Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡC.39 / 40
Chương 39

Sau Cơn Nước Rút

Dòng nước lũ sông Vân Hà rút dần để lộ những bãi bồi xám xịt phủ đầy cành củi mục; nhịp sống tại Đạo quán Vọng Đăng chuyển dịch từ trạng thái khẩn cấp sang bài toán mưu sinh thường nhật. Mùi bùn sình ngai ngái bốc lên dưới nắng sớm, quyện với mùi tro trấu và vôi sống rải quanh các rãnh thoát nước đã khô cạn một nửa. Tiếng búa gõ lách cách của thợ mộc, tiếng chổi tre quét sàn đá rửa phù sa, cùng tiếng trẻ con ê a nói cười sau bao ngày nín thở vì sấm sét bão bùng đã trả lại cho đỉnh Đoạn Phong một nhịp thở trần tục nhưng vững chãi.

Nắng non rọi xiên qua những rặng tràm sót lại sau trận sạt lở, hắt những vệt sáng vàng vọt lên mặt sân tiền điện loang lổ vết bùn khô đóng vảy. Đất đá dưới chân hãy còn nhão nhoét ở những hốc trũng, nhưng trên nền đá tảng hoa cương – nơi dựng ba gian tiền đường của đạo quán – mặt sàn đã được cạo sạch lớp rêu nhớt. Từng vệt nước rửa dội bằng nước suối pha nước tro chảy tràn ra mép rãnh thoát nước xẻ dọc sườn nam, cuốn theo những vụn lá khô và cát vụn, sôi lục bục rồi biến mất vào lòng đất qua các ống gốm nung dẫn dòng mà Lâm Tự và đám thợ mộc vừa chôn sâu hai thước hôm qua.

Bùi Hạ đứng bên bờ tường thấp chái tây, nơi đặt ba giàn phơi củ mài và ngô hạt còn sót lại. Bờ tường này ghép bằng đá phiến vụn, mạch vữa vôi trộn mật mía hãy còn sực mùi ngòn ngọt ngai ngái, mép trên phẳng lì đóng vai trò như một giá đỡ tự nhiên hứng trọn luồng gió nam hanh hao thổi thốc từ hẻm núi lên. Cánh tay phải của nàng vẫn được nẹp chặt bằng hai thanh gỗ táu mỏng, quấn lớp vải gai thoang thoảng mùi cao tiêu viêm của Đỗ Nghi. Những đốt ngón tay đã bớt sưng tím, lớp da mu bàn tay tróc từng mảng vảy mỏng như vỏ hành, nhưng vết rách kinh mạch bên dưới làn da vẫn râm ran nhức buốt mỗi khi gió đổi chiều. Đó là cái giá của việc cưỡng ép luân chuyển toàn bộ luồng địa khí quá tải qua trận bàn rách nát đêm hôm kia. Mỗi lần khớp ngón tay co lại, một tia nhức buốt từ huyệt Lao Cung lại giật ngược lên tận cùi chỏ, tựa hồ có một sợi cước đồng bị kéo căng quá mức đang chực đứt bung dưới thớ thịt.

Nàng dùng tay trái lật đều từng lát củ mài khô giòn trên mặt nia, mắt dõi xuống chân núi. Củ mài năm nay nhỏ, thớ sượng và nhiều xơ vì ngập nước lâu ngày, nhưng khi thái mỏng phơi qua hai con nắng hanh thì co quắt lại, khô khốc như những mảnh xương trắng gầy guộc. Đó là chỗ lương thực dự trữ quý giá nhất mà họ vét được từ các kho xơ xác của nạn dân trước khi nước tràn bờ. Bên cạnh, những bắp ngô đỏ hạt lép kẹp nằm phơi mình trên lớp cót tre đan mắt cáo, thỉnh thoảng lại lách tách nứt vỏ dưới hơi ấm dần gắt gao của mặt trời.

Dưới con đường mòn dốc nam vừa được tu sửa sau vụ sụt lở, một bóng áo chàm quen thuộc đang sải bước thoăn thoắt đi lên. Con đường ấy hai hôm trước hãy còn là một dải bùn nhão nhoét nuốt chửng bắp chân người đi bộ, nay đã được chèn tạm bằng hàng trăm thanh tà vẹt gỗ thông mục và đá hộc do đám thợ thuyền cùng nạn dân khiêng vác thâu đêm. Bùn đỏ bám dính lấy mép xà cạp bằng vải thô, khô lại thành từng mảng cứng quắc theo mỗi nhịp chân vung lên. Đó là Trần Đại, một trong bốn người thợ chèo đò đứng tên trong sổ đinh sáng lập tông môn, người vừa nhận ca tuần tra và tiếp nhận tin tức từ Bến Bạch Sa sáng nay.

Bước chân Trần Đại dồn dập trên thềm đá hoa cương. Đôi hài cỏ của y mòn vẹt đế, hai ống quần ướt sũng nước sương và bùn lầy ven bến, chiếc nón lá rách vành cắp bên sườn để lộ mái tóc búi tó bết chặt mồ hôi muối. Y dừng lại trước mặt Bùi Hạ, lấy hơi thở dốc một nhịp rồi chắp tay cúi chào theo đúng lễ nghi sơ lập mà lão thợ đá Nguyễn Mộc đã cẩn thận chép vào điều lệ nội bộ:

"Báo cáo Chưởng môn, có tin chuẩn xác từ bến dưới truyền lên."

Bùi Hạ dừng tay lật mành củ mài, ngẩng đầu, ánh mắt thoáng chút lo âu:

"Tin về Lê Chi hay về phía quan huyện?"

"Cả hai, nhưng tin về Lê muội tử đến trước." Trần Đại gạt mồ hôi trên trán, bàn tay thô ráp quệt ngang sống mũi cay xè, giọng vừa bức xúc vừa nhẹ nhõm. "Quả đúng như dự liệu của người. Tạ Duy sau khi tháo lui nhục nhã khỏi núi hôm qua đã quay về trút giận lên kho hồ sơ bến sông. Y tức tối đến mức không kịp thay bộ trường bào ướt sũng, lập tức dâng tấu thư lên Ty Giám Sát Thanh Huyền Môn, khép Lê Chi vào tội 'tự ý sao lục chứng từ mật, tiếp tay cho ngoại nhân làm tổn hại danh dự sơn môn'. Sáng sớm nay, lệnh bãi chức quản sự kho dã chiến của muội ấy đã được dán công khai tại Bến Bạch Sa. Bọn chấp sự ngoại môn thậm chí còn toan tịch thu môn bài, áp giải nàng về giam lỏng ở phân đường hạ lưu để tra khảo xem ai đã tiết lộ sổ đen sổ đỏ của các chuyến thuyền chở khoáng thạch."

Bùi Hạ siết nhẹ những đầu ngón tay trái, khớp ngón tay trắng bệch ra trên vành nia tre, giọng trầm xuống:

"Lê Chi có an toàn không? Gia quyến muội ấy ở xưởng mộc ngoại môn ra sao?"

"Chưởng môn yên tâm," Trần Đại cười một tiếng sảng khoái, ánh mắt ánh lên vẻ khâm phục vô hạn đối với những người đàn bà sông nước. "Hà Thu tỷ bên Hội Đồng Châu hành động nhanh như chớp. Ngay trong đêm, khi đám tay sai của Tạ Duy còn đang họp kín bàn mưu tính kế trong sảnh đường bến cảng, Hà tỷ đã cho thuyền nan cập sát mép bờ lau, bí mật đón cả cha già lẫn hai đứa em nhỏ của Lê Chi rời khỏi khu xưởng thợ. Người già thì cõng trên lưng, đồ đạc chỉ gom một bọc áo ấm với cái tráp mộc cũ kỹ. Sáng nay, khi lệnh trục xuất của Thanh Huyền Môn vừa phát ra, bản bố cáo mực còn chưa ráo thì Hà tỷ đã dẫn mười hai tay chèo của hội, tay lăm lăm chèo gỗ bọc sắt đứng vây quanh kho, đón thẳng Lê Chi lên thuyền lớn giữa thanh thiên bạch nhật. Hiện tại, Lê Chi đã chính thức cởi bỏ áo môn đệ tử Thanh Huyền, vứt trả lại môn bài bằng gỗ sam thô thiển, nhận lệnh bài điều phối viên của Hội Đồng Châu, phụ trách độc lập toàn bộ sổ sách cứu trợ, kiểm kê kho vận và phân bổ lương thực cho các điểm tị nạn dọc triền sông. Có Trấn Linh Ty và huyện nha đứng sau lưng giám sát sau vụ bắt quả tang hôm qua, người của Thanh Huyền Môn chỉ biết đứng trừng mắt nhìn mà không dám động thủ nửa ngón tay!"

Bùi Hạ thở hắt ra một hơi dài, tảng đá đè nặng trong lồng ngực nàng suốt đêm qua cuối cùng cũng rớt xuống đất, để lại một khoảng trống nhẹ bẫng nhưng tê buốt. Nàng đưa mắt nhìn về phía hạ lưu, nơi dòng sông Vân Hà như một dải lụa xám ngắt cuộn tròn dưới sương sớm. Thanh Huyền Môn tuy chưa sụp đổ, cái bóng đồ sộ của nó vẫn còn ngự trị trên đỉnh núi cao ngoài vùng ngập lụt, hệ thống môn quy và quyền uy hàng trăm năm tích tụ của bọn họ vẫn là một bóng ma đè nặng lên từng số phận bến bãi, nhưng ít nhất móng vuốt của Tạ Duy đã bị chặt đứt tại Đoạn Phong. Việc Lê Chi rời bỏ nơi tàn nhẫn ấy để gia nhập một mạng lưới cứu trợ dân sự như Hội Đồng Châu không chỉ bảo toàn tính mạng cho nàng cùng gia đình, mà còn tạo ra một mắt xích kiểm soát minh bạch hiếm hoi giữa vùng hạ lưu hỗn loạn này.

"Hà Thu làm việc rất quyết đoán," Bùi Hạ khẽ gật đầu, ngón tay cái bên trái vô thức miết nhẹ lên lớp nẹp gỗ của cánh tay phải bị thương. "Có Lê Chi giữ sổ sách độc lập, từ nay những bao gạo, hạt muối của bá tánh gom góp cứu nhau sẽ không còn bị bàn tay của bọn con buôn hay môn phiệt xà xẻo. Lê Chi hiểu tường tận từng ngóc ngách kho bãi, biết rõ thuyền nào chở hàng lậu, thuyền nào ém gạo mốc để đổi gạo mới. Nàng ấy ở đó, bọn tham quan muốn giở trò cũng phải chùn tay ba phần."

Trần Đại gật đầu phụ họa, đưa mắt nhìn quanh quất xem có ai chú ý hay không, rồi cẩn trọng rút từ trong túi vải đeo bên hông ra một phong thư dày cộm, niêm phong bằng sáp ong màu lam thẫm, kèm theo một ống nứa dài đã được sấy khô, hai đầu bịt da mang cá trám kín kẽ:

"Còn việc này nữa, Chưởng môn. Lúc tôi chuẩn bị rời bến, một người thợ trẻ lạ mặt tự xưng là học trò của Trần lão tiên sinh đã chặn đường tôi lại nơi ngã ba bến than. Cậu ta giao tận tay bức thư riêng này cùng ống nứa, dặn đi dặn lại phải trao tận tay người, tuyệt đối không được để rơi vào tay người ngoài hay lọt qua mắt chấp sự Thanh Huyền."

Bùi Hạ đón lấy ống nứa và phong thư. Vết niêm phong sáp ong màu lam thẫm mang dấu ấn hình bàn trận thất tinh cách điệu — ký hiệu riêng của Trần Kính, người thầy dạy nghề cũ đã từng dạy nàng từng nét khắc rãnh linh lưu đầu tiên trên đá hoa cương, người đã dạy nàng cách phân biệt giữa thạch anh dẫn khí và đá bazan cản mạch từ những ngày nàng còn là một đứa trẻ gầy gò nhặt phế liệu trong xưởng trận. Dấu sáp hãy còn nguyên vẹn, góc trên bên phải có một vệt khía chéo nhỏ bằng đầu móng tay — ám hiệu cơ mật mà ông chỉ dùng cho những thư tịch kỹ thuật hệ trọng nhất.

Nàng bước vào gian chính điện, nơi ánh nắng rọi qua khung cửa chớp gỗ lim còn thơm mùi nhựa mới. Không gian trong điện mát lạnh và trang nghiêm. Bức hoành phi khắc bốn chữ "Tông Môn Sơ Lập" do chính tay Đinh kiểm định của Trấn Linh Ty phê chuẩn hôm qua được đặt trang trọng trên hương án bằng đá xanh, bên cạnh là chiếc lò hương nhỏ bằng gang nguội ngắt. Đặt phong thư lên chiếc bàn gỗ táu mộc mạc, Bùi Hạ dùng đầu dao con cẩn thận rạch lớp sáp niêm phong.

Bên trong phong thư là mấy tờ giấy hoa tiên đã ngả màu ố vàng, phủ kín nét chữ thanh mảnh, nghiêm cẩn nhưng thoáng nét run rẩy của tuổi già. Trần Kính viết rất ngắn gọn. Ông không thanh minh cho những quyết định nghiệt ngã năm Kỷ Mão, khi ông cùng hội đồng trưởng lão Ty Trận Vụ đồng thanh ký vào lệnh trục xuất nàng khỏi sơn môn vì nàng dám chất vấn độ an toàn của cấu trúc đập đá ngầm. Ông cũng không cầu xin sự tha thứ của người học trò từng bị ông bỏ phiếu trục xuất để đổi lấy sự yên ổn cho chiếc ghế chấp sự của mình. Ông chỉ bày tỏ sự nhẹ nhõm khi thấy Đạo quán Vọng Đăng đã vượt qua phiên thẩm định nghiệt ngã của Trấn Linh Ty để giành lấy danh phận hợp pháp, tự đứng vững trên đôi chân của một tông môn cấp cơ sở.

Kèm theo bức thư là bản vẽ chuẩn mực dài bốn thước được rút ra từ ống nứa: «Toàn Đồ Quy Chuẩn Tuyến Dẫn Linh Vùng Thung Lũng Nam Khê». Bùi Hạ trải rộng tấm bản đồ lên mặt bàn. Mùi giấy điệp ủ hương trầm quyện với mùi mực nho nồng đậm xộc vào cánh mũi. Đó là bản vẽ trắc đạc địa mạch chi tiết nhất do chính tay Trần Kính đo đạc trong suốt hai mươi năm làm việc tại Ty Trận Vụ, chỉ rõ các huyệt vị linh khí ngầm, các tầng địa chấn rỗng và biên độ chịu tải cơ học chuẩn xác của từng khúc sông, từng vách núi quanh lưu vực Vân Hà. Từng đường nét mực đỏ mực đen đan xen chằng chịt: nét đỏ chỉ mạch nước ngầm nhiễm khoáng, nét đen chỉ tầng đá gốc chịu lực, và những vòng tròn mực xanh đánh dấu các túi khí nguy hiểm có nguy cơ bùng phát khi áp lực nước dâng cao. Cuối thư, lão thợ trận viết:

*“Vọng Đăng đã có gốc rễ của riêng mình, ngọn đèn trên núi không còn là ngọn nến lẻ loi trước gió bão. Bản vẽ này là tâm huyết cả đời vi sư tích lũy, giao lại cho con xem như trả lại món nợ nghề nghiệp năm xưa. Ty Trận Vụ đã bắt đầu thanh tra nội bộ sau biến cố Đê Hồi Long, vi sư đã xin cáo lão lui về ẩn cư tại thôn dã hạ lưu. Nếu Vọng Đăng cần vật tư chính quy hoặc cần danh nghĩa để hợp tác kỹ thuật lâu dài với hệ thống các xưởng trận, vi sư có thể làm cầu nối đứng tên bảo lãnh...”*

Bùi Hạ vuốt phẳng mép giấy bản vẽ. Mực nho sắc nét, từng số đo độ dốc rãnh xả, từng tỷ lệ phối trộn thạch anh và huyền thạch đều đạt đến độ tinh chuẩn tuyệt đối. Từng con số ghi chú về độ giãn nở nhiệt của đá granite ở mỏm Đoạn Phong trùng khớp đến kinh ngạc với những gì nàng vừa tính toán trong đêm hộ đê. Đây là một tài sản kỹ thuật vô giá đối với một tông môn sơ lập còn non trẻ như Vọng Đăng am, một thứ tri thức mà phàm nhân hay tiểu phái phải đánh đổi bằng xương máu của ba đời thợ mới có thể đúc kết nên.

Tuy nhiên, trước lời đề nghị bảo lãnh và hợp tác kỹ thuật lâu dài, ánh mắt Bùi Hạ không hề dao động. Đôi đồng tử nàng phẳng lặng như mặt nước giếng Thạch Nhãn lúc đêm sâu. Nàng hiểu quá rõ cơ chế vận hành của các môn phái lớn. Bất kỳ sự bảo trợ nào, dù xuất phát từ lòng tốt của một cá nhân như Trần Kính, sớm muộn cũng sẽ trở thành cái thòng lọng để sơn môn thọc tay vào quyền tự quyết của đạo quán. Một khi đã nhận sự "bảo lãnh", Vọng Đăng am sẽ lại bị kéo vào guồng quay thứ bậc, lại trở thành một chi nhánh phái sinh chịu sự điều động của Ty Trận Vụ, và một ngày nào đó, họ lại có quyền ra lệnh đóng hay mở cống xả lũ lên đầu dân nghèo để bảo toàn tài sản cho thượng lưu.

Nàng lấy nghiên mực đá, mài chút mực đen bằng tay trái. Cổ tay nàng hơi gượng gạo, nét mực ban đầu có phần run rẩy, nhưng càng viết, từng nét chữ trên tờ giấy bổi thô càng trở nên dứt khoát, sắc bén:

*“Kính gửi Trần lão sư,* *Bản vẽ trắc đạc địa mạch của người là chuẩn mực kỹ thuật mà Vọng Đăng am sẽ lấy làm mẫu mực để đối chiếu, tu bổ các công trình phòng hộ địa phương. Vọng Đăng xin ghi nhận và chân thành cảm tạ tri thức nghề nghiệp mà người đã trao truyền.* *Tuy nhiên, Vọng Đăng am sơ lập trên nền tảng máu, mồ hôi và sự tự nguyện của ba mươi hai phàm nhân cùng nạn dân hoạn nạn. Chúng con đã được Trấn Linh Ty công nhận độc lập, và sẽ kiên trì giữ vững nguyên tắc tự chủ hoàn toàn về kỹ thuật lẫn tổ chức. Mọi hợp tác trong tương lai giữa Vọng Đăng và các xưởng trận bên ngoài chỉ được thiết lập trên cơ sở hợp đồng bình đẳng, minh bạch và độc lập về pháp nhân, không thông qua bất kỳ sự bảo trợ môn phái nào.* *Kính chúc lão sư an dưỡng tuổi già thanh thản.”*

Nàng thổi khô nét mực, gập đôi tờ giấy bổi lại, niêm phong bằng sáp nến thường màu trắng đục, giao lại cho Trần Đại để chuyển xuống hạ lưu ngay trưa nay. Trần Đại đón lấy phong thư, cất kỹ vào túi trong, khẽ cúi đầu chào rồi rảo bước ra ngoài.

Khi bóng áo chàm của Trần Đại vừa khuất sau rặng tre đầu dốc, tiếng bước chân lẹp xẹp của hài lụa đế mỏng cùng tiếng cười lanh lảnh đã vang lên ngoài sân am, xua tan bầu không khí trầm mặc của ngôi điện.

Tống Mai bước vào. Hôm nay nàng không còn mặc chiếc áo lụa điệu đà vướng víu hôm trước nữa. Thay vào đó là một bộ áo vải gai bó gọn gàng màu hạt dẻ, tay áo xắn cao để lộ đôi cổ tay trắng trẻo nhưng rắn rỏi, mái tóc dài được búi cao gọn gàng bằng một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc không chạm khắc cầu kỳ. Đi sau nàng là hai người phu thồ dáng vẻ lực lưỡng, dắt theo hai con la béo tốt, trên lưng chở mấy hòm gỗ nặng trịch đóng đai sắt chắc chắn, móng sắt của lũ la gõ cồm cộp lên mặt đá sân am.

"Bùi Chưởng môn, hôm nay khí sắc trông tốt hơn nhiều rồi đấy," Tống Mai cất giọng giòn giã, đưa tay phủi lớp bụi đường bám trên vạt áo, mắt đảo một vòng quanh khu tiền điện vừa được dọn dẹp ngăn nắp. "Nghe nói sáng nay người của huyện phủ và Trấn Linh Ty đều đã xuống núi, ta đoán Vọng Đăng các vị đang cần tính toán lại sổ sách nợ nần, nên vội vàng đại diện thương hội lên đây thanh lý hợp đồng cũ cho dứt điểm. Làm ăn buôn bán, tiền bạc phân minh thì tình nghĩa mới bền lâu được."

Bùi Hạ bước ra đón, khẽ mỉm cười, nghiêng người làm dấu mời:

"Mời Tống cô nương vào chái đông. Phạm tỷ và Nguyễn lão đã chuẩn bị sẵn bàn ghế và sổ sách chờ cô nương rồi."

Trong gian chái đông, không khí có phần căng thẳng hơn. Phạm Sương đã ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn dài ghép bằng những phiến gỗ dổi xẻ thô. Trước mặt bà là chiếc tráp gỗ đựng cuốn sổ nợ cũ sáu mươi tư lượng bạc trắng mà Tống Khải từng mua lại từ các chủ nợ trước để ép buộc đạo quán gán nợ nguồn nước. Những ngón tay của Phạm Sương nắm chặt vạt áo nâu sồng, đôi mắt quầng thâm lộ rõ vẻ mệt mỏi nhưng ánh lên nét kiên nghị. Lão thợ đá Nguyễn Mộc ngồi bên cạnh, chiếc lưng hơi còng xuống, tay cầm sẵn bút lông và nghiên mực, gương mặt già nua nghiêm trang như một viên thư lại chốn công đường. Trên bàn, ngọn đèn dầu lạc leo lét tỏa mùi khét nhè nhẹ, soi rõ từng thớ gỗ xù xì.

Tống Mai ngồi xuống chiếc ghế đối diện, phong thái đĩnh đạc tự tin. Nàng tháo chiếc túi gấm viền chỉ vàng bên hông, lấy ra ba bản văn tự bằng giấy bìa vàng dày dặn có đóng dấu triện đỏ chót của phân hiệu Nam Khê thuộc Thương hội Tam Giang. Nàng hắng giọng, đưa mắt nhìn lướt qua ba người đối diện, rồi cất giọng với vẻ chuyên nghiệp và sòng phẳng đặc trưng của giới thương nhân sành sỏi:

"Trước mặt mọi người, ta xin tuyên bố rõ ràng: sau biến cố lũ quét hôm qua và phiên thẩm định của Trấn Linh Ty, thúc phụ ta — Tống Khải chủ sự — đã chính thức bị quan phủ triệu tập xuống huyện lỵ để điều tra về hành vi thông đồng với nhà thầu Cổ Thiệu tại khoang số năm Đê Hồi Long. Toàn bộ yêu sách đòi dùng văn tự nợ của Phạm Sương tỷ để siết quyền khai thác linh tuyền Thạch Nhãn hay mỏ sa khoáng núi Đoạn Phong đã bị Đinh kiểm định gạch bỏ hoàn toàn khỏi hồ sơ của hội đồng thương vụ. Phân hiệu Nam Khê của ta nay nắm toàn quyền xử lý các khoản công nợ tại khu vực này."

Phạm Sương khẽ thở dài một tiếng, đôi vai hơi chùng xuống như vừa trút bớt được một gánh nặng nghìn cân, nhưng ánh mắt nhìn thẳng vào Tống Mai, không hề né tránh:

"Tống cô nương, nợ của ta là nợ thật, ba mươi hai lượng bạc gốc vay mở quán cơm Nghĩa Phong và ba mươi hai lượng bạc lãi tích lũy qua những năm lũ lụt là sự thật. Ta chưa từng có ý định quỵt nợ. Những năm nước lớn, quán cơm bị cuốn trôi, khách khứa tản mác, ta không xoay xở đâu ra bạc trắng trả lãi, mới để nợ mẹ đẻ nợ con đến nông nỗi này. Chỉ là Vọng Đăng am là tài sản công ích, suối Thạch Nhãn là nguồn sống của bao nhiêu con người, ta tuyệt đối không thể để món nợ cá nhân của mình làm ô uế tông môn, biến mảnh đất che chở bá tánh thành tài sản riêng của phường buôn."

Tống Mai gật đầu, ánh mắt thoáng nét tán đồng, đưa tay đẩy một bản văn tự sang phía Phạm Sương:

"Phạm tỷ nói rất đúng. Ta buôn bán kiếm lời, nhưng ta không phải phường thổ phỉ hút máu người hoạn nạn. Ta biết rõ nếu siết nợ kiểu thúc phụ ta, chỉ tổ biến Vọng Đăng thành kẻ thù, mà một phân hiệu muốn làm ăn lâu dài ở chân núi Đoạn Phong thì cần một trạm kỹ thuật ổn định chứ không cần một bãi chiến trường. Lũ rút rồi, thuyền buôn của ta muốn qua lại an toàn trên khúc sông Nam Khê đầy đá ngầm này, vẫn cần ngọn Đăng Dẫn Lộ của các vị soi đường, vẫn cần thợ sửa thuyền của các vị vá đáy. Đây là «Biên Bản Thanh Lý Hợp Đồng Và Cơ Cấu Lại Nghĩa Vụ Nợ» do chính ta soạn thảo."

Nguyễn Mộc đeo chiếc kính lão bằng thủy tinh mờ có gọng sắt buộc dây gai, cẩn thận kéo tờ văn tự lại gần. Đôi mắt lão nheo lại dưới ánh đèn dầu, ngón tay trỏ chai sần rà từng dòng chữ một. Ông gật gù đọc to cho mọi người cùng nghe, chất giọng khàn đặc nhưng rành rọt từng chữ:

"Thứ nhất: Hủy bỏ toàn bộ các điều khoản thế chấp đất đai, nguồn nước Thạch Nhãn và quyền cư trú tại núi Đoạn Phong gắn liền với món nợ của Phạm Sương. Văn tự nợ cũ chính thức bị tiêu hủy trước sự chứng kiến của hai bên.

Thứ hai: Tái xác định tổng dư nợ theo đúng lãi suất luật định của Vương triều Vân Hà thời kỳ thiên tai. Khoản lãi phạt cắt cổ ba mươi hai lượng do Tống Khải tự ý áp đặt bị bãi bỏ hoàn toàn; tổng nợ chốt lại là bốn mươi hai lượng bạc trắng bao gồm ba mươi hai lượng nợ gốc và mười lượng tiền lãi hợp pháp tích lũy trong ba năm qua.

Thứ ba: Chuyển toàn bộ nghĩa vụ tài chính thành nghĩa vụ lao động công ích và dịch vụ kỹ thuật độc lập do Vọng Đăng am hiệp trợ thực hiện. Cụ thể: Vọng Đăng am nhận sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ các bộ la bàn dẫn khí, thước tầm sa và xe thồ hàng cho đoàn buôn của phân hiệu Nam Khê; Phạm Sương cùng các lao động nhàn rỗi nhận bốc dỡ, kiểm đếm hàng hóa tại bến đò mỗi khi thuyền hàng cập bến. Mỗi tháng khấu trừ hai lượng bạc vào nợ gốc cho đến khi thanh toán dứt điểm trong vòng hai mươi mốt tháng."

Đọc xong điều khoản cuối cùng, Nguyễn Mộc ngẩng đầu lên, tháo chiếc kính lão đặt xuống mặt bàn, khẽ gật đầu với Bùi Hạ và Phạm Sương:

"Khế ước này chuẩn mực, đúng theo Điển chế Vân Hà mục 'Cứu tế thương vụ niên hạn lụt lội', không có bẫy chữ, không có điều khoản ngầm xâm phạm quyền lợi tông môn. Rất sòng phẳng."

Phạm Sương nhìn tờ giấy bìa vàng, bàn tay run run đón lấy cây bút lông từ tay Nguyễn Mộc. Nàng ngước nhìn Bùi Hạ, trong mắt đong đầy sự cảm kích xen lẫn ngần ngại:

"Chưởng môn... việc sửa chữa pháp cụ dẫn khí của đoàn buôn..."

Bùi Hạ mỉm cười, giọng điềm tĩnh mà ấm áp:

"Vũ Liên và ta hoàn toàn có thể đảm đương việc bảo dưỡng pháp cụ phụ trợ cho đoàn buôn. Đó là công việc thuần túy kỹ thuật: mài lại kim nam châm, nạp lại linh khí cơ bản vào các lõi thạch anh và cân chỉnh độ lệch phương vị. Việc ấy vừa giúp đệ tử tập sự rèn luyện tay nghề, vừa tạo ra giá trị kinh tế hợp pháp nuôi sống đạo quán. Phạm tỷ, hãy ký đi. Món nợ của tỷ từ nay là một bản hợp đồng lao động chân chính, không còn ai có thể dùng nó để đe dọa tỷ hay đạo quán được nữa."

Phạm Sương cắn chặt môi, nén giọt nước mắt xúc động vừa dâng lên khóe mi. Nàng dứt khoát chấm mực, đặt bút ký tên mình bằng ba chữ nguệch ngoạc nhưng ngay ngắn dưới dòng văn tự, rồi ấn ngón tay cái dính mực đỏ chót vào mép dưới văn bản. Tống Mai đón lấy tờ giấy, ký tên điểm chỉ của mình một cách dứt khoát, rồi rút chiếc triện đồng hình vuông trong bọc gấm ra, đóng một dấu triện đỏ thẫm của phân hiệu Nam Khê lên trên chữ ký của hai người.

Nàng khẽ thở phào một hơi dài, tựa lưng vào thành ghế, nở nụ cười rạng rỡ làm sáng bừng cả gian chái đông ẩm mốc:

"Xong một việc lớn! Từ giờ ta với Phạm tỷ là đối tác làm ăn đàng hoàng, không còn chuyện đòi nợ siết đất bẩn thỉu nữa. Hai con la gửi ở sân sau, ta tặng lại cho đạo quán mười bao cám ngô xem như tiền cọc cho đợt sửa la bàn đầu tiên. Đường sá gập ghềnh, mấy bao cám này để các vị bồi dưỡng cho đám trẻ và thợ thuyền lấy sức."

Cuộc gặp gỡ vừa kết thúc thì ngoài cổng am lại vang lên tiếng gọi giòn giã, vang dội của Hà Thu:

"Bùi muội muội có trong am không? Ta mang giấy tờ liên tịch lên đây!"

Người phụ nữ chèo đò của Hội Đồng Châu sải những bước chân dài đầy sinh lực vào sân. Chiếc nón lá rộng vành khoác sau lưng bằng sợi dây gai dù, chiếc áo chẽn màu chàm sờn vai ướt đẫm mồ hôi, nhưng ánh mắt nàng sáng rực. Trên tay Hà Thu là một tập hồ sơ dày cộp đóng bằng giấy bản bọc da cá nhám chống nước, mép giấy còn vương vài hạt phù sa khô.

Bùi Hạ, Lâm Tự cùng lão thợ đá Nguyễn Mộc lại tề tựu tại gian chính điện để đón tiếp Hà Thu. Lần này, không khí giữa hai bên không còn là sự nghi ngại thăm dò như những ngày đầu chạy lũ, khi hai bên còn phải dè chừng từng bao gạo, từng mét dây thừng, mà là sự tôn trọng sâu sắc giữa hai tổ chức vừa cùng nhau trải qua sinh tử, cùng nhau giữ vững tính mạng cho hàng trăm con người trên đỉnh núi vỡ.

Hà Thu đặt tập hồ sơ nặng trịch lên bàn đá, không khách sáo nâng bát nước suối Thạch Nhãn mát lạnh do Lâm An bưng tới, uống ừng ực một hơi cạn sạch rồi lau mép, thẳng thắn mở lời:

"Bùi muội muội, Lâm huynh đệ, ta lên đây hôm nay là để bàn về chuyện lâu dài. Đợt lũ thứ hai đã rút, nhưng hậu quả của nó thì để lại vô cùng khủng khiếp. Dưới Bến Bạch Sa và các gò đất ven sông, người tị nạn mất nhà cửa, mất ruộng vườn kéo về đông như kiến cỏ. Nhà trôi, trâu bò chết nổi lềnh bềnh, dịch bệnh bắt đầu manh nha ở mấy bãi bùn lầy. Hội Đồng Châu chúng ta có thuyền bè, có mạng lưới thông tin, có sức người dẻo dai bám mặt nước, nhưng không có đất cao để dựng trạm kỹ thuật, cũng không có người biết sửa sang công trình hay thanh lọc nguồn nước nhiễm độc linh sa như Vọng Đăng."

Bùi Hạ ngồi ngay ngắn đối diện, nhìn thẳng vào mắt Hà Thu, nghiêm túc nói:

"Hà tỷ, Vọng Đăng am luôn sẵn sàng cứu người, đó là tôn chỉ ghi trên bia đá cổ nghìn năm của đạo quán. Nhưng tỷ cũng thấy rồi đấy, sau vụ sạt lở sườn đông và phiên thẩm định của Trấn Linh Ty, chúng ta bắt buộc phải giới hạn phạm vi phòng hộ trong ba mươi trượng vuông vùng lõi. Nền địa tầng của đỉnh Đoạn Phong đã xuất hiện vết nứt ngầm, không thể chịu thêm tải trọng của hàng trăm lán trại tạm bợ. Nguồn nước Thạch Nhãn mỗi ngày chỉ rỉ ra hai mươi tư gánh, kho lương dự trữ của chúng ta sau đêm cứu nạn chỉ còn đủ ăn dè sẻn mười hai ngày. Chúng ta không thể biến Vọng Đăng thành một trại tị nạn vô hạn định. Nếu nhận quá tải, cả nền đá lẫn kho lương đều sẽ sụp đổ, và khi ấy, không ai có thể sống sót."

"Ta hiểu chứ! Ta đâu có mù quáng đến mức bắt các muội phải gánh cả thiên hạ!" Hà Thu đập mạnh bàn tay thô ráp xuống bàn, giọng đầy thấu hiểu và chân thành. "Đó chính là lý do ta cùng Lê Chi thức trắng đêm qua để thảo ra bản «Quy Chế Phối Hợp Liên Vùng Giữa Hội Đồng Châu Và Tông Môn Vọng Đăng» này. Làm việc nghĩa cũng phải có quy củ, có ranh giới rõ ràng thì mới bền được."

Hà Thu trải rộng tờ bản đồ phân vùng dọc lưu vực sông Vân Hà ra bàn, ngón tay trỏ đen đúa vì cháy nắng gõ nhịp vào từng điểm mốc:

"Quy chế xác định rất rõ ràng:

Một: Đạo quán Vọng Đăng giữ vai trò là 'Điểm Tựa Kỹ Thuật Và Trạm Trung Chuyển Cứu Trợ Khẩn Cấp'. Đạo quán chỉ tiếp nhận người bị thương nặng, người nhiễm độc mạt linh sa cấp tính cần bàn tay của Đỗ Nghi y sĩ cứu chữa, hoặc tiếp nhận các đoàn nạn dân tạm trú trong thời gian không quá hai ngày đêm giữa các đợt thiên tai đột xuất. Vọng Đăng tuyệt đối không nhận bao tiêu nơi ăn chốn ở lâu dài cho người tị nạn không thuộc biên chế tông môn.

Hai: Hội Đồng Châu chịu trách nhiệm thiết lập các lán trại vệ tinh ở các gò đất cao phía dưới chân núi như gò Đất Sét, lo liệu việc gom góp lương thực, củi đốt, bạt dầu và tổ chức vận tải đường thủy. Đổi lại, Vọng Đăng am sẽ hỗ trợ kỹ thuật: chia sẻ một phần nước sạch đã khử trùng từ Thạch Nhãn theo định mức hai gánh mỗi ngày cho trạm xá dã chiến dưới chân núi; cử thợ mộc của Lâm huynh hỗ trợ thiết kế khung giằng chống lốc xoáy cho các lán trại; và Bùi muội sẽ giúp kiểm tra, cảnh báo sớm biến động địa mạch hay rò rỉ khí độc từ thượng nguồn thông qua mạng lưới quan trắc của ngọn Đăng Dẫn Lộ."

Bùi Hạ chăm chú lắng nghe, trong lòng thầm thán phục sự rành rẽ, thực tế của bản quy chế. Đây chính là mô hình hợp tác bền vững mà nàng hằng tìm kiếm: không dựa trên sự ban ơn cảm tính, không vượt quá năng lực chịu tải của cơ sở vật chất, mà gắn kết chặt chẽ bằng sự phân công lao động và trao đổi tài nguyên minh bạch. Hội Đồng Châu có sông nước, Vọng Đăng có điểm tựa trên cao; Hội có sức người, Vọng Đăng có tri thức kỹ nghệ.

Lâm Tự đứng bên cạnh, hai tay khoanh trước ngực áo thợ mộc hãy còn dính dăm bào, gật đầu tán thành:

"Quy chế này rất kín kẽ. Đạo quán giữ được tính tự chủ và an toàn, phàm nhân dưới bến có được chỗ dựa kỹ thuật, mà người của chúng ta cũng không bị vắt kiệt sức lực vào những việc cứu trợ vô vọng. Về phần khung giằng lán trại, chiều nay tôi có thể đưa hai cậu học trò xuống gò Đất Sét hướng dẫn bà con cách chêm mộng gỗ chống gió lốc, dùng cành cây bện rào chắn bùn."

Nguyễn Mộc cầm bút rà soát lại từng từ ngữ trong văn bản da cá nhám, đối chiếu cẩn thận với quy định về hiệp hội dân sự trong Điển chế Vân Hà, rồi ngẩng lên xác nhận tính pháp lý công ích hoàn toàn phù hợp. Bùi Hạ và Hà Thu cùng nhau ký tên, chấm ngón tay vào hộp chu sa đỏ tươi rồi điểm chỉ vào hai bản quy chế phối hợp, chính thức xác lập liên minh dân sự vững chắc đầu tiên giữa vùng núi Đoạn Phong và mạng lưới đường thủy hạ lưu.

Vừa lúc bản quy chế được cuộn lại gọn gàng, tiếng loa đồng trầm đục và tiếng vó ngựa lộp cộp đã vang lên từ phía cổng nam am thất.

Huyện thừa Hoàng Cẩn, khoác chiếc áo bào xanh sẫm phủ đầy bụi đất và nếp nhăn sau những ngày chạy đôn chạy đáo chống lũ, đích thân dẫn theo một toán nha sai và hai cỗ xe bò tiến vào sân am. Chiếc mũ cánh chuồn của ông ta hơi lệch, đôi hài quan bám đầy bùn non chưa kịp gạt, nhưng ánh mắt đã lấy lại vẻ uy nghiêm của một vị quan cai trị địa phương. Đi theo sau hai cỗ xe bò là hơn ba mươi người tị nạn vừa được đội cứu hộ Vọng Đăng vớt lên từ mỏm Gai Bồ Kế hôm qua. Quần áo của họ đã được giặt sạch bùn đất, phơi khô trên vách đá; những vết thương ngoài da đã được Đỗ Nghi bôi thuốc tiêu viêm đóng vảy; nét mặt tuy còn hốc hác, xanh xao sau cơn đói rét nhưng trật tự, bình thản, không còn vẻ hoảng loạn bạt vía của đêm chạy lũ.

Hoàng Cẩn bước nhanh lên bậc thềm chính điện, chắp tay chào Bùi Hạ một cách nghiêm cẩn — một sự kính trọng thật lòng dành cho Chưởng môn của một tông môn vừa cứu vãn cả tính mạng lẫn chiếc mũ quan của ông ta hôm trước. Nếu không có ngọn đèn của Bùi Hạ và chiếc thuyền thoi của Lâm Tự, chức quan huyện thừa của Hoàng Cẩn e rằng đã bị bãi miễn cùng với thi thể của đám nạn dân trôi dạt dưới sông.

"Bùi Chưởng môn, Lâm sư phó, hôm nay bản quan lên núi để hoàn tất việc điều phối đinh khẩu và giải quyết dứt điểm các tồn đọng hậu quả bão lũ theo đúng luật định của triều đình."

Bùi Hạ nghiêng mình đáp lễ:

"Mời Hoàng Huyện thừa vào điện."

Hoàng Cẩn không ngồi xuống ghế mà đứng ngay bên án bàn, phong thái dứt khoát của người đang nắm quyền hành pháp. Ông rút từ trong ống tay áo rộng ra một xấp công văn có đóng dấu son đỏ chót của Huyện nha An Lưu:

"Bản quan xin công bố quyết định điều phối của huyện phủ: Toàn bộ ba mươi tư nạn dân được đội cứu hộ Vọng Đăng am cứu vớt tại mỏm Gai Bồ Kế hôm qua, sau khi được kiểm tra y tế và phục hồi thể lực, nay được phân định rõ ràng về mặt hành chính:

Họ thuộc diện 'Cư Trú Cứu Nạn Ngắn Hạn' tại Đoạn Phong, thời hạn lưu trú trên núi chính thức kết thúc vào trưa hôm nay. Huyện nha đã phê duyệt phương án tái thiết công cộng: toàn bộ số đinh tráng và phụ nữ khỏe mạnh trong nhóm này sẽ được điều động xuống các công trường sửa chữa Đê Hồi Long, khơi thông lòng kênh Nam Khê và dọn dẹp Bến Bạch Sa.

Lần này, bản quan đích thân giám sát, tuyệt đối không có chuyện cưỡng bức phu dịch hay nhà thầu tư nhân bóc lột! Huyện phủ sẽ đứng ra trả công nhật sòng phẳng bằng thóc gạo từ kho dự phòng của huyện — mỗi ngày công lao động nặng được nhận ba thăng gạo và mười văn tiền đồng, người già và trẻ nhỏ đi theo được cấp phát khẩu phần ăn căn bản tại các lán trại công ích do Hội Đồng Châu quản lý."

Lời vừa dứt, đám đông nạn dân đứng ngoài sân khẽ ồ lên một tiếng mừng rỡ. Tiếng xì xào bàn tán vang lên như ong vỡ tổ, những nụ cười rạng rỡ nở trên những gương mặt lam lũ. Họ không sợ phải lao động, họ sinh ra từ bùn đất, quen việc đào mương khiêng đá; họ chỉ sợ bị đẩy vào chỗ chết mà không có cơm ăn như thời kỳ cai thầu Cổ Thiệu lộng hành, bị đánh đập rồi bỏ mặc trôi sông khi ngã bệnh. Nay có quan huyện đích thân cam kết trả công bằng gạo thật, tiền thật trước mặt thần linh và chưởng môn đạo quán, lại có Hội Đồng Châu đứng ra che chở dựng lán, gánh nặng lo âu đè nặng suốt mấy ngày qua trên gương mặt họ tan biến sạch trơn.

Hoàng Cẩn quay sang nhìn Bùi Hạ và chín người đứng đầu Vọng Đăng, giọng ông trở nên trang trọng, mang đầy sức nặng của luật pháp:

"Đồng thời, huyện phủ chính thức lập danh bạ tách biệt tuyệt đối giữa chín thành viên tông môn chính thức của Vọng Đăng am — những người đã được Trấn Linh Ty cấp văn tự Tông Môn Sơ Lập và miễn trừ mọi lệnh trưng phu — với toàn bộ dân cư cứu nạn ngắn hạn vãng lai. Từ nay, nha sai huyện nha khi đi tuần tra hay kiểm tra đinh dịch tuyệt đối không được phép bước qua ranh giới ba mươi trượng vuông của đạo quán để hạch sách hay đòi hỏi bất kỳ nghĩa vụ phu phen nào đối với người của Vọng Đăng!"

Nói đoạn, Hoàng Cẩn vung tay ra hiệu cho hai viên nha sai lực lưỡng khiêng hai chiếc bao tải lớn bằng vải gai thô từ trên xe bò xuống, đặt ngay ngắn trước thềm chính điện:

"Đây là hai bao thóc giống thuần chủng và một bao muối hầm do huyện nha trích thưởng công khai cho Vọng Đăng am vì thành tích cứu hộ khẩn cấp và bảo vệ an toàn địa mạch vùng Đoạn Phong. Mong Bùi Chưởng môn nhận cho, xem như chút tấm lòng của quan phủ đối với nghĩa cử của đạo quán."

Bùi Hạ nhìn những bao thóc giống no tròn, hạt mẩy vàng ruộm lấp ló qua lớp miệng bao buộc bằng rơm bện, trong lòng trào dâng một cảm xúc khó tả. Đó không phải là của bố thí của giới quý tộc ban phát cho kẻ hèn mọn, càng không phải là sự chiêu an nhục nhã của môn phiệt lớn muốn mua chuộc lòng người. Đó là thành quả lao động, là giá trị của sự chính trực và tay nghề kỹ thuật được thừa nhận bằng văn bản, bằng luật pháp giữa thanh thiên bạch nhật. Lần đầu tiên sau bao năm lưu lạc, nàng và những người thợ phàm nhân này nhận được sự công nhận danh chính ngôn thuận mà không phải quỳ lạy van xin bất kỳ ai.

Nàng chắp hai tay lại, trang nghiêm cúi đầu đáp từ:

"Vọng Đăng xin ghi nhận sự công minh của Huyện phủ An Lưu. Chúng tôi sẽ giữ gìn hạt giống này cho mùa gieo cấy tới, để từng hạt thóc biến thành mầm xanh trên sườn núi Đoạn Phong."

Đầu giờ chiều, khoảng sân Đạo quán Vọng Đăng rộn rã những lời từ biệt. Nắng đã hanh vàng, sấy khô những phiến đá hoa cương còn ẩm ướt. Đoàn người tị nạn chỉnh tề xếp hàng, từng người từng người một bước đến trước mặt Bùi Hạ, Đỗ Nghi và Lâm Tự cúi đầu cảm tạ. Một người đàn bà bế đứa con nhỏ vừa được Đỗ Nghi rửa sạch vết mụn mủ cúi rạp người xuống vái lạy; một lão thợ mộc già nắm chặt bàn tay thô nhám của Lâm Tự, nghẹn ngào nói lời tri ân vì chiếc cáng cứu thương đêm qua đã cứu mạng đứa cháu đích tôn của ông.

Từng người một lục tục theo chân nha sai và những người chèo đò của Hội Đồng Châu xuống núi. Họ mang theo nơm cá, tay nải rách và những chiếc gậy tre dò đường, bước vào các công trường tái thiết dưới bến sông với một niềm hy vọng mới mẻ. Tiếng bước chân xa dần trên con đường dốc rải đá hộc. Tiếng gậy tre gõ lách cách vào sỏi đá nhỏ dần rồi chìm hẳn vào tiếng sóng vỗ ì oạp dưới chân thung lũng.

Sân am dần trở lại vẻ tĩnh lặng vốn có của chốn tu hành thanh tịnh. Khói bếp từ gian chái bếp lại bay lên, lượn lờ qua những ngọn cây sau vườn, chỉ còn lại chín con người sáng lập cùng cô bé Lâm An và những người già yếu thuộc nhóm ban đầu quây quần bên nhau. Vũ Liên đang cặm cụi quét nốt những hạt thóc vãi trên thềm đá trút vào rá tre; Đỗ Nghi cẩn thận phân loại lại các vị thuốc tiêu viêm còn sót lại trong rương gỗ; còn Nguyễn Mộc thì cặm cụi dùng đục sắt chỉnh lại rãnh thoát nước sau nhà để chuẩn bị đón những cơn mưa chuyển mùa.

Một người thợ chèo đò từ hạ lưu ghé qua trao cho Bùi Hạ một phong thư gấp vội bằng giấy bổi thô, mép giấy còn ướt nước sông. Đó là thư của trưởng làng một làng chài cách Đoạn Phong mười dặm về phía đông, khẩn thiết đề nghị Vọng Đăng am cử người xuống hỗ trợ kỹ thuật để sửa chữa một trạm lọc nước ngầm bị cát sa khoáng vùi lấp khiến cả làng thiếu nước sạch uống. Mầm mống của một mạng lưới kỹ thuật cứu nạn liên vùng đang nảy nở từ chính mảnh đất hoang tàn này, nơi những người thợ bị ruồng bỏ bắt đầu dùng tay nghề của mình để kết nối và cứu rỗi những phận đời cơ cực.

Cơn gió bấc đầu mùa thoảng qua đỉnh núi, mang theo hơi lạnh se sắt nhắc nhở rằng mùa đông khắc nghiệt đang đến rất gần. Những ngọn lá tràm ngả sang màu vàng sẫm, rụng lả tả xuống mái ngói rêu phong. Những ngày tới sẽ là một cuộc chạy đua mới không kém phần gian nan: tích lũy thêm củi khô trước khi sương muối tràn về, đan thêm vách nứa trát đất sét để chống rét cho các gian phòng ở, và cày xới, gieo trồng những luống rau đầu tiên trên mảnh đất phù sa màu mỡ vừa được bồi đắp sau cơn đại hồng thủy.

Chiều buông xuống, nhuộm một màu vàng cam ấm áp lên những mái ngói rêu phong và vách đá sừng sững của núi Đoạn Phong. Bầu trời sau cơn bão trong vắt không một gợn mây, chuyển dần từ sắc hổ phách sang màu tím than huyền ảo.

Lâm Tự bước lên từng bậc thang gỗ dẫn lên lan can gác đèn, nơi Bùi Hạ đang đứng lặng lẽ ngắm nhìn dòng sông Vân Hà đã êm ả trôi xuôi. Từng bậc thang bằng gỗ táu phát ra tiếng cọt kẹt êm ái dưới sức nặng của người thợ mộc. Gió trên cao thổi lồng lộng, làm bay phần vạt áo chàm bạc màu của Bùi Hạ, thổi tung mái tóc đen buộc gọn sau gáy nàng.

Lâm Tự bước đến bên cạnh, đứng tựa người vào lan can gỗ chắc chắn. Y đưa cho nàng một chiếc cốc gỗ mới tiện đựng nước suối Thạch Nhãn trong veo. Chiếc cốc được gọt đẽo khéo léo, các đường vân gỗ táu uốn lượn như những làn sóng nhỏ, bề mặt được mài nhẵn thín không còn một chút xơ dăm.

Hương gỗ táu mới gọt thoang thoảng quyện trong làn nước trong vắt, không còn một gợn mạt linh sa độc hại, phản chiếu ánh hoàng hôn lấp lánh như dát vàng. Dưới đáy cốc, một phiến đá cuội nhỏ xíu trắng tinh nằm lặng lẽ, giữ cho nước luôn có được độ mát lạnh tự nhiên của lòng núi.

Bùi Hạ đón lấy chiếc cốc bằng bàn tay trái. Nàng đưa lên môi, khẽ nhấp một ngụm. Vị nước ngọt lành, thanh mát thấm sâu vào cổ họng, lan tỏa khắp lồng ngực, xua tan đi tất cả những nhọc nhằn, cay đắng, những cơn nhức buốt kinh mạch của ba mươi ngày giành giật sự sống trong bùn lầy. Nàng nhìn sang Lâm Tự, bắt gặp ánh mắt kiên định, ấm áp và nụ cười bình thản của người thợ mộc sau bao giông bão. Không cần một lời nói nào, giữa họ là sự thấu hiểu sâu sắc của hai tâm hồn đã cùng nhau đi qua lằn ranh sinh tử, cùng nhau dựng lại từng viên đá, từng thanh xà cho một mái nhà chung.

Dưới chân họ, thung lũng Nam Khê dần chìm vào bóng tối. Khói lam chiều từ các lán trại mới dựng ven bờ sông bốc lên bảng lảng, hòa cùng làn sương giăng mờ ảo trên mặt nước. Tiếng tù và báo canh từ Bến Bạch Sa vọng lại xa xăm, trầm đục nhưng yên ả.

Trên đỉnh đầu họ, ngọn Đăng Dẫn Lộ đã bắt đầu tỏa ra luồng sáng vàng dịu dàng, ổn định qua làn sương lam đang bảng lảng dâng lên từ thung lũng. Trận bàn đá hoa cương quay chậm rãi, phát ra tiếng vo vo êm dịu, đều đặn như nhịp tim của một thực thể sống. Ánh sáng vàng rực rỡ xuyên qua màn đêm, rọi thẳng xuống khúc quanh hiểm trở nhất của dòng sông, đánh dấu từng dải đá ngầm cho những con thuyền muộn mằn tìm đường về bến đỗ.

Ngọn đèn trên ngọn núi vỡ đã có rễ sâu, có nền vững, và đêm nay, nó sẽ tiếp tục thức canh cho những con người đã tìm thấy mái nhà của chính mình giữa trần gian.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn