Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡC.38 / 40
Chương 38

Văn Tự Đăng Bộ Tông Môn

Không khí sân đạo quán chùng xuống căng thẳng khi lá đơn khiếu nại của Tạ Duy đập mạnh vào mặt bàn gỗ, mang theo con dấu đỏ rực của viện quản sự Thanh Huyền Môn.

Mặt bàn gỗ mộc rung lên bần bật. Tiếng rầm chát chúa dội vào vách đá hoa cương phía sau chính điện, chém đứt ngang những tiếng reo hò vừa mới chớm nở trong lồng ngực sáu mươi sáu con người. Gió sớm từ thung lũng sông Vân Hà thốc ngược lên dốc nam, mang theo hơi ẩm nồng nặc mùi bùn quặng linh sa thiêu kết và mùi gỗ ải mục sau một đêm đại hồng thủy. Dưới ánh bình minh nhợt nhạt xuyên qua tầng mây xám xịt, con dấu triện hoa sen ba cánh in bằng mực chu sa trên tờ giấy tuyên lệnh đỏ tươi như một vệt máu chưa khô, nổi bật trên thớ gỗ sam xám xịt còn hằn những vết cưa thô vụng.

Tạ Duy đứng sừng sững bên mép bàn. Bộ đạo bào màu ngọc bích của y dính bê bết bùn đỏ quanh gấu áo, những đường thêu chỉ bạc nơi cổ tay sờn rách tả tơi sau một đêm hoảng loạn tháo chạy khỏi đoạn đê chính bị vỡ toác. Vạt áo thụng bên tả của y hãy còn đọng lại những giọt nước đục ngầu, rỏ tí tách xuống nền đá phiến lởm chởm. Dù sắc mặt xám ngoét vì mệt mỏi và kinh hãi, trong khóe mắt trũng sâu của quản sự Ty Trận Vụ vẫn ngùn ngụt ngọn lửa căm hờn độc địa. Hơi thở y phì phò qua kẽ răng, khô khốc và gấp gáp như bễ lò rèn thiếu than. Ánh mắt y quét qua Bùi Hạ, dừng lại nơi nẹp gỗ táu quấn chặt cổ tay phải của nàng bằng những vòng dây gai thô ráp, rồi liếc xéo sang đám thợ thuyền áo rách tơi tả đang đứng ken đặc quanh sân am, bả vai ai nấy hãy còn run rẩy vì hơi lạnh buốt giá từ lòng sông tạt lên.

"Đinh kiểm định, Hoàng huyện thừa, hai vị đừng vội ký nhận bất cứ thứ gì," Tạ Duy cất giọng the the, từng chữ rít qua kẽ răng run rẩy nhưng chứa đầy vẻ hung hãn. Y vung cánh tay áo rộng, chỉ thẳng ngón tay đeo chiếc nhẫn ngọc bích xanh mờ vào tập hồ sơ nằm chỏng chơ trên bàn. "Thanh Huyền Môn chúng ta tôn trọng luật lệ của vương triều Vân Hà, tôn trọng thẩm quyền khảo sát trận pháp của Trấn Linh Ty và quyền quản hạt đinh tráng của huyện phủ. Nhưng quy chế lập môn sơ lập ghi rất rõ ràng trong Điển tắc Khai sơn: một cơ sở muốn đăng bộ danh phận tông môn sơ lập bắt buộc phải có tối thiểu chín đinh khẩu tự nguyện nhập tịch hoàn toàn trong sạch về mặt nhân thân. Không có chín người, mọi giấy tờ các vị chuẩn bị hạ bút chỉ là một trò hề vô giá trị!"

Ngọn gió sớm quất mạnh qua mái hiên tranh, làm tà áo xám tro của Đinh Tuệ bay phần phật. Đinh Tuệ không ngẩng đầu lên ngay. Nàng ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ dẻ gai, hai bàn tay thon dài đặt phẳng phiu trên mặt cuốn sổ bằng da cừu chưa ráo mực. Đầu ngón tay trỏ của nàng khẽ gạt đi một hạt cát thạch anh nhỏ bám trên mép bản thẩm định, rồi nàng mới chậm rãi ngước mắt lên, ánh nhìn phẳng lặng như mặt nước giếng sâu giữa ngày đông, đều đều không chút gợn sóng:

"Quản sự Tạ Duy, danh sách chín người của Đạo quán Vọng Đăng đã được Trấn Linh Ty huyện An Lưu tiếp nhận theo đúng trình tự từ ba mươi ngày trước. Toàn bộ hồ sơ trích lục căn cốt, bản khai lý lịch ba đời và giấy bảo lãnh lâm thời đều đã qua ba vòng tra soát đối chiếu. Sáng nay, trước khi giờ Thìn điểm, huyện nha An Lưu đã chính thức hủy bỏ lệnh trưng phu cũ của Lâm Tự cùng những người có tên trong sổ lập am, xác lập nhân tịch hợp pháp dưới quyền tài phán của Trấn Linh Ty. Lý lẽ nào khiến ngươi cho rằng họ không đủ chín người?"

Tạ Duy cười khẩy, nụ cười nhăn nhúm trên gương mặt hốc hác đầy những vết xước do cành cây quẹt phải trong đêm lũ:

"Một lũ lưu dân tụ bạ trốn dịch thì lấy đâu ra tư cách tự nguyện? Lấy đâu ra cái gọi là nhân thân trong sạch? Bản quản sự đích thân tra xét hồ sơ lưu trữ tại dịch trạm đêm qua, đối chiếu từng tên một với sổ bộ cứu tế vùng hạ lưu. Trong danh sách chín đinh danh mà Bùi Hạ trình nộp lên án bàn của các vị, có tới bốn kẻ vốn dĩ là người chịu ơn cứu trợ, thuộc quyền quản chế và an trí của Thanh Huyền Môn chúng ta!"

Nói đoạn, y giật phắt một tờ biên bản từ tráp gỗ nẹp đồng chạm trổ hoa văn phù vân đặt phía sau, bước tới hai bước, dí sát mảnh giấy vàng sậm lem nhem mực ấy vào ngay trước tầm mắt của Huyện thừa Hoàng Cẩn:

"Đầu tiên là ba tên phu đò: Lê Văn Trọng, Ngô Bính, Hà Tam. Vào ngày mùng bốn tháng bảy, khi lũ đầu nguồn tràn qua bến Hạ Tân, bọn chúng từng nhận phiếu phát cháo và thẻ bài tị nạn tại Bến Bạch Sa dưới danh nghĩa người được cứu trợ khẩn cấp của sơn môn. Trên phiếu có ấn triện của Ty Vật Tư, có đánh dấu số hiệu thuyền phu. Nhưng nghiêm trọng nhất, trắng trợn nhất chính là kẻ thứ chín trong danh sách đăng bộ: Vũ Liên!"

Cái tên vang lên xé toạc không gian ẩm ướt, khiến khoảng sân đá bỗng chốc im phắc như tờ.

Tiếng xào xạc của những bụi tre còi cọc sau chùa lập tức bị dập tắt bởi nỗi ngột ngạt bất thình lình. Đám đông người tị nạn nép sau hàng cột hiên mộc mạc bất giác dạt ra hai bên, dồn lại thành từng cụm run rẩy. Mấy chục ánh mắt hoang mang, kinh ngạc lẫn khiếp đảm đồng loạt đổ dồn về phía góc hiên chái tây, nơi thiếu nữ mười bảy tuổi đang đứng nép mình sau lưng y giả Đỗ Nghi.

Gương mặt Vũ Liên trắng bệch không còn một giọt máu, tái nhợt như vôi tôi. Hai bàn tay gầy guộc của nàng siết chặt lấy vạt áo gai thô sờn rách, đốt ngón tay gồ ghề vì nhiều năm lam lũ trắng bệch ra dưới áp lực ghìm chặt. Nàng mới chỉ vừa hồi phục một phần kinh khí sau cơn bạo phát tổn thương phế phủ đêm hôm trước—khi nàng liều mạng ghìm giữ van đồng dẫn linh lưu nơi mắt trận chính—khiến lồng ngực gầy guộc lúc này vẫn phập phồng kịch liệt, từng hơi thở kéo lên nông và gấp gáp qua cổ họng bỏng rát. Đỗ Nghi khẽ nghiêng người, đưa cánh tay áo rộng che chắn cho nàng, nhưng ánh mắt dữ dằn của Tạ Duy đã khóa chặt lấy thân hình mảnh khảnh ấy.

Tạ Duy bước chéo một bước, đế giày da dẫm nát một mảnh ngói vỡ trên nền sân, hướng mũi dùi thẳng về phía nàng. Thanh âm the the đanh thép của y vang vọng khắp vách đá núi Đoạn Phong:

"Vũ Liên vốn là thí sinh tham gia kỳ thi tuyển đệ tử ngoại môn của bản phái tại Đoài Khê từ hồi đầu mùa hạ! Sau khi quê nhà ả bị lũ quét cuốn phăng ruộng vườn, ả trôi dạt về Bến Bạch Sa và đã được Ty Tuyển Mộ cùng Ty Vật Tư của Thanh Huyền Môn tiếp nhận vào diện 'Nạn dân bảo trợ chờ thu nạp'. Tên của ả đã được ghi rành rành vào sổ bộ cứu nạn lưu kho của sơn môn, hưởng quy chế nuôi dưỡng đặc biệt để chuẩn bị bổ sung vào đội ngũ tạp dịch công quả tại các linh điền hạ du. Chiếu theo điều lệ cứu trợ thiên tai của các đại môn phái vùng Vân Hà, một khi người được cứu hộ đã ký tên nhận thẻ bảo trợ, nhân thân và công dịch của người đó thuộc quyền phân phối tối cao của sơn môn trong suốt thời gian cứu tế!"

Hắn quay ngoắt lại nhìn Bùi Hạ, khóe môi trễ xuống thành một nụ cười đắc thắng đầy khinh miệt:

"Bùi Hạ, ngươi từng là đệ tử bị trục xuất khỏi sơn môn, ngươi ở Thanh Huyền Môn mười mấy năm, ngươi thừa biết quy củ ấy thép như thế nào! Ngươi ỷ vào chút tài mọn trận pháp, dùng lời ngon tiếng ngọt dụ dỗ một đứa trẻ tạp căn chưa hiểu sự đời, xúi giục ả cạo xóa dấu ấn môn phái trên giấy tùy thân, lén lút đưa tên ả vào danh sách sáng lập để gom cho đủ con số chín! Ả Vũ Liên này trên danh nghĩa pháp lý là người của Thanh Huyền Môn, là tài sản nhân đinh thuộc quyền an trí của sơn môn chúng ta! Sự tự nguyện của ả hoàn toàn vô hiệu trước pháp luật triều đình và quy ước tiên gia!"

Tạ Duy dằn giọng, từng tiếng rành rọt như búa tạ gõ vào đe sắt nung, gằn từng âm tiết xuống mặt bàn gỗ:

"Bỏ Vũ Liên ra, các ngươi chỉ có tám người. Tám đinh khẩu thì vĩnh viễn không thể lập môn! Bản quản sự chính thức nhân danh Ty Trận Vụ Thanh Huyền Môn đệ đơn kháng nghị lên Trấn Linh Ty và Huyện nha An Lưu: lập tức bác bỏ đơn đăng bộ của Vọng Đăng, thu hồi giấy bảo hộ tạm thời, và giải tán toàn bộ đám lưu dân này giao lại cho huyện phủ sung vào đội phu dịch dọn dẹp hạ lưu!"

Tiếng xì xào hoảng loạn bắt đầu lan ra như đám cháy gặp gió khô.

Từ góc sân, những tiếng thì thào sợ hãi dội vào nhau. Mấy người thợ đò Bến Bạch Sa—những kẻ từng cùng Lâm Tự dầm mình trong bùn lầy kéo đá vá đê suốt đêm qua—bất giác nắm chặt lấy những chiếc cán mái chèo gãy đang dùng làm gậy chống. Quai hàm họ bạnh ra, những đường gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên thái dương rám nắng, nhưng đáy mắt không giấu nổi vẻ hoang mang tột độ. Phía sau hàng rào tre chắn gió, những người đàn bà gầy guộc ôm chặt lấy con thơ vào lòng; những đứa trẻ lấm lem bùn đất ngơ ngác nhìn mẹ, cảm nhận được sự run rẩy truyền qua lớp áo sũng nước. Ánh mắt của mấy chục con người tị nạn nhìn chằm chằm vào góc chiếc bàn gỗ mộc kia—nơi tờ đơn khiếu nại của Tạ Duy đang đè lên bản thẩm định của Trấn Linh Ty.

Họ hiểu rất rõ điều đó có nghĩa là gì. Nếu điều kiện chín người sụp đổ, toàn bộ công sức đắp mương xả lũ cứu đầm ngập mặn, giữ giếng Thạch Nhãn khỏi sạt lở, thắp sáng ngọn đèn hoa tiêu cứu hộ suốt ba mươi ngày ròng rã vừa qua sẽ tan thành bọt bọt nước lũ trong chớp mắt. Họ lại trở về kiếp lưu dân trôi nổi không nơi nương tựa, bị xua đuổi như súc vật, bị dồn vào các trại tạp dịch khổ sai, bị tước đoạt nốt chút tôn nghiêm và mái nhà dung thân cuối cùng mà họ vừa chắt chiu gây dựng lại trên đỉnh núi hoang sơ này.

Lâm Tự khẽ bước lên nửa bước. Thân hình vạm vỡ như một khối đá núi của anh chắn ngang trước mặt Bùi Hạ, bàn tay chai sần chằng chịt vết xước vì bốc đá hộc siết chặt lấy cán chiếc rìu thợ mộc giắt bên hông. Lồng ngực anh phập phồng, hơi thở nặng nề dồn ứ sau lớp áo tơi tơi tả.

Bùi Hạ khẽ nghiêng đầu. Nàng đưa bàn tay trái lành lặn—dù cũng trầy da tróc vảy và bám đầy muội than trận thạch—chạm nhẹ vào cổ tay cứng như sắt nguội của Lâm Tự. Nàng khẽ lắc đầu, một cử chỉ dứt khoát nhưng bình thản đến lạ kỳ, ra hiệu cho anh lùi lại.

Nàng không hề nao núng. Ánh mắt Bùi Hạ nhìn thẳng vào Tạ Duy bình thản đến mức lạnh lùng. Đó không phải là sự bình thản của kẻ phó mặc cho số phận, mà là ánh mắt sắc sảo của một người thợ đá bậc thầy, người đã dành cả đời để gõ từng nhát búa lên bề mặt quặng, đã nhìn thấu từng vết rạn nứt mục ruỗng giấu kín bên trong một khối đá phế phẩm tưởng chừng như bóng bẩy.

"Ngươi nói xong chưa, Tạ quản sự?" Bùi Hạ cất tiếng. Giọng nàng không cao, thanh âm khàn khàn vì hít phải khói trận và gió lạnh suốt đêm dài, nhưng từng từ từng chữ lại xuyên qua tiếng gió hú ràn rạt trên vách đá hoa cương, rơi tõm vào tai từng người có mặt trên sân.

Tạ Duy cười gằn, hai tay khoanh trước ngực, cằm hơi hếch lên đầy vẻ ngạo mạn: "Lời chứng và văn tự rành rành trên bàn, dấu triện của sơn môn còn tươi rói, ngươi còn muốn giở trò ngụy biện gì nữa? Trước mặt quan nha, cãi chày cãi cối chỉ chuốc thêm tội khi quân phạm thượng!"

"Hắn không ngụy biện. Nhưng ngươi thì có."

Một giọng nói trong trẻo, mang theo vẻ mệt mỏi cùng cực nhưng kiên quyết lạ thường bất ngờ vang lên từ phía sau đoàn tùy tùng làm chứng của huyện phủ.

Tiếng nói ấy không lớn, nhưng giữa khoảng sân đang nín thở, nó tựa như một tiếng chuông đồng gõ nhịp giữa đêm vắng. Đám đông thợ thuyền và quan sai lập tức dạt ra hai bên lối đi lát sỏi.

Lê Chi từ tốn bước ra khỏi hàng người.

Nàng mặc một bộ y phục đệ tử ngoại môn màu xanh nhạt quen thuộc của Thanh Huyền Môn, nhưng bộ y phục ấy lúc này đã sờn rách ở gấu quần, mép tay áo tưa ra những sợi chỉ trắng, và vạt áo lấm tấm những vệt bùn khô bắn lên từ chuyến lội nước ngược dòng từ Bến Bạch Sa lên núi Đoạn Phong suốt nửa đêm qua. Mái tóc nàng búi vội bằng một chiếc trâm tre mộc, vài lọn tóc bết dính nước mưa vương trên vầng trán lấm tấm mồ hôi lạnh. Dưới nách trái của nàng kẹp chặt một bọc vải dầu tráng sáp màu nâu sẫm, được cột bằng những sợi dây gai thô ráp với ba nút thắt hình chữ phẩm nghiêm ngặt—đúng theo quy chuẩn niêm phong văn thư mật của quan phương vương triều.

Khi nhìn thấy bóng dáng gầy gò của Lê Chi bước ra ánh sáng, nụ cười đắc thắng trên khuôn mặt xám xịt của Tạ Duy bỗng chốc cứng đờ lại. Đôi con ngươi của y co rút dữ dội như bị kim châm, khóe miệng giật giật liên hồi:

"Lê Chi? Ngươi... tại sao ngươi lại ở đây? Ai cho phép ngươi rời khỏi kho hồ sơ Bến Bạch Sa? Ngươi tự ý bỏ vị trí trực bến giữa lúc thiên tai, ngươi có biết đó là trọng tội phế bỏ tu vi không?"

Lê Chi không hề liếc nhìn y lấy một cái, cũng không thèm đáp lại lời đe dọa sặc mùi thị uy ấy. Nàng bước từng bước vững chãi, đôi giày vải sũng nước phát ra tiếng lép bép trên nền đá phiến, đi thẳng tới trước mặt Đinh Tuệ và Huyện thừa Hoàng Cẩn. Nàng dừng lại ở khoảng cách ba bước, khom lưng cúi đầu hành lễ theo đúng quy thức chuẩn tắc của một văn lại thư viện cấp cơ sở:

"Đệ tử ngoại môn Lê Chi bái kiến Đinh kiểm định, bái kiến Hoàng huyện thừa."

Nói xong, nàng đứng thẳng người, hai tay thuần thục mở các nút thắt dây gai bọc sáp. Lớp vải dầu tráng sáp dày cộp được lật mở sang hai bên, để lộ ra một tập sổ phụ dày cộp bên trong. Cuốn sổ có bìa bọc bằng giấy bổi gai màu vàng úa, mép giấy đã sờn rách và quăn góc vì bị lật giở hàng trăm lần trong những đêm kiểm kho ẩm mốc. Trên mặt bìa sổ, dòng chữ đại tự viết bằng mực khói tàu đen nhánh hiện rõ mồn một dưới ánh ban mai: *«Bến Bạch Sa — Cứu Tế Đinh Khẩu Thực Lực Phụ Sổ»*.

"Thưa Đinh kiểm định, thưa Hoàng huyện thừa," Lê Chi cất giọng dõng dạc, từng lời từng chữ rành rẽ, vang vọng khắp khoảng sân am tĩnh lặng như tờ. "Kẻ hèn này là Lê Chi, đệ tử ngoại môn phụ trách ghi chép, đối chiếu và lưu trữ văn thư tại kho tiếp nhận Bến Bạch Sa thuộc Ty Tuyển Mộ và Ty Vật Tư Thanh Huyền Môn. Tôi có mặt ở đây hôm nay với tư cách là nhân chứng độc lập theo lệnh triệu tập đối chiếu dân tịch và công quỹ mà Huyện nha An Lưu đã phát đi từ ba ngày trước."

Nàng nâng cuốn sổ phụ bằng cả hai tay, rồi trịnh trọng đặt nó xuống mặt bàn gỗ mộc, nằm ngay bên cạnh lá đơn kháng nghị đỏ rực của Tạ Duy. Tiếng tập giấy dày cộp chạm vào mặt gỗ khô khốc vang lên một tiếng trầm đục, nhưng sức nặng của nó tựa hồ như ngàn cân đá tảng giáng xuống không gian.

"Tạ quản sự vừa cất lời cáo buộc rằng Vũ Liên và ba người thợ đò kia là người chịu ơn cứu trợ, chịu sự quản chế nhân thân độc quyền của Thanh Huyền Môn theo quy chế môn phái. Nhưng tập sổ phụ đối chiếu thực tế này lại ghi nhận một sự thật hoàn toàn trái ngược với những lời lẽ giảo hoạt của y."

Lê Chi vươn những ngón tay thon nhỏ nhưng lem luốc vết mực tàu, lật mở cuốn sổ một cách chính xác đến kinh ngạc. Nàng dừng lại ở trang thứ hai mươi tư, nơi những dòng chữ chi chít được kẻ khung ngay ngắn theo lối chép sổ của dịch trạm:

"Đây là sổ ghi chép thực tế các lượt phát chẩn lương thực, dược liệu và vật tư sinh hoạt tại Bến Bạch Sa từ ngày mùng một đến ngày mùng mười tháng bảy—giai đoạn đỉnh điểm của trận lũ quét Đoài Khê. Trong danh sách chính thức gửi lên huyện phủ An Lưu để nhận ngân sách trợ cấp công quỹ và xin khấu trừ thuế má sơn môn, Ty Tuyển Mộ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quản sự Tạ Duy đã khai khống tổng cộng ba trăm sáu mươi suất cứu hộ nhân đinh đặc biệt. Mỗi suất theo định chế cứu nạn của triều đình được cấp nửa bao gạo trắng loại hai, hai cân muối mỏ Diêm Trì và mười phần bạc trợ cấp sinh hoạt mỗi tháng."

Lê Chi ngẩng đầu lên. Ánh mắt nàng sáng trong và lạnh lẽo, găm thẳng vào gương mặt đang dần chuyển từ xám ngoét sang trắng bệch của Tạ Duy:

"Nhưng trên thực tế, linh thuyền Thanh Vân số ba và số bốn rời Bến Bạch Sa vào rạng sáng ngày mùng năm tháng bảy chỉ chở đúng hai trăm bảy mươi sáu người! Toàn bộ hai trăm bảy mươi sáu người đó không hề có một bóng dáng nạn dân bần hàn nào, mà phần lớn là thân quyến, gia nhân và hàng hóa của các phú hộ vùng Đoài Khê và thương gia ven sông—những kẻ đã mua lại chỗ trên thuyền với giá ba mươi lượng bạc ròng cho mỗi tấm vé tị nạn! Một trăm hai mươi tư người còn lại trong danh sách cứu tế danh nghĩa, bao gồm cả Vũ Liên, đã bị gạt phắt lại bãi bùn lầy ven bến, không được phép bước lên mạn thuyền nửa bước!"

Sân am rộ lên những tiếng xôn xao kinh hãi. Những tiếng hít hà lạnh buốt vang lên từ đám đông phu dịch.

Hoàng Cẩn nheo đôi mắt hẹp dài lại. Chòm râu dê hoa râm của viên huyện thừa già giật giật từng cơn vì giận dữ. Bàn tay gầy guộc của ông ta đặt lên đốc thanh đoản trảm bên hông, ngón tay vô thức gõ nhịp lách cách lên vỏ bao đồng thau lạnh ngắt.

"Lời khai khống thì có bằng cớ gì? Ngươi lấy tư cách gì để vu khống thượng cấp?" Tạ Duy gầm lên như một con thú hoang bị dồn vào chân tường. Giọng y run rẩy bần bật vì cuồng nộ xen lẫn nỗi chột dạ tột cùng. Y chồm tới nửa thân người qua bàn, ngón tay run rẩy chỉ vào mặt Lê Chi: "Ngươi chỉ là một đứa đệ tử ngoại môn hèn kém mạt hạng, phụ trách quét dọn kho lưu trữ, dám cả gan trộm cắp sổ sách mật của môn phái đem ra bêu xấu chưởng quản? Hoàng huyện thừa! Ả này phạm tội phản môn, ăn cắp văn thư tư hữu của môn phái, theo luật lệ tiên gia lời khai của ả hoàn toàn không có giá trị pháp lý trước công đường!"

"Ta không trộm," Lê Chi lạnh lùng đáp trả, sống lưng nàng vẫn thẳng tắp, không hề lùi lại lấy nửa bước trước uy áp Luyện Khí tầng năm của Tạ Duy. "Cuốn sổ này là bản phụ lưu trữ đối chiếu độc lập của trạm kiểm soát bến đò, mang dấu triện tròn bằng chì của Hội Đồng Châu kiểm soát kho lương thực tế, và có chữ ký xác nhận ca trực của chính ba thư lại do Huyện nha An Lưu phái tới đóng giữ tại bến! Trên trang thứ hai mươi tư, dòng thứ mười một, ghi rõ tên: Nạn dân Vũ Liên, mười bảy tuổi, nguyên quán Đoài Khê. Cột tình trạng nhận khẩu phần được ghi nhận bằng mực đỏ: 'Bỏ trống — Không phát'."

Nàng giơ trang sổ về phía Hoàng Cẩn, từng lời đanh thép:

"Nàng chưa từng nhận một hạt gạo của Thanh Huyền Môn. Nàng chưa từng nhận một hạt muối của Thanh Huyền Môn. Và nàng càng chưa từng nhận một đồng bạc nào từ tay các người! Tên của nàng chỉ nằm trên giấy để các người lập hồ sơ ma, bỏ túi mười lượng bạc và nửa bao gạo công quỹ mỗi tháng!"

Không để Tạ Duy kịp ngắt lời, Lê Chi lật tiếp một xấp giấy bồi mỏng đính kèm ở bìa sau của cuốn sổ—đó là những tờ văn khế cam kết có viền hoa văn mây cuộn:

"Quan trọng hơn cả, chiếu theo Điều hai mươi mốt Luật Lao Dịch và Cứu Trợ Thiên Tai của vương triều Vân Hà: sự ràng buộc nhân thân và quyền chuyển giao lao dịch chỉ phát sinh hiệu lực pháp lý khi và chỉ khi người tị nạn đích thân điểm chỉ hoa điểm chỉ vào 'Cam kết thụ hưởng và cấn trừ lao dịch'. Đây là tập lưu trữ toàn bộ một trăm chín mươi tờ cam kết gốc của đợt lũ vừa qua tại Bến Bạch Sa. Trên toàn bộ các tờ khế ước này, không hề có chữ ký, không hề có dấu điểm chỉ chỉ vân của Vũ Liên!"

Lê Chi nhìn thẳng vào mắt Tạ Duy, từng chữ buông ra như nhát búa đóng đinh:

"Tên của Vũ Liên chỉ xuất hiện trên một mảnh giấy ghi danh tạm thời do trạm phát chẩn viết vội rồi vứt bỏ dưới bùn lầy sau khi các người đuổi nàng đi. Thanh Huyền Môn chưa từng cứu trợ nàng lấy một ngày, chưa từng ký kết ràng buộc pháp lý với nàng, mà chỉ dùng danh tính của nàng như một con số khống để bòn rút quốc khố! Một kẻ chưa từng nhận ơn, chưa từng ký khế ước, thì lấy đâu ra tư cách bảo rằng nàng là 'tài sản nhân đinh' của sơn môn?"

"Ngươi... ngươi ngậm máu phun người! Quân phản phúc!" Tạ Duy run bắn cả người, sắc mặt chuyển từ tái mét sang tím tái như gan heo. Sự điềm tĩnh giả tạo hoàn toàn biến mất, thay vào đó là sự cuống cuồng man dại. Bàn tay y giật nảy lên, năm ngón tay co quắp như móng vuốt chim ưng toan chộp lấy cuốn sổ phụ trên bàn nhằm tiêu hủy tang chứng.

Chát!

Một tiếng kim loại va chạm khô khốc và chói tai vang lên.

Một mũi chuôi đao bằng đồng thau nặng trịch chặn ngang mu bàn tay y, đè mạnh xuống mặt bàn gỗ khiến lớp da tay Tạ Duy hằn lên một vệt đỏ tím.

Hoàng Cẩn không biết đã đứng dậy từ lúc nào. Thân hình gầy guộc trong bộ quan phục lục phẩm màu chàm của viên huyện thừa già lúc này toát ra một uy nghi sắc lạnh. Đôi mắt ti hí của ông ta mở to, sáng quắc như dao cau, găm chặt vào khuôn mặt vặn vẹo của quản sự Ty Trận Vụ:

"Tạ quản sự, trước mặt bản quan đại diện cho Huyện nha An Lưu và quan kiểm định của Trấn Linh Ty, chớ có làm càn! Nơi này là công đường lâm thời của huyện phủ, không phải là Chưởng Vụ Đường của Thanh Huyền Môn các ngươi để ngươi muốn cướp là cướp, muốn xé là xé! Chứng cứ là thật hay giả, con dấu của dịch trạm là đúng hay sai, nha môn chúng ta tự có mắt để nhìn, có quy củ để định đoạt!"

Không khí trên sân như đông cứng lại thành băng. Tạ Duy nghiến răng ken két, đau đớn rút tay về, ánh mắt nhìn Hoàng Cẩn vừa kinh hãi vừa oán độc, nhưng không dám manh động thêm nửa phần.

Giữa lúc bầu không khí ngột ngạt dồn nén đến mức tưởng chừng chỉ cần một tia lửa nhỏ là có thể nổ tung, một tiếng bước chân nhẹ nhàng nhưng vững chãi bất ngờ vang lên từ phía chái tây.

Vũ Liên bước ra.

Nàng không còn nép mình sau tấm lưng gầy gò của y giả Đỗ Nghi nữa. Thiếu nữ mười bảy tuổi chậm rãi cởi bỏ chiếc khăn choàng đầu bằng vải gai đã ướt sũng nước mưa, để lộ mái tóc đen nhánh buộc gọn gàng sau gáy và gương mặt thanh tú hốc hác vì đói khát và lao lực. Nhưng khác hẳn với vẻ rụt rè sợ sệt lúc ban đầu, đôi mắt nàng lúc này sáng quắc lạ thường—một ánh sáng quật cường được tôi luyện qua cuồng phong, qua cái chết cận kề và qua ngọn lửa trận pháp đêm qua.

Nàng bước từng bước qua khoảng sân đá hoa cương. Đôi bàn chân đi đôi giày cỏ bện vội giẫm qua những vũng nước mưa còn đọng lại sau bão, giẫm qua những mảnh rác rưởi trôi dạt, tiến thẳng đến trước chiếc bàn gỗ nơi hội đồng kiểm định đang ngồi.

Bùi Hạ nhìn nàng. Ánh mắt hai người chạm nhau giữa không trung. Bùi Hạ khẽ mỉm cười, một cái gật đầu kín đáo nhưng tràn đầy sự khích lệ và tin cậy.

Vũ Liên hít một hơi thật sâu. Dù lồng ngực nàng vẫn còn nhói buốt dữ dội—từng vết thương kinh Phế do linh lưu phản phệ đêm qua như những mũi kim châm vào cuống họng—nhưng sống lưng nàng lúc này thẳng tắp như một cây nứa già mọc trên vách đá cheo leo của đỉnh Đoạn Phong.

Nàng đứng đối diện với Tạ Duy, cách y chỉ chừng ba bước chân. Chiều cao của nàng chỉ ngang vai y, thân hình nàng nhỏ bé trong bộ áo gai thô, nhưng tư thế của nàng khiến Tạ Duy bất giác cảm thấy ngột ngạt.

"Tạ quản sự," Vũ Liên cất tiếng. Giọng nàng trong trẻo, không một chút run rẩy, từng âm tiết vang rền khắp khoảng sân am tĩnh lặng. "Ông vừa dõng dạc tuyên bố trước mặt các vị đại nhân và mọi người ở đây rằng tôi là tài sản thuộc quyền an trí của Thanh Huyền Môn sao?"

Tạ Duy nghiến răng, trừng trừng mắt nhìn nàng, trong con ngươi vằn lên những tia máu đỏ: "Con ranh tạp căn vô ơn! Ngày đó nếu không có bản phái lập trạm cứu tế ở Bến Bạch Sa, xương tàn của ngươi đã rữa nát dưới dòng nước lũ Đoài Khê từ lâu rồi! Ngươi lấy tư cách gì đứng đây chất vấn bản quản sự?"

"Đoài Khê vỡ đê, nước lũ cuốn phăng cả làng trong chớp mắt. Cha mẹ tôi, hai đứa em nhỏ và người bà tàn tật của tôi đều chìm nghỉm dưới dòng bùn đỏ, không tìm thấy xác," Vũ Liên nhìn thẳng vào mắt y, ánh mắt kiên định và lạnh lùng đến mức khiến Tạ Duy bất giác phải né tránh ánh nhìn ấy nửa tấc. "Tôi ôm một khúc gỗ mục, trôi dạt ba ngày ba đêm trên sông dữ, uống nước bùn cầm hơi mới dạt được vào Bến Bạch Sa. Khi tôi kiệt sức quỳ rạp dưới chân bậc thềm trạm tiếp nhận của các người, run rẩy giơ hai bàn tay rớm máu van xin một bát cháo loãng để sống sót, người của Ty Tuyển Mộ các người đã làm gì?"

Giọng thiếu nữ nghẹn lại trong chốc lát vì nỗi uất hận dồn nén suốt bao tháng ngày cơ cực bỗng chốc dâng trào lên khóe mắt, nhưng nàng cắn chặt môi, nuốt ngược giọt nước mắt vào trong để giữ cho thanh âm không vỡ vụn:

"Các người bắt tôi đặt tay lên viên đá giám định linh căn. Thấy viên đá chỉ phát ra năm tia sáng lờ mờ hỗn tạp—ngũ hành tạp căn hạ phẩm hạ thừa—vị chấp sự mặc áo xanh của các người lập tức đổi giọng khinh bỉ. Hắn giật phắt chiếc thẻ bài cứu hộ bằng gỗ đào vừa mới viết tên tôi, ném thẳng xuống bãi bùn lầy trước mặt bao nhiêu người!"

Khoảng sân am im phắc, chỉ còn tiếng thở nặng nề của đám đông và tiếng gió rít qua rặng tre. Vũ Liên chỉ tay về phía góc trời xa xôi nơi hạ lưu con sông:

"Chính tai tôi nghe thấy các người nói: 'Loại tạp căn rác rưởi này cứu về chỉ tốn cơm gạo của sơn môn, nuôi chật đất linh điền!' Rồi ngay trước mắt tôi, các người lau sạch chiếc thẻ bài mang tên Vũ Liên ấy, nhét nó vào tay một gã công tử con buôn mặc áo gấm vùng Đoài Khê vừa chạy tới, đổi lấy một bọc bạc nén nặng trịch để hắn được hiên ngang bước lên linh thuyền Thanh Vân số ba!"

Nàng bước thêm nửa bước, tiếng nói ranh mãnh của Tạ Duy lúc nãy dường như bị đè bẹp hoàn toàn dưới từng lời tố cáo đanh thép của nàng:

"Các người bỏ mặc tôi và hơn một trăm con người bần hàn khác đứng ngập trong bùn lầy buốt giá giữa đêm mưa tầm tã. Các người cho thuyền đò kéo dây nhổ neo, sóng nước linh thuyền đánh dạt chúng tôi ra xa, mặc cho nước lũ đêm hôm đó dâng lên đến tận ngực! Nếu không nhờ mấy bác thợ chèo đò liều mạng vớt tôi lên một chiếc mảng nứa rách, thì mạng này của tôi đã chôn vùi dưới đáy sông Vân Hà từ ngày đó rồi!"

Vũ Liên quay phắt người sang phía Đinh Tuệ và Hoàng Cẩn, nàng quỳ một gối xuống theo lễ tiết lương dân, hai tay ôm quyền, dõng dạc nói từng lời vang vọng:

"Thưa Đinh kiểm định! Thưa Hoàng huyện thừa! Ngày hôm đó, tư cách thí sinh của tôi đã bị Thanh Huyền Môn vứt bỏ như một chiếc giẻ rách nhúng bùn. Tôi không nợ họ một hạt gạo để no bụng, không nợ họ một giọt nước sạch để qua cơn khát, càng không nợ họ một ngày công lao dịch cấn trừ! Kể từ khoảnh khắc họ xua đuổi tôi khỏi bến thuyền như đuổi một con chó hoang, tôi đã là một kẻ không môn không phái, không chủ không tớ—một con người tự do mang thân phận lương dân dưới bầu trời và luật pháp của vương triều Vân Hà này!"

Nàng từ từ đứng dậy, đưa bàn tay phải của mình lên cao trước ánh sáng bình minh.

Bàn tay thiếu nữ mười bảy tuổi không còn mịn màng như những đệ tử nội môn sống trong nhung lụa. Lòng bàn tay nàng chai sần, những vết chai do cầm muỗng sừng trâu nêm từng mạt bột ngũ sắc điều chỉnh linh lưu, những vết bỏng rộp do ghìm chặt van đồng áp lực trên đài trận suốt đêm giông bão vừa qua hiện rõ mồn một trước mắt mọi người.

"Tôi lên núi Đoạn Phong này với hai bàn tay trắng và một tấm thân tàn tạ. Ở đây, tôi được sư phụ Bùi Hạ truyền dạy cho bài điều tức thổ nạp đầu tiên để giữ lại mạng sống. Tôi được những người thợ thuyền, những bà con tị nạn ở đây chia cho từng hớp nước sạch Thạch Nhãn đun sôi, từng muỗng cháo kê loãng giữa lúc đói rét cùng cực nhất. Ở đây, không một ai chê cười tôi là tạp căn vô dụng. Ở đây, tôi được dạy cách vặn một chiếc then gỗ cho đúng khớp, cách nắn một luồng linh lưu cho chuẩn mạch, và quan trọng hơn hết—tôi được đối xử như một con người có tôn nghiêm, có quyền lựa chọn con đường sống của chính mình!"

Vũ Liên dứt khoát bước tới mép bàn gỗ mộc.

Nàng vươn tay, cầm lấy ngọn bút lông chấm mực chu sa đỏ thắm đang cắm trong nghiên đá hoa cương. Nàng giơ cao ngọn bút, ánh mắt rực sáng hướng về phía chín chữ ký nằm ngay ngắn trên lá đơn đăng bộ tông môn sơ lập:

"Tôi tự nguyện ký tên vào đơn đăng bộ Vọng Đăng! Tôi tự nguyện điểm chỉ chu sa để gắn bó sinh mạng, mồ hôi và tương lai của mình với ngọn đèn trên đỉnh núi này! Chữ ký đó là của chính tôi, do ý chí tự do và lương tri của tôi hạ bút, không một ai ép buộc, không một ai mua chuộc, và không một danh môn đại phái nào có quyền giẫm đạp hay xé bỏ nó!"

Tiếng nói vừa dứt, một khoảng lặng ngắn ngủi trôi qua, rồi bất thình lình, một tràng pháo tay cùng những tiếng hô vang bùng nổ dữ dội như sấm sét từ đám đông người sống sót:

"Nói hay lắm!"

"Chúng ta tự nguyện! Chúng ta đều tự nguyện!"

"Vọng Đăng là nhà của chúng ta! Đừng hòng cướp bóc!"

"Lũ sâu mọt hút máu người nghèo, cút khỏi Đoạn Phong đi!"

Trước khi Tạ Duy kịp định thần, bốn người thợ chèo đò—Trần Đại, Lê Văn Trọng, Ngô Bính và Hà Tam—đồng loạt bước dồn dập lên phía trước. Bốn thân hình vạm vỡ, ngực trần khoác áo tơi tơi tả, da thịt đen bóng vì sương gió và bám đầy bùn quặng đỏ, đứng dàn hàng ngang sát cạnh Vũ Liên. Bốn ánh mắt rực lửa giận dữ trừng trừng nhìn thẳng vào mặt quản sự Thanh Huyền Môn, tựa như bốn cột đá hoa cương sừng sững che chở cho thiếu nữ nhỏ bé.

Từ phía sau, lão thợ đá Nguyễn Mộc chống gậy trúc bước tới, bước chân khập khiễng nhưng vững chãi, đứng vào bên cạnh Lâm Tự. Đỗ Nghi và Phạm Sương cũng tiến lên một bước sát cánh bên họ, trong khi Đỗ Tín cùng bà con đứng vững vàng ngay phía sau làm điểm tựa.

Chín con người.

Chín cái tên được khắc ghi trên tờ đơn đăng bộ bằng giấy bản.

Lúc này, họ đứng sát vai nhau, ken đặc thành một bức tường thành kiên cố bằng xương bằng thịt, bằng ý chí và niềm tin của những kẻ đã cùng nhau đi qua lằn ranh sinh tử.

Tạ Duy lảo đảo lùi lại nửa bước. Gót giày y vấp phải mép rãnh thoát nước bằng đá, suýt nữa ngã ngửa ra sau nếu không có hai tên đệ tử đi cùng vội vàng đỡ lấy. Mặt y cắt không còn một hạt máu, tái mét như xác chết. Y hoảng loạn nhìn quanh, nhưng bốn bề chỉ có những ánh mắt căm phẫn, khinh bỉ và lạnh lùng như băng tuyết găm chặt vào người y. Uy thế của một quản sự đại phái hoàn toàn sụp đổ tan tành trước lẽ phải và sự thật trần trụi.

Hoàng Cẩn chậm rãi đặt thanh đoản trảm trở lại bao da. Viên huyện thừa già cầm cuốn sổ phụ của Lê Chi lên, lật giở từng trang đối chiếu cẩn thận với tập trích lục dân tịch và các bản sao công văn cứu nạn mà huyện nha mang theo trong chiếc hòm gỗ sơn đen. Ngón tay trỏ của ông ta lướt qua từng con dấu, từng dòng chữ đối chiếu.

Sau một hồi trầm ngâm suy xét, Hoàng Cẩn ngẩng đầu lên. Gương mặt khắc khổ của ông ta đanh lại, cất giọng khô khốc nhưng uy nghiêm vang khắp sân:

"Chiếu theo Điển lệ Hộ tịch và Quy chế Cứu trợ thiên tai hiện hành của vương triều Vân Hà: Mọi danh sách tiếp nhận cứu nạn không có văn khế cam kết nhân thân có công chứng của quan nha sở tại đều không có giá trị ràng buộc hộ tịch. Nạn dân Vũ Liên chưa từng nhận trợ cấp thực tế, không có tên trong sổ phát lương thực tế của Bến Bạch Sa, và không hề ký kết bất kỳ khế ước lao dịch cấn trừ nào với Thanh Huyền Môn."

Hoàng Cẩn dừng lại một nhịp, ánh mắt sắc như dao cau nhìn thẳng vào Tạ Duy, từng chữ lạnh băng như sương muối mùa đông:

"Ngược lại, việc Ty Tuyển Mộ và Ty Vật Tư Thanh Huyền Môn man khai ba trăm sáu mươi suất cứu trợ để bòn rút công quỹ và phân phối bất hợp pháp thẻ tị nạn cho tư nhân có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng luật pháp triều đình. Huyện nha An Lưu đã chính thức lập biên bản niêm phong toàn bộ cuốn sổ phụ này cùng lời khai của nhân chứng Lê Chi để mở cuộc điều tra hình sự độc lập."

Viên huyện thừa vung tay áo, dõng dạc tuyên bố:

"Về mặt quản hạt dân tịch và quyền tự do thân thể thuộc thẩm quyền của Huyện nha An Lưu: Vũ Liên là lương dân tự do hoàn toàn, có đầy đủ quyền công dân để cư trú, lao động và tự nguyện gia nhập bất kỳ tổ chức tu hành hợp pháp nào theo ý chí cá nhân. Khiếu nại đòi quyền sở hữu nhân thân của Thanh Huyền Môn hoàn toàn vô căn cứ và trái pháp luật. Huyện nha An Lưu chính thức bác bỏ toàn bộ nội dung kháng nghị nhân tịch của Quản sự Tạ Duy!"

Một tiếng thở phào nhẹ nhõm như làn gió ấm đồng loạt thoát ra từ lồng ngực của sáu mươi sáu con người đang có mặt trên sân am. Những nụ cười bắt đầu hé nở trên những gương mặt hốc hác, lem luốc bùn đất.

Nhưng quyền định đoạt tối hậu về việc khai sơn lập môn vẫn nằm trong tay người phụ nữ mặc đạo bào xám tro của Trấn Linh Ty.

Đinh Tuệ từ từ đứng dậy khỏi chiếc ghế đẩu. Nàng cầm tập hồ sơ khiếu nại đóng dấu triện hoa sen ba cánh của Tạ Duy lên bằng hai ngón tay, ánh mắt nàng lạnh lùng và nghiêm khắc nhìn thẳng vào viên quản sự đang run rẩy đứng chết trân:

"Tạ quản sự, Trấn Linh Ty phụ trách quản lý địa mạch, giám sát an toàn trận pháp và công nhận tông môn theo pháp chế tối cao của vương triều Vân Hà. Trấn Linh Ty lập ra là để bảo vệ sự an nguy của bách tính và sự ổn định của linh mạch quốc gia, không phải là nơi để các ngươi đem những bản báo cáo man trá, những mưu mô chiếm đoạt tư lợi ra làm công cụ chèn ép kẻ yếu."

Xoẹt!

Bằng một động tác dứt khoát không chút do dự, Đinh Tuệ gập đôi lá đơn khiếu nại lại. Nàng cầm chiếc bút lông mực đen trên bàn, vung tay vạch một đường chéo lớn đè ngang lên con dấu triện hoa sen chu sa đỏ rực, rồi thản nhiên ném trả tập giấy vào trong chiếc tráp gỗ nẹp đồng đang mở toang của y.

Tiếng tập giấy rơi vào tráp nghe khô khốc và nhục nhã.

"Đơn kháng nghị của Ty Trận Vụ Thanh Huyền Môn bị tuyên bố vô hiệu lực do thiếu căn cứ pháp lý và có dấu hiệu ngụy tạo chứng cứ. Hành vi khai khống danh sách cứu nạn và cản trở quy trình đăng bộ tông môn sơ lập hợp pháp của các ngươi sẽ được Trấn Linh Ty phân sở An Lưu lập thành hồ sơ giám sát đặc biệt, chuyển thẳng lên Tổng trấn phủ để tiến hành thanh tra toàn diện về an toàn địa mạch và đạo đức hành nghề."

Đinh Tuệ không thèm nhìn vẻ mặt xám như tro tàn, kinh hoàng đến tột độ của Tạ Duy thêm một khắc nào nữa. Nàng xoay người lại, hướng về phía Bùi Hạ. Giọng nói của nàng lập tức trở lại vẻ trang trọng, chuẩn mực và tôn nghiêm của một viên kiểm định viên quan phương cấp vương triều:

"Bùi Chưởng môn, mời tiến lên nhận văn tự."

Hai chữ "Chưởng môn" vang lên giữa sớm mai trên đỉnh Đoạn Phong khiến lòng người chấn động. Đó không còn là một lời gọi xưng hô bừa bãi giữa những kẻ lưu dân, mà là sự thừa nhận danh phận chính thức từ cơ quan quyền lực cao nhất quản lý giới tu hành của triều đình.

Từ trong chiếc tráp bọc da hươu màu xám của Trấn Linh Ty đặt trang trọng giữa bàn, Đinh Tuệ cẩn trọng rút ra một tấm da dê nguyên khối màu vàng ngà óng ả. Bề mặt tấm da dê được thuộc phẳng phiu, viền quanh bốn cạnh bằng những đường hoa văn phù điêu triện đồng tinh xảo tượng trưng cho quyền năng phong định địa mạch và giám sát linh sơn của vương triều Vân Hà.

Tấm da dê được trải phẳng phiu trên mặt bàn gỗ mộc. Trên nền da vàng mịn, từng dòng chữ Triện uy nghiêm, sắc nét đã được điền sẵn đầy đủ bằng thứ mực vĩnh cửu không phai:

Tên gọi cơ sở: *Tông môn sơ lập Vọng Đăng*.

Người đứng đầu truyền dạy: *Bùi Hạ (Luyện Khí tầng ba)*.

Danh sách chín đinh danh sáng lập tự nguyện: *Phạm Sương, Đỗ Nghi, Trần Đại, Lê Văn Trọng, Ngô Bính, Hà Tam, Nguyễn Mộc, Lâm Tự, Vũ Liên*.

Ranh giới bảo hộ pháp lý: Ba mươi trượng vuông vùng lõi tính từ tâm giếng Thạch Nhãn, dựa theo mốc đá Cảnh Nguyên thứ mười hai đã được Trấn Linh Ty cắm mốc định vị.

Đinh Tuệ mở chiếc hộp sắt đen tuyền đặt bên cạnh, trịnh trọng lấy ra con dấu triện lớn bằng đồng nguyên khối của Trấn Linh Ty. Con dấu vuông vức bốn tấc, cán khắc hình rùa thần đội đá. Nàng ấn mạnh mặt dấu vào khay mực chu sa đỏ thắm, để mực ngấm đều vào từng đường rãnh chạm khắc tinh vi, rồi nâng cao con dấu bằng cả hai tay.

Khoảng sân đạo quán Vọng Đăng bỗng chốc chìm vào một khoảng lặng thiêng liêng tuyệt đối.

Tiếng gió xào xạc dường như ngừng bặt. Mây mù trên đỉnh núi Đoạn Phong khẽ hé mở, để một luồng nắng sớm vàng rực rọi thẳng xuống khoảng sân am. Sáu mươi sáu con người nín thở, hai mắt mở to không dám chớp lấy một cái, tim đập thình thịch trong lồng ngực.

Cộp!

Tiếng ấn triện nện xuống mặt tấm da dê vang lên trầm hùng, đanh gọn và dứt khoát như một nhát búa định cối ngàn năm.

Dấu triện vuông vức bốn tấc mang dòng đại tự Triện thư: *«Vân Hà Vương Triều — An Lưu Phân Sở Trấn Linh Ty Thẩm Định Chi Ấn»* đỏ tươi như ngọc bích hiện rõ mồn một trên nền da dê vàng óng.

Ngay khi con dấu vừa rời khỏi mặt da, một luồng linh quang vàng nhạt ấm áp khẽ gợn lên từ từng nét chữ. Linh quang ấy lan tỏa thành một làn sóng năng lượng êm dịu, bao trùm lấy chiếc bàn gỗ mộc, lan tỏa qua các vết nứt trên nền đá hoa cương, rồi từ từ hòa tan vào không gian mộc mạc, tĩnh lặng của đạo quán, tựa như một sợi dây vô hình kết nối mảnh đất hoang tàn này vào đại địa mạch của toàn cõi Vân Hà.

Đinh Tuệ cất giọng sang sảng, từng lời tuyên cáo trang nghiêm vang vọng giữa đất trời bao la:

"Chiếu theo Thiên thứ ba Luật Vân Hà và Điển lệ Khai sơn Tông môn: Kể từ giờ khắc này, Văn tự công nhận Tông môn sơ lập Vọng Đăng chính thức có hiệu lực thi hành! Xác lập quyền cư trú hợp pháp lâu dài, quyền thiết lập và duy trì hệ thống phòng hộ ba mắt trận lõi quanh am tự, cùng toàn quyền quản trị, bảo tồn và sử dụng nguồn nước linh tuyền Thạch Nhãn trong phạm vi ranh giới đã đăng ký!"

Đinh Tuệ dừng lại một nhịp, ánh mắt nghiêm cẩn nhìn thẳng vào Bùi Hạ để nhắc nhở điều khoản trách nhiệm cốt lõi:

"Tông môn sơ lập Vọng Đăng được hưởng quyền miễn trừ toàn bộ các lệnh trưng phu, trưng dịch mới từ các nha môn hay đại phái lân cận đối với chín thành viên chính thức. Tuy nhiên, bản môn có nghĩa vụ nộp thuế đinh công ích hàng năm theo luật định của triều đình, và bắt buộc phải chịu sự tái kiểm định kỹ thuật an toàn địa mạch định kỳ ba tháng một lần từ Trấn Linh Ty. Nếu vi phạm quy chuẩn an toàn địa mạch, để xảy ra xung đột linh lưu gây hại hạ du hoặc tranh chấp công ích không thể hòa giải, văn tự bảo hộ này sẽ bị đình chỉ vô điều kiện!"

Nói đoạn, Đinh Tuệ dùng cả hai tay nâng tấm da dê vàng óng lên ngang ngực, từng bước trang trọng tiến tới, trao thẳng vào đôi bàn tay đang đón đợi của Bùi Hạ:

"Chúc mừng Bùi Chưởng môn. Từ hôm nay, ngọn đèn trên núi Đoạn Phong này đã có danh phận chính thức dưới gầm trời Vân Hà. Hãy giữ lấy ngọn đèn của các ngươi cho sáng!"

Bùi Hạ vươn hai tay đón lấy tấm da dê.

Mặt da cừu mát lạnh dưới đầu ngón tay ráp nối, nhưng từ sâu bên trong thớ da, nàng cảm nhận được một sức nặng ngàn cân truyền thẳng vào tâm can mình. Đó là sức nặng của ba mươi ngày ròng rã giành giật từng mạng người giữa bùn lầy nước độc; là sức nặng của những bát cháo kê san sẻ trong đêm mưa rét; là mồ hôi, máu và nước mắt của những con người cùng khổ đã dám gửi gắm tính mạng và niềm tin vào nàng để cùng nhau dựng lại một mái nhà từ đống tro tàn.

Cánh tay phải bị thương của nàng khẽ run lên dưới lớp nẹp gỗ táu, nhưng đôi mắt nàng sáng rực, trong trẻo và sâu thẳm như làn nước giếng Thạch Nhãn sau khi đã lắng sạch toàn bộ mạt phù sa sau lũ.

Bùi Hạ cúi đầu trang nghiêm đáp lễ theo quy thức đại tông môn:

"Vọng Đăng ghi nhận. Tạ ơn Đinh kiểm định. Tạ ơn Hoàng huyện thừa."

Lời vừa dứt, một tiếng gầm vỡ òa như sấm dậy xé toạc màn sương sớm còn vương trên sườn Đoạn Phong:

"Thành rồi!"

"Chúng ta có tông môn rồi! Chúng ta có mái nhà rồi!"

"Vọng Đăng vạn tuế!"

Không còn bất kỳ sự kiềm chế hay e dè nào nữa. Khoảng sân am bùng nổ trong niềm hoan lạc tột cùng. Bốn người thợ chèo đò Trần Đại, Lê Văn Trọng, Ngô Bính, Hà Tam nhảy cẫng lên như những đứa trẻ, ôm chầm lấy thân hình gầy guộc của lão thợ đá Nguyễn Mộc mà vừa cười lớn vừa trào nước mắt. Đỗ Nghi nghẹn ngào ôm chặt lấy em trai Đỗ Tín, hai chị em tựa đầu vào nhau, những giọt nước mắt ấm nóng lăn dài trên đôi má hốc hác.

Lâm Tự buông rơi chiếc rìu thợ mộc xuống đất, anh cúi xuống bế bổng bé Lâm An lên cao quá đầu. Cô bé mười một tuổi cười giòn giã giữa ánh nắng ban mai, hai bàn tay nhỏ xíu lấm lem bùn đất vẫy vẫy rạng rỡ về phía tấm da dê đỏ thắm con dấu triện. Phạm Sương đứng cạnh án bàn, đưa vạt áo thô lên lau vội giọt nước mắt lăn dài trên gò má đầy nếp nhăn cơ cực, khóe môi nở một nụ cười nhẹ nhõm, thanh thản đến tận cùng ruột gan.

Giữa biển người đang hân hoan rạng rỡ ấy, Tạ Duy đứng trơ trọi như một pho tượng đá nứt nẻ giữa bãi tha ma.

Gương mặt y xám ngoét như màu tro bếp nguội, đôi môi mỏng dính run rẩy bần bật mà không thốt nên được nửa lời trọn vẹn. Chiếc tráp gỗ sơn đen nẹp đồng bên cạnh y vẫn mở toang, bên trong là lá đơn khiếu nại mang dấu hoa sen ba cánh đã bị một vệt mực đen gạch chéo nhục nhã.

Y biết rất rõ điều gì đang chờ đợi mình ở phía trước. Việc làm giả danh sách cứu hộ bị Huyện nha An Lưu lập biên bản niêm phong tang chứng, lại thêm bản kiến nghị giám sát đặc biệt của Trấn Linh Ty gửi thẳng lên Tổng trấn phủ, sẽ biến thành một đòn chí mạng giáng thẳng vào tiền đồ của y tại Chưởng Vụ Đường. Thanh Huyền Môn có thể bao che cho những việc mờ ám khuất tất, nhưng tuyệt đối không bao giờ dung thứ cho một kẻ làm bại hoại thể diện môn phái giữa thanh thiên bạch nhật mà lại chuốc lấy thất bại ê chề, nhục nhã đến mức này.

Tạ Duy run rẩy ngẩng đầu lên, vô tình bắt gặp ánh mắt của Bùi Hạ xuyên qua đám đông.

Trong ánh mắt của nàng không hề có sự chế giễu ti tiện, không có sự hả hê đắc thắng của kẻ vừa lật ngược thế cờ, và càng không có vẻ thù hằn mù quáng của một đệ tử từng bị xua đuổi. Ánh mắt Bùi Hạ nhìn y chỉ đơn thuần là sự lạnh lùng, dứt khoát và thản nhiên của một người thợ lành nghề vừa dùng nhát đục cuối cùng gạt bỏ xong toàn bộ phần đá tạp vụn vỡ, thanh lọc xong toàn bộ tạp chất dơ bẩn ra khỏi công trình mà mình dốc lòng gầy dựng.

Ánh mắt ấy khiến Tạ Duy cảm thấy rùng mình ớn lạnh từ tận đáy tủy sống. Y hiểu rằng, người phụ nữ trước mặt y lúc này đã hoàn toàn thoát khỏi cái bóng của Thanh Huyền Môn, đã trở thành một Chưởng môn thực thụ của một vùng trời riêng biệt.

Hai tên đệ tử ngoại môn đi theo sợ hãi run rẩy, vội vàng khép chặt nắp chiếc tráp gỗ nẹp đồng lại. Bọn chúng lấm lét nhìn quanh đám đông phu dịch đang hừng hực khí thế, rồi níu lấy tà áo thụng dính đầy bùn đất của Tạ Duy, lí nhí giục giã:

"Quản sự... đi thôi... chúng ta đi thôi..."

Tạ Duy không nói được lời nào. Y cúi gằm mặt xuống, lầm lũi quay lưng lê từng bước chân nặng nề xuống con dốc đá Đoạn Phong giữa ánh nhìn lạnh băng, khinh miệt của sáu mươi sáu con người sống sót.

Bóng lưng ngọc bích sờn rách của y khuất dần sau khúc quanh mù mịt hơi sương dưới chân núi, để lại phía sau khoảng sân đạo quán Vọng Đăng ngập tràn ánh nắng ấm áp và những tiếng thở phào nhẹ nhõm vang vọng giữa đất trời bao la.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn