phập phồng dữ dội, hơi thở dồn dập và đứt quãng. Cô nhắm nghiền mắt lại, cố hít từng ngụm không khí nóng hầm hập nồng mùi giấy ẩm vào sâu trong phế quản để ép nhịp tim đang đập điên cuồng chậm lại.

Là một biên tập viên văn học dày dạn kinh nghiệm, cô đã từng đọc, từng biên tập không biết bao nhiêu bản thảo tiểu thuyết kỳ ảo, huyền huyễn; từng mổ xẻ vô số mô-típ xuyên không ly kỳ, tái sinh làm lại cuộc đời. Nhưng khi cái lạnh buốt của sự cô độc tuyệt đối và mùi ẩm mốc chân thực của thực tại này bóp nghẹt lấy cuống họng, chẳng có bất kỳ sự lãng mạn, thi vị hay kỳ thú nào cả.

Chỉ có nỗi kinh hoàng trần trụi, lạnh lẽo của một kẻ bỗng chốc bị tước đoạt toàn bộ trật tự cuộc sống quen thuộc, bị tước bỏ mọi công cụ sinh tồn hiện đại, bị bỏ rơi trơ trọi giữa một thời đại không internet, không cơ sở dữ liệu số, không mạng lưới liên lạc, không một bóng người thân thích.

Đúng lúc cơn hoảng loạn đang dâng lên đỉnh điểm, từ tầng trệt phía trước tiệm sách, một chuỗi âm thanh kim loại va đập dữ dội vang lên xé toạc bầu không khí ngột ngạt của buổi trưa hè.

*RẦM! RẦM! RẦM!*

Tiếng đập chát chúa, thô bạo vào cánh cửa sắt kéo vang dội khắp gian nhà:

"Con Tuệ Anh! Mở cửa ra mau! Đừng có trốn trong đó giả chết nghen!"

Cú đập long trời lở đất khiến toàn bộ căn gác lửng rung lên bần bật. Những hạt bụi mịn từ các thanh ván ghép trên trần rơi lả tả xuống mái tóc ngắn và vai áo cô.

Tuệ Anh giật bắn mình, tim nhảy thót lên tận cuống họng. Bản năng tự vệ trỗi dậy, cô gượng đứng thẳng dậy, đôi chân vẫn còn hơi run rẩy nhưng các giác quan đã bắt đầu căng ra như dây đàn. Cô lần theo lối cầu thang gỗ dốc đứng, từng bước thận trọng bước vội xuống tầng trệt.

Gian nhà phía trước là khu vực buôn bán chính của tiệm sách Mộc. Nơi này sáng sủa hơn gian kho ẩm thấp phía sau nhờ những vệt nắng gắt lọt qua các khe hở của cánh cửa sắt kéo xếp đang đóng kín mít.

Hai dãy kệ sách bằng gỗ thông tự đóng chạy dọc hai bên bức tường quét vôi vàng đã bong tróc từng mảng lớn, cao ngút lên tận trần nhà. Nhưng đập vào mắt Tuệ Anh là một khung cảnh tiêu điều, hoang phế: phần lớn sách trên các tầng kệ đều bám một lớp bụi dày xám xịt, chứng tỏ đã rất lâu không có bàn tay người lau dọn hay lật giở.

Sách vở được sắp xếp một cách vô cùng lộn xộn, hỗn tạp, hoàn toàn không tuân theo bất kỳ một quy tắc phân loại thư viện hay khoa học biên mục nào: những cuốn tiểu thuyết diễm tình Quỳnh Dao, tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung bìa mỏng dính nằm chen chúc cạnh các công trình chuyên khảo triết học, văn học dịch thuật xuất bản ở Sài Gòn trước năm 1975; những bộ từ điển kỹ thuật cơ khí, nông nghiệp in bằng giấy rơm vàng khè của Liên Xô nhét chung ngăn với mấy tập truyện tranh dán keo gáy nham nhở, rách góc của trẻ con.

Mùi giấy mục, mùi mực in hóa chất cũ kỹ ở gian nhà trước này hòa lẫn với mùi dầu hỏa nồng nặc bốc lên từ chiếc bếp đun đặt ở góc chân cầu thang, tạo nên một thứ bầu không khí ngột ngạt, bức bối đến khó thở.

Tuệ Anh bước lại gần cánh cửa sắt. Qua khe hở rộng chừng một gang tay giữa hai thanh sắt xếp sơn màu xanh lam đã tróc rỉ, cô nhìn thấy mặt đường Trần Nhân Tôn ngập tràn ánh nắng chói chang, gay gắt của một buổi trưa Sài Gòn tháng Năm. Mặt đường nhựa bốc lên những làn hơi nóng hâm hấp làm biến dạng cảnh vật từ xa.

Đường phố không có những chiếc xe hơi bóng loáng chạy bằng điện hay xe tay ga đắt tiền. Thỉnh thoảng chỉ có vài chiếc xe đạp sườn ngang Phượng Hoàng cũ kỹ, những chiếc xe máy Honda Cub 50, Cub 78 nhả ra từng làn khói xanh mờ mờ với tiếng nổ *bạch bạch* giòn tan, và tiếng chuông xe đạp *kính coong... kính coong...* vang lên từ tốn, thong dong giữa lòng phố thị.

Ngay sát mái hiên tôn gỉ sét của tiệm Mộc, một bóng người gầy gò đang đứng tần ngần dưới bóng râm còi cọc của cây bàng bên mép đường.

Đó là một chàng thanh niên trạc tuổi cô, dáng người dong dỏng cao nhưng bờ vai gầy guộc hơi so lại. Cậu ta mặc một chiếc áo sơ mi cộc tay màu xanh công nhân đã bạc phếch hai bên vai vì nắng gió, vạt áo bỏ ngoài chiếc quần tây sờn gấu. Trên lưng cậu khoác một chiếc ba lô may bằng vải bạt quân đội cũ kỹ, nặng trĩu những vật dụng gì đó vuông vức bên trong khiến quai đeo hằn sâu vào bờ vai áo mỏng.

Ánh mắt chàng thanh niên chăm chú, khát khao dán chặt vào kệ sách chuyên khảo kiến trúc và xây dựng đặt ngay sát ô cửa kính bám bụi mờ của tiệm Mộc. Cậu ta đứng đó, đôi bàn tay gầy guộc nắm chặt lấy quai ba lô, ngón tay siết lại rồi buông ra, vẻ ngập ngừng hiện rõ trên khuôn mặt sạm nắng. Cậu dường như rất muốn bước tới gõ cửa để hỏi mua hay xin mượn đọc một cuốn sách nào đó trong tủ kính, nhưng sự rụt rè và vẻ tự ti của một kẻ thiếu thốn tiền bạc lại níu giữ bước chân cậu lại bên mép vỉa hè.

Thế nhưng, khoảnh khắc ngập ngừng lặng lẽ của người thanh niên nhanh chóng bị xé nát vụn bởi một bóng đen đẫy đà khác đang hùng hổ bước tới từ đầu con phố.

"Tránh ra cho người ta làm việc coi cậu kia! Đứng lấp ló trước cửa nhà người ta tính chôm chỉa hả?"

Một giọng đàn bà the the, sắc lẹm như dao cạo vang lên chói tai. Chàng thanh niên giật nảy mình, vội vàng cúi gằm mặt lùi lại vài bước. Cậu ái ngại nhìn người đàn bà vừa xuất hiện rồi lặng lẽ bước dạt hẳn sang một bên cột điện dưới hiên nhà đối diện, nhưng ánh mắt luyến lưu vẫn chưa chịu rời khỏi tủ sách sau khung kính.

*RẦM! RẦM!*

"Con Tuệ Anh! Mày có mở cửa không thì bảo? Tao biết thừa mày đang ở trong nhà! Dì mày chết rồi thì mày phải đứng ra chịu trách nhiệm, đừng có hòng giở trò trốn chui trốn nhủi với bà Tư Lành này!"

Tiếng đập cửa kim loại tiếp tục giáng xuống như sấm sét.

Tuệ Anh hít một hơi thật sâu, nén chặt cơn run rẩy đang truyền từ đầu gối lên sống lưng. Dù chưa từng đối mặt trực tiếp với người phụ nữ này, nhưng qua những dòng chữ trăn trối run rẩy của dì Mộc Lan và xấp biên lai thu chi hỗn loạn trên gác lửng, cô biết rõ người đang đứng bên ngoài là ai.

Chủ nhà. Chủ nợ lớn nhất đang nắm giữ quyền sinh sát tối thượng đối với số phận của tiệm sách Mộc.

Cô bước sát tới mép cửa, hai bàn tay mảnh dẻ luồn qua khe sắt để chạm vào then cài kim loại to bản. Then cài đã rỉ sét nặng nề, bị kẹt cứng bởi lớp bụi sắt và cát bám lâu ngày. Tuệ Anh phải nghiến chặt răng, dùng toàn bộ sức lực của cơ thể dồn vào hai cánh tay giật mạnh một cái.

*Két... rắc!*

Chốt sắt bật ra với một âm thanh chói tai. Tuệ Anh dồn lực kéo mạnh hai cánh cửa xếp trượt sang hai bên. Bánh xe rỉ sét nghiến trên rãnh trượt kêu lên những tiếng *ràn rạt* khô khốc.

Ánh nắng trưa gay gắt ập thẳng vào mặt khiến Tuệ Anh phải khẽ nheo mắt lại.

Đứng sừng sững ngay trước thềm cửa là một người phụ nữ trạc ngoài năm mươi tuổi. Bà Tư Lành có vóc người đậm đà, phốp pháp, gương mặt vuông chữ điền với đôi gò má cao đanh thép và khóe môi trễ xuống tạo nên một nét khắc nghiệt, cay nghiệt thường trực. Bà diện một bộ đồ bộ may bằng vải lụa phi bóng in hoa văn sặc sỡ màu cánh sen, mái tóc uốn lọn xoăn tít nhuộm đen nhánh nhưng phần chân tóc sát da đầu đã lấm tấm những sợi hoa râm.

Dưới nách bà kẹp chặt một cuốn sổ cái bìa cứng bọc da giả màu đỏ mận to bản, trên cổ tay tròn lẳn đeo chiếc lắc vàng 24K dày cộp phát ra những tiếng *lách cách... lách cách* theo từng cử động dứt khoát.

Đôi mắt một mí sắc như dao cau của bà Tư Lành quét một lượt từ đỉnh đầu xuống tận gót chân Tuệ Anh, dừng lại thật lâu nơi gương mặt nhợt nhạt và bờ môi tái mét vì kiệt sức của cô.

"Tưởng mày trúng gió chết ngắt trong xó kho rồi chứ!" Bà Tư Lành lạnh lùng cất giọng, hoàn toàn không buồn chào hỏi lấy nửa lời đãi bôi. "Mặt trời lên tới đỉnh đầu, người ta buôn bán sắp đóng cửa nghỉ trưa rồi mày mới chịu mở cái cửa tiệm rách này ra hả? Hay tính giở trò ve sầu thoát xác, gom sách quý tẩu tán trốn nợ bà đây?"

"Cháu... cháu vừa mới dọn dẹp lại kho sách phía sau." Tuệ Anh cố gắng giữ cho giọng mình thật bình thản, dù mười đầu ngón tay giấu sau tà áo thô đang bấu chặt vào nhau đến mức lòng bàn tay rớm máu. "Bà Tư tìm cháu có việc gì không ạ?"

"Hỏi thừa!" Bà Tư Lành cười khẩy một tiếng giòn tan đầy mỉa mai, ngón tay trỏ đeo chiếc nhẫn vàng to bản cẩn đá đỏ gõ côm cốp lên bìa cuốn sổ kẹp dưới nách. "Tao tới đây tìm mày làm gì ngoài chuyện tiền bạc? Dì Mộc Lan của mày nằm xuống ở bệnh viện tuần trước, tao cũng có tình có nghĩa tới tận nơi thắp cho bả một nén nhang, không thèm đòi nợ ngay lúc tang gia bối rối để thiên hạ người ta khỏi chửi vào mặt tao là thất đức. Nhưng nay mồ bả xanh cỏ rồi, việc nào phải ra việc đó chứ con ranh!"

Không đợi Tuệ Anh kịp mở lời mời, bà Tư Lành đã hùng hổ bước xộc thẳng vào trong tiệm. Đôi guốc gỗ mộc sơn đỏ của bà gõ *lộc cộc... lộc cộc...* vang dội trên nền gạch bông cổ điển, tiếng động khô khốc va đập vào những vách tường chất đầy sách cũ tạo nên những tiếng vọng chói tai.

Ánh mắt khinh khỉnh, sắc lẹm của bà Tư lướt qua những kệ sách bám bụi dày cộp, dừng lại ở những chồng báo cũ và tạp chí ố vàng chất đống ngổn ngang dưới chân quầy thu ngân. Bà đưa một ngón tay quẹt ngang một đường dài trên mặt bàn gỗ của quầy tính tiền, nhìn đầu ngón tay dính một vệt bụi đen sì, bết dính rồi nhăn tít sống mũi lại. Bà rút phắt chiếc khăn tay mùi-xoa cài nơi ngực áo ra, chùi ngón tay lia lịa với vẻ ghê tởm tột cùng như thể vừa chạm phải một thứ xú uế.

"Mày nhìn cái tiệm này coi! Có ra cái thể thống gì không?"

Bà Tư Lành quay phắt người lại, ngón tay đeo nhẫn vàng chỉ thẳng vào mặt Tuệ Anh, giọng the thé cất cao như muốn cho cả con phố Trần Nhân Tôn cùng nghe thấy:

"Dì Mộc Lan của mày sống thì đạo đức, lương thiện đó, nhưng làm ăn thì như một đứa con nít lên ba! Cả đời ôm ba cái đống giấy lộn này rồi nợ nần ngập đầu ngập cổ. Căn nhà này là tài sản mồ hôi nước mắt của cả đời tao, nằm ngay mặt tiền đường Trần Nhân Tôn sầm uất bậc nhất cái khu buôn bán này! Người ta xếp hàng hỏi thuê để mở tiệm sửa xe gắn máy, mở tiệm bán đồ điện máy trả giá gấp rưỡi mà tao còn chưa thèm gật đầu! Dì mày cứ khất lần khất lữa, tao vì chỗ quen biết từ thời xửa thời xưa mới nể tình cho nợ dây dưa!"

Bà Tư Lành lật phắt cuốn sổ bìa da giả màu đỏ mận ra. Từng trang giấy kẻ ngang hiện lên chi chít những dòng chữ viết bằng mực đỏ sắc nhọn. Ngón tay thô ráp của bà di chuyển trên các con số, dừng lại ở dòng cuối cùng:

"Tính đến bữa nay là tròn ba tháng tiền nhà! Mỗi tháng một triệu hai trăm ngàn, ba tháng là ba triệu sáu! Chưa kể tiền điện thắp sáng, tiền nước máy tụi mày xài mấy tháng qua chưa thanh toán cho nhà nước một cắc nào! Mày tính sao đây con Tuệ Anh? Mày định trả tiền mặt hay tính quỵt nợ của tao?"

Ba triệu sáu trăm ngàn đồng.

Con số ấy vang lên giữa không gian ngột ngạt như một tiếng sét đánh ngang tai.

Trong tâm thức của một người phụ nữ bước ra từ năm 2026, ba triệu sáu trăm ngàn đồng chỉ tương đương với một bữa ăn tối tươm tất ở nhà hàng trung lưu, hay nửa tháng tiền điện sinh hoạt cho căn hộ chung cư hai phòng ngủ. Nhưng qua những ký ức lịch sử kinh tế mà cô từng biên tập, và qua chính những tờ tiền cotton mệnh giá một nghìn, hai nghìn đồng ít ỏi nằm trong chiếc ví vải bố trên gác lửng, Tuệ Anh hiểu rõ ràng một sự thật tàn khốc: vào năm 1996, ba triệu sáu trăm ngàn đồng là một gia tài khổng lồ đối với một tiệm sách cũ nghèo nàn.

Nó tương đương với hơn bảy chỉ vàng ròng. Nó bằng cả năm tiền lương cật lực của một công chức nhà nước bình thường.

Cô đưa mắt nhìn về phía quầy thu ngân trống rỗng, nơi chiếc ngăn kéo gỗ ọp ẹp đang hé mở, chỉ còn sót lại vài cuộn chỉ gai buộc sách và một chiếc hộp sắt đựng ghim bấm đã hoen rỉ. Toàn bộ gia tài tiền mặt cô đang nắm giữ trong tay lúc này, cộng cả tiền xu và tiền giấy vụn, chưa đầy hai mươi ngàn đồng – thậm chí không đủ để mua một bữa cơm đàng hoàng cho vài ngày tới.

"Bà Tư..."

Tuệ Anh hít một hơi thật sâu, ép mình phải vận dụng toàn bộ bản lĩnh, kỹ năng đàm phán và sự lạnh lùng của một biên tập viên trưởng từng đối mặt với hàng chục vụ tranh chấp bản quyền và những đối tác in ấn khét tiếng khó tính ở thời hiện đại. Cô nhìn thẳng vào bà Tư Lành, cố giữ cho giọng nói của mình không bị cuốn theo cơn cuồng nộ của đối phương:

"Chuyện tiền nhà cháu biết là dì cháu đang nợ bà. Dì cháu vừa mới qua đời, mọi thứ trong tiệm còn ngổn ngang quá. Bà cho cháu thư thả vài hôm để cháu kiểm kê lại toàn bộ sách vở trong kho, cháu sẽ tìm cách xoay xở gửi bà trước một phần..."

"Thư thả? Vài hôm?"

Bà Tư Lành ngắt lời cô bằng một tràng cười khanh khách đầy cay nghiệt. Đôi mắt một mí quắc lên, tia nhìn sắc bén như muốn lột trần sự bất lực của cô gái trẻ:

"Mày tưởng tao là tượng Phật Bồ Tát cứu khổ cứu nạn chắc? Mày nhìn cái đống của nợ này xem!"

Bà Tư vung cuốn sổ cái trong tay, chỉ thẳng về phía gian kho sau ngập ngụa những thùng các-tông rách rưới – nơi Tuệ Anh vừa mới tỉnh lại:

"Sách với chả vở! Toàn là giấy mục, chuột khoét gián gặm bẩn thỉu, đem bán cho mấy bà ve chai ve chai cân ký họa may được vài chục ngàn bạc lẻ! Thời buổi này là thời buổi kinh tế thị trường, người ta ra nhà sách lớn của quốc doanh mua sách mới tinh, giấy trắng bóc thơm phức, ai thèm chui vô cái hốc ẩm mốc tối tăm này của tụi mày mà mua ba cái mớ lý thuyết cổ lỗ sĩ? Sự kiên nhẫn của bà Tư này dành cho con Mộc Lan đã cạn sạch sành sanh từ cái ngày nó nhắm mắt xuôi tay ở Chợ Rẫy rồi! Mày không phải người nhà tao, tao không có trách nhiệm phải nuôi báo cô mày ngày nào hết!"

Bà Tư Lành bước sấn tới một bước lớn, chiếc lắc vàng trên cổ tay va đập leng keng dữ dội. Cuốn sổ da giả trong tay bà vỗ mạnh vào lòng bàn tay kêu lên một tiếng *bốp* đanh gọn và tàn nhẫn:

"Tao nói cho mày biết đường mà liệu: nếu không có tiền mặt trả dứt điểm nợ cũ, thì dọn sạch ba cái đống rác này đi ngay trong ngày hôm nay! Đừng có ở đây mà làm bẩn căn nhà của tao!"

Bầu không khí bên trong tiệm sách Mộc như đông cứng lại thành băng. Hơi nóng hầm hập từ mặt đường Trần Nhân Tôn phả vào rát bỏng, nhưng dọc sống lưng Tuệ Anh, một luồng khí lạnh buốt đang từ từ bò lên.

Cô đứng trơ trọi giữa một không gian hoang tàn, bụi bặm ngập tràn mùi mục rữa của giấy cũ.

Không có điện thoại thông minh để bấm một cuộc gọi khẩn cấp cho người thân hay bạn bè. Không có ứng dụng ngân hàng số để thực hiện một lệnh chuyển khoản tức thời. Không có bất kỳ một sự bảo hộ pháp lý hiện đại nào của thế kỷ hai mươi mốt che chở cho cô. Cô hoàn toàn đơn độc, trần trụi giữa một thế giới xa lạ mà cô mới chỉ đặt chân đến chưa đầy một giờ đồng hồ.

Thế nhưng, từ sâu thẳm trong tiềm thức của một con người đã dành trọn cả cuộc đời để làm việc với văn tự, với tri thức nhân loại; khi ánh mắt cô lướt qua những gáy sách cũ kỹ, gãy nát đang nằm im lìm dưới lớp bụi dày trên các tầng kệ – những ấn bản văn học quý giá từ trước năm 1975, những công trình khảo cứu dân tộc học, ngôn ngữ học vô giá mà người đời nay gọi là "giấy lộn" – một ngọn lửa bướng bỉnh, ngạo nghễ bỗng bùng cháy dữ dội trong lồng ngực Tuệ Anh.

Cô không thể để nơi này biến mất.

Tiệm sách Mộc này không chỉ là di vật trăn trối của một người dì xa lạ vừa qua đời, mà nó là sợi dây neo duy nhất của cô với thực tại năm 1996 này. Nó là nơi chốn duy nhất có thể che chở, bảo bọc cho cô trong những ngày tháng mông lung sắp tới. Nếu mất đi căn nhà này, cô sẽ thực sự trở thành một kẻ vô gia cư trôi dạt giữa một thời đại mà cô chưa kịp thích nghi.

Tuệ Anh từ từ ngẩng cao đầu. Ánh mắt cô không còn vẻ bàng hoàng, hoảng loạn hay sợ sệt của kẻ vừa tỉnh dậy sau một cơn chấn thương. Đôi mắt hai mí sâu thẳm nhìn thẳng vào đôi mắt sắc lẹm, hung dữ của bà chủ nhà. Giọng nói của cô cất lên, không còn run rẩy mà đanh lại, vững vàng, khúc chiết một cách lạ kỳ:

"Bà Tư, cháu không trốn nợ. Toàn bộ sách trong tiệm này là tài sản thật, là tri thức có giá trị, không phải rác. Cháu xin bà đúng bảy ngày."

Bà Tư Lành khựng lại một nhịp. Nét mặt đanh ác của bà thoáng chốc sững sờ trước sự thay đổi đột ngột đến khó hiểu trong thần thái của cô gái trẻ đối diện. Con bé Lương Tuệ Anh nhút nhát, yếu ớt ngày nào luôn nép sau lưng dì Mộc Lan, hễ thấy người lạ cất tiếng lớn là run rẩy như cầy sấy dường như vừa biến mất không còn một dấu vết.

Thay vào đó, kẻ đang đứng trước mặt bà lúc này toát ra một thứ uy quyền điềm tĩnh, một ánh nhìn sắc sảo và kiên định đến mức khiến một chủ nợ lão luyện, lọc lõi nơi phố thị như bà cũng phải có một thoáng chột dạ nơi đáy lòng.

Thế nhưng, vẻ đanh thép và sự tàn nhẫn của một kẻ nắm đằng chuôi lập tức lấy lại ưu thế trên khuôn mặt bà Tư Lành. Bà nhếch mép cười gằn, ngón tay đeo nhẫn vàng chỉ thẳng vào đống thùng các-tông ngổn ngang giữa nhà, cất giọng lạnh lùng như một bản án:

"Bảy ngày? Được! Tao cho mày đúng bảy ngày! Đến trưa ngày thứ bảy, nếu mày không gom đủ ít nhất một triệu tiền cọc để trả bớt phần nợ cũ và chứng minh mày có tiền đóng tiếp tháng sau..."

Bà Tư Lành dừng lại, nheo mắt nhìn thẳng vào mặt Tuệ Anh, buông từng tiếng rành rọt:

"...thì đừng trách tao ác. Tao sẽ đem ổ khóa xích sắt tới xích chặt cái cửa tiệm Mộc này lại, rồi quăng toàn bộ cái đống giấy lộn của tụi mày ra giữa đường Trần Nhân Tôn cho xe rác dọn!"

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn