Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡC.32 / 40
Chương 32

Dấu Chỉ Bằng Cây Nứa Cắt Khấc

Một tiếng la thất thanh từ sườn đông vọng lên giữa màn mưa quất rát mặt; toán phu thồ hàng của Tống Mai chới với bên mép vực vì đi theo luồng sáng dẫn phù vừa bị bụi linh sa bẻ ngoặt về phía khe nứt sạt lở.

Tiếng người gào thét hòa lẫn trong tiếng bùn nhão và đá dăm rào rào tuôn xuống vực sâu. Con la đi đầu hoảng loạn trượt chân, bốn chiếc móng sắt cào xước điên cuồng trên nền đá ướt nhẫy bùn trơn, phát ra những tiếng ken két chói tai. Toàn bộ trọng lượng của hai sọt hàng nặng trĩu đè nghiến lên lưng con vật, kéo giật sợi dây giằng bằng da trâu đang căng lên bần bật như dây cung. Bên dưới vó của nó không còn là mặt đường đầm đá dăm quen thuộc của dốc nam, mà là mép vực hàm ếch lở loét của sườn đông — nơi vách đá sa thạch mềm đã bị những mạch nước ngầm hung hãn khoét rỗng chân từ mấy ngày trước. Đất thịt rữa nát rụng từng tảng lớn xuống đáy sâu tăm tối, chỉ còn trơ lại những chùm rễ cây cổ thụ đứt đoạn quằn quại giữa dòng nước xiết.

"Đứng yên! Buông cương la ra! Đừng dồn trọng tâm về bên phải!"

Tiếng quát đanh gọn của Lâm Tự xé toang bức màn mưa xối xả. Gã thợ mộc lao vụt qua ngưỡng cửa vỡ của tiền sảnh, trên vai vắt cuộn dây chão bện bằng vỏ gai ngâm dầu trẩu to bằng cổ tay trẻ con. Bước chân anh giẫm mạnh lên mặt đá hoa cương sũng nước, những khớp xương kêu răng rắc dưới sức nặng của tấm áo tơi dệt bằng lá cọ già đã ướt sũng.

Đi ngay phía sau anh là Bùi Hạ. Cánh tay phải của nàng vẫn bị hai thanh nẹp bằng gỗ táu già bó chặt áp sát vào ngực áo, vải gai quấn quanh ba tầng phát ra mùi cao tiêu viêm nồng hắc. Từng đợt đau buốt từ các đại huyệt Liệt Khuyết và Thái Uyên giần giật chạy dọc theo kinh mạch cánh tay mỗi khi nàng hít thở mạnh giữa cơn lạnh buốt. Thế nhưng tay trái nàng không hề run rẩy; những ngón tay gầy guộc, thô ráp vì cọ xát với kim khí đã kịp cầm chắc chiếc móc néo bằng sắt nguội có bốn ngạnh sắc nhọn, đuôi móc nối liền với sợi dây thừng bện chỉ gai tẩm nhựa thông.

"Lê Trọng, Trần Đại! Quàng đầu chão qua gốc lim cổ thụ bên chái miếu!" Lâm Tự gầm lên, âm thanh từ lồng ngực vạm vỡ của người thợ mộc át cả tiếng gió rít điên cuồng qua khe đá Đoạn Phong. "Đóng nêm hãm ngay! Quấn ba vòng, chốt chết nút thắt số tám!"

Hai người thợ chèo đò lực lưỡng của bến Vân Hà không một chút chần chừ. Đôi bàn chân trần quen bám chặt mạn thuyền giữa những con sóng dữ nay lướt thoăn thoắt trên mặt đá trơn tuột như bôi mỡ. Lê Trọng nhoài người ôm trọn lấy thân cây lim già có đường kính hai người ôm, đón lấy đầu dây chão nặng trịch do Lâm Tự quăng sang. Trần Đại áp sát thân vào gốc cây, hai bàn tay chai sạn thoăn thoắt đảo vòng dây, ghì chặt đầu mối rồi dùng một chiếc nêm gỗ nghiến đực thúc mạnh vào kẽ thắt bằng chiếc búa đẽo gọt giắt bên hông.

Cùng lúc đó, Bùi Hạ tiến sát mép đá sạt lở. Nàng nheo mắt nhìn qua màn nước mưa quất rát rạt vào mặt, xác định chuẩn xác khối hoa cương nguyên sinh nhô ra như một chiếc sừng trâu ngay sau lưng toán phu đang chới với. Nàng xoay người, dồn toàn bộ lực từ hông và bả vai trái chưa bị thương, vung mạnh chiếc móc néo bay vút qua khoảng không mịt mù nước mưa.

*Phập!*

Chiếc móc sắt bốn ngạnh cắm phập vào khe đá nứt tự nhiên, các ngạnh thép nguội cắn ngập vào lòng đá hoa cương cứng chắc. Bùi Hạ giật mạnh dây ba lần để kiểm tra độ ngậm; chiếc móc khóa chặt góc kéo một cách hoàn hảo, không hề xê dịch dù chỉ một phân.

"Bắt lấy dây! Từng người một luồn tay qua thòng lọng!" Bùi Hạ hét lớn, gió bão thổi tạt nước mưa buốt lạnh vào miệng khiến giọng nàng khản đặc, nhưng từng khẩu lệnh vẫn rành rọt răn đe sự hỗn loạn. "Đừng tranh nhau! Ai giật dây làm lật con la đi đầu, đất chuồi xuống vực là chết cả lũ!"

Tống Mai là người đầu tiên trấn tĩnh lại giữa lằn ranh sinh tử. Vị thương gia trẻ tuổi quẹt vội lớp bùn đất nhầy nhụa bết dính trên sống mũi và mi mắt, hai chân nàng xoạc rộng, bấm chặt đôi ủng da thú vào một gờ đá gốc trồi lên mặt đất. Nàng chộp lấy đầu dây chão do Lâm Tự ném xuống, thoăn thoắt quấn hai vòng quanh thắt lưng gã phu thồ hàng đang trượt nửa người xuống mép đất lở. Gã phu trẻ tuổi mặt cắt không còn một giọt máu, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập, những ngón tay khẳng khiu bấu chặt vào một bụi rễ cây mục đang rễu ra từng mảng dưới sức nặng cơ thể.

"Nắm lấy đai hàng của con la! Đừng buông sọt ngô!" Tống Mai quát vào tai gã phu. "Giữ thăng bằng!"

"Kéo!" Lâm Tự gầm lên một tiếng long trời lở đất.

Những thớ cơ bắp cuồn cuộn trên lưng và hai cánh tay anh nổi gồ lên như những rễ cây già dưới lớp áo tơi rách bươm. Cùng với sức giằng của Lê Trọng, Trần Đại và Ngô Bính phía trên sân miếu, sợi dây chão bện vỏ gai căng rạp thành một đường thẳng tắp, rung lên bần bật và phát ra những tiếng *ken két* ghê người khi cọ xát vào mép đá sắc nhọn. Nước dầu trẩu tẩm trong sợi dây bị ép phụt ra thành từng tia nước vàng nhờn dính.

Từng người một trong toán thồ hàng — năm phu dịch kiệt sức và hai con la chở nặng các bao ngô khô cùng muối loại hai — được lôi ngược từng tấc một lên khỏi bờ vực tử thần. Mồ hôi hòa lẫn nước mưa và máu rỉ ra từ lòng bàn tay của những người thợ kéo dây. Bùi Hạ đứng ở góc đối trọng, dùng cánh tay trái lành lặn ghì chặt chiếc móc néo, điều chỉnh hướng trượt của sợi cáp để nó không bị cứa vào mép đá dăm sắc bén.

Vừa lúc móng guốc con la cuối cùng được Lê Trọng và Trần Đại đồng tâm hiệp lực túm đai thồ giật mạnh lên mỏm đá an toàn, một tiếng *rắc* khô khốc và rùng rợn vang lên dưới chân họ. Cả một mảng đất thịt pha sỏi rộng bằng gian nhà chính sụp ầm xuống đáy vực sâu hoắm. Hàng ngàn khối bùn đất cuốn theo cây cối đổ nhào, phát ra âm thanh ầm ầm như sấm rền dưới lòng đất, để lại một khoảng trống đen ngòm bốc lên mùi khí lưu huỳnh nồng nặc và tanh tưởi của khoáng quặng bị nước lũ xới tung.

Năm gã phu đổ sụp xuống mặt sân đá bằng phẳng trước cổng am Vọng Đăng. Họ nằm ngửa ra nền đá sũng nước, thở dốc từng cơn ngắt quãng, lồng ngực phập phồng kịch liệt như ống bễ lò rèn quá tải. Mười đầu ngón tay của họ đều bật móng, máu tươi rỉ ra hòa lẫn với bùn xám và cát vụn. Hai con la thở phì phò, mắt trợn trừng đỏ ngầu vì sợ hãi, bọt mép trắng xóa trào ra quanh hàm thiếc.

Tống Mai run rẩy chống thanh đoản kiếm vỏ đồng xuống đất để giữ cho thân mình khỏi ngã quỵ. Vạt áo chẽn của nàng rách tơi tả, để lộ bờ vai bầm tím; trán nàng va vào đá trong lúc giằng co rách một vệt dài hai đốt ngón tay, máu tươi rỉ xuống lông mày rồi bị nước mưa cuốn trôi thành những dòng hồng nhạt trên gò má tái mét.

Nàng ngửa đầu nhìn lên gác đèn trên đỉnh mái am, ánh mắt ngập tràn vẻ kinh hoàng lẫn phẫn nộ: "Bùi chưởng môn! Các người thắp đèn dẫn đường kiểu quái quỷ gì thế này? Chúng tôi ở bến dưới nhìn lên, cứ đinh ninh luồng quang mang rực rỡ kia rọi thẳng xuống sống đường dốc nam an toàn. Ai ngờ vừa cắm đầu dắt la bước theo tia sáng, chân trước con đầu đàn đã hẫng vào miệng vực sườn đông! Nếu các người không kịp quăng dây, cả người lẫn hàng của Tống gia chúng tôi đã chôn thây dưới đáy bùn quặng rồi!"

Bùi Hạ không vội đáp lời. Nàng ngước nhìn lên gác chuông cao vút của Đạo quán Vọng Đăng.

Trên đỉnh tháp mái ngói rêu phong, ngọn Đăng Dẫn Lộ vẫn đang vận hành kiên định theo đúng chu kỳ ngắt quãng ba nhịp sáng, một nhịp ngừng mà nàng và Vũ Liên đã dày công thiết lập vào đêm hôm trước. Bên trong lồng kính thạch anh dày dặn, viên linh thạch trung phẩm màu lam vẫn phóng ra luồng quang mang trắng xanh thuần khiết, rực rỡ và ổn định. Các bánh răng đồng thau và quả lắc đối trọng của bộ cơ phận vẫn tích tắc chuyển động chính xác theo từng khắc thời gian.

Thế nhưng, khi luồng sáng ấy vừa đâm xuyên qua lớp kính bảo vệ, thoát ra ngoài tầng không khí dày đặc của thung lũng, bi kịch quang học đã xảy ra.

Trận lũ kinh hoàng bắt nguồn từ việc đê quặng thượng nguồn bị vỡ toang cách đây hai canh giờ đã cuốn trôi hàng vạn khối bùn quặng linh sa thiêu kết. Bụi quặng mịn như phấn, mang từ tính hỗn loạn và hàm lượng kim loại biến chất cực cao, bị những cơn gió lốc cuốn bốc lên mù mịt, lơ lửng dày đặc trong tầng đối lưu thấp bao quanh ngọn Đoạn Phong.

Màn mưa bụi lúc này không còn là nước tinh khiết; nó là một tấm gương tán xạ khổng lồ, méo mó và chứa đầy tạp chất mang điện tính. Chiết suất của không gian bị bẻ cong lệch lạc một cách dị thường. Luồng sáng dẫn phù — vốn được Vũ Liên căn chỉnh cơ học bằng các thước đo góc để chiếu thẳng tắp xuống tim đường dốc nam — khi đâm vào khối bụi linh sa dày đặc ở mé đông thung lũng đã bị hiện tượng khúc xạ dị tính bẻ ngoặt một góc gần ba mươi độ. Ánh sáng dẫn đường nhân từ trong phút chốc biến thành một chiếc bẫy quang học chết người, rọi thẳng vào bờ vực hàm ếch đang sạt lở dữ dội.

"Không phải tại tim đèn bị lệch, cũng không phải do chốt gá bánh răng bị trượt," Bùi Hạ trầm giọng, bàn tay trái vô thức siết chặt thân móc sắt lạnh buốt. Nàng quay sang nhìn Tống Mai, ánh mắt thấu triệt và lạnh lùng như băng đá. "Là cặn linh sa thiêu kết trong bão lũ. Bùn quặng từ thượng nguồn mang từ tính hỗn loạn làm tán xạ toàn bộ quang mang. Chiết suất không khí bị bẻ cong, luồng sáng dẫn phù bị lệch phương vị. Trong điều kiện nhiễu sa thế này, mọi tín hiệu quang học trận pháp hay phù dẫn tầm xa đều trở thành lưỡi dao phản chủ. Chúng ta không thể cậy vào phù dẫn được nữa. Càng nhìn vào luồng sáng trên trời, bước chân người đi dưới đất càng dễ sa vào cõi chết."

Lâm Tự cúi xuống tháo sợi dây chão khỏi gốc cây lim, vừa tỉ mỉ kiểm tra từng đoạn sợi gai bị tước xơ vừa gật đầu dứt khoát: "Trận pháp hay quang ảnh có cao siêu đến mấy thì trong màn sương mù bùn độc này, mắt người nhìn vào cũng chỉ thấy ảo ảnh. Muốn sống sót bò qua con dốc này trong đêm lũ, chỉ có thể dựa vào những thứ tay sờ thấy được, chân đạp trúng được. Chúng ta cần một hệ thống tiêu mộc cơ học thực tế cắm sâu vào nền đất đá."

Giữa lúc đám phu còn đang ngồi bệt dưới đất, run rẩy ôm lấy đầu gối chưa hoàn hồn, một bóng người nhỏ nhắn khoác áo tơi đan bằng lá cọ lách qua khe cửa hông của chính điện bước ra ngoài sân.

Đó là Lâm An.

Cô bé mười một tuổi ôm chặt trước ngực một bọc vải dầu dày cộp màu xám tro. Dưới ánh sáng bập bùng của ngọn đuốc dầu trấu cắm bên vách đá, khuôn mặt nhỏ nhắn gầy gò của Lâm An lấm lem vài vệt bùn than, mái tóc tết đuôi sam ướt sũng dính bết vào trán, nhưng đôi mắt em lại sáng quắc, toát lên vẻ tĩnh lặng và chín chắn đến lạ kỳ. Em bước thoăn thoắt tới bên cạnh cha mình và Bùi Hạ, ngồi thụp xuống một phiến đá hoa cương khô ráo dưới mái hiên chìa ra của chái mộc, rồi cẩn thận mở từng lớp vải dầu tráng sáp ra.

Bên trong là hơn mười tờ giấy bổi thô ráp được cắt xén ngay ngắn, vuốt phẳng phiu từng nếp gấp. Trên mặt giấy vàng đục là những hình vẽ chằng chịt, chi tiết đến kinh ngạc, được vẽ bằng mực nho pha than củi nghiền mịn.

"Cha, cô Hạ, mọi người nhìn vào đây đi," Lâm An cất giọng trong trẻo, không hề có chút run rẩy sợ hãi. Ngón tay nhỏ nhắn, thon dài của em chỉ vào từng vệt mực đen đậm nhạt khác nhau trên tờ sơ đồ trên cùng. "Mấy ngày qua con đi theo bác Nguyễn Mộc nhặt củi và phụ chị Vũ Liên đo độ hở của các vết nứt, con đã dùng thước dây và quả dọi vẽ lại toàn bộ mặt đá sườn nam. Con không vẽ theo ánh đèn trên gác chuông rọi xuống, con vẽ theo chân đá mọc dưới đất."

Bùi Hạ quỳ một bên gối xuống nền đá lạnh, chăm chú nhìn vào tập sơ đồ. Đôi mày thanh tú của nàng khẽ nhướng lên đầy kinh ngạc. Những nét vẽ của Lâm An không hề mang tính ước lệ hay ngây ngô của một đứa trẻ mười một tuổi; chúng chuẩn xác, tỉ mỉ và chân thực đến mức đáng sợ. Trên mặt giấy bổi thô ráp, cô bé phân định rõ ràng địa hình bằng các ký hiệu quy ước chặt chẽ: những hình tròn gạch chéo biểu thị lớp đất phù sa mới bồi dễ ngậm nước và sạt lở; những đường lượn sóng song song đánh dấu nơi mạch nước ngầm rỉ ra tạo thành vũng bùn lầy; và nổi bật nhất trên bản vẽ là ba khối đa giác lớn được viền bằng những nét mực đậm đặc.

"Đây là mỏm đá Rùa Nằm, đây là sống đá Gai Bồ Kế, còn đây là gờ đá Bàn Cờ," Lâm An giải thích, đầu ngón tay di chuyển vững vàng dọc theo sống núi dốc nam. "Ba mỏm đá này không phải đất bồi, cũng không phải đá tảng trôi dạt do lũ quét mang từ trên đỉnh xuống. Bác Mộc đã gõ búa thử nghiệm chất đá cho con xem rồi. Chúng là đá hoa cương nguyên sinh mọc liền từ lòng núi Đoạn Phong đâm thẳng lên mặt đất. Dù nước lũ chân núi có dâng thêm hai trượng, hay đất cát xung quanh có bị xói lở thành rãnh sâu hoắm, thì chân của ba mỏm đá này vẫn cắm sâu hàng chục trượng vào lòng núi, tuyệt đối không bị biến dạng hay xê dịch nửa phân!"

Lâm Tự đỡ lấy mép tờ giấy bổi, ánh mắt người thợ mộc dạn dày sương gió lập tức nhận ra giá trị sinh tử của những hình vẽ ấy. Anh đưa bàn tay thô ráp, chai sần vì cưa đục xoa nhẹ lên mái tóc ướt sũng của con gái, trong lồng ngực dâng lên một niềm tự hào nghẹn ngào xen lẫn xót xa: "Con quan sát tinh tường lắm, An à. Móng đá liền khối ăn sâu vào địa tầng thì nước lũ trăm năm cũng không bẩy nổi."

"Ánh đèn bị bẻ cong vì nó chiếu qua không khí đầy bụi sa," Lâm An ngước nhìn Bùi Hạ, ánh mắt đầy vẻ kiên định của một đứa trẻ đã sớm nếm trải cảnh mất mẹ và nhà cửa trong lũ dữ. "Nhưng nếu chúng ta cắm cọc tiêu gỗ chỉ đường dọc theo sống lưng của các mỏm đá gốc này, người đi dưới chân núi không cần nhìn lên trời tìm ngọn đèn nữa. Họ chỉ cần lần theo từng cọc gỗ, bước nào chạm cọc bước ấy chắc chân, tay vịn cọc, chân đạp đá gốc, thì dù sương mù có dày gấp mười lần hay bụi linh sa có biến ảo đến đâu, cũng không một ai bị lừa bước hụt xuống miệng vực sườn đông."

Tống Mai đứng bên cạnh, nhìn cô bé mười một tuổi rồi nhìn sang tấm sơ đồ chi tiết từng gờ đá nứt nẻ, vẻ giận dữ trên mặt tan biến hoàn toàn, thay vào đó là sự thán phục chân thành: "Ý kiến này xuất sắc vô cùng! Đám phu của tôi vừa rồi suýt bỏ mạng vì hai mắt cứ dán chặt vào luồng sáng ma trơi trên trời mà chân đạp phải đất rỗng chân chim. Nếu có cọc tiêu cắm sát mặt đất, sờ được tận tay, nhìn thấy bằng mắt thường ở cự ly gần, thì đàn la thồ hàng cũng sẽ bớt hoảng loạn."

Bùi Hạ đứng thẳng dậy, quay sang nhìn Lâm Tự: "Anh Tự, kho mộc của quán hiện còn bao nhiêu nứa già?"

"Trong kho còn hai bó nứa tép lớn và ba chục cây nứa già bánh tẻ ngâm dưới bùn ao từ tháng trước, vỏ đã đanh lại như sừng trâu, nước lũ ngâm ba tháng cũng không thể mục," Lâm Tự lập tức đáp, tác phong chuẩn xác và quả quyết của một người thợ cả trỗi dậy mạnh mẽ. "Thêm hai hũ dầu vẩu của chuyến hàng trước để lại, đủ để gia cố và quét chống thấm cho toàn bộ cọc tiêu!"

"Triển khai ngay lập tức," Bùi Hạ dứt khoát hạ lệnh, giọng nói mang theo uy lực của một người gánh vác đại cuộc. "Vũ Liên! Muội lên gác đèn ngay, hạ khẩu độ van dẫn khí xuống một phần mười, chỉ duy trì luồng sáng định vị nội bộ trên đỉnh quán để tiết kiệm linh thạch trung phẩm và tuyệt đối không rọi xuống dốc nữa, tránh làm phân tâm người chạy nạn bên dưới. Toàn bộ nhân lực khỏe mạnh tập trung tại chái thợ mộc!"

***

Công việc chẻ nứa và chế tác cọc tiêu cơ học diễn ra khẩn trương, ráo riết dưới ánh sáng bập bùng của bốn ngọn đuốc dầu trấu cắm quanh chái mộc. Mùi tre nứa tươi bị chẻ toác hòa lẫn mùi dầu vẩu ngai ngái, nồng hắc xộc thẳng vào mũi, xua bớt cái giá lạnh buốt da buốt thịt của đêm mưa bão.

Lâm Tự ngồi bệt trên một súc gỗ nghiến lớn, chiếc dao rựa sắc bén trong tay anh loang loáng đưa những đường dứt khoát. Những cây nứa già óng vàng, thân dày hơn nửa phân được chẻ thành từng thanh dài đúng bốn thước, bản rộng hai ngón tay. Lưỡi dao rựa sắc ngọt lướt qua thớ nứa phát ra những tiếng *xoẹt, xoẹt* đều đặn và chuẩn xác.

"Không được vót tròn thân cọc!" Lâm Tự vừa thoăn thoắt chẻ nứa vừa cất tiếng dặn dò nhóm thợ chèo đò và mấy tay phu thồ hàng của Tống Mai đang xúm lại phụ việc cưa cắt. "Chẻ dẹp và giữ nguyên lớp cật nứa bên ngoài! Lớp cật nứa ngâm bùn này dẻo dai vô cùng, khi tẩm thêm dầu vẩu sẽ chịu được lực va đập của sỏi đá trôi theo dòng lũ. Chân cọc phải vạt nhọn một góc ba mươi độ theo chiều xiên của thớ thịt, tuyệt đối không được vót đối xứng! Vạt xiên như vậy thì khi dùng vồ gỗ nện xuống kẽ đá, mũi cọc không bị toét toạc ra mà sẽ tự nêm chặt, tự cắn sâu vào lòng nứt của khối hoa cương!"

Bên cạnh anh, Trần Đại và Ngô Bính ngồi tựa lưng vào cột gỗ, thoăn thoắt dùng dao trổ khắc các khấc ngàm sâu khoảng ba phân vào thân cọc, cách đỉnh cọc chừng một gang tay. Những khấc này không được đẽo ngẫu nhiên mà được vạt xéo một góc bốn mươi lăm độ hướng chếch lên phía trên.

"Đây là khấc phản quang cơ học," Lâm Tự cầm một thanh nứa mẫu lên, giơ ra trước ngọn đuốc để giải thích cho đám phu của Tống Mai hiểu rõ cơ chế. "Mặt vạt nghiêng bốn mươi lăm độ này sẽ hứng trọn ánh sáng le lói từ đèn bão, đuốc cầm tay hoặc ánh chớp trên trời hắt xuống, rồi dội ngược thẳng vào tầm mắt của người đang cúi đầu dò dẫm bước lên dốc. Chỉ cần quét một lớp vôi tôi trắng đặc trộn với tro bếp sạch vào lòng khấc, vôi ngấm vào thớ nứa sẽ sáng quắc lên giữa đêm đen như mắt mèo. Mưa xối xả đến đâu cũng không thể rửa trôi lớp vôi đã ngấu này!"

Ở góc lán khô ráo, Lâm An ngồi xếp bằng bên một chiếc chậu sành chứa vôi tôi đặc quánh. Cô bé dùng một chiếc chổi đót nhỏ, cẩn thận quét từng vệt vôi trắng xóa vào các rãnh khấc vừa được khắc xong. Đôi bàn tay nhỏ nhắn của em thoăn thoắt miết phẳng lớp vôi, bảo đảm từng rãnh nứa đều ngậm đầy chất phản quang. Lớp vôi trắng tinh tương phản rõ rệt với màu vàng sẫm của cật nứa tẩm dầu vẩu, phát ra những vệt sáng mờ mờ, vững chãi và đầy tin cậy ngay cả dưới ánh sáng tù mù của góc lán.

Chưa đầy nửa canh giờ trôi qua, hơn năm mươi chiếc cọc tiêu nứa kiên cố đã hoàn thành. Chúng được chia đều, xếp ngay ngắn thành từng bó mười cây, buộc chặt bằng lạt giang ngâm nước muối để chống trơn trượt.

"Đi thôi!" Lâm Tự đứng bật dậy, khoác một bó cọc nặng trịch lên vai, tay kia cầm chiếc vồ bằng gỗ lim nguyên khối có cán dài hai thước. "Trần Đại, Lê Trọng đi trước cầm đuốc che bạt! Bùi chưởng môn và Tống tiểu thư đi giữa đối chiếu từng bước chân với sơ đồ của con bé An! Cứ cách năm trượng cắm một cọc trên sống đá bằng phẳng, gặp khúc quanh co hay bờ mép trơn trượt thì rút ngắn khoảng cách xuống ba trượng! Đóng cọc nào, chốt chết cọc đó!"

Toán người đội mưa bão lao ra khỏi cổng tam quan, bước xuống triền dốc nam đang cuộn trào những dòng nước lũ đỏ ngầu bùn đất.

Gió từ vực sâu thốc ngược lên gầm rú như muốn bứt tung những chiếc áo tơi lá cọ mỏng manh. Nước mưa xối xả quất rát rạt vào mặt, cay xè đôi mắt, nhưng bàn chân trần của những người thợ không hề chùn bước. Bám sát theo các mốc tọa độ trên tập sơ đồ giấy bổi của Lâm An, họ lội qua lớp bùn nhão ngập đến bắp chân, tìm thấy mỏm đá Rùa Nằm đầu tiên. Khối hoa cương xám xịt, xù xì nhô lên sừng sững giữa dòng nước chảy xiết đang réo sôi quanh chân nó.

Lâm Tự lội xuống mép nước, đặt đầu nhọn vạt xiên của cọc nứa vào một kẽ đá nứt tự nhiên chạy dọc sống lưng mỏm đá. Anh dang rộng hai chân lấy thế, giơ cao chiếc vồ gỗ lim bằng cả hai tay.

*Thụt! Thụt! Thụt!*

Từng nhát vồ nặng trịch giáng xuống dứt khoát và chuẩn xác. Tiếng gỗ lim nện vào cật nứa âm vang trầm đục giữa tiếng mưa gầm rú. Chân cọc nứa vạt nhọn cắn sâu vào kẽ nứt hoa cương hơn một gang tay, các thớ cật nứa nở ra nêm chặt cứng ngắc vào vách đá như thể mọc ra từ chính xương cốt của ngọn núi.

Lâm Tự buông vồ, dùng cả hai bàn tay to bản lắc mạnh thân cọc sang hai bên. Thân nứa chỉ khẽ đàn hồi rung rinh theo sức gió chứ chân cọc không hề suy suyển dù chỉ nửa ly. Khấc vôi trắng trên đỉnh cọc lập tức bắt lấy ánh lửa bập bùng từ ngọn đuốc che bạt của Trần Đại, ánh lên một vệt sáng trắng bạc rõ mồn một giữa màn đêm đen đặc.

"Cọc thứ nhất đã chốt!" Lâm Tự gạt nước mưa trên cằm, hét lớn qua tiếng gió. "Tiếp tục tiến xuống gờ Gai Bồ Kế!"

Cứ thế, toán người kiên trì lội ngược dòng nước xiết, cắm từng chiếc cọc tiêu nứa dọc theo sống đá gốc kéo dài từ cổng Đạo quán Vọng Đăng xuống tận bãi tiếp giáp gò Đất Sét dưới chân núi.

Khi cọc tiêu cuối cùng được đóng chặt xuống gờ đá Bàn Cờ, một cảnh tượng kỳ diệu đã hiện ra giữa đêm giông bão. Nhìn từ bến đò dưới chân núi nhìn ngược lên đỉnh dốc, một chuỗi những điểm sáng trắng cơ học hiện ra rõ ràng, thẳng tắp và kiên định. Chúng vạch ra một con đường an toàn tuyệt đối men theo sống đá hoa cương vững chãi, hoàn toàn không bị bẻ cong hay lay chuyển bởi những quầng sáng ma trơi hỗn loạn đang nhảy múa điên cuồng trên vách núi phía đông. Con đường sinh mệnh bằng cọc nứa và vôi trắng đã được xác lập, trần trụi, thô mộc nhưng không thể bị đánh lừa.

***

Trong khi nhóm thợ đang dầm mình đóng cọc trên dốc nam, tại tiền đình của Đạo quán Vọng Đăng, một cuộc chiến thầm lặng khác cũng đang diễn ra với sự khẩn trương và kỷ luật tuyệt đối.

Đỗ Nghi đứng giữa gian tiền đình rộng lớn, chiếc tạp dề bằng vải thô nhuộm củ nâu buộc chặt ngang eo, hai ống tay áo xắn cao quá khuỷu tay để lộ đôi cánh tay mảnh khảnh nhưng rắn rỏi. Nàng vừa dùng chiếc gáo gỗ cán dài khuấy mạnh một nồi nước lớn đang bốc hơi nghi ngút trên bếp than củi, vừa cất giọng sắc lạnh nhắc nhở hai người phụ nữ tị nạn đang lúi húi buộc dây bạt bên góc hiên:

"Kéo căng góc bạt phía tây ra! Cột chặt vào cột đá bằng nút số tám! Đừng để gió bão giật bung mái che! Nước mưa ngoài kia mang đầy bụi linh sa và mạt quặng độc, chỉ cần tạt một giọt vào khu vực này là hỏng sạch toàn bộ dược liệu và nước sạch!"

Toàn bộ gian tiền đình trước chính điện nay đã biến thành một trạm sơ cứu và kiểm dịch dã chiến hoàn chỉnh.

Một tấm bạt dầu bốn lớp dày cộp được căng chéo từ xà gồ mái hiên xuống nền đá hoa cương, ngăn đôi không gian thành hai khu vực tách biệt hoàn toàn. Dưới chân vách ngăn bạt, Đỗ Nghi đích thân rải một dải vôi sống dày nửa tấc, trộn lẫn với bột lưu huỳnh vàng rực và tro bếp khô để tạo thành một đường ranh giới dịch tễ tuyệt đối. Bất kỳ ai bước từ ngoài mưa gió vào đều bắt buộc phải dừng lại ở khoang đón tiếp bên ngoài; không một ai, kể cả Bùi Hạ hay Lâm Tự, được phép bước qua lằn ranh vôi trắng nếu chưa hoàn thành các bước tẩy trùng cơ học.

Trên các phản gỗ được kê cao khỏi nền đá bằng những khối đá hoa cương phẳng phiu, Đỗ Nghi đã bày sẵn hàng chục ghè sành đựng nước thảo dược khử độc bốc khói nghi ngút. Mùi thơm nồng, ấm áp của lá sả rừng, củ gừng gió nướng cháy, rễ cát cánh và bồ kết lan tỏa khắp không gian, lấn át mùi tanh nồng tởm lợm của bùn lũ ngoài trời.

"Đỗ y sĩ, nước sôi từ giếng Thạch Nhãn lọc than củi đã nấu xong ba nồi lớn rồi!" Một người thợ chèo đò từ chái bếp hớt hải bưng chiếc thùng gỗ nghi ngút khói chạy ra, cẩn thận đặt xuống bên cạnh dãy chậu ngâm bằng đồng thau.

"Tốt lắm!" Đỗ Nghi đưa mu bàn tay áo lau vội giọt mồ hôi đang rỉ ra trên trán, ánh mắt nghiêm nghị quét qua từng vật dụng. "Chia ngay vào các chậu ngâm! Nhớ kỹ quy trình ta đã dặn: bất kỳ ai từ dưới chân núi được dẫn lên trong đêm lũ, dù là phu thồ hàng hay người già, trẻ nhỏ, việc đầu tiên là phải lột bỏ toàn bộ quần áo ướt dính bùn đất ngay tại khoang ngoài bạt dầu! Dùng nước nóng pha tro bếp và muối hạt rửa sạch lớp bùn bám trên da thịt, đặc biệt là các kẽ ngón chân, nách, bẹn và các vết trầy xước! Bùn lũ thượng nguồn chứa mạt linh sa thiêu kết mang độc tính cực nặng. Nếu để bùn đó ngấm qua vết rách da quá nửa canh giờ, độc quặng sẽ ăn sâu vào mao mạch gây lở loét hoại tử, nhiễm độc vào tạng phủ thì dù có đại la kim đan cũng không cứu vãn nổi!"

Nàng bước nhanh sang góc phản chứa dược liệu, tỉ mỉ kiểm tra từng gói thuốc bột đã được phân chia liều lượng cẩn thận và bọc kín trong những chiếc lá chuối khô hơ lửa.

Đó là bột hoàng liên nguyên chất nghiền mịn dùng để cầm nôn mửa và chống kiết lỵ; cao tiêu viêm nấu từ củ ráy dại, nhựa cánh kiến và sáp ong rừng dùng để phong bế miệng vết thương hở; cùng những thang thuốc giáng khí dưỡng phế sắc đặc từ vỏ quýt lâu năm và cam thảo, dành riêng cho những người hít phải quá nhiều khói bụi lưu huỳnh từ các vụ sạt lở quặng.

Từng thao tác, từng cử chỉ của Đỗ Nghi đều toát lên kỷ luật thép của một thầy thuốc dân gian đã trải qua bao mùa dịch tễ kinh hoàng dọc lưu vực sông Vân Hà. Nàng không cho phép bất kỳ sự hoảng loạn hay lòng thương hại cảm tính nào làm lu mờ các nguyên tắc an toàn dịch tễ.

Bảy ca ngộ độc nước lã ở dãy phòng đông hôm trước là một bài học đắt giá in sâu vào tâm trí nàng; đạo quán nhỏ bé này đang chở che cho hơn ba mươi sinh mạng, chỉ cần một mầm bệnh thanh hủ độc hay dịch tả lọt qua ranh giới vôi trắng vào khu vực trung tâm, toàn bộ hệ thống phòng thủ của Vọng Đăng sẽ sụp đổ tan tành từ bên trong trước khi đỉnh lũ kịp tràn tới chân núi.

Ở một góc khô ráo, kín gió và sáng sủa nhất gian tiền đình, lão thợ đá Nguyễn Mộc ngồi xếp bằng trên một manh chiếu cói cũ kỹ. Trước mặt ông không phải đục đá, búa tạ hay nồi niêu thuốc men, mà là một chiếc hộp gỗ trắc màu nâu sẫm, bốn góc được bọc các miếng đồng thau chạm trổ hoa văn mây cuộn đã xỉn màu thời gian.

Lão thợ đá chậm rãi dùng một mảnh vải mềm khô ráo lau từng hạt bụi nước li ti bám trên nắp hộp. Ngón tay gầy guộc, nổi rõ từng khớp xương vôi hóa vì cả đời đục đẽo đá cứng cẩn thận rà soát lại lớp sáp ong đỏ niêm phong còn nguyên vẹn ở ba mép khóa đồng.

Bên trong chiếc hộp gỗ ấy là những chứng cứ sinh tử của Đạo quán Vọng Đăng.

Đó là bản dập thác bản bia đá sa thạch niên hiệu Cảnh Nguyên thứ mười hai, trên đó khắc sâu bốn chữ "Thế đại tị thủy chi sở" — xác nhận bằng văn bản pháp lý cổ xưa rằng mảnh đất này là cơ sở cứu nạn công ích bất khả xâm phạm của lê dân trăm họ; đó là cuốn sổ nhật trình bảo trì công trình ghi chép tỉ mỉ từng đợt tu bổ mộng đá, nạo vét giếng Thạch Nhãn có đầy đủ chữ ký và điểm chỉ bằng mực tàu của các tộc trưởng bản địa qua năm đời; và quan trọng nhất, nằm dưới đáy hộp, là mảnh thẻ tre tiếp nhận mang mã hiệu "Thanh-Cứu-Tân-Mão-087" — bằng chứng thép vạch trần tội ác gian lận danh sách cứu hộ và chiếm đoạt ngân khố cứu trợ của Thanh Huyền Môn.

Nguyễn Mộc ngẩng đầu lên, ánh mắt đục mờ nhưng thâm trầm nhìn xuyên qua màn mưa mịt mùng về phía sườn nam.

"Đêm nay gió đổi chiều rồi," lão lẩm bẩm một mình, giọng nói trầm đục và khô khốc như hai hòn đá mài cọ xát vào nhau. "Lũ lớn tràn về, không chỉ cuốn trôi bùn đất mà còn cuốn sạch cả những lời dối trá bọc nhung lụa. Đinh Tuệ của Trấn Linh Ty hay đám quan lại huyện An Lưu rồi cũng sẽ phải lết thân lên ngọn núi này để kiểm tra nghiệm thu thực địa sau thảm họa. Đến lúc đó, từng tấc đất hoa cương, từng mối mộng gỗ táu, từng nét chữ khắc trên bia đá này sẽ là lời đối chất đanh thép nhất. Lão già này có thể chết chìm dưới bùn, nhưng cái hộp này phải khô ráo. Dù am có sập, không một góc giấy bổi nào bên trong được phép ướt nước."

Lão lấy thêm một lớp da trâu thuộc tráng sáp ong bọc kín bên ngoài chiếc hộp gỗ, rồi cẩn thận đặt nó vào chiếc gùi mây, thắt chặt quai đeo quanh hai bờ vai còng của mình. Với một người già cả đời sống cùng đá và không có lấy nửa điểm tu vi như ông, việc giữ gìn sự thật lịch sử và chứng cứ pháp lý này chính là cách duy nhất để chiến đấu và bảo vệ mái nhà chung cho đến hơi thở cuối cùng.

***

Khi những chiếc cọc tiêu nứa cuối cùng được cắm vững chắc dọc theo dốc nam, Bùi Hạ và Lâm Tự mới trở lại sân chính điện. Cả hai đều ướt sũng từ đầu đến chân, bùn đất bám đầy ống quần và vạt áo tơi lá cọ.

Bùi Hạ dừng bước bên chái đông chính điện, nơi vách tường gỗ táu giằng chữ X vừa được dựng gia cố vào chiều hôm trước đang gồng mình chống chọi với từng cơn gió giật cấp tám. Cánh tay phải bị thương của nàng nhói buốt dữ dội do nhiễm phải khí lạnh buốt giá, từng đường kinh mạch căng cứng như dây đàn, nhưng ánh mắt nàng lại dán chặt vào khe nứt địa tầng nằm sát mép móng đá hoa cương.

Nơi đó, gần vị trí bệ đá mắt trận số năm (Ngọc Hành) đã bị nàng và Vũ Liên cắt bỏ để giải phóng năng lượng quá tải, một dòng nước ngầm đục ngầu như nước vo gạo lẫn váng xám chì đang rỉ ra thành dòng lớn, sủi bọt lúp búp kèm theo tiếng rít khe khẽ.

"Nước ngầm đổi màu rồi," Bùi Hạ chỉ tay vào dòng nước đục, cất giọng nghiêm nghị và căng thẳng. "Lâm Tự, anh nhìn xem. Nước không còn trong vắt như chiều nay nữa. Màu xám chì này chứng tỏ áp lực thủy tĩnh đang tích tụ cực lớn sau lưng vách đá sườn đông. Túi bùn quặng từ các công trình vỡ lở ở thượng nguồn đang dồn ứ lại trong lòng núi, ép thẳng vào sườn núi Đoạn Phong."

Lâm Tự quỳ một chân xuống nền đá ướt, cúi sát mặt để ngửi mùi dòng nước rỉ ra: "Mùi lưu huỳnh nồng nặc hơn trước gấp đôi. Vách đá đang chịu một lực nêm thủy lực khổng lồ từ bên trong lòng núi. Nếu chúng ta không xả áp kịp thời, chỉ cần một đợt sóng lũ lớn nữa ập đến chân núi, toàn bộ khối đất đá sa thạch sườn đông sẽ bị bẩy tung ra ngoài như nắp nồi nước sôi."

"Chúng ta phải kiểm tra lại toàn bộ hệ thống rãnh xả quanh khu lõi ngay bây giờ," Bùi Hạ nói dứt khoát.

Hai người cầm theo một chiếc đèn bão bọc kính thạch anh chống gió nước, cẩn thận đi vòng quanh nền móng chính điện.

Đây là khu vực sống còn, là trái tim bất khả xâm phạm của toàn bộ Đạo quán Vọng Đăng. Khác với dãy phòng ngủ phía đông nằm trên thềm đất trượt đã bị tháo dỡ hoàn toàn để giảm tải trọng, gian chính điện, kho lương phía tây, chái bếp và bể lọc ngầm của giếng Thạch Nhãn đều tọa lạc vững chãi trên một mảng đá hoa cương nguyên sinh liền khối dày hơn ba mươi trượng cắm sâu vào lòng đất. Thế nhưng, mảng đá lõi này chỉ thực sự an toàn nếu nước mặt và nước ngầm không ngấm vào các khe nứt chân móng, tạo ra hiện tượng bôi trơn thủy lực làm trượt khối đá nền.

Dọc theo chu vi nền đá, một hệ thống rãnh thoát nước sâu hai tấc, rộng một gang tay đã được tiền nhân đục trực tiếp vào đá tảng từ thời cổ đại. Trong mấy ngày qua, Lâm Tự đã cùng các thợ chèo đò cải tạo lại toàn bộ hệ thống này bằng cách lắp đặt các máng dẫn bằng gỗ táu ghép mộng mang cá và các van lật cơ học bằng gỗ nghiến tẩm nhựa thông.

Lâm Tự cúi xuống bên chốt khóa rãnh thoát nước số một — điểm tiếp giáp giữa chái bếp và vách sau chính điện. Anh dùng chiếc đục sắt cạy nhẹ chốt nêm gỗ. Chiếc van lật bằng gỗ nghiến lập tức chuyển động êm ru trên trục quay bằng đồng thau, mở toang cửa xả hướng thẳng ra triền vực sâu phía tây.

"Rãnh số một thông suốt," Lâm Tự gật đầu, lau nước mưa đang chảy ròng ròng trên mặt. "Độ dốc hai phân mỗi trượng vẫn giữ nguyên, dòng chảy xiết cuốn phăng mọi rác rưởi, không hề bị nghẽn bùn quặng."

Hai người tiếp tục lội nước tiến đến chốt khóa rãnh số hai nằm ngay góc đông nam — điểm chịu áp lực trực tiếp và nặng nề nhất từ vết nứt sạt lở sườn đông. Tại đây, nước lũ mang theo đất cát đỏ ngầu đã bắt đầu tràn qua gờ đá bảo vệ, mấp mé mép sàn gỗ của gian tiền sảnh phụ vừa được dựng tạm hôm qua.

Bùi Hạ đặt bàn tay trái lành lặn lên chiếc then khóa bằng gỗ táu của rãnh xả khẩn cấp. Nàng nhìn sâu vào mắt Lâm Tự, giọng nói trầm xuống nhưng chứa đựng một sự quả quyết tột cùng:

"Anh Tự, nếu đợt đỉnh lũ tới đây mang theo khối lượng đất đá vượt quá sức tải của rãnh xả số hai, toàn bộ lượng nước tràn sẽ đổ dồn vào gian tiền sảnh phụ và cuốn sập toàn bộ dãy hành lang nối dài mà anh và các thợ vừa dựng lên."

Lâm Tự nhìn dãy hành lang gỗ táu — nơi anh và những người thợ chèo đò đã bỏ ra trọn vẹn một ngày công, chắt chiu từng thanh gỗ dỡ ra từ phòng đông, tỉ mỉ đục từng mộng mang cá để chắp vá lại làm nơi che mưa nắng tạm thời cho người tị nạn — rồi khẽ lắc đầu, nở một nụ cười khô khốc đặc trưng của người thợ mộc:

"Hành lang gỗ, vách ngăn phụ hay giàn che mái hiên, tất cả những thứ đó chỉ là đồ gá lắp ngoài da thịt. Mộc công cũng giống hệt như trận đạo của cô, lúc nguy nan sinh tử phải biết bỏ cành tỉa nhánh để giữ lấy rễ cọc. Cứ mở toang chốt xả tràn đi! Nếu lũ ép quá tải, tôi sẽ đích thân cầm búa tạ giật sập toàn bộ hành lang phụ để dòng nước thoát thẳng xuống vực sườn tây, tuyệt đối không để nước ngập dâng lên dù chỉ nửa phân vào nền đá hoa cương đỡ kho lương và chính điện!"

"Được!" Bùi Hạ siết chặt then gỗ, ánh mắt rực sáng. "Chúng ta giữ lõi, hy sinh phụ trợ!"

Sự đồng thuận dứt khoát giữa người thợ mộc và người thợ sửa trận như một chiếc khóa ngàm cơ học ăn khớp tuyệt đối, không có một kẽ hở hoài nghi. Họ không cần những lời thề thốt hoa mỹ hay những lý lẽ cao siêu; sự gắn kết sống còn giữa họ được đúc kết từ từng mối mộng gỗ chuẩn xác, từng rãnh xả đá được tính toán độ dốc tỉ mỉ, và tinh thần trách nhiệm sắt đá không lùi bước trước cái chết.

Bùi Hạ cúi thấp người, dùng cánh tay trái rút mạnh chiếc chốt hãm dự phòng bằng sắt nguội.

*Khực!*

Tấm ván ngăn bằng gỗ nghiến dày hai tấc trượt mạnh xuống rãnh then, bẻ ngoặt toàn bộ dòng nước ngầm đục ngầu mang váng chì từ vết nứt sườn đông chảy ngoan ngoãn vào lòng rãnh đá sâu. Dòng nước gầm réo, cuốn phăng đất cát và sỏi vụn, lao thẳng về phía vực sâu thăm thẳm phía tây, cách xa chân móng chính điện hàng chục trượng. Nền đá hoa cương dưới chân họ rung lên bần bật dưới sức chảy cuồn cuộn của dòng nước xả áp lực lớn, nhưng khối đá lõi nâng đỡ chính điện vẫn đứng vững trơ trơ như một pháo đài bất khả xâm phạm giữa cuồng phong bão táp.

Vừa lúc đó, một tia chớp chói lòa xé toạc bầu trời đêm đen đặc quấn quanh đỉnh Đoạn Phong.

Ánh chớp bạc rạch ngang không gian, soi rõ từng lớp sóng cuộn đỏ ngầu phù sa đang dâng cao ngập ngụa dưới chân núi, nhấn chìm toàn bộ bãi bồi ven sông Vân Hà trong một biển nước hung hãn. Mùi tanh nồng của bùn độc hòa lẫn mùi lưu huỳnh khét lẹt xộc thẳng vào mũi, đặc quánh đến mức ngột ngạt.

Và rồi, ngay sau tia chớp kinh hoàng ấy, không phải là tiếng sấm rền quen thuộc của thiên lôi.

Từ phía hạ lưu xa xăm — nơi công trường Đê Hồi Long ngự trị — một chuỗi âm thanh trầm đục, dữ dội như hàng ngàn tiếng nổ mìn phá đá trong lòng đất bắt đầu truyền qua mạch đá ngầm, làm rung chuyển cả đỉnh núi Đoạn Phong.

Tiếp theo sau chấn động địa tầng ấy, tiếng còi đồng báo động khẩn cấp ba hồi chín tiếng rúc lên thất thanh, xé rách màn mưa xối xả, gầm vang vọng khắp các hẻm vực Đoạn Phong.

Đập phụ thượng nguồn đã hoàn toàn vỡ toang; đỉnh lũ hủy diệt nhất trong vòng một trăm năm qua đã chính thức tràn về.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn