Tiêu Hao Cho Ngày Mai
Tiếng gõ mõ triệu tập khẩn cấp giục giã vang lên giữa gian chính điện dột gió; dưới ánh đuốc bập bùng, mọi ánh mắt đều dồn về phía thung lũng nơi bóng tối đen ngòm đang nuốt chửng tiếng kêu gào cứu nạn.
Từng hồi mõ bằng gỗ mít già đanh giòn, dồn dập nện vào thanh xà lim của gian tiền tế, hòa lẫn với tiếng ngói long sạt sạt trên mái hiên và tiếng sấm rền từ dãy Hoành Sơn dội lại. Mưa như trút nước xuống thung lũng Nam Khê. Gió từ hẻm vực thốc ngược lên mang theo mùi tanh nồng của bùn quặng linh sa, quyện đặc với hơi ẩm ẩm mốc của những góc tường rêu và cái buốt lạnh thấu xương của đêm đầu mùa lũ. Bên ngoài bao lơn đá, trời đất tối tăm như một miệng vực khổng lồ không đáy, đen đặc quánh đến mức dường như giơ bàn tay ra trước mặt cũng chỉ thấy một màu hắc ín ngột ngạt.
Dưới chân dốc nam, nơi con đường mòn độc đạo chạy men theo bờ vực vừa bị đợt lũ quét ngoạm đứt thành ba đoạn trơ trọi, từng tia chớp tím tái thỉnh thoảng lại rạch đôi màn mây dầm dề. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi nửa chớp mắt ấy, luồng sáng lạnh lẽo của thiên lôi phơi bày một cảnh tượng kinh hoàng mà mắt thường khó lòng tưởng tượng nổi.
Một gò đá hoa cương xám ngắt trồi lên giữa dòng nước xoáy ngầu đỏ bọt chì — chính là mỏm đá Gai Bồ Kế mà cô bé Lâm An đã tỉ mỉ đánh dấu trên sơ đồ thủy đạo chiều nay — nay đang chơ vơ như một hòn đảo tí hon sắp sửa bị sóng dữ bẻ vụn. Trên mặt đá trơn tuột chỉ rộng chưa đầy hai trượng vuông ấy, hơn hai mươi bóng người đang co cụm, ken sát vào nhau trong tuyệt vọng. Có tiếng trẻ con khóc thét bị gió bão xé vụn, tiếng la hét cầu cứu của đàn ông, tiếng người già tụng kinh khấn vái đứt quãng, và tiếng hò hét khản đặc của những người phu thồ đang dùng chính thân mình làm tường chắn sóng.
"Là Hà Thu và đoàn thuyền nan Bến Bạch Sa!" Đỗ Tín đứng tựa bên khung cửa gỗ nghiến, ngực phập phồng thở dốc từng cơn nặng nhọc, giọng run rẩy nhưng rành rọt từng chữ. "Còn có cả đoàn la thồ của cô nương Tống Mai nữa! Chuyến hàng cuối chở ngô hạt và muối giống từ hạ lưu lên... Họ đi theo đường bến phụ, định cập vào gò cao trú tạm qua đêm, nào ngờ bị nước dâng cắt đứt lối cũ ngay khúc cua hố sụt chân dốc nam!"
Nước lũ từ khúc sông Vân Hà vừa bục đê thượng nguồn tràn về hung hãn, cuốn theo rác rưởi, thân cây mục, những súc gỗ trôi dạt và lớp phù sa độc hại ngậm đầy quặng chì xám, xoáy cuồn cuộn quanh chân mỏm đá. Mỗi đợt sóng đục ngầu vỗ vào vách đá lại tung bọt trắng xóa cao quá đầu người, kéo theo những tiếng rắc rắc rùng mình của đá dăm bị nghiền nát dưới dòng chảy ngầm. Hố sụt sâu hơn hai trượng toác rộng giữa con đường mòn và bờ dốc đá đã biến nơi đó thành một cạm bẫy tử địa: tiến không xong vì vách đá dựng đứng bị nước khoét hàm ếch xói lở dữ dội, lùi không được vì nước dữ đã phong tỏa hoàn toàn lối thoát về phía bãi bồi ven sông.
Mực nước đang dâng lên từng tấc một theo từng nhịp thở thắt nghẹn của người quan sát. Nước mấp mé tới bắp chân, rồi ngang đầu gối những người đứng mé ngoài mỏm đá. Chỉ cần nửa canh giờ nữa, khi triều cường thượng nguồn đổ dồn về tới đỉnh theo quy luật con nước đêm rằm, mỏm đá Gai Bồ Kế sẽ hoàn toàn biến mất dưới dòng nước xiết, chôn vùi toàn bộ hai mươi sinh mạng vào bụng sông.
Bùi Hạ đứng thẳng giữa lòng chính điện, bàn tay phải quấn băng vải trắng nẹp chặt trong hai thanh nẹp gỗ táu ép sát bên sườn. Dưới lớp băng vải thô dày, từng đốt xương và kinh Phế đang bị phong tỏa cắn rứt buốt nhức từng hồi theo từng nhịp tim đập, nhưng nét mặt nàng phẳng lặng như mặt nước giếng khơi. Bàn tay trái lành lặn của nàng đè chặt lên mép bàn đá thanh hoa, nơi tấm bản đồ địa hình vẽ bằng mực nho và bột son đã ướt đẫm những giọt nước mưa dột từ mái ngói.
Ánh mắt Bùi Hạ đảo qua từng gương mặt đang tụ họp quanh ngọn đuốc dầu trẩu: Phạm Sương với chiếc tráp gỗ trắc khóa kín ép chặt bên hông; Lâm Tự với vạt áo vải thô ướt sũng bùn đất, đôi bàn tay thợ mộc gân guốc vẫn còn dính dăm bào; lão thợ đá Nguyễn Mộc ôm chặt chiếc hộp đựng văn tự công ước vào ngực; Đỗ Nghi với chiếc túi vải chàm cắm đầy kim châm và thuốc dán; cùng cả Đinh Tuệ và Huyện thừa Hoàng Cẩn — hai vị quan viên của Ty Trấn Linh và Huyện nha vừa thoát chết trong gang tấc sau chuyến khảo sát thực địa buổi chiều, hiện vẫn còn bàng hoàng đứng tựa lưng vào hàng cột cái bằng gỗ lim của đạo quán.
"Tất cả nghe rõ đây," giọng Bùi Hạ cất lên. Âm sắc không cao, hơi khàn vì kiệt sức sau một ngày vận khí chống lũ, nhưng đanh gọn và rõ ràng đến mức át đi cả tiếng mưa quất ràn rạt trên mái ngói sứt mẻ. "Đoàn người dưới gò đá không thể tự bơi qua hố sụt. Dòng nước ngậm mạt linh sa độc từ mỏ quặng vỡ trên thượng nguồn xả xuống, phàm nhân rơi xuống đó chỉ ba hơi thở là kinh mạch tê liệt, kiệt sức hoặc bị đá ngầm nghiền nát. Muốn kéo họ lên, chúng ta chỉ có một con đường duy nhất: tiếp cận mép hố sụt trên sườn dốc nam, thả dây thừng cứu hộ có ngâm sáp định hướng dọc theo vách đá."
"Nhưng trời tối như bưng mắt thế này thì làm sao thả dây?" Trần Đại, một trong bốn người thợ chèo đò kỳ cựu của Vọng Đăng, giơ hai bàn tay thô ráp chai sạn đầy sẹo nước ăn lên phân trần. "Gió rít thế này, sương mù quện với bụi quặng thượng nguồn dày đặc như chõ xôi xéo. Cầm đuốc bùi nhùi ra mép gió là tắt phụt ngay tắp lự. Đèn bão bọc lụa che dầu thông tốt nhất của ta mang ra bao lơn cũng chỉ rọi được chưa đầy nửa trượng, nhìn xuống chân còn chẳng thấy ngón chân mình. Nếu không thấy đường, quăng dây xuống chỉ trúng nước xoáy, làm sao người dưới mỏm đá bắt được đầu thừng? Chưa kể vách dốc nam vừa sụt lở sau trận trượt đất ban chiều, dẫm trúng mép đất xốp là người trên này trượt chân rơi xuống vực theo luôn!"
"Phải dùng Đăng Dẫn Lộ," Bùi Hạ nhìn thẳng vào Đinh Tuệ rồi quay sang toàn thể hội đồng đang đứng vây quanh. "Chế độ thắp ngắt quãng bằng dầu cặn hiện thời chỉ đủ phát ánh sáng tán xạ yếu ớt trong bán kính hẹp quanh sân quán, không thể nào xuyên thủng lớp sương mù ngậm mạt linh sa này. Chúng ta đã thấy hậu quả nhãn tiền chiều nay: bụi sa khoáng lơ lửng trong không khí bẻ cong quang sai, tán sắc luồng nhiệt, biến ngọn đèn thành một cái bẫy chết người rọi lệch sang tận vách đông, suýt chút nữa chôn vùi đoàn khảo sát. Cách duy nhất để rọi thẳng một cột sáng định vị xuyên qua màn mù, ghim chặt luồng sáng xuống mỏm Gai Bồ Kế là kích hoạt trận thức bậc hai của ngọn đèn — chế độ dẫn phù xuyên sương."
Vừa nghe bốn chữ "dẫn phù xuyên sương", không khí trong chính điện bỗng chốc đông cứng lại. Ngay cả tiếng thở dốc của những người phu thồ cũng chùng xuống, nhường chỗ cho sự im lặng nặng nề còn đáng sợ hơn tiếng sấm rền ngoài trời.
Là một người từng giữ chức Trận trắc sư tại Ty Trận Vụ nhiều năm trước khi bị phế truất, Bùi Hạ hiểu rõ cái giá của pháp trận đó hơn bất kỳ ai trong căn phòng này. Đăng Dẫn Lộ nguyên bản là một pháp khí định hướng hàng hải cổ xưa được tiền nhân gắn vào đỉnh tháp chuông của đạo quán để dẫn đường cho thuyền bè qua lại luồng lạch hiểm trở. Muốn chọc thủng màn sương quặng độc dày đặc để tạo thành một trục quang học ổn định dẫn mắt người nhìn, nó không thể dùng thứ dầu thô pha mỡ bò hay sáp ong tầm thường. Nó đòi hỏi một nguồn linh lực thuần khiết với cường độ cao và độ ổn định tuyệt đối để nung chảy các đường phù triệt khắc chìm bằng đồng đỏ trong tim đèn, ép toàn bộ quang năng hội tụ thành một luồng duy nhất.
"Muốn duy trì luồng sáng dẫn phù xuyên suốt trận cứu hộ kéo dài ít nhất hai canh giờ," Bùi Hạ hít một hơi thật sâu, ngực nhói buốt khi vết thương phế khí co thắt, "ngọn đèn cần linh thạch. Không phải là thứ vụn linh sa lẫn tạp chất mà chúng ta đãi được dưới lòng suối, mà là linh thạch nguyên khối đạt chuẩn hạ phẩm. Trận thức sẽ ngốn sạch toàn bộ số linh thạch dự trữ còn lại trong tráp công quỹ của chúng ta."
Tiếng gió rít qua khe cửa ván như một tiếng thở dài thảng thốt của chính ngôi cổ tự.
Mọi ánh mắt lập tức dồn về phía Phạm Sương.
Người đàn bà gầy gò, sắc sảo ấy đang ôm chặt chiếc tráp gỗ trắc vào lòng như ôm một đứa con thơ dại. Những khớp ngón tay bà trắng bệch vì siết quá chặt, đôi môi mỏng mím lại thành một đường chỉ thẳng tắp, những nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu dưới ánh lửa bập bùng của ngọn đuốc dầu trẩu.
Ai ở Đạo quán Vọng Đăng này cũng hiểu số linh thạch ấy có ý nghĩa sống còn như thế nào đối với sự tồn vong của toàn bộ cộng đồng nhỏ bé này.
Đó tuyệt đối không phải là tài sản thừa thãi, xa xỉ của một môn phái tu tiên giàu có vung tiền qua cửa sổ. Đó là mười hai viên linh thạch hạ phẩm và một vốc linh thạch vụn — thành quả chắt bóp từng đồng trinh, từng hào bạc từ bao đợt đổi công đổ mồ hôi sôi nước mắt suốt ba tháng ròng rã. Đó là tiền công mồ hôi nước mắt của cả nhóm khi dầm mưa vác từng sọt đá dăm sắc cạnh, khoét từng tấc rãnh ngầm thoát nước ở khoang số bốn Đê Hồi Long; là tiền thù lao Bùi Hạ thức trắng hàng chục đêm dùng bàn tay tàn phế nắn chỉnh từng chiếc la bàn dẫn khí cho thương thuyền Nam Khê; là khoản dự phòng sống còn mà Phạm Sương đã lật đi lật lại cuốn sổ cái tính toán chi li đến từng hạt kê, định dùng để mua vét chuyến gạo tấm và muối giống cuối cùng từ Nam Khê về cứu đói cho ba mươi hai con người trong tuần tới, khi toàn bộ số bánh lương khô quân dụng phân phát từ huyện nha cạn kiệt.
Mất số linh thạch đó, Vọng Đăng sẽ hoàn toàn sạch bách tiền mặt sau trận đại hồng thủy này. Họ sẽ không còn lấy một đồng vốn nào để phòng thân, không thể mua nổi một thang thuốc hạ sốt từ các thuyền buôn xuôi ngược của thương hội Tam Giang khi dịch bệnh bùng phát sau lũ. Mọi sinh kế sắp tới của ba mươi hai con người sẽ hoàn toàn bị đẩy vào cảnh bấp bênh, sống lay lắt dựa vào từng ngày đổi công lao động thuần túy trong cảnh thiếu ăn, thiếu mặc giữa mùa đông sắp tràn về.
"Bùi nha đầu..." Giọng Phạm Sương run lên, bàn tay bà bấu chặt vào ổ khóa đồng chạm trổ hoa văn mây cuộn của chiếc tráp gỗ. "Số linh thạch này... là mạng sống của ba mươi hai người chúng ta trong mười ngày tới đấy. Cô biết rõ hơn ai hết mà! Không có số đá này lót đáy tráp, sang tuần sau khi lũ rút, chúng ta lấy gì để mua gạo khi bọn lái buôn Tam Giang kéo thuyền tới ép giá? Lấy gì để đổi lấy thuốc trị thương cho Đỗ Tín, lấy vải lanh may áo ấm khi sương muối tràn về thung lũng?"
Cả gian điện lặng ngắt như tờ. Tiếng mõ gỗ vừa dứt hãy còn đọng lại dư âm u u trên những xà ngang bằng gỗ lim xỉn màu. Ngoài kia, tiếng trẻ con khóc thét từ phía gò đá xa xăm vọng lại theo từng cơn gió giật, mỏng manh như tiếng nhạn lạc đàn giữa cuồng phong.
Huyện thừa Hoàng Cẩn đứng bên cạnh khẽ ho khan một tiếng, hai bàn tay luồn vào trong ống tay áo rộng lấm lem bùn sình. Ông ta toan mở miệng nhắc nhở về những khoản ngân sách công cốc hạn hẹp của huyện nha vốn đã thâm hụt sau vụ vỡ đê, nhưng bắt gặp ánh mắt sắc lạnh như dao cạo của Đinh Tuệ, viên huyện thừa khựng lại, ngậm miệng nuốt lời vào trong. Đây là việc nội bộ của một cộng đồng dân sự sơ lập; quan phủ không có tư cách hay quyền hạn để can thiệp vào cách họ sử dụng tài sản sống còn của mình.
Phạm Sương chậm rãi đặt chiếc tráp gỗ lên mặt bàn đá thanh hoa. Tiếng đáy gỗ va chạm với mặt đá phát ra một âm thanh khô khốc, nặng trịch. Chiếc chìa khóa đồng tra vào ổ kêu một tiếng *cạch* nhỏ nhoi nhưng xé lòng.
Nắp tráp bật mở.
Dưới đáy lót một mảnh vải điều cũ kỹ đã sờn rách mép, mười hai viên đá màu xanh xám lấp lánh thứ ánh sáng thanh khiết, lạnh lẽo, nằm ngay ngắn bên cạnh một vốc đá vụn và cuốn sổ quỹ đóng bằng giấy bản ghi chép chi li từng ngày công, từng đấu gạo, từng bát cháo hoa chia cho người tị nạn.
Bà đưa những ngón tay gầy guộc, chằng chịt vết nứt nẻ vì ngâm nước phù sa chạm nhẹ vào từng viên đá. Khóe mắt người đàn bà trải đời ngân ngấn nước, nhưng sâu trong ánh nhìn mệt mỏi ấy, một sự kiên định kỳ lạ dần trỗi dậy, vững vàng như cột đá chống trời.
"Bà già này cả đời mở quán cơm ở bến nước Vân Hà, từng thấy bao nhiêu chuyện chướng tai gai mắt," Phạm Sương nghẹn ngào nói, giọng run rẩy nhưng dứt khoát lạ thường. "Ta từng thấy những kẻ giàu nứt đố đổ vách vì tiếc vài đồng bạc vụn mà để mặc thuyền người ta chìm lỉm ngay trước mũi sào của mình; từng thấy những phú hộ ôm bao tải vàng bạc nhảy xuống nước rồi chìm nghỉm chết đuối vì của cải đè nặng. Ở Vọng Đăng này, khi chúng ta cùng nhau đặt bút ký vào bản công ước lập quán, cái điều lệ đầu tiên viết trên vách đá kia là gì? Là sinh mạng con người là trên hết!"
Bà hít một hơi thật sâu, ngón tay run rẩy nhưng không hề rụt lại:
"Hà Thu từng chở từng bao gạo, từng gói thuốc kim ngân hoa cứu mạng chúng ta những ngày đầu tiên chạy lũ từ chân núi lên đây; cô nương Tống Mai bất chấp sự đe dọa của lão chú ruột trong phường buôn mà lén mang muối mỏ, mang ngô giống lên núi tiếp tế cho đám trẻ con Vọng Đăng; còn những người phu thồ kia, họ cũng là máu thịt, là cha, là chồng, là con cái của những xóm nghèo trôi dạt như chúng ta. Nếu hôm nay ta tiếc mười hai viên đá này..."
Phạm Sương ngẩng phắt đầu lên, đưa mu bàn tay áo thô gạt mạnh giọt nước mắt chực trào trên gò má hóp, đẩy mạnh chiếc tráp gỗ về phía trước ngực Bùi Hạ:
"Đem đi thắp đèn! Xuất kho toàn bộ! Ta thà để cả ba mươi hai con người ở cái đạo quán này tuần sau cùng nhau lên núi đào củ mài trừ bữa, cùng nhau đi vác đá khoét rãnh đổi công kiếm từng bát cám, chứ dứt khoát không để người ta chết đuối ngay trước ngưỡng cửa Vọng Đăng Am! Nếu hôm nay chúng ta giữ lại số linh thạch này mà trơ mắt nhìn hai mươi sinh mạng bị sóng cuốn trôi trước mũi giày, thì cái biển hiệu 'Thế đại tị thủy' kia, cái danh xưng tông môn cứu nạn này chỉ là một trò lừa bịp vô liêm sỉ không bằng loài cầm thú!"
Lời nói của bà như mồi lửa ném vào đống bùi nhùi khô khốc giữa gian điện dột gió.
"Đúng vậy! Đem thắp đèn đi!" Lê Trọng bước vọt lên, đập mạnh cán chèo bằng gỗ nghiến xuống nền đá hoa cương phát ra tiếng vang chát chúa, đôi mắt đỏ ngầu vì thiếu ngủ rực lửa. "Chúng tôi có tay, có chân, có sức dài vai rộng! Nước rút rồi chúng tôi đi vác đá thuê cho thương hội, đi kéo lưới vét sông để trả nợ! Đói một vài bữa không chết được, nhưng mất người là mất hết!"
"Tôi đồng ý!" Lão thợ đá Nguyễn Mộc run rẩy giơ cánh tay khẳng khiu đầy sẹo đá vụn lên cao. "Quy tắc của đạo quán đã định: việc hệ trọng liên quan đến tài sản chung phải có toàn thể đồng thuận. Tôi đại diện cho nhóm thợ đá, bỏ một lá phiếu thuận xuất quỹ!"
"Tôi bỏ phiếu thuận!"
"Xuất quỹ cứu người!"
"Chúng tôi đồng ý!"
Tiếng hô đồng thanh của ba mươi hai con người vang lên giữa gian chính điện dột gió, rắn rỏi, dứt khoát và hào sảng như một lời thề sắt đá nện vào màn đêm giông bão. Không một ai cất lời phản đối. Không một ai cúi đầu toan tính thiệt hơn cho phần cơm ngày mai của riêng mình. Sự đồng thuận ấy không hề đến từ bất kỳ mệnh lệnh hành chính ép buộc nào của người đứng đầu, cũng không phải sự mù quáng nhất thời, mà trỗi dậy từ chính tinh thần tự giác sâu sắc của những mảnh đời cơ hàn từng cùng nhau đi qua lằn ranh mong manh giữa sự sống và cái chết.
Bùi Hạ nhìn chiếc tráp gỗ mở rộng, nhìn những viên đá xanh xám lấp lánh phản chiếu khuôn mặt lấm lem bùn đất nhưng rạng rỡ của những người đồng đội. Lồng ngực nàng như có một luồng nhiệt khí ấm nóng trào dâng, xua tan đi phần nào cái buốt giá đang gặm nhấm kinh Phế. Nàng nghiêm trang cúi đầu trước toàn thể hội đồng, hai tay trân trọng bưng lấy chiếc tráp gỗ:
"Vọng Đăng xin ghi nhận quyết định của tất cả mọi người. Món nợ mười hai viên linh thạch này, ngày mai sau khi nước rút, chúng ta sẽ cùng nhau dùng mồ hôi và bàn tay lao động để bù đắp lại trọn vẹn, không thiếu một hào."
Nói đoạn, Bùi Hạ quay phắt người lại. Nàng quàng vội tấm áo tơi lá gồi tơi tả lên vai, bàn tay trái thuần thục chộp lấy cuộn dây thừng bện ngâm sáp treo trên giá gỗ táu, toan lao thẳng ra ngoài bao lơn đá mù mịt mưa gió:
"Vũ Liên, Lâm An, theo ta lên tháp chuông đặt linh thạch vào trận bàn! Những người còn lại chuẩn bị cáng thương và đòn khiêng, ta sẽ trực tiếp xuống vách dốc nam để—"
"Đứng lại đó!"
Một bàn tay to lớn, thô ráp như vỏ cây táu cổ thụ chộp chặt lấy bả vai lành lặn của Bùi Hạ, một lực kéo dứt khoát và chuẩn xác giật ngược nàng trở lại giữa lòng gian điện.
Bùi Hạ ngỡ ngàng quay đầu.
Lâm Tự đang đứng chắn sừng sững trước mặt nàng như một khối đá tảng. Khuôn mặt góc cạnh, vuông vức của người thợ mộc phủ đầy vẻ nghiêm nghị và giận dữ chưa từng thấy. Đôi mắt sâu hoắm của anh quắc lên những tia nhìn gay gắt, rọi thẳng vào gương mặt tái nhợt của Bùi Hạ:
"Nàng định đi đâu? Định một mình lao xuống vách dốc ngập bùn kia trong tình trạng này sao?"
"Lâm Tự, dưới đó nước đang dâng lên từng tấc một!" Bùi Hạ sốt ruột cất giọng, cố giằng vai ra nhưng bàn tay người thợ mộc như kìm sắt khóa chặt. "Ta hiểu cấu trúc trận pháp định vị, ta có thể dùng chút linh lực còn lại để cảm ứng mép đá ngầm trong hố sụt—"
"Nàng im ngay cho tôi!" Lâm Tự gắt lên, giọng nói trầm đục vang như lệnh vỡ giữa chính điện, khiến ngọn lửa đuốc dầu trẩu khẽ chao đảo. "Nàng cúi đầu nhìn lại cái cánh tay phải của mình xem! Nẹp gỗ táu còn chưa khô lớp nhựa thuốc dán, kinh mạch phế tổn vừa mới rách toác đêm qua vì gượng ép vận chuyển linh khí, Đỗ y sĩ đã hạ lệnh cấm vận khí tuyệt đối thế nào nàng quên rồi sao? Nàng xuống đó, trượt chân một cái trong bùn trơn thì ai cứu ai? Hay nàng định nhảy xuống hố nước xoáy rồi để anh em chúng tôi phải chia người khiêng ngược cái xác của Chưởng môn lên?"
"Tôi..." Bùi Hạ cắn chặt môi dưới, vết thương nơi cổ tay giật thắt từng cơn đau điếng như có ngàn mũi kim châm vào tủy xương.
"Bùi Hạ, nàng nghe cho rõ từng lời tôi nói đây," Lâm Tự siết nhẹ vai nàng một nhịp rồi chậm rãi buông ra, giọng hạ thấp xuống nhưng từng từ nặng tựa ngàn cân nện vào đá. "Nàng là Chưởng môn của Vọng Đăng, là người duy nhất ở đây hiểu rõ từng đường rãnh linh lưu, từng con ốc hãm, từng nhịp thở của tim đèn trên cái đài trận kia. Nàng phải đứng ở trên gác chuông, ở vị trí chỉ huy cao nhất của đài quan sát! Nàng phải giữ cái đầu lạnh nhất để phân phối từng giọt linh lực, căn chỉnh góc quang sai, điều khiển luồng sáng chiếu chuẩn xác từng bước chân của chúng tôi. Nếu nàng gục ngã vì kiệt sức dưới vách đá, cả ngọn đèn sẽ tắt phụt, và toàn bộ hai mươi người dưới vực lẫn đội cứu hộ của chúng tôi sẽ chết chìm trong bóng tối không còn một manh mối sống sót!"
Đỗ Nghi từ phía sau bước tới, cầm lấy dải băng vải lanh nẹp tay Bùi Hạ kéo lại cho thật chắc chắn, khuôn mặt nữ y sĩ lạnh như băng, nghiêm giọng phụ họa:
"Lâm thợ cả nói đúng từng chữ, không sai một ly. Điều mười một của Điều Lệ Vọng Đăng Am ghi rõ: cấm tuyệt đối người chỉ huy giấu bệnh liều mạng, cấm lấy sự hy sinh cá nhân thiếu tính toán để thay thế cho quy trình kỹ thuật an toàn. Bùi Hạ, cô bước chân xuống vách đá một bước, tôi lập tức dùng quyền y sĩ trưởng đình chỉ quyền điều hành trận thức của cô ngay tại chỗ!"
Bùi Hạ đứng sững giữa gian điện dột gió. Mưa lạnh ngoài kia tạt qua ô cửa sổ toang hoác làm ướt đẫm vạt áo nâu sồng của nàng, nhưng trong lồng ngực, một cảm giác ấm áp và chấn động lạ kỳ dâng ngập.
Nàng chợt nhận ra mình vừa suýt phạm phải một sai lầm chết người. Đó là thói quen thâm căn cố đế từ những ngày còn ở đại tông môn cũ — thói quen tự mình ôm đồm mọi hiểm nguy, biến bản thân thành một kẻ tử vì đạo đơn độc để gánh vác sai lầm của tập thể, bởi ở nơi môn phái cũ, kẻ thất bại sẽ bị ruồng bỏ và chẳng có ai chìa tay ra nâng đỡ ai.
Nhưng ở Vọng Đăng này thì khác. Nàng không còn đơn độc. Nàng có những người đồng đội sẵn sàng từ chối sự hy sinh mù quáng của người đứng đầu để bảo vệ tính toàn vẹn của một cấu trúc vận hành tập thể, dựa trên quy chuẩn kỹ thuật và sự phân công lao động chuẩn xác.
"Tôi hiểu rồi," Bùi Hạ thở hắt ra một hơi dài, ánh mắt lấy lại vẻ tĩnh tại tuyệt đối của một người thợ trận bậc thầy từng trải qua trăm trận thực địa. Nàng nhìn thẳng vào mắt Lâm Tự, giọng trầm tĩnh: "Tôi sẽ lên gác chuông, giữ tim đèn ổn định ở mức ba phần mười công suất xả áp, rọi thẳng trục sáng dọc theo tuyến cọc tiêu dốc nam. Nhưng dưới vách đá, tính mạng của đoàn người và của chính các anh, tôi giao cả cho anh."
"Cứ để đấy cho thợ mộc," Lâm Tự khẽ nhếch mép, nụ cười khô khốc trên khuôn mặt đầy râu quai nón nhưng vững chãi như bàn thạch ngàn năm.
Anh quay ngoắt người về phía nhóm trai tráng đang đứng chỉnh đốn lại trang bị:
"Đỗ Tín! Trần Đại! Lê Trọng! Ngô Bính! Khoác dây thừng bện ba ngâm sáp vào người! Mỗi người cầm một cây sào nứa già vạt khấc! Kiểm tra mấu nối chốt mộng, buộc nút thòng lọng đôi ngang hông!"
Đỗ Tín lập tức bước lên phía trước, động tác nhanh nhẹn và chuẩn xác lạ thường dẫu cổ chân anh vẫn còn quấn một dải vải lanh che đi vết lở loét do ngâm mạt linh sa suốt đợt hộ đê tuần trước. Anh thoăn thoắt vác lên vai cuộn dây thừng bện bằng xơ gai ngâm dầu rái to bằng cổ tay, tay kia nắm chặt cây sào nứa dài hơn một trượng đã được vạt nhọn đầu và khoét các rãnh móc định hướng.
Trước khi bước ra cửa, Đỗ Tín ghé sát tai Lâm Tự và Bùi Hạ, hạ thấp giọng nói gấp gáp nhưng rành rọt từng chữ:
"Lâm đại ca, Bùi tỷ, lát nữa xuống bến tiếp cận mép vực phải hết sức cảnh giác. Lúc nãy trên thuyền nan chạy lũ vượt qua bãi sỏi hạ lưu, tôi và Hà Thu phát hiện có bóng dáng ba tên tu sĩ mặc đạo bào thêu hoa sen ba cánh của Thanh Huyền Môn lén lút cắm chòi quan sát bên mép nước. Bọn chúng không hề tham gia cứu nạn, mà cầm la bàn phong thủy và gương tầm linh lùng sục quanh các xác thuyền trôi dạt. Bọn chúng dường như đang ráo riết tìm cách thu hồi những tài liệu, sổ sách cứu trợ và vật chứng vỡ đê bị thất lạc trong lũ trước khi trời sáng!"
Ánh mắt Bùi Hạ ngưng lại một thoáng, bàn tay trái siết chặt lấy thành chiếc tráp gỗ trắc:
"Bọn chúng muốn phi tang dấu vết rút ruột công trình trước khi đoàn thanh tra của Trấn Linh Ty vào cuộc nghiệm thu toàn diện sau bão. Kệ chúng, việc cứu người là trên hết, không được để phân tâm. Nhưng các anh xuống đó tuyệt đối không được tách hàng, không được để bọn chúng tiếp cận hòm hàng hay người của Hội Đồng Châu đang kẹt dưới mỏm đá."
"Rõ!" Đỗ Tín gật mạnh đầu, ánh mắt ánh lên sự căm hờn pha lẫn quyết tâm sắt đá của một người phu đê từng suýt chết vì những công trình gian dối của Thanh Huyền Môn.
Năm người đàn ông vạm vỡ, khỏe mạnh và dạn dày sương gió nhất của Vọng Đăng thoăn thoắt khoác những vòng dây chão đan chéo qua vai. Lâm Tự dẫn đầu, tay cầm chiếc rìu thợ mộc cán ngắn giắt sau lưng, tay kia nắm chắc cây sào định hướng bằng gỗ táu. Họ không hề mang theo những món pháp bảo hào nhoáng hay linh phù phòng thân đắt đỏ; thứ họ mang theo là kỹ năng cơ học chuẩn xác tích lũy qua năm tháng, là những nút thắt mộng gỗ không bao giờ tuột dưới sức kéo ngàn cân, và sự gan dạ của những con người phàm trần đã quen vật lộn với sóng to gió lớn của dòng sông dữ.
"Lâm An, sơ đồ cọc tiêu thế nào?" Lâm Tự cúi xuống nhìn con gái.
Cô bé mười một tuổi nhanh nhảu trải tấm giấy bổi đã bọc da dầu tráng sáp lên mặt bàn đá, ngón tay nhỏ nhắn thoăn thoắt chỉ dứt khoát vào ba điểm mực đen đậm nét:
"Từ bậc đá thứ mười lăm của bao lơn dốc nam xuống mép hố sụt có tổng cộng mười bảy cọc nứa già đã cắm sâu vào kẽ nứt hoa cương. Mỗi cọc cách nhau đúng tám thước, rãnh khấc quét vôi tôi trộn tro bếp nghiêng bốn mươi lăm độ hứng ánh sáng từ đỉnh tháp chuông. Cha cứ bám đúng đường thẳng nối giữa mỏm Rùa Nằm và sống đá Gai Bồ Kế mà đi. Tuyệt đối không được bước chệch sang bên phải ba bước! Chỗ đó là thềm đất sét pha cát đang bị dòng nước ngầm khoét rỗng, dẫm lên là sụt lở cả mảng!"
"Cha nhớ rồi. Con ở yên trong chính điện với dì Sương, không được chạy lung tung, nghe chưa?" Lâm Tự xoa mạnh mái tóc ướt của con gái, ánh mắt thoáng nét dịu dàng ấm áp rồi lập tức đanh lại như thép nguội. Anh vung tay phát lệnh dứt khoát: "Xuất phát!"
Cánh cửa gỗ nghiến nặng nề của chính điện mở toang ra. Gió bão gầm rít cuốn theo bụi nước quất rát mặt ùa vào gian phòng làm tắt phụt hai ngọn đuốc cắm bên cột cái. Đội cứu hộ năm người của Lâm Tự và Đỗ Tín không hề do dự, lập tức lao mình vào màn mưa đen kịt. Bóng dáng vững chãi của họ nhanh chóng chìm nghỉm vào triền dốc nam trơn trượt đầy bùn lầy.
Cùng lúc đó, Bùi Hạ quay sang cô học trò nhỏ:
"Vũ Liên, lên gác chuông! Mở khóa van xả áp trận bàn!"
Hai người một thầy một trò ôm lấy chiếc tráp gỗ, lao nhanh lên những bậc thang gỗ táu xoắn ốc dẫn lên đỉnh tháp Đăng Dẫn Lộ. Càng lên cao, gió bão càng rít gào dữ dội qua các khe cửa thông gió, tiếng gỗ cọ xát ken két rùng mình như muốn xé toạc các tấm vách ngăn bằng gỗ thông. Mưa tạt xiên qua những thanh chấn song sắt gỉ, quất rát rạt vào mặt hai thầy trò.
Trên bệ đá trung tâm của gác đèn, quả cầu đồng cổ kính chứa tim đèn bằng đay bện thô sơ đang lập lòe một đốm lửa vàng ảm đạm, khói đen bốc lên cuồn cuộn khét lẹt do cặn dầu cháy dở bám chặt vào miệng phễu quang học. Ánh sáng của nó yếu ớt đến mức không vượt qua nổi tầm ba thước ngoài bao lơn đá, bị màn sương mù ngậm mạt linh sa nuốt chửng ngay khi vừa phát ra.
Bùi Hạ đặt chiếc tráp gỗ lên bệ đá hoa cương. Bằng bàn tay trái chuẩn xác và thuần thục đến kinh ngạc, nàng mở toang nắp tráp, bốc từng viên linh thạch hạ phẩm nhét vào sáu rãnh nạp hình lục giác quanh chân đế đồng của ngọn đèn.
Mười hai viên linh thạch vừa khít với các khe rãnh đồng đỏ, lập tức tỏa ra luồng thanh khí mát lạnh đối chọi gay gắt với uế khí nồng nặc và mùi tanh quặng từ ngoài thung lũng xộc vào.
"Vũ Liên, cầm muỗng sừng trâu nêm bột đá ngũ sắc vào van điều tiết!" Bùi Hạ ra lệnh, mắt không hề rời khỏi các đường vân trận pháp đang bắt đầu run rẩy phát sáng dưới chân bệ đèn. "Đẩy chốt nêm cơ học sang nấc ba! Khi luồng linh quang chạm tới tim đèn, lập tức kéo thanh gạt phân cực góc nghiêng ba mươi độ về hướng nam!"
"Vâng, thưa sư phụ!"
Vũ Liên không chút do dự, hai bàn tay thoăn thoắt cầm muỗng sừng múc từng muỗng bột khoáng mịn rải đều vào rãnh dẫn khí. Thao tác của thiếu nữ mười bảy tuổi chuẩn xác đến từng phân ly như một người thợ luyện kim lành nghề thực thụ. Nàng không còn vẻ rụt rè, sợ sệt của một kẻ mang tạp căn bị tông môn lớn ruồng bỏ ngày nào; trong đôi mắt sáng ngời của nàng lúc này chỉ có quy chuẩn an toàn, sự tập trung cao độ và niềm tin tuyệt đối vào người thầy trước mặt.
Bùi Hạ hít sâu một hơi, nén chặt cơn đau quặn thắt từ lồng ngực. Nàng vận chuyển chút linh lực thanh khiết hiếm hoi còn lại từ đan điền, men theo kinh mạch của cánh tay trái, điểm thẳng đầu ngón tay trỏ vào mắt trận trung tâm khắc hình thái cực trên bệ đèn:
"Khởi trận — Dẫn Phù Xuyên Sương!"
*Uỳnh!*
Một tiếng rền vang trầm đục phát ra từ sâu trong lòng khối đá hoa cương của ngọn tháp chuông, rung chuyển cả khung sàn gỗ táu dưới chân họ.
Mười hai viên linh thạch hạ phẩm đồng loạt bốc cháy thành những luồng quang diễm màu lam biếc rực rỡ đến chói mắt. Nguồn năng lượng thuần khiết cuồn cuộn chảy tràn qua các đường rãnh đồng đỏ, cuốn phăng toàn bộ lớp cặn dầu đen đúa, bao bọc lấy tim đèn bằng một quầng năng lượng áp suất cao cô đặc.
Các đường phù triệt khắc chìm ngàn năm trên thân đèn cổ bỗng chốc bừng sáng, nung đỏ rực toàn bộ cấu trúc đồng thau như thép trong lò rèn. Luồng linh quang trắng xanh kết hợp với ánh sáng vàng rực của ngọn lửa bản nguyên, qua sự điều chỉnh góc nghiêng chuẩn xác của Vũ Liên trên thanh gạt phân cực, lập tức ngưng tụ lại thành một cột sáng đặc quánh, thẳng tắp và sắc lẹm như một lưỡi gươm ánh sáng khổng lồ chém toang màn đêm.
Cột sáng ấy phóng thẳng ra khỏi bao lơn gác chuông!
Nó không hề bị tán xạ! Nó không hề bị bẻ cong bởi lớp bụi quặng linh sa dày đặc đang cuộn xoáy trong cuồng phong bão táp!
Với sức mạnh thiêu đốt toàn bộ quỹ tài nguyên dự trữ cuối cùng của ba mươi hai con người Vọng Đăng, luồng sáng vàng rực rỡ rạch toạc màn đêm đen đặc như mực. Nó xuyên thủng tầng tầng lớp lớp sương mù mịt mùng của thung lũng, rọi thẳng một vệt dài thăm thẳm từ đỉnh núi cao xuống tận đáy vực sâu hun hút.
Ánh sáng rực rỡ quét qua sườn dốc nam hiểm trở, biến hơn năm mươi chiếc cọc tiêu bằng nứa già vạt khấc quét vôi tôi phản quang của cô bé Lâm An thành một chuỗi đốm sáng trắng thẳng tắp, rực rỡ và trang nghiêm như một dải ngân hà nhân tạo vắt ngang qua triền đá gập ghềnh. Từng mấu đá nứt nẻ, từng vệt bùn lún sụt, từng cạm bẫy tử địa đều hiện rõ mồn một dưới luồng quang minh chính đại ấy.
Và ở cuối dải sáng rực rỡ ấy, nơi dòng xoáy nước đỏ ngầu đang gầm réo điên cuồng quanh mỏm đá Gai Bồ Kế, Lâm Tự và Đỗ Tín đã bám chặt chân vào chiếc cọc tiêu thứ mười bảy ngay sát mép hố sụt. Hai người thợ ghì chặt sào nứa vào kẽ nứt hoa cương, cơ bắp cuồn cuộn chống chọi lại sức giật của cuồng phong.
Lâm Tự gầm lên một tiếng át cả tiếng sóng gầm, vung mạnh cánh tay áo ướt đẫm bùn đất. Cuộn dây thừng bện ba ngâm sáp xé toạc màn mưa vun vút lao đi, vẽ nên một đường cong hoàn hảo giữa không trung tăm tối.
Luồng sáng vàng rực từ đỉnh tháp xé toạc màn sương đen, rọi thẳng vào sợi dây thừng cứu sinh vừa văng tới tay người đàn bà ôm con dưới dòng nước xoáy.