Trọng Sinh Năm 2008C.38 / 48
Chương 38

Thẩm định dưới kính hiển vi

Bàn làm việc tại văn phòng Chùa Bộc chật kín các tệp chứng từ thu chi, phiếu xuất kho và biên bản đối soát bưu điện suốt hai năm qua.

Không gian hai mươi lăm mét vuông của Công ty TNHH Dịch vụ Số Minh Anh vào những ngày cuối tháng Ba năm 2012 chưa từng đặc quánh bầu không khí căng thẳng đến thế. Mùi giấy in nhiệt ẩm xỉn, mùi mực photocopy nồng hắc quyện chặt vào làn gió xuân nồm ẩm luồn qua khe cửa sổ hé mở, bốc lên thứ phong vị ngai ngái quen thuộc của những góc làm việc cày cuốc thâu đêm. Hơi nước đọng lấm tấm trên mặt kính khung nhôm, biến khung cảnh phố xá Chùa Bộc bên ngoài thành một mảng màu xám mờ đục. Tiếng chiếc quạt trần cũ kỹ chao đảo quay đều đều trên trần nhà bong tróc từng mảng vôi vữa thỉnh thoảng lại bị lấn át bởi chuỗi âm thanh lách cách khô khốc, dồn dập từ những chiếc máy tính bấm tay Casio mười hai số.

Ngồi ở chiếc bàn họp ghép tạm từ hai bàn làm việc chân sắt sơn tĩnh điện đã trầy xước, hai trợ lý kiểm toán trẻ tuổi do Lương Ngọc Mai đưa tới đang cặm cụi làm việc không một tiếng cười đùa. Họ mặc áo sơ mi sẫm màu là phẳng phếch, đeo kính gọng kim loại sáng loáng, ngón tay thoăn thoắt lật giở từng trang chứng từ có bấm kim bấm đã ngả màu gỉ sét. Từng tập giấy than xanh lè, từng liên hai biên lai giao nhận mỏng dính úa vàng đều được trải phẳng dưới ánh đèn tuýp trắng nhờ nhờ. Bên cạnh mỗi người là một xấp bút chì gỗ gọt nhọn hoắt nằm ngay ngắn trong khay nhựa, một chiếc thước kẻ kim loại sáng bóng dùng để dóng từng dòng bảng kê, và hai cây bút dạ quang luôn mở sẵn nắp: màu vàng dành cho các số liệu khớp lệnh hoàn toàn giữa sổ sách nội bộ và chứng từ gốc, màu hồng chói gắt dành cho những điểm nghi vấn, những khoản chi phí thiếu hóa đơn tài chính hợp lệ hoặc những con số chênh lệch đòi hỏi người phụ trách phải giải trình rành mạch bằng văn bản.

“Mục chi cước chuyển phát nhanh EMS đợt mười hai tháng Giêng năm 2012,” một trợ lý tên Quân ngẩng đầu lên, giọng khô khốc không chút biểu cảm, ngón trỏ đè chặt lên một dòng số liệu trên bản in vi tính khổ A4. “Phiếu xuất kho Nam Từ Liêm ghi xuất bốn mươi hai bộ nồi anodize năm đáy cho khách hàng tuyến Nam Định, Thái Bình. Nhưng bảng kê đối soát tiền mặt thu hộ từ bưu cục trung tâm Cầu Giấy nộp về chỉ ghi nhận ba mươi chín đơn thành công, ba đơn hoàn trả. Trong ba đơn hoàn trả đó, chỉ có hai bộ nồi quay về nhập lại kho Mễ Trì có chữ ký xác nhận của anh Mạnh Hùng. Bộ còn lại đâu?”

Quân dừng lại, ánh mắt sau tròng kính cận phóng thẳng vào Kiều Trang, lạnh lùng như một mũi dùi thử độ bền kim loại.

Kiều Trang ngồi ngay cạnh mép bàn, mái tóc buộc gọn sau gáy để lộ vầng trán thanh tú đẫm mồ hôi li ti dưới cái ngột ngạt của tiết trời nồm. Bất chấp áp lực nghẹt thở đã kéo dài suốt tám tiếng đồng hồ liên tục, cô không hề bối rối. Bàn tay nhỏ nhắn nhưng chuẩn xác của cô bình tĩnh kéo cuốn sổ cái đóng bìa cứng màu xanh lá đậm — cuốn sổ mà cô đã thức trắng hai đêm trước để rà soát từng dòng bút toán. Trang lật thoăn thoắt, ngón tay dừng lại đúng trang được đánh dấu bằng một mẩu giấy nhớ màu vàng dạ quang.

“Ngày mười tám tháng Giêng, khách nhận tại Tiền Hải từ chối nhận hàng do va đập méo quai nồi trong quá trình bưu tá chuyển phát bằng xe máy trên đường đê trơn trượt,” Trang cất giọng nhẹ nhàng, rành rọt từng âm tiết. “Bưu cục phát lập biên bản hư hại hiện trường số 08/BB-TH ngay tại thời điểm khách từ chối, có chữ ký của người nhận và xác nhận của kiểm soát viên bưu tá bưu điện huyện. Hàng hỏng vật lý không đủ điều kiện nhập lại kho thương mại nên đã được chuyển thẳng sang danh mục hồ sơ bồi hoàn bảo hiểm vận chuyển của bưu điện, trị giá ba trăm hai mươi nghìn đồng theo giá vốn ghi nhận trên hóa đơn xuất xưởng.”

Cô chìa tờ biên bản ba liên ố vàng, mép giấy quăn queo vì dính nước mưa, cùng bản sao kê tài khoản ngân hàng Vietcombank có dòng gạch chân bằng bút bi đỏ:

“Bút toán bồi hoàn được phía bưu điện bù trừ trực tiếp vào kỳ thanh toán cước tập trung ngày mùng năm tháng Hai, mã giao dịch VCB-4491. Số tiền thực nhận sau bù trừ đã được khớp vào mục thu nhập khác của tháng Hai, không treo trên tài khoản công nợ tạm ứng.”

Trợ lý Quân cúi rạp người xuống mặt bàn. Cậu ta dùng mép thước kẻ kim loại dóng từng con số, soi kỹ con dấu tròn mờ màu mực đỏ bầm của bưu cục huyện miền biển, rồi đối chiếu chéo sang dãy ký tự mã giao dịch trên bản sao kê điện tử có dấu mộc tròn của ngân hàng. Một cái thở hắt khẽ khàng thoát ra qua kẽ răng. Quân gật đầu một cái cụt lủn, đặt cây bút dạ quang màu hồng xuống và nhấc cây bút màu vàng lên, vạch một đường thẳng tắp, dứt khoát qua dòng số liệu đang bị nghi vấn. Dòng mực vàng rực lên, khép lại một dấu hỏi nhỏ trong hàng trăm dấu hỏi khác đang giăng kín căn phòng.

Ở phía đối diện, Đức Anh tựa lưng vào mép tủ tài liệu bằng gỗ ép dán đề-can giả vân sồi, hai tay khoanh trước ngực, im lặng quan sát từng chuyển động nhỏ nhất.

Kiểm toán tài chính của một nhà đầu tư chuyên nghiệp hóa ra lại là một trải nghiệm trần trụi đến mức tàn nhẫn. Nó khác xa những buổi nói chuyện hào hứng về tầm nhìn, về cuộc cách mạng thương mại điện tử trên nền tảng di động hay viễn cảnh dòng người mua sắm bằng điện thoại phổ thông mà anh từng thuyết trình. Nó giống như việc đem toàn bộ xương thịt, gan ruột của một đứa trẻ mới chập chững tập đi đặt trần trụi dưới kính hiển vi quang học công suất lớn để săm soi từng tế bào, từng vết xước li ti chưa kịp kéo da non.

Suốt hai ngày ròng rã vừa qua, đội ngũ của Mai đã lật tung từng xấp hóa đơn bán lẻ mua băng dính dán thùng ở chợ Hôm, từng mảnh giấy xé vội ghi tiền công xe ôm chở từng bao tải xoong nồi từ bến xe Giáp Bát về kho trung chuyển Mễ Trì, đối chiếu chi li từng đồng bạc lẻ tiền mặt thu về qua hệ thống bưu cục với lượng hàng thực tế xuất khỏi kho Nam Từ Liêm.

Một công ty khởi nghiệp vốn hình thành từ căn phòng trọ sinh viên chật chội ở ngõ nhỏ Khương Thượng, lớn lên bằng những thỏa thuận miệng qua cốc trà đá vỉa hè, bằng những niềm tin vô điều kiện và sự liều lĩnh của những người bạn thân thiết, nay buộc phải giải trình về từng đồng tiền chênh lệch năm mươi nghìn, một trăm nghìn. Những thói quen ghi chép gộp cho nhanh để kịp gửi hàng chuyến xe cuối ngày, những khoản chi tạm ứng bằng tiền túi cá nhân của sáng lập viên rồi tiện tay bù trừ vào doanh số bán hàng tháng sau — vốn là chuyện thường tình, thậm chí là lẽ sống còn của các nhóm kinh doanh nhỏ lẻ nơi góc phố — khi phơi bày ra trước mặt những kiểm toán viên chuyên nghiệp đều lập tức bị quy vào những cụm từ lạnh buốt: “thiếu kiểm soát nội bộ”, “rủi ro biển thủ”, “sai phạm trọng yếu trong quản trị tiền mặt”.

Chiếc ghế xoay bọc nỉ ở đầu bàn khẽ cọt kẹt khi Lương Ngọc Mai khép tập hồ sơ thẩm định dày cộp lại.

Mai không dùng bút dạ quang để bôi màu lên những con số như cấp dưới. Cô chỉ dùng duy nhất một cây bút máy ngòi nhỏ mạ vàng, ngòi bút bơm thứ mực xanh đen trang nhã, bên cạnh là một cuốn sổ tay bìa da Ý màu hạt dẻ đã sờn bóng ở các góc cạnh. Khác với vẻ mặt căng thẳng lộ rõ sự mệt mỏi của hai cậu trợ lý trẻ, thần thái của Mai toát lên sự điềm tĩnh sắc lẹm của một người đã từng kinh qua hàng trăm vòng thẩm định vốn lớn, từng bóc tách những báo cáo tài chính tinh vi của những tập đoàn quốc doanh trước khi ngồi vào chiếc ghế đối diện này.

Ánh mắt cô quét một vòng qua căn phòng hai mươi lăm mét vuông bừa bộn, lướt qua xấp bảng biểu dày cộm đang nằm ngổn ngang rồi dừng lại chuẩn xác trên khuôn mặt của Đức Anh.

“Bỏ qua các sai sót kỹ thuật về hạch toán chi phí lặt vặt mà Trang đã giải trình khá tốt,” Mai cất tiếng, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch nặng nề đang đè nặng lên các góc phòng. Giọng cô không lớn, nhưng từng âm vang đều đặn, đanh thép và không để lại một khoảng trống nào cho sự lảng tránh. “Bây giờ chúng ta nói về vấn đề cốt lõi nhất nằm ở năng lực điều hành của CEO. Mời Đức Anh ngồi xuống đây.”

Đức Anh hít một hơi sâu, luồng không khí nồm ẩm lành lạnh lấp đầy lồng ngực. Anh bước tới, kéo chiếc ghế gỗ mộc đối diện với Mai, ngồi xuống với tư thế thẳng lưng.

Mai không vội nói ngay. Cô rút từ trong chiếc cặp da công sở một tờ biểu đồ đường gấp khúc vẽ tay trên giấy kẻ ô ly khổ A3, miết phẳng nếp gấp rồi đặt ngay ngắn ngay trước mặt anh. Đường nét mực đen thể hiện sản lượng nhập hàng qua từng tháng từ các xưởng cơ khí, đúc nhôm thủ công tại Ý Yên; còn đường nét đứt màu đỏ chạy song song phía dưới thể hiện sản lượng tiêu thụ thực tế qua hệ thống web di động và các đơn hàng COD chuyển qua bưu cục.

“Nhìn vào đây đi,” đầu ngón tay thon thả với móng tay cắt tỉa gọn gàng của Mai gõ nhẹ lên một đỉnh nhọn hoắt, nhô cao bất thường của đường nét đen vào giai đoạn tháng Mười một năm 2011. “Tháng Mười một năm ngoái, ngay trước đợt rét đầu đông, anh ký duyệt nhập về kho Nam Từ Liêm bốn trăm chiếc chảo chống dính sâu lòng và hai trăm bộ nồi anodize loại lớn. Tổng vốn nhập hàng của riêng đợt đó lên tới gần tám mươi triệu đồng tiền mặt. Nó ngốn sạch toàn bộ lợi nhuận lũy kế chưa phân phối của quý ba, vét cạn quỹ dự phòng rủi ro và buộc công ty phải dùng đến hạn mức tín dụng lưu động cá nhân với lãi suất phạt trả chậm.”

Mai ngước mắt lên, đôi mắt đen láy thăm thẳm nhìn xoáy thẳng vào tâm can Đức Anh, như thể muốn bóc trần từng suy nghĩ sâu kín nhất của anh ra ánh sáng:

“Tại sao lại nhập một khối lượng hàng khổng lồ như vậy vào đúng thời điểm đó? Lúc đó, dữ liệu bán hàng ba tháng liền kề trước đó cho thấy sức mua đồ gia dụng nhôm đúc chỉ tăng trưởng bình quân bốn phần trăm mỗi tháng. Trên cơ sở mô hình dự báo nào mà anh dám ký lệnh nâng lượng tồn kho lên gấp hai phẩy năm lần mức luân chuyển an toàn của toàn hệ thống?”

Đức Anh siết nhẹ các đầu ngón tay dưới gầm bàn. Khớp ngón tay trắng bệch ra vì lực ép.

Một cảm giác quen thuộc đến nghẹn thở lại dội về trong tâm trí anh, nhức nhối như một vết thương cũ gặp ngày trở trời.

Đó là tháng Mười một năm 2011. Trong ký ức tiền kiếp của anh — ký ức về một dòng thời gian mà anh từng sống qua trước khi quay ngược về năm 2008 — mùa đông năm 2011 là thời điểm giá gas sinh hoạt tại miền Bắc tăng phi mã vì các cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu. Người dân thu nhập thấp, công nhân các khu công nghiệp và hàng chục vạn sinh viên trọ học tại Hà Nội khi ấy đã đổ xô đi mua các loại bếp điện từ đơn giá rẻ của Trung Quốc tràn ngập thị trường chợ Trời, kéo theo một cơn sốt mua sắm dữ dội các loại nồi chảo đáy từ hoặc nhôm đúc dày dặn có khả năng bắt nhiệt và giữ nhiệt cao. Khi ấy, bị giam hãm trong sự tự tin chết người của một kẻ mang theo “ký ức tương lai”, Đức Anh đã tin chắc như đinh đóng cột rằng cơn sốt đó sẽ lặp lại nguyên vẹn. Anh đã liên tục gọi điện giục giã dì Hòa dưới Ý Yên gom phôi nhôm thô, tăng ca đúc hàng đêm ngày, huy động hết thợ nguội và cho xe tải chở thẳng hàng chục chuyến lên kho Mễ Trì để đón đầu cơn sóng thần tiêu dùng.

Thế nhưng, hiện thực trần trụi diễn ra không hề giống như dòng thời gian cũ.

Cơn sốt bếp điện từ có diễn ra, nhưng bối cảnh thị trường bán lẻ của năm 2011 này đã xuất hiện những biến số hoàn toàn mới mà kiếp trước không có. Các chuỗi siêu thị điện máy lớn như Pico, MediaMart, Topcare vừa hoàn tất việc mở rộng mạng lưới bán lẻ tại các cửa ngõ thủ đô. Để cạnh tranh giành giật thị phần người dùng gia đình, họ đã cấu kết với các hãng sản xuất đồ gia dụng tên tuổi, ồ ạt tung ra các chiến dịch khuyến mại quy mô khủng khiếp: mua bếp từ đơn tặng kèm trọn gói chảo chống dính và nồi lẩu inox năm đáy. Người tiêu dùng thành thị lập tức bị hút vào các đại siêu thị sáng loáng với quà tặng đính kèm miễn phí, khiến họ không còn bất kỳ lý do gì để lên mạng tìm kiếm hay đặt mua những chiếc chảo đơn lẻ qua màn hình điện thoại di động chật hẹp.

Hậu quả của quyết định đó tàn khốc hơn bất kỳ cơn ác mộng nào. Đống hàng bốn trăm chiếc chảo và hai trăm bộ nồi nằm im lìm phủ bụi tại kho Nam Từ Liêm suốt bốn tháng ròng rã. Chúng biến thành một khối kim loại trơ lì ngốn sạch chi phí mặt bằng kho bãi, phong tỏa toàn bộ dòng vốn lưu động và suýt nữa đã bóp nghẹt thanh khoản của công ty khi cơn bão số hai bất ngờ ập vào miền Bắc làm tê liệt toàn bộ mạng lưới vận chuyển.

“Tôi dự đoán thị trường mùa đông sẽ bùng nổ nhu cầu nấu nướng trong nhà và tích trữ đồ gia dụng giữ nhiệt,” Đức Anh thành thật trả lời, giọng anh trầm xuống, nghe khô khốc trong cổ họng. “Thời điểm đó giá nhôm nguyên liệu tại sàn giao dịch kim loại Thượng Hải bắt đầu có xu hướng nhích lên từng ngày. Tôi muốn chốt giá nhập sớm với xưởng của dì Hòa để tối ưu hóa biên lợi nhuận gộp cho toàn bộ chu kỳ bán hàng cuối năm.”

“Dự cảm cá nhân?”

Khóe môi Mai nhếch lên một nụ cười mỉa mai lạnh tanh. Ánh mắt cô không còn sự kiên nhẫn thường ngày, thay vào đó là sự nghiêm khắc đến tàn nhẫn của một chuyên gia tài chính đang đối diện với một canh bạc liều lĩnh:

“Đức Anh, anh đang vận hành một công ty trách nhiệm hữu hạn có pháp nhân độc lập, có các cổ đông cùng góp vốn bằng mồ hôi nước mắt và chuẩn bị đón nhận hàng trăm triệu đồng tiền đầu tư của tôi, chứ không phải một cậu sinh viên ngồi đánh cược điểm số trong một quán net ven đường Khương Thượng!”

Cây bút máy trong tay Mai gõ mạnh xuống mặt bàn gỗ vang lên một tiếng *cộc* đanh gọn, khiến hai cậu trợ lý giật mình ngước nhìn:

“Anh điều chỉnh toàn bộ lượng nhập hàng của một doanh nghiệp dựa vào linh cảm, vào sự tự tin mù quáng rằng bản thân mình có thể ‘ngửi’ thấy mùi của thị trường trước tất cả mọi người! Nhưng anh không hề xây dựng bất kỳ một mô hình dự báo nhu cầu theo mùa vụ nào cả. Anh không tính toán chỉ số biến động mùa vụ (Seasonal Index) của từng tiểu ngạch hàng hóa. Anh không đo lường độ lệch chuẩn của nhu cầu thực tế qua các năm để tính ra lượng tồn kho an toàn (Safety Stock). Anh không thiết lập điểm đặt hàng lại (Reorder Point) dựa trên thời gian vận chuyển thực tế và rủi ro chậm trễ của các tuyến xe khách Ba Bé chạy từ Nam Định lên Giáp Bát!”

Mai lật phắt tiếp một trang báo cáo kiểm toán khác, ngón tay ấn mạnh vào con số lỗ lũy kế và chi phí lưu kho:

“Chính cái ‘dự cảm cá nhân’ hoàn toàn vô căn cứ đó của anh đã khiến hơn ba trăm chiếc chảo nằm chết gí ở kho Mễ Trì suốt cả mùa đông giá rét. Toàn bộ dòng tiền tươi của doanh nghiệp bị chôn vùi trong những đống phôi kim loại nguội ngắt, trong khi công ty vẫn phải cắn răng trả tiền thuê mặt bằng mười một triệu đồng mỗi tháng không thiếu một xu. Nếu đợt bão vừa rồi không có chiến dịch xả hàng hòa vốn cắt lỗ tàn bạo của Trang, và nếu không có sự bảo lãnh danh dự cùng uy tín cá nhân của bố anh dưới quê để xưởng dì Hòa giãn nợ tiền phôi, thì cái đống phôi nhôm ấy đã biến thành tấm bia mộ chôn sống Minh Anh từ ba tháng trước rồi!”

Từng lời nói của Mai rơi xuống như những nhát búa nện thẳng vào sự kiêu ngạo vô thức bấy lâu nay của Đức Anh.

Anh ngồi im phăng phắc, cảm giác đắng ngắt lan tỏa từ cuống họng xuống lồng ngực. Mai nói không sai một chữ nào. Từng luận điểm, từng con số cô đưa ra đều chính xác đến mức lạnh lùng.

Suốt từ ngày trọng sinh trở về năm 2008 cho đến tận bây giờ, anh luôn mang trong mình một thứ ảo tưởng quyền lực vô hình. Anh ngỡ rằng với mười tám năm ký ức tương lai tích lũy từ kiếp trước, anh là kẻ nắm giữ chiếc chìa khóa vạn năng của số phận, có thể đứng cao hơn thị trường, nhìn thấu mọi ngóc ngách và đi trước thời đại một bước. Nhưng thực tế thị trường là một sinh thể khổng lồ, phức tạp và không ngừng biến đổi dưới tác động của hàng triệu biến số ngẫu nhiên. Ký ức đời trước chỉ có thể cho anh thấy hướng đi tổng thể của dòng thủy triều, nhưng tuyệt đối không thể thay thế cho khoa học quản trị chi tiết, không thể thay thế cho các thuật toán thống kê xác suất, và càng không thể khỏa lấp sự thiếu hụt kỷ luật trong dự báo dòng tiền.

Bản năng muốn tự mình quyết định mọi chuyện, thói quen tự cho mình là đúng bắt nguồn từ nỗi sợ hãi thất bại và bi kịch nợ nần đầm đìa của kiếp trước đã biến anh thành một kẻ độc tài trong các quyết định kinh doanh. Và suýt chút nữa, chính sự độc tài mù quáng ấy đã kéo theo Kiều Trang, Bùi Hoàng Nam và tất cả những người đặt trọn niềm tin vào anh xuống bờ vực phá sản.

“Tôi thừa nhận sai lầm này,” Đức Anh ngẩng đầu lên, ánh mắt không hề né tránh hay chớp giật, nhìn thẳng vào đôi mắt sắc bén của người phụ nữ đối diện. “Đó là sự bốc đồng, duy ý chí và hoàn toàn thiếu phương pháp khoa học trong quản trị chuỗi cung ứng. Tôi chấp nhận toàn bộ đánh giá nghiêm khắc của chị về lỗ hổng chí mạng trong mô hình dự báo của tôi.”

Mai chăm chú quan sát từng biến chuyển nhỏ nhất trên cơ mặt của Đức Anh. Thấy anh không hề tìm cách bao biện, không đổ lỗi cho thời tiết xấu, không viện cớ thị trường biến động ngoài dự liệu hay đem những khó khăn khách quan ra làm tấm bình phong, ánh mắt lạnh lùng như băng của cô thoáng giãn ra đôi chút. Một tia dao động rất khẽ lướt qua đáy mắt cô. Mai khẽ gật đầu, kéo tờ biểu đồ A3 về phía mình:

“Biết nhận ra điểm mù của bản thân là bước đầu tiên để không chết vì nó. Nhưng tôi là một nhà đầu tư, tôi bỏ tiền vào đây để tìm kiếm lợi nhuận và sự tăng trưởng bền vững, chứ không đầu tư vào một người chỉ biết nhận sai sau mỗi lần thất bại rồi lần sau lại tiếp tục tái phạm bằng một linh cảm khác. Bắt đầu từ quý này, nếu muốn tôi giải ngân từng đồng vốn theo cam kết, Minh Anh bắt buộc phải thiết lập mô hình dự báo nhu cầu Holt-Winters kết hợp với việc phân tích dữ liệu bán lẻ vi mô thu thập hàng ngày từ hệ thống. Và quan trọng hơn cả: quyền ký duyệt lệnh nhập hàng vượt hạn mức tồn kho an toàn sẽ không còn nằm trong tay một mình anh nữa. Mọi quyết định xuất vốn lưu động vượt ngưỡng mười lăm triệu đồng đều phải có chữ ký đồng thuận của Giám đốc Tài chính.”

Đức Anh khẽ thở hắt ra, gật đầu dứt khoát: “Tôi hoàn toàn đồng ý với điều khoản này.”

Không khí trong phòng làm việc dường như nhẹ đi một chút sau cái gật đầu của Đức Anh. Lúc này, Kiều Trang khẽ nghiêng người, kéo một tập tài liệu dày dặn khác sang đặt ngay ngắn trước mặt Mai. Trên cuốn sổ tay kẻ ngang của Trang, chi chít những dòng ghi chú bằng nét chữ nắn nót, thẳng hàng thẳng lối, các con số được phân nhóm theo màu mực rõ ràng.

“Chị Mai,” Trang nhẹ nhàng lên tiếng, giọng nói của cô trong trẻo nhưng toát lên một sự tự tin trầm tĩnh đầy sức nặng. “Về phương pháp hạch toán dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (Operating Cash Flow) mà chị đã hướng dẫn em chiều hôm qua, em đã chạy lại toàn bộ dữ liệu thực tế của sáu tháng gần nhất. Em đã tiến hành tách bạch hoàn toàn khoản tiền thu hộ COD hiện đang nằm rải rác tại tài khoản trung chuyển của ba mươi bảy bưu cục ra khỏi các khoản tương đương tiền khả dụng của công ty.”

Mai khẽ nhướn mày, đưa tay đón lấy tập sổ của Trang.

Trang tiếp tục, ngón tay trỏ thon nhỏ chỉ vào một bảng phân bổ dòng tiền mới tinh:

“Em đã đưa toàn bộ số dư đó vào mục ‘Phải thu ngắn hạn từ dịch vụ trung gian’, đồng thời áp dụng một tỷ lệ chiết khấu rủi ro trễ hạn thanh toán là mười hai phần trăm trên tổng giá trị ghi sổ.”

Mai dừng mắt lại ở con số mười hai phần trăm được đóng khung vuông vức bằng mực đỏ. Ánh mắt cô lập tức chuyển từ vẻ nghiêm khắc lạnh lùng sang sự chăm chú đầy trân trọng:

“Em tính toán con số mười hai phần trăm đó dựa trên cơ sở định lượng nào? Hay chỉ là một tỷ lệ ước lệ do em tự cảm thấy an toàn?”

“Không phải ước lệ ạ,” Trang bình thản lật mở một bảng tính chi tiết đính kèm phía sau, nơi các cột dữ liệu được chia theo từng ngày trong tuần. “Em đã tổng hợp chu kỳ đối soát thực tế của ba mươi bảy bưu cục tuyến huyện thuộc các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Dương và Ninh Bình trong ba đợt rét đậm và bão lũ vừa qua. Thời gian bưu điện giam giữ và hoàn tất thủ tục chuyển trả tiền thu hộ COD bình quân là hai mươi hai ngày kể từ khi khách nhận hàng thành công, cá biệt có những bưu cục vùng sâu lên tới ba mươi mốt ngày. Với mặt bằng lãi suất tiền gửi ngắn hạn mười bốn phần trăm một năm như hiện nay, cộng với chi phí cơ hội của việc thiếu hụt vốn lưu động phải đi vay nóng để thanh toán tiền phôi cho xưởng đúc, thì mức trích lập mười hai phần trăm chính là khoản đệm an toàn tuyệt đối. Nó đảm bảo cho công ty không bao giờ rơi vào tình trạng mất thanh khoản kỹ thuật nếu phía bưu điện chậm trễ thanh toán thêm từ bảy đến mười ngày nữa.”

Mai không ngắt lời Trang. Cô chăm chú đọc từng dòng công thức, đôi mắt lấp lánh sự tán thưởng. Không dừng lại ở đó, Trang lật tiếp sang một trang phân tích khác — phần tài liệu quan trọng nhất liên quan trực tiếp đến định giá công ty:

“Còn về việc định giá tài sản vô hình của công ty khi chốt mức định giá ba tỷ đồng sau đầu tư... Em đã áp dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền thặng dư từ tài sản vô hình (Excess Earnings Method) đúng theo khung lý thuyết định giá mà chị đã chỉ dẫn. Chúng em hoàn toàn không định giá dựa trên những lời hứa hẹn mơ hồ hay khái niệm ‘tiềm năng thị trường vô hạn’ thường thấy trong các bản kế hoạch kinh doanh. Tài sản vô hình của Minh Anh tại thời điểm này được bóc tách khoa học thành ba cấu phần cụ thể.”

Trang ngước lên nhìn thẳng vào mắt Mai, giọng nói càng lúc càng thêm phần đanh thép:

“Cấu phần thứ nhất là giá trị tiết kiệm chi phí băng thông và hạ tầng máy chủ nhờ thuật toán nén và bộ nhớ đệm tĩnh (caching) do anh Nam tự nghiên cứu phát triển. Nó giúp giảm tải bảy mươi phần trăm lượng truy vấn trực tiếp vào cơ sở dữ liệu, ước tính tiết kiệm trực tiếp cho công ty hai mươi tư triệu đồng tiền thuê máy chủ chuyên dụng mỗi năm theo bảng giá hiện hành của Viettel IDC. Cấu phần thứ hai là giá trị danh bạ và mạng lưới liên kết cung ứng độc quyền với mười tám xưởng đúc, gia công cơ khí tại Ý Yên. Mối quan hệ dựa trên uy tín dòng tộc và hợp đồng bao tiêu này cho phép công ty duy trì mức giá nhập phôi thấp hơn thị trường tự do từ tám đến mười hai phần trăm mà hoàn toàn không phải ký quỹ tiền mặt lớn. Và cấu phần thứ ba là tệp dữ liệu khách hàng trung thành tích lũy suốt hai năm qua, với tỷ lệ khách hàng cũ quay lại mua lần thứ hai và thứ ba đạt mức hai mươi mốt phẩy bốn phần trăm — một con số vượt trội so với mức trung bình chỉ sáu đến tám phần trăm của thị trường thương mại điện tử sơ khai hiện nay.”

Lương Ngọc Mai cầm lấy tập tài liệu của Trang, ngón tay lật giở từng trang một cách chậm rãi, cẩn trọng.

Mùi mực viết máy xanh đen hòa quyện với những phép tính đại số tuyến tính và bảng chiết khấu dòng tiền hiện giá ròng (NPV). Ngón tay của Mai dừng lại rất lâu ở các hệ số chiết khấu thặng dư mà Trang đã tự tay tính toán độc lập. Trên gương mặt người phụ nữ từng giữ chức vụ giám đốc tài chính khu vực của những quỹ đầu tư mạo hiểm sừng sỏ nước ngoài, sự ngạc nhiên ban đầu dần chuyển hóa thành một sự thán phục không hề che giấu.

Chỉ trong vòng chưa đầy bốn mươi tám tiếng đồng hồ ngắn ngủi chịu sự thử thách gắt gao và áp lực thẩm định liên tục của Mai, Kiều Trang đã nuốt trọn những kiến thức tài chính doanh nghiệp chuyên nghiệp và phức tạp nhất — những thứ mà thông thường một sinh viên tốt nghiệp loại giỏi của Đại học Kinh tế Quốc dân phải mất ít nhất hai đến ba năm lăn lộn thực tế tại các công ty kiểm toán Big Four mới có thể nắm bắt và vận dụng nhuần nhuyễn.

Cô gái trẻ này không chỉ học được cách lập một báo cáo lưu chuyển tiền tệ chuẩn mực theo các chuẩn mực kế toán quốc tế, mà quan trọng hơn cả, cô đã thẩm thấu trọn vẹn tư duy phòng thủ cốt lõi của một giám đốc tài chính chuyên nghiệp: luôn chuẩn bị sẵn sàng cho những kịch bản tồi tệ nhất của thị trường, luôn nhìn thấy rủi ro đằng sau mỗi con số tăng trưởng hào nhoáng, và luôn khắc cốt ghi tâm rằng tiền chỉ thực sự là tài sản khi nó đã được quy đổi thành tiền mặt nằm yên vị trong tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp.

“Rất tốt,” Mai đặt tập tài liệu xuống mặt bàn, một nụ cười hiếm hoi nở trên môi cô, làm bừng sáng nét mặt vốn dĩ luôn lạnh lùng, xa cách. “Trang, em sở hữu tư chất của một CFO xuất sắc. Khả năng thẩm thấu số liệu, sự nhạy cảm với các biến số rủi ro và tư duy phòng vệ thanh khoản của em thậm chí còn chắc chắn, sắc sảo hơn rất nhiều kế toán trưởng lâu năm mà chị từng làm việc cùng ở các tổng công ty nhà nước cổ phần hóa. Minh Anh có được một người gác cổng tài chính kiên định như em bên cạnh một CEO giàu khát vọng nhưng đôi khi bốc đồng như Đức Anh, đó là một may mắn cực kỳ lớn.”

Trang khẽ mỉm cười nhã nhặn, hai gò má hơi ửng hồng dưới ánh đèn tuýp. Đôi mắt trong veo của cô ánh lên niềm tự hào kín đáo của một người vừa vượt qua một bài sát hạch sinh tử, nhưng phong thái vẫn giữ được sự khiêm nhường chuẩn mực:

“Tất cả là nhờ chị Mai đã tận tình hướng dẫn cho em phương pháp luận chuẩn xác thôi ạ. Trước đây em chỉ biết ghi chép các khoản thu chi một cách bản năng, máy móc theo các nguyên lý kế toán đại cương học trên giảng đường, chưa từng nhìn thấy được bức tranh toàn cảnh về vận tốc luân chuyển và cái giá vô hình của đồng vốn trong thực tế kinh doanh.”

Căn phòng vừa trải qua một đợt sóng ngầm bỗng chốc lắng lại trong một khoảnh khắc hòa hoãn hiếm hoi. Hai trợ lý Quân và người đồng nghiệp cũng thở phào, đặt chiếc thước kẻ xuống bàn nghỉ tay.

Đúng lúc đó, cánh cửa gỗ ép ngăn cách khu vực làm việc chung với góc kỹ thuật phía sau khẽ rung lên rồi mở hé ra một khe hẹp.

Bùi Hoàng Nam bước vào, bước chân lảo đảo vì mệt mỏi. Trên tay cậu là một chiếc cốc nhựa dùng một lần đựng nước lọc đã vơi một nửa, ngón tay run nhẹ vì thiếu ngủ. Gương mặt Nam tái nhợt, hốc hác sau một đêm dài thức trắng trực trước màn hình máy tính đen ngòm đầy những dòng lệnh chạy liên tục. Cặp kính cận dày cộp trễ xuống tận sống mũi, mái tóc xoăn tự nhiên bù xù như tổ quạ, và khóe mắt đỏ ngầu những tia máu li ti.

Thế nhưng, đằng sau vẻ kiệt quệ thể xác ấy, ánh mắt của người phụ trách kỹ thuật lại lóe lên những tia nhìn căng thẳng tột độ, một sự bất an dữ dội khác hẳn với dáng vẻ ngơ ngác thường ngày.

Thấy mọi người trong phòng vẫn đang ngồi vây quanh bàn họp thẩm định, giấy tờ chứng từ trải la liệt khắp mặt bàn, Nam khựng lại ở ngưỡng cửa, bước chân toan lùi lại,

nhưng Đức Anh đã nhìn thấy sự bất an trong mắt người cộng sự kỹ thuật.

Dưới ánh sáng vàng vọt hắt ra từ góc phòng, từng thớ cơ trên khuôn mặt hốc hác của Nam co rúm lại, hai bàn tay siết chặt lấy chiếc cốc nhựa mỏng đến mức mép cốc biến dạng, nước sóng sánh chực tràn qua kẽ ngón tay. Đó không đơn thuần là nỗi mệt mỏi của một lập trình viên vừa trải qua một đêm dài thức trắng gõ mã nguồn; đó là bản năng cảnh giác của một kẻ canh gác vừa ngửi thấy mùi thuốc súng đang âm thầm lan vào chân tường thành.

“Nam, có chuyện gì thế?” Đức Anh hạ thấp giọng, ánh mắt sắc bén lướt nhanh qua thái độ khác lạ của cậu em.

Nam khẽ giật mình. Cậu ngập ngừng đưa mắt nhìn sang Lương Ngọc Mai và hai chuyên viên kiểm toán đang cắm cúi rà soát chồng phiếu thu trên bàn, rồi nuốt nước bọt đánh ực một cái. Nhận thấy bầu không khí trang nghiêm và căng như dây đàn của buổi làm việc tài chính, Nam rụt rè bước thêm hai bước ngắn, vòng qua mép bàn làm việc rồi ghé sát tai Đức Anh, hơi thở nóng rực và đứt quãng phả ra từng câu thì thào:

“Anh Đức Anh, từ rạng sáng nay, hệ thống giám sát máy chủ Staging và Production ghi nhận lượng truy vấn bất thường tăng đột biến. Không phải lưu lượng người dùng mua hàng qua điện thoại đâu. Toàn là các lệnh HTTP GET và POST quét tự động (crawling) nhắm thẳng vào các bảng dữ liệu danh mục khách hàng và số điện thoại đối tác tiểu thương.”

Đức Anh khẽ nhíu mày. Đầu ngón tay anh đang đặt trên tập hồ sơ hơi khựng lại, một luồng hàn khí vô hình lướt qua sống lưng. Nhưng trên nét mặt, anh tuyệt đối không để lộ ra dù chỉ một gợn sóng xao động:

“Có dấu hiệu tấn công xâm nhập không?”

“Tường lửa Iptables và hệ thống Security System v2.0 của em vẫn chặn đứng toàn bộ,” Nam lắc đầu lia lịa, nhưng thanh âm phát ra từ cuống họng vẫn khô khốc và căng thẳng tột độ. “Mã nguồn lõi đã được mã hóa nhị phân bằng IonCube nên họ không thể đọc được cấu trúc code hay can thiệp vào tầng logic xử lý nghiệp vụ. Nhưng điều kỳ lạ là các dải IP gửi lệnh truy vấn này liên tục thay đổi sau mỗi chu kỳ mười giây, xuất phát từ các proxy nặc danh đặt ở nước ngoài, xen kẽ với vài dải IP nội địa từ một dải mạng quen thuộc ở khu vực Cầu Giấy... Em đang theo dõi sát sao và lưu toàn bộ nhật ký truy cập (system log) vào ổ cứng độc lập.”

Khu vực Cầu Giấy.

Bốn chữ ấy vừa lọt vào tai liền làm bật lên trong tâm trí Đức Anh hình ảnh tòa nhà văn phòng bề thế, nơi đặt đại bản doanh của FlashCommerce và Đặng Quốc Khánh. Một nụ cười lạnh thoáng ẩn hiện nơi khóe môi anh rồi biến mất không dấu vết. Kẻ đối đầu của anh ở kiếp này rốt cuộc vẫn không kiềm chế được lòng tham và sự nôn nóng quen thuộc. Khánh đang khát dữ liệu thực tế, khát danh sách mạng lưới nguồn hàng tiểu thương của Minh Anh đến mức phải hạ sách dùng đến những thủ thuật ngầm bẩn thỉu của giới công nghệ non trẻ.

Đức Anh vỗ nhẹ vào vai Nam, truyền sang cậu em một sự bình thản vững chãi như bàn thạch:

“Em làm tốt lắm. Cứ tiếp tục cô lập các phân vùng cơ sở dữ liệu, ghi lại toàn bộ địa chỉ IP và các đoạn mã truy vấn độc hại đó. Tuyệt đối không manh động, không dựng rào cản quá lộ liễu để họ nghi ngờ. Cứ để tường lửa âm thầm ghi nhận dữ liệu, gom đủ bằng chứng số hóa vào ổ cứng cho anh.”

Nam thở hắt ra một hơi dài, bờ vai căng cứng dần hạ xuống. Cậu gật đầu thật mạnh, siết chặt chiếc cốc nhựa trong tay rồi quay trở lại góc làm việc kỹ thuật của mình phía sau cánh cửa gỗ ép. Chỉ vài giây sau, tiếng gõ bàn phím lách cách, dồn dập và có nhịp điệu quen thuộc lại vang lên, hòa lẫn vào tiếng quạt gió kêu ro ro của cụm máy chủ tự dựng.

Đức Anh quay lại bàn họp. Khi anh vừa ngẩng đầu lên, ánh mắt anh lập tức chạm phải ánh nhìn trầm tĩnh, sâu không thấy đáy của Lương Ngọc Mai.

Mai hơi nghiêng đầu, tách trà mạn trước mặt cô đã nguội ngắt từ lâu nhưng cô vẫn không buồn nhấp môi. Người phụ nữ dày dạn kinh nghiệm trên thương trường dường như không hề bận tâm đến sự gián đoạn nhỏ vừa rồi, hoặc giả với trực giác nhạy bén của một chuyên gia tài chính từng lăn lộn qua hàng chục thương vụ thâu tóm, cô đã lờ mờ đoán được những đợt sóng ngầm hiểm ác đang cuộn trào dưới đáy thị trường thương mại điện tử non trẻ của Hà Nội. Trong cái thế giới mà đồng tiền đang đổ dồn vào công nghệ như một cơn sốt vàng, những chiêu trò đánh cắp dữ liệu, phá hoại hạ tầng hay giành giật nguồn cung chưa bao giờ là chuyện hiếm gặp. Nhưng Mai không hỏi, và Đức Anh cũng không thanh minh. Giữa những người làm kinh doanh thực thụ, sự im lặng đúng lúc chính là một dạng thấu hiểu ngầm.

Cuộc họp thẩm định tiếp tục kéo dài sang đầu giờ chiều.

Ánh nắng gay gắt ngoài hiên đã chuyển dịch dần sang hướng tây, rọi những vệt sáng xiên khoai qua chấn song cửa sổ, nhuộm vàng từng chồng hóa đơn đỏ và bảng biểu dày đặc số liệu.

Ngồi bên cạnh, Đức Anh gần như buông bỏ hoàn toàn sự can thiệp. Anh lặng lẽ khép cuốn sổ tay bọc da của mình lại, thu hai tay về phía sau và để Kiều Trang trực tiếp dẫn dắt toàn bộ phiên làm việc với đội ngũ của Mai.

Đó là một quyết định thoạt nhìn có vẻ mạo hiểm, nhưng thực chất lại là sự tin tưởng tuyệt đối. Suốt hơn ba tiếng đồng hồ buổi chiều, căn phòng chỉ còn vang lên tiếng lật giấy soạt soạt, tiếng ngòi bút bi vạch trên biểu đồ và chất giọng trong trẻo, điềm tĩnh nhưng đanh thép của Kiều Trang.

Trang không còn là cô sinh viên năm cuối rụt rè của những ngày đầu chập chững bước vào công ty. Đứng trước những câu hỏi truy vấn hóc hiểm của Mai về các khoản mục nhạy cảm, Trang bình thản lật giở từng trang chứng từ đối ứng. Cô tự tin giải thích từng khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo phương pháp trích lập thực tế chứ không áp dụng máy móc theo tỷ lệ phần trăm lý thuyết; cô mạch lạc đưa ra các phương án tối ưu hóa chi phí đóng gói bằng việc tái sử dụng thùng carton chuẩn quy cách từ các xưởng cơ khí, giúp bảo toàn biên lợi nhuận ròng ở mức hai con số ngay cả khi giá nguyên liệu đầu vào tăng phi mã. Khi Quân – trợ lý kiểm toán – cố tình xoáy sâu vào sự chênh lệch giữa dòng tiền thu hộ COD trên sổ sách và số dư thực tế tại tài khoản ngân hàng trong đợt ngập lụt tháng trước, Trang không hề nao núng. Cô mở ngay cuốn nhật ký đối soát phụ lục, chỉ rõ từng biên bản xác nhận giao hàng trễ có chữ ký của nhà xe liên tỉnh, chứng minh dòng tiền chỉ bị chậm luân chuyển bốn mươi tám giờ chứ tuyệt đối không phát sinh nợ xấu hay thất thoát.

Chứng kiến ánh mắt tôn trọng thực sự mà Mai và hai chuyên viên kiểm toán dành cho Kiều Trang qua từng câu trả lời khúc chiết, Đức Anh bỗng thấy một cảm giác kỳ lạ dâng lên trong lồng ngực.

Đó là sự nhẹ nhõm đến ngỡ ngàng, một sự giải thoát vô hình khỏi gông cùm tâm lý bấy lâu nay.

Suốt từ mùa hè năm 2008 định mệnh ấy, khi anh mở mắt tỉnh dậy trong căn phòng trọ ẩm thấp ở Khương Thượng với ký ức nguyên vẹn của một kẻ thất bại thảm hại ở kiếp trước, Đức Anh đã luôn vô thức tự khoác lên vai mình tấm áo choàng của một người bảo hộ vĩ đại. Anh ám ảnh bởi thất bại cũ, sợ hãi từng vết xe đổ của quá khứ. Anh sợ Hùng Béo vì nông nổi mà sa ngã vào con đường cờ bạc nợ nần; sợ Bùi Hoàng Nam vì ngây thơ mà bị những tập đoàn lớn dùng tiền bạc thao túng, mua chuộc chất xám; sợ công ty thiếu vốn mà sụp đổ giữa chừng; sợ người cha già ở quê phát bệnh nan y mà không có tiền cứu chữa; và hơn tất cả, anh sợ Kiều Trang phải chịu bất kỳ tổn thương nào trước những mưu mô tàn nhẫn của cuộc đời.

Chính nỗi sợ hãi ấy đã biến anh thành một kẻ độc tài mang danh nghĩa bao bọc. Anh ôm đồm mọi lo toan vào lòng, kiểm soát từng chi tiết nhỏ nhặt nhất từ dòng mã nguồn của Nam, lộ trình giao hàng của Hùng cho đến từng con số thu chi của Trang. Anh tự biến mình thành một bức tường thành cô độc, gồng mình che chắn mưa gió bão bùng cho tất cả mọi người, tự huyễn hoặc rằng đó là trách nhiệm thiêng liêng, là sự chuộc lỗi duy nhất cho kiếp trước ê chề.

Nhưng hôm nay, ngồi ở góc bàn này, nhìn Kiều Trang tỏa sáng rực rỡ bằng chính năng lực chuyên môn sắc bén của cô, bằng bản lĩnh độc lập và sự kiên định không hề vay mượn từ bất kỳ ai, Đức Anh mới cay đắng và thanh thản nhận ra: sự bảo hộ thái quá của anh bấy lâu nay thực chất chỉ là một hình thức ích kỷ khác của cái tôi. Anh đã vô tình đánh giá thấp năng lực và nghị lực phi thường của những người đồng hành quanh mình.

Trang chưa bao giờ là một đóa hoa mềm yếu nép mình trong lồng kính cần anh giấu kỹ dưới bóng râm; cô là một cái cây cổ thụ kiên cường, một tâm hồn mang nội lực mạnh mẽ, hoàn toàn có khả năng tự mình cắm sâu bộ rễ bền bỉ vào mảnh đất thương trường khốc liệt để vươn lên đón nhận bão táp. Nam cũng vậy, Hùng Béo cũng vậy. Họ không phải là những quân cờ cần anh cầm tay chỉ việc trên bàn cờ định mệnh.

Anh không cần phải tiếp tục đóng vai một người bảo hộ toàn năng đơn độc nữa. Điều công ty này cần, điều những người anh em chí cốt này cần, không phải là một ông vua độc đoán nắm giữ mọi bí mật và gánh vác mọi rủi ro trong bóng tối, mà là một người thuyền trưởng biết đặt niềm tin trọn vẹn, biết trao quyền đúng người và biết đứng đúng vị trí điều hướng của mình trên boong tàu lộng gió.

Đúng ba giờ chiều, tiếng lật giấy cuối cùng dừng lại. Phiên thẩm định chứng từ tài chính chính thức khép lại sau bảy tiếng đồng hồ làm việc liên tục không nghỉ trưa.

Bầu không khí trong phòng không hề chùng xuống mà trái lại, càng trở nên cô đặc và căng thẳng hơn bao giờ hết. Khoảnh khắc then chốt nhất của toàn bộ tiến trình đàm phán đã điểm: buổi bảo vệ phương án kinh doanh cuối cùng trước khi hội đồng thẩm định đưa ra quyết định tối hậu có đặt bút ký kết hợp đồng đầu tư hay không.

Lương Ngọc Mai đưa tay gập chiếc máy tính xách tay ThinkPad màu đen bóng lại. Tiếng “tách” khô khốc của khớp khóa màn hình vang lên rành rọt giữa không gian tĩnh mịch. Cô đan hai bàn tay thon dài vào nhau, đặt ngay ngắn trên mặt bàn gỗ, lưng tựa thẳng vào thành ghế:

“Được rồi. Báo cáo tài chính quá khứ đã được bóc tách sạch sẽ. Năng lực kiểm soát dòng tiền của Trang hoàn toàn thuyết phục được tôi và bộ phận thẩm định độc lập. Các bạn đã làm được một việc phi thường với nguồn tài lực hạn hẹp của một nhóm khởi nghiệp sinh viên. Nhưng kinh doanh không phải là nhìn vào gương chiếu hậu. Tiền đầu tư sáu trăm triệu của tôi không phải để trả nợ hay vinh danh quá khứ, mà là để mua tương lai tăng trưởng của Minh Anh.”

Mai dừng lại một nhịp, ánh mắt sắc như dao cạo chuyển thẳng sang Đức Anh, không né tránh:

“Hiện tại, FlashCommerce của Đặng Quốc Khánh đang làm mưa làm gió khắp các mặt báo và diễn đàn công nghệ. Khánh vừa công bố trên báo chí rằng họ đã chạm mốc năm mươi nghìn lượt đặt hàng chỉ sau chưa đầy một quý vận hành. Họ chuẩn bị mở rộng hệ thống kho bãi quy mô lớn sang Bắc Ninh, Hải Phòng, đốt tiền tặng mã giảm giá năm mươi phần trăm và miễn phí toàn bộ dịch vụ vận chuyển cho người tiêu dùng đầu cuối. Họ đang vẽ ra một viễn cảnh rực rỡ về mô hình siêu thị số đa ngành phục vụ hàng triệu người tiêu dùng đại chúng (B2C mass market), biến thương mại điện tử thành thói quen tiêu dùng hằng ngày.”

Mai nhướng mày, từng câu chữ thốt ra đều mang tính chất vấn gay gắt, dồn ép đối phương vào chân tường:

“Vậy còn Minh Anh? Với số vốn vỏn vẹn sáu trăm triệu đồng nếu tôi rót vào, anh định làm thế nào để tồn tại và tạo ra lợi nhuận bền vững giữa một thị trường đang bị các gã khổng lồ thừa tiền khuấy đảo? Anh có định lao vào cuộc đua đốt tiền chạy quảng cáo, phát mã giảm giá và mở rộng danh mục hàng tiêu dùng nhanh để tranh giành thị phần với FlashCommerce hay không? Hãy cho tôi một lý do xác đáng, một luận điểm kinh tế thực tế để tôi không thu hồi lại đề nghị đầu tư và bước ra khỏi căn phòng này ngay lúc này.”

Hai trợ lý kiểm toán lập tức mở cuốn sổ tay bìa cứng mới tinh, đầu ngòi bút chì sắc nhọn đặt sẵn lên mặt giấy trắng tinh, nín thở chờ đợi từng phản ứng. Không khí trong căn phòng hai mươi lăm mét vuông như bị hút cạn oxy. Kiều Trang ngồi bên cạnh khẽ nghiêng đầu nhìn Đức Anh. Trong ánh mắt trong veo của cô không có lấy một tia hoảng loạn hay e ngại; chỉ có sự tin tưởng thuần khiết, một ngọn lửa khích lệ âm thầm và bền bỉ đang hướng về người đồng đội của mình.

Đức Anh không vội vã cất lời. Anh hít một hơi thật sâu, cảm nhận sự tĩnh lặng tuyệt đối đang bao bọc lấy tâm trí mình. Rồi, anh chậm rãi đứng dậy.

Không có một động tác thừa thãi, không có sự lúng túng của một kẻ bị dồn vào thế phòng thủ. Anh không dùng những thuật ngữ đao to búa lớn vay mượn từ Thung lũng Silicon, không vẽ ra những viễn cảnh hão huyền về một “đế chế thương mại điện tử nghìn tỷ” hay những câu chuyện kỳ lân công nghệ viển vông như cách Đặng Quốc Khánh vẫn thường huênh hoang tại các sảnh hội nghị khách sạn năm sao.

Đức Anh bước khoan thai lại tấm bảng mica trắng treo trên bức tường vôi loang lổ. Anh rút cây bút dạ màu xanh thẫm, mở nắp bút rồi vung tay vẽ một hình tam giác lớn, chia đều làm ba tầng nằm ngang.

“Minh Anh sẽ không bao giờ tham gia vào cuộc đua đốt tiền giành giật thị trường bán lẻ đại chúng,” Đức Anh cất giọng. Thanh âm của anh trầm thấp, chậm rãi nhưng ngân vang dứt khoát, từng từ từng chữ rơi xuống mặt bàn như những khối kim loại nặng trịch. “Bởi vì đó là một cuộc đua tự sát được xây dựng trên cát.”

Anh gõ mạnh đầu bút dạ vào phần đáy rộng nhất của hình tam giác, để lại một chấm mực xanh đậm:

“Thị trường thương mại điện tử Việt Nam năm 2012 vẫn còn đang ở giai đoạn sơ khai của sơ khai. Hãy nhìn thẳng vào thực tế nghiệt ngã mà không một kẻ mộng mơ nào dám thừa nhận: Hạ tầng thanh toán không dùng tiền mặt của chúng ta hiện nay gần như bằng không; tỷ lệ người dân sở hữu thẻ ATM chỉ dùng thẻ như một công cụ rút tiền mặt tại cây ATM vào mỗi kỳ lĩnh lương; hệ thống chuyển phát bưu chính công cộng thì phân mảnh, chậm chạp và quan liêu; và quan trọng nhất: niềm tin của người tiêu dùng đối với việc mua hàng qua mạng còn cực kỳ mong manh, đầy rẫy sự hoài nghi sau hàng loạt vụ lừa đảo bán hàng ảo. Một mô hình B2C đốt tiền vô tội vạ để tặng mã giảm giá nhằm lôi kéo tệp khách hàng ham rẻ trên mạng xã hội sẽ lập tức va phải hai cái bẫy chết người: Thứ nhất, tỷ lệ hoàn đơn COD vượt ngưỡng ba mươi phần trăm khi khách hàng sẵn sàng bùng hàng chỉ vì đổi ý. Thứ hai, dòng tiền thu hộ bị các đối tác vận chuyển thứ ba chiếm dụng, ngâm vốn suốt hàng tháng trời để đối soát.”

Đức Anh quay sang nhìn thẳng vào mắt Lương Ngọc Mai, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười thấu suốt:

“Chị Mai, chính chị là người hiểu rõ nhất điều này. Chị từng chia sẻ rằng FlashCommerce đã bị quỹ đầu tư mạo hiểm của Singapore thẳng thừng từ chối vòng gọi vốn Series A tuần trước, bởi vì cái gọi là ‘tốc độ tăng trưởng thần kỳ’ của họ thực chất chỉ là ảo ảnh: tỷ lệ hoàn hàng thực tế của họ đã chạm ngưỡng gần bốn mươi phần trăm, và Khánh buộc phải dùng thủ thuật kế toán bẩn thỉu để che giấu nó dưới danh mục ‘hàng lưu kho chuyển tiếp’. Đó chính là cái giá tàn khốc phải trả của việc tăng trưởng nóng dựa trên những tập khách hàng ảo tưởng và những đơn hàng rác. Nhưng Minh Anh không bao giờ chọn bước chân vào vũng lầy đó. Chiến lược sống còn của chúng tôi gói gọn trong một định hướng duy nhất: Tập trung tuyệt đối vào việc phục vụ các tiểu thương truyền thống và các xưởng sản xuất vừa và nhỏ.”

Anh đưa bút vẽ một đường mũi tên sắc lẹm nối từ tầng đáy của tam giác sang một vòng tròn khép kín bên cạnh:

“Chúng tôi không bán hàng cho những người lướt mạng vu vơ đặt mua một chiếc áo phông hay cái chảo chống dính chỉ vì tò mò, để rồi sẵn sàng tắt máy bùng hàng khi nhân viên bưu tá gọi điện giao hàng dưới trời nắng. Khách hàng cốt lõi mang lại sinh mệnh cho Minh Anh là hàng trăm nghìn tiểu thương tại các chợ đầu mối như Đồng Xuân, Ninh Hiệp, các chợ huyện, các chủ xưởng cơ khí tư nhân, và các làng nghề thủ công truyền thống lâu đời như Ý Yên, Bát Tràng, Đồng Xâm. Họ là ai? Họ là những người có hàng thật trong kho, có nhu cầu giải phóng đồng vốn thực tế từng ngày, nhưng họ hoàn toàn mù tịt về công nghệ thông tin và đang bị bão giá cùng lạm phát đè bẹp từng giờ.”

Đức Anh đưa tay lật nhẹ một trang tài liệu nằm trên bàn, tập số liệu thực chứng được anh và Kiều Trang chắt lọc từ đề tài khóa luận tốt nghiệp loại xuất sắc cùng hai năm vận hành thực tế đầy máu và nước mắt:

“Thay vì mở toang hoác một cái sàn thương mại điện tử hỗn tạp không kiểm soát được chất lượng đầu vào, Minh Anh cung cấp một ‘Giải pháp số hóa chuỗi cung ứng vi mô’ khép kín, được xây dựng dựa trên ba trụ cột thực chiến:

Thứ nhất: Chuẩn hóa dữ liệu vật lý tại nguồn. Chúng tôi không dùng những tấm ảnh bóng bẩy đã qua chỉnh sửa photoshop để lừa dối người tiêu dùng. Đội ngũ khảo sát của Minh Anh trực tiếp mang thước đo cơ khí, cân định lượng điện tử và máy ảnh thực tế đến tận từng xưởng cơ khí, từng sạp vải để lập danh mục hàng hóa chuẩn xác một trăm phần trăm. Khách hàng nhận được món hàng đúng từng milimét, đúng từng gam trọng lượng so với mô tả trên hệ thống, triệt tiêu hoàn toàn rủi ro khách từ chối nhận hàng vì ‘hàng không giống ảnh chụp’. Kết hợp với quy trình xác thực đơn hàng hai chiều qua điện thoại do Hùng Béo trực tiếp thiết lập và giám sát, tỷ lệ hoàn đơn của Minh Anh trong điều kiện vận hành bình thường chỉ dao động từ ba đến năm phần trăm — một con số không tưởng mà không một sàn thương mại điện tử đốt tiền nào tại Việt Nam hiện nay có thể mơ tới.”

Anh gõ đầu bút viết tiếp con số thứ hai lên bảng, nét mực đậm và dứt khoát:

“Thứ hai: Tối ưu hóa hệ thống logistics vi mô dựa trên hạ tầng sẵn có. Chúng tôi không dại dột đổ hàng trăm triệu đồng để nuôi một đội ngũ giao vận cồng kềnh hay phụ thuộc hoàn toàn vào dịch vụ bưu điện đắt đỏ và quan liêu. Minh Anh bắt tay trực tiếp với các hợp tác xã vận tải liên tỉnh lâu đời như nhà xe Hưng Long, xe khách Ba Bé, xe tải tuyến cố định để thiết lập một mạng lưới gom hàng theo giờ cố định. Chi phí vận chuyển trên mỗi kilogam hàng hóa của chúng tôi giảm mười tám phần trăm so với mặt bằng chung bưu chính, trong khi thời gian đưa một kiện hàng ngũ kim từ làng nghề đúc đồng Nam Định lên đến kho Mễ Trì chỉ mất đúng bốn tiếng đồng hồ. Kho trung chuyển Nam Từ Liêm sau khi được tinh gọn triệt để xuống còn một trăm mét vuông chỉ đóng vai trò duy nhất là một trạm trung chuyển xuyên suốt (Cross-docking). Hàng hóa về đến kho được phân loại, dán nhãn và điều phối đi ngay trong ngày, giúp vòng quay tồn kho của chúng tôi đạt mức kỷ lục: mười lăm ngày một vòng, thay vì ôm hàng chết, chôn vùi dòng vốn suốt ba tháng ròng rã như các mô hình bán lẻ truyền thống.”

Đức Anh dừng lại một nhịp. Anh quay hẳn người lại, đối diện trực diện với hội đồng thẩm định. Ánh mắt anh không còn vẻ lạnh lùng xa cách thường ngày, mà rực sáng một sự kiên định sâu sắc — sự kiên định của một con người đã từng phải trả giá bằng cả tính mạng, máu và nước mắt ở một kiếp sống khác để thấu hiểu đến tận cùng giá trị của chữ Tín:

“Và điều cuối cùng, điều tạo nên con hào kinh tế bền vững nhất, không thể bị sao chép hay đánh sập của Minh Anh: Dòng tiền dương thực tế. Chúng tôi không bao giờ bán hàng dưới giá vốn để lấy số liệu tăng trưởng ảo báo cáo cho nhà đầu tư. Minh Anh thu phí dịch vụ quản trị số hóa và trích tỷ lệ hoa hồng cố định dựa trên từng đơn hàng thực thu thành công. Quan trọng hơn hết: Chúng tôi thiết lập một nguyên tắc bất di bất dịch: không bao giờ nợ tiền hàng của tiểu thương quá hai mươi tư giờ sau khi đối soát xong. Chữ tín ba mươi năm qua của một người thợ cơ khí như bố tôi ở quê Nam Định, chữ tín của dì Hòa sạp vải ngoài chợ huyện, và sự minh bạch đến từng đồng xu cắc bạc trong hệ thống sổ sách kế toán của Kiều Trang chính là tài sản vô giá bảo chứng cho sự tồn tại của công ty này. Tiểu thương họ không cần những lời hứa hẹn IPO trên sàn chứng khoán ngoại quốc, họ không cần những mỹ từ về công ty tỷ đô viển vông; họ cần một đối tác chân thành giúp họ đẩy được hàng đi, cầm được đồng tiền tươi thóc thật về nuôi sống gia đình, con cái giữa thời buổi bão giá lạm phát này.”

Đức Anh nhẹ nhàng đặt cây bút dạ xuống rãnh bảng mica. Tiếng cộp nhỏ vang lên như một dấu chấm hết tròn trịa cho bài thuyết trình. Anh đứng thẳng, ánh mắt trong trẻo, thanh thản nhìn thẳng vào Lương Ngọc Mai:

“Sáu trăm triệu đồng tiền đầu tư của chị sẽ không bao giờ bị ném qua cửa sổ để đốt vào các biểu ngữ quảng cáo hào nhoáng trên mạng, hay dùng để thuê mướn những mặt bằng văn phòng phô trương giữa trung tâm thành phố. Toàn bộ số vốn đó đã được chúng tôi lập phương án phân bổ chi tiết thành ba phần rõ rệt: Một phần dành để nâng cấp module quản trị kho thời gian thực trên nền tảng di động do anh Bùi Hoàng Nam trực tiếp phát triển; một phần dùng làm chi phí mở rộng mạng lưới liên kết thêm ba mươi xưởng sản xuất gia dụng và đồ đồng mỹ nghệ tại Nam Định, Thái Bình; và ba mươi phần trăm còn lại sẽ được trích lập ngay lập tức vào Quỹ dự phòng rủi ro thanh khoản do Kiều Trang toàn quyền kiểm soát độc lập. Minh Anh có thể không phải là kẻ lớn nhanh nhất, không phải là kẻ ồn ào nhất trên mặt báo, nhưng chúng tôi cam kết sẽ là người sống sót cuối cùng khi bong bóng đốt tiền điên cuồng của thị trường này phát nổ.”

Cả căn phòng hai mươi lăm mét vuông chìm vào một sự im lặng tuyệt đối.

Tiếng gió thu se lạnh rít khẽ qua khe cửa sổ kính chưa đóng kín. Tiếng còi xe tải vọng lại từ phía đại lộ Thăng Long xa xôi càng làm nổi bật sự tĩnh mịch đến nghẹt thở bên trong phòng họp. Hai trợ lý kiểm toán ngồi bất động, ngòi bút chì trên tay dừng hẳn giữa trang giấy trắng. Họ trố mắt nhìn người thanh niên mới ngoài hai mươi tuổi vừa đứng trước mặt họ — một người không có bằng tiến sĩ kinh tế từ nước ngoài, không khoác lên mình bộ vest hàng hiệu đắt tiền, nhưng vừa trình bày một bản chiến lược kinh doanh khúc chiết, mạch lạc, đanh thép và thực tế đến mức không một lý thuyết sách vở hàn lâm nào có thể bẻ gãy.

Không có lấy một từ ngữ sáo rỗng. Không có một con số nào bị thổi phồng. Từng luận điểm, từng giải pháp đều được neo chặt vào thực tế nghiệt ngã của đời sống, vào những bài học xương máu được rút ra từ trận bão lụt vừa qua, và gắn chặt với chính mạng lưới tiểu thương chân lấm tay bùn mà anh đã gắn bó máu thịt suốt bốn năm ròng rã.

Bên cạnh anh, Kiều Trang khẽ mỉm cười. Hai bờ vai cô thả lỏng, đôi mắt lấp lánh niềm kiêu hãnh khôn nguôi và một sự xúc động sâu lắng đến nghẹn ngào. Cô biết, người đàn ông đứng cạnh mình lúc này đã thực sự trút bỏ được gánh nặng u tối của quá khứ, đã thực sự trưởng thành và lột xác để trở thành một nhà lãnh đạo chân chính — một người thuyền trưởng không cần gầm thét nhưng vẫn đủ uy nghi để dẫn dắt con tàu vượt qua giông bão.

Lương Ngọc Mai ngồi bất động suốt gần hai phút đồng hồ.

Ánh mắt sắc sảo của người phụ nữ từng kinh qua hàng trăm cuộc đàm phán tài chính khốc liệt nhìn sâu vào đôi mắt của Đức Anh. Cô nhìn như muốn soi rọi, muốn dò xét đến tận đáy tâm can của người thanh niên trẻ tuổi đối diện, tìm kiếm xem liệu có bất kỳ sự giả dối, bất an hay mông muội nào còn sót lại hay không.

Nhưng đáp lại cô chỉ là một mặt hồ phẳng lặng, kiên định và trong suốt.

Một tiếng thở dài nhẹ nhõm, rất khẽ, rốt cuộc cũng thoát ra từ lồng ngực người phụ nữ thép. Toàn bộ sự sắc lạnh, dò xét trên gương mặt Mai tan biến, nhường chỗ cho một nụ cười rạng rỡ, ấm áp và hoàn toàn bị thuyết phục. Đó là nụ cười của một nhà đầu tư vừa tìm thấy một viên ngọc thô thực sự giữa một bãi cát đầy những mảnh thủy tinh lấp lánh giả tạo.

Mai đưa tay mở chiếc cặp da đen đặt bên cạnh chân bàn, cẩn thận rút ra một tập tài liệu dày cộp đã được in sẵn trên nền giấy trắng tinh, bốn góc vuông vức và mép giấy đóng dấu giáp lai đỏ chót cẩn thận.

“Một bài bảo vệ xuất sắc, Đức Anh,” Mai cất tiếng, giọng nói của cô lúc này trầm ấm, đĩnh đạc và mang đầy sức nặng của sự tôn trọng. “Thành thật mà nói, trước khi bước chân vào căn phòng này sáng nay, tôi đã chuẩn bị sẵn phương án cắt giảm mức đầu tư xuống còn một nửa, hoặc thậm chí là hủy bỏ toàn bộ thương vụ, rút lui ngay lập tức nếu anh vẫn tiếp tục giữ cái thái độ ngạo mạn, phòng thủ và thói quen quản trị doanh nghiệp bằng linh cảm cá nhân như hôm chúng ta gặp nhau ở quán trà. Nhưng những gì anh và Kiều Trang thể hiện suốt ngày hôm nay đã chứng minh cho tôi thấy một sự thật: Minh Anh không phải là một dự án làm chơi của một đám sinh viên mới lớn thừa nhiệt huyết nhưng thiếu thực tế. Các bạn là một tập thể có kỷ luật thép, có dũng khí đối diện sòng phẳng với sai lầm của chính mình, và quan trọng nhất — các bạn là những người hiếm hoi biết rõ mình đang đứng ở đâu trên mặt đất.”

Mai dùng hai tay đẩy tập tài liệu dày dạn sang giữa bàn, xoay ngược chiều lại một trăm tám mươi độ để hướng thẳng về phía Đức Anh và Kiều Trang.

Trên trang bìa trang trọng của tập tài liệu, dòng chữ in hoa đậm nét nổi bật dưới ánh đèn tuýp trắng:

**HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ CHIẾN LƯỢC VÒNG HẠT GIỐNG VÀ THỎA THUẬN CỔ ĐÔNG**.

“Bản hợp đồng này giữ nguyên định giá công ty sau đầu tư là ba tỷ đồng. Tôi sẽ rót đủ sáu trăm triệu đồng để nắm giữ hai mươi phần trăm cổ phần mới phát hành của Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Minh Anh,” Mai nói chậm rãi, rành mạch từng câu từng chữ. “Và đúng như những gì các bạn mong muốn, các điều khoản giải ngân sẽ không được rót ồ ạt một lần duy nhất để ru ngủ sự cảnh giác và kỷ luật tài chính của ban điều hành, mà được phân kỳ nghiêm ngặt theo từng cột mốc vận hành thực tế.”

Mai đưa ngón tay trỏ chỉ thẳng vào bảng điều khoản thanh toán nằm ở trang thứ ba của tập hồ sơ:

“Đợt một: Hai trăm triệu đồng đầu tiên sẽ được chuyển thẳng vào tài khoản Vietcombank của công ty ngay sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký sửa đổi giấy phép kinh doanh và danh sách cổ đông tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội. Đợt hai: Hai trăm triệu đồng tiếp theo sẽ được kích hoạt giải ngân khi và chỉ khi tỷ lệ hoàn đơn trên toàn hệ thống duy trì ổn định dưới mức tám phần trăm liên tục trong sáu mươi ngày. Và đợt ba: Hai trăm triệu đồng cuối cùng chỉ được chuyển giao khi doanh thu thuần từ mảng dịch vụ số hóa tiểu thương đạt mức tăng trưởng ba mươi phần trăm trong hai quý liên tiếp mà không có bất kỳ tháng nào bị âm dòng tiền hoạt động thuần.”

Dứt lời, Mai rút cây bút máy mạ vàng cài trên túi áo ngực của mình ra. Cô nhẹ nhàng đặt nó nằm ngay ngắn, song song bên cạnh tập hợp đồng dày cộp:

“Quyền kiểm soát tài chính độc lập và quyền duyệt chi vận hành hằng ngày vẫn thuộc về Giám đốc tài chính Kiều Trang. Tôi chỉ giữ một ghế thành viên biểu quyết trong Hội đồng quản trị và quyền phủ quyết đối với các khoản chi ngoài ngân sách có giá trị trên ba mươi triệu đồng. Nếu hai bạn đồng thuận với các kỷ luật quản trị mang tính sống còn này, hợp đồng của chúng ta coi như được thiết lập ngay tại đây.”

Hợp đồng đầu tư được đặt lên bàn với điều khoản giải ngân theo từng cột mốc thực tế.

Đức Anh nhìn tập hồ sơ phẳng phiu trước mặt, nhìn dòng mực đen in rõ từng điều khoản chặt chẽ, minh bạch, rồi từ từ quay sang nhìn Kiều Trang. Bốn mắt nhìn nhau, một sự thấu hiểu sâu sắc và bình yên không lời truyền qua ánh mắt. Anh khẽ mỉm cười, đưa tay cầm lấy cây bút máy của Lương Ngọc Mai, sẵn sàng bước qua cánh cửa của một chương mới — nơi không còn chỗ cho những ảo tưởng kiểm soát mù quáng, mà chỉ có sự minh bạch, kỷ luật và niềm tin vững chắc vào thực tế đang chờ đón phía trước.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn