Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡC.27 / 40
Chương 27

Cơn Sốt Dưới Mái Dột

Gió lạnh mang theo mùi vôi bột nồng nặc quất thẳng vào mặt đoàn người vừa trở về; Đỗ Nghi chặn đứng xe thồ ngay bậc đá chân núi, tay cầm gáo nước bồ kết khử trùng giơ cao thay cho lời chào.

Nàng đứng sừng sững giữa ngã ba lối lên dốc, vạt áo tơi bện bằng lá cọ rừng ướt đẫm nước mưa, dán chặt vào đôi vai gầy guộc nhưng thẳng băng như thước thợ. Mái tóc đen nhánh của nàng bị gió núi quất tả tơi dưới vành nón mê, bết từng lọn vào hai bên gò má tái ngắt vì giá buốt, song ánh mắt nàng xuyên qua màn mưa phùn dày đặc, sắc lạnh và dứt khoát như một lưỡi dao cạo bằng thép tôi. Dưới chân nàng, một vệt vôi bột trắng xóa, dày chừng nửa gang tay và rộng hơn hai tấc, đã được rắc kéo dài cắt ngang qua phiến đá xanh của bậc thềm thứ mười một. Đó là lằn ranh giới nghiêm ngặt được vạch ra giữa bờ dốc núi sình lầy dẫn xuống bến sông và toàn bộ lối đá đi lên chính điện Am Vọng Đăng.

"Đứng lại hết ngoài ranh vôi!"

Giọng Đỗ Nghi khản đặc, vỡ ra từng chặng vì nhiều đêm thiếu ngủ, nhưng từng âm sắc nhả ra lại đanh thép lạ lùng, át cả tiếng gió bấc rít liên hồi qua khe núi Đoạn Phong. Nàng giơ gáo tre lên, không chớp mắt nhìn đoàn người lếch thếch:

"Chiếc xe thồ phải dừng lại ngay trên mỏm đá phẳng bên ngoài rãnh ranh giới! Dỡ ngay năm bao lương khô xuống bệ đá khô ráo bên tả ngạn, lấy rơm khô lau sạch lớp bùn nhớt bám ngoài vỏ cói, sau đó đem lá bồ kết và rễ sả khô hun khói ba lượt quanh miệng bao mới được phép vần vào sân phụ! Những người kéo xe phải cởi bỏ toàn bộ ủng da lội bùn, lột trần chân đất ngâm rửa kỹ bằng nước muối ấm trộn tro bếp trong chậu đồng đằng kia! Tuyệt đối không một ai được bước nửa bàn chân qua bậc đá thứ mười một này trước khi ta đích thân kiểm tra nhiệt độ trán, mạch cổ tay và niêm mạc mắt từng người một!"

Lâm Tự thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực vạm vỡ của anh phập phồng sau lớp áo cộc rách bươm sũng nước. Hai sợi dây thừng bện bằng vỏ cây gai rừng vốn thít sâu vào bờ vai thô ráp của anh bấy giờ mới được buông lỏng, phát ra một tiếng "phựt" nặng nề khi rơi xuống nền đá bùn. Bùn đỏ quánh đặc bám thành từng mảng từ móng chân, bắp chân lên tận thắt lưng da bò của anh, nhớp nhúa và bốc mùi tanh nồng của đất bãi sông Vân Hà sau cơn ngập lụt. Dầu vậy, cánh tay phải to bè đầy những vết chai sần của người thợ mộc vẫn theo phản xạ tự nhiên vòng sang bên cạnh, vững chãi giữ chặt lấy khuỷu tay trái của Bùi Hạ.

Bùi Hạ lúc này gần như chỉ còn đứng vững nhờ vào điểm tựa duy nhất từ bờ vai của Lâm Tự. Toàn thân nàng nóng rực như một thanh sắt nung vừa rút ra khỏi bễ lò rèn, nhiệt khí tỏa qua lớp vải áo thô ráp bốc lên thành từng làn hơi mỏng manh giữa trời mưa lạnh giá. Nhưng tận sâu trong xương tủy nàng, từng cơn ớn lạnh buốt giá lại liên tục dội lên, khiến hai hàm răng nàng va vào nhau cầm cập phát ra những tiếng lộp cộp khô khốc. Cánh tay phải của nàng được quấn một lớp giẻ rách tạm bợ xé ra từ manh chiếu rách ở công trường Đê Hồi Long; vệt máu đen rỉ qua ba lớp vải thô đã khô cứng lại thành một mảng vảy nâu sẫm giòn rụm, bốc lên mùi tanh nồng của bùn lầy lưu huỳnh hòa lẫn với dịch viêm thối rữa của vết thương kinh mạch bị nhiễm độc nặng nề.

"Đỗ Nghi..." Bùi Hạ mấp máy đôi môi nứt nẻ rớm máu, giọng nàng yếu ớt như tiếng lá khô cọ xát trên sỏi đá. "Mạch nước Thạch Nhãn... rốt cuộc... trong quán..."

"Bùi tỷ ngậm miệng lại cho ta!"

Đỗ Nghi không một chút nể nang, gạt phắt lời nàng bằng một ngữ điệu cứng rắn chưa từng thấy. Nàng y sĩ trẻ tuổi sải bước tiến nhanh tới mép ranh vôi, nhưng tuyệt đối không bước qua vệt bột trắng. Nàng không đưa tay chạm trực tiếp vào người Bùi Hạ, mà múc một gáo nước bồ kết còn bốc khói ấm từ chiếc thùng gỗ bên cạnh, hắt mạnh một luồng nước thơm nồng cay sè vào hai ống tay áo và vạt áo trước ngực của nàng, rồi mới lách nhanh mu bàn tay lạnh ngắt của mình áp lên vùng trán hầm hập của người thợ trận.

Vừa chạm vào làn da nóng bỏng của Bùi Hạ, Đỗ Nghi đã khẽ rùng mình, lông mày nàng nhíu chặt lại thành một đường rãnh sâu hoắm:

"Hỏa độc xông thẳng vào tâm bào, kinh Phế tổn thương nặng nề đến mức linh khí hỗn loạn thế này mà tỷ còn mở miệng toan tính chuyện ngoài trời? Tỷ muốn phế bỏ luôn cả tính mạng này ở đây sao? Vào trong ngay! Lâm huynh, cõng tỷ ấy qua cửa ngách mé tây, đi men theo bờ tường đá ngoài rìa kho lương rồi vào thẳng gian chái sau cùng! Tuyệt đối không được bước chân qua dãy hành lang đông, nghe rõ chưa?"

"Gian phòng phía đông làm sao?" Lâm Tự trầm giọng hỏi, quai hàm anh bạnh ra. Cánh tay anh vòng qua thắt lưng Bùi Hạ, nhẹ nhàng nhưng dứt khoát nhấc bổng nàng lên lưng mà không để nàng kịp cất tiếng phản đối hay gượng gạo lùi bước. "Có chuyện gì xảy ra ở dãy nhà ấy?"

"Bảy người rồi."

Đỗ Nghi vừa nhanh tay múc thêm một gáo nước vôi bột đặc sánh dội xối xả vào hai bánh xe thồ bằng gỗ nghiến vừa nghiến răng nói, trong giọng nói chứa đựng nỗi run rẩy tột cùng nhưng đang bị kìm nén gắt gao bởi lý trí sắt đá của một người thầy thuốc:

"Bắt đầu từ giờ Tý đêm qua. Vết nứt sạt lở hàm ếch ở vách đá mé đông đêm trước đã xé toạc tầng đất lọc tự nhiên bằng cát thạch anh. Nước lũ từ thượng nguồn dâng cao tràn qua khe nứt, cuốn theo toàn bộ mạt quặng linh sa độc hại cùng bùn mục rỉ thẳng vào đường ống gốm dẫn nước của bể chứa phụ số ba. Bể chứa ấy vốn chỉ dùng để rửa rau, giặt giũ và dẫn nước vào chái bếp của dãy đông. Nhưng sáng sớm hôm qua, nhóm người nhà họ Trần và ba thợ phu cũ đi khơi rãnh về khát nước quá, thấy nước bể phụ đã lắng trong veo nên đã liều lĩnh múc uống sống mà không đun sôi."

Đỗ Nghi hít một hơi sâu, mùi vôi bột cay xộc lên tận đỉnh đầu khiến hốc mũi nàng cay xè:

"Đến nửa đêm, cả bảy người đồng loạt phát bệnh. Tiêu chảy cấp tính dữ dội đến mức mất sạch sức lực chỉ sau hai canh giờ, phân toàn nước xám đục tanh tưởi như cá ươn thối rữa, nôn mửa liên tục không dứt và sốt cao co giật từng cơn. Ta đã dùng quyền hạn y sĩ tối cao niêm phong toàn bộ dãy phòng phía đông, đóng chặt chốt cửa ngoài, căng ba lớp rèm cói tẩm vôi sống và lập ranh giới cách ly nghiêm ngặt! Trần Đại và Lê Trọng đã phải dùng đòn khiêng ba tảng đá hộc nặng cả trăm cân chặn đứng lối thông sang chính điện. Bất kỳ ai dám bước qua ranh giới ấy mà không có thẻ lệnh và trang phục khử trùng của ta, ta sẽ phế bỏ toàn bộ khẩu phần ăn ba ngày và đuổi ra khỏi cổng Am!"

Nghe từng lời rành rọt như búa gõ vào đe, Bùi Hạ trên lưng Lâm Tự khẽ giật giật những ngón tay khẳng khiu, đôi mắt mệt mỏi hé mở nhìn về phía sườn đông của ngọn núi.

Qua bức màn mưa dầm dề mờ mịt, nàng lờ mờ nhìn thấy những tấm chiếu cói rách tẩm vôi trắng xóa treo lủng lẳng trước các khung cửa sổ bằng gỗ táu của dãy phòng đông. Trông chúng chẳng khác nào những chiếc cờ tang cắm xiêu vẹo giữa gió bão ngút ngàn. Tiếng rên xiết thảm thiết, tiếng thở dốc nghẹn ngào cùng tiếng nôn khan dội lên từng chặp từ sâu bên trong những căn phòng đóng kín, rồi tất cả lại bị tiếng thác lũ gầm réo cuồn cuộn dưới vực đá nuốt chửng từng hồi.

"Thạch Nhãn..." Bùi Hạ lại thì thào, cổ họng nàng khô rát, nghẹn đặc đờm máu tanh nồng. "Bể ngầm Thạch Nhãn... rốt cuộc có bị nước độc xâm nhập không?"

"Chưa tràn tới bể lõi, nhưng áp lực địa tầng từ vụ trượt đất sáng nay đã ép chặt khe nứt vách đá ngầm." Đỗ Nghi vừa rảo bước thoăn thoắt dẫn đường vòng qua chân tường đá mé tây vừa đáp cụt ngủn, giọng nàng trĩu nặng âu lo: "Lưu lượng nước ngầm tự nhiên rỉ ra từ Thạch Nhãn đã suy giảm nghiêm trọng, tính đến trưa nay đã mất chừng một phần mười so với ba ngày trước. Nước rỉ qua vách đá chậm hơn hẳn, cặn khoáng sa xám nổi lên ngày một nhiều hơn ở bể lắng thứ nhất. Nếu chúng ta không khống chế được ổ dịch tiêu chảy này, cộng thêm nguồn nước ngọt tinh khiết bị bóp nghẹt từ trong lòng đá, ba mươi hai con người ở Vọng Đăng Am này sẽ chết khô hoặc chết vì thối ruột trước khi dòng lũ dưới chân núi kịp rút đi!"

***

Gian buồng nhỏ nằm nép mình phía sau kho lương tối tăm, ẩm thấp nhưng nồng nặc mùi mộc nhĩ khô, măng sấy và khói ngải cứu nghi ngút. Đây là nơi khô ráo và an toàn nhất trong toàn bộ cụm công trình của đạo quán lúc này. Nền phòng được lát bằng những phiến đá hoa cương cổ đã mòn vẹt mép, nhưng Lâm Tự từ nửa tháng trước đã cẩn thận dùng những thanh gỗ táu kê cao toàn bộ mặt sàn lên một tấc, tạo thành một khoảng trống thông gió bên dưới nhằm ngăn hơi ẩm độc hại từ lòng đất bốc lên.

Lâm Tự nhẹ nhàng xoay người, cẩn trọng đặt Bùi Hạ nằm xuống tấm phản gỗ dày đã được trải sẵn một lớp rơm khô sạch sẽ và manh chiếu cói mới dệt. Vừa chạm lưng xuống mặt phản, Bùi Hạ đã vô thức co quắp toàn thân lại, hai đầu gối rút lên tận ngực, run rẩy từng cơn bần bật như một chiếc lá rụng chao đảo giữa dòng nước xiết. Hơi thở nàng đứt quãng, nặng nhọc và nóng rực như lửa than, mang theo mùi kim loại rỉ sét nồng nặc phả ra từ cuống họng—dấu hiệu điển hình của việc tổn thương kinh Phế nghiêm trọng sau khi nàng đã gượng sức vận dụng mộc linh lực dưới lớp bùn lạnh ngắt ở Đê Hồi Long, rồi lại dầm mình kéo xe suốt nửa ngày đường dốc đá gập ghềnh.

"Đốt thêm một chậu than củi nghiến ngay góc phòng!" Lâm Tự quay sang dặn với ra cửa, nơi bé Lâm An đang thập thò đứng nép bên bậc gỗ, hai tay nhỏ xíu run rẩy bưng một thau đồng đựng nước ấm bốc khói. "An nhi, đứng yên ngoài cửa, không được bước qua ngưỡng gỗ. Đưa thau nước cho cha."

Lâm An tròn xoe đôi mắt ầng ậc nước nhìn người thợ trận đang nằm mê man, thở hắt ra từng cơn trên phản. Đôi môi con bé cắn chặt đến trắng bệch, hai bàn tay gầy gò bưng thau nước run bần bật, nhưng ánh mắt con bé lại ánh lên một vẻ kiên cường và sợ hãi đan xen:

"Cha... Bùi tỷ có chết không? Tỷ ấy có... giống như mẹ ngày trước không cha?"

Bàn tay thô ráp đầy sẹo dăm gỗ của Lâm Tự bỗng khựng lại giữa không trung trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Ký ức kinh hoàng về đêm lũ quét ở Bến Bạch Sa—đêm mà nước sông dâng cao như một bức tường bùn đen ngòm, xé toạc căn nhà tranh của họ, nơi người vợ thân yêu của anh bị thanh xà gồ bằng gỗ xoan mục đè gãy ngang xương chậu rồi chìm nghỉm dần vào dòng nước xoáy đỏ ngầu mà anh không tài nào kéo lên được—chợt lóe lên như một nhát chém rát bỏng vào tâm trí. Trái tim người thợ mộc co thắt lại đau đớn.

Nhưng Lâm Tự nhanh chóng hít một hơi sâu, đè nén toàn bộ nỗi sợ hãi và bóng ma quá khứ xuống tận đáy lòng. Anh vươn hai bàn tay rắn chắc đón lấy thau đồng từ tay con gái, giọng nói trầm ấm nhưng dứt khoát như đinh đóng cột:

"Không. Tuyệt đối không. Bùi tỷ chỉ bị sốt cao vì kiệt sức sau khi cứu khoang đê thôi. Cha đang ở đây, Đỗ cô nương đang ở đây, tỷ ấy sẽ bình an vô sự. Con mau chạy xuống bếp phụ cô Phạm Sương trông chừng ba nồi nước sôi lớn. Nhớ dặn kỹ mọi người dưới bếp: nước phải sôi sùng sục trào bọt qua đúng nửa nén nhang mới được múc ra đổ vào thùng gỗ chứa. Đi ngay đi con."

Lâm An gật đầu lia lịa, quệt vội giọt nước mắt lăn trên má rồi thoăn thoắt chạy vội ra hành lang, tiếng bước chân nhỏ bé lẹp bẹp vang lên xa dần trên nền đá hoa cương ẩm ướt.

Lâm Tự khép hờ cánh cửa gỗ lim dày dặn để chắn bớt luồng gió bấc lùa qua khe vách, rồi quay trở lại bên giường. Anh ngồi thụp xuống mép phản, rút chiếc dao găm nhỏ chuyên dùng gọt mộng gỗ bên hông ra, cẩn thận kê lưỡi dao bén ngót rạch từng đường chỉ khâu trên lớp băng vải thô sũng bùn và máu đen ở cánh tay phải của Bùi Hạ.

Khi lớp vải thô cuối cùng dính chặt vào da thịt bị bóc tách ra, Lâm Tự không nén nổi một tiếng hít sâu nghẹn ngào nơi cuống họng.

Vết thương kinh mạch cũ—di chứng tàn khốc từ vụ nổ bệ thử tải mười năm trước ở Thanh Huyền Môn—nay đã toác rộng thành một rãnh thịt dài hơn ba tấc, kéo dài từ cổ tay ngoằn ngoèo lên tận cùi chỏ. Vết nứt sưng phồng đỏ tía, mép thịt bầm đen như củ ấu thối rữa dưới bùn lầy, những đường gân xanh đen dị dạng phồng rộp lên, giật giật từng nhịp run rẩy theo mạch đập yếu ớt của nàng. Dịch viêm màu vàng đục liên tục rỉ ra từ kẽ nứt, hòa lẫn với thứ mạt quặng linh sa màu xám xịt từ bùn công trường bám chặt vào miệng vết thương, bốc lên mùi tử khí nồng nặc xộc thẳng vào mũi.

Nàng đã dùng chính bàn tay tàn phế này để gượng ép mộc linh lực giữ vững màng lọc đá dăm dưới đáy rãnh xả lũ khoang số bốn, rồi lại dùng chính khớp xương nứt toác này tỳ vào càng xe thồ gỗ, kéo năm bao lương khô vượt qua mười dặm đường đèo trơn trượt giữa trời mưa bão.

"Đồ ngốc này..." Lâm Tự nghiến chặt răng, cơ mặt co rúm lại.

Anh nhúng chiếc khăn vải màn sạch vào thau nước ấm, vắt ráo rồi nhẹ nhàng lau sạch từng vệt máu khô, từng hạt cát và mảng bùn đỏ bám quanh mép thịt bầm giập. Mỗi lần góc khăn chạm vào vết thương toác hoác, thân thể Bùi Hạ lại giật nảy lên một cái, hàng mi cong run rẩy dữ dội, trong cổ họng nàng phát ra những tiếng rên rỉ mê sảng đứt quãng trong vô thức:

"Trần... Trần lão... đừng ký... đá ấy là đá mủn... rãnh ngầm... mười hai trượng... khoang số bốn... phải giữ lấy rãnh thoát... kẻo vỡ... vỡ đê..."

"Xong cả rồi, rãnh ngầm đã thông, đê đã giữ được rồi." Lâm Tự thì thầm bên tai nàng, bàn tay to lớn vụng về nhưng kiên nhẫn lau đi từng giọt mồ hôi lạnh túa ra như tắm trên vầng trán nhợt nhạt của nàng. "Hoàng Cẩn đã ký tên đóng dấu vào biên bản cấn trừ công xá. Lệnh bắt phu của ta đã bị xé bỏ rồi. Đỗ Tín đã được giải thoát. Xe lương đã về đến quán an toàn. Nàng nằm yên đó cho ta, đừng lo nghĩ gì nữa."

Cơn sốt hầm hập như một ngọn lửa ngầm thiêu đốt lục phủ ngũ tạng của Bùi Hạ suốt đêm đen đặc quánh. Bên ngoài, tiếng mưa rào quất ràn rạt lên mái ngói dột nát của đạo quán như tiếng hàng ngàn mũi tên bắn phá. Gió bấc từ vực tây thốc mạnh vào các khe cửa sổ gỗ, rít lên từng hồi ghê rợn tựa tiếng quỷ khóc thần gào.

Suốt một đêm dài dằng dặc, Lâm Tự không hề chợp mắt lấy nửa khắc. Cứ cách chừng một tuần hương, anh lại thay chiếc khăn ấm đắp lên trán nàng, rồi dùng chiếc thìa tre nhỏ cạy mở hàm răng đang nghiến chặt của nàng để mớm từng ngụm nước ấm pha muối hạt Diêm Trì. Có những lúc thân nhiệt Bùi Hạ tăng vọt lên đến mức đáng sợ, nàng vùng vẫy điên cuồng trong cơn mê sảng, cánh tay trái quờ quạng loạn xạ giữa không trung như muốn chụp lấy một chiếc la bàn hay một phiến đá trận vô hình nào đó để ngăn chặn dòng nước lũ.

Những lúc ấy, Lâm Tự chỉ có thể nghiêng người ôm ghì lấy bờ vai gầy guộc của nàng, dùng toàn bộ sức vóc vạm vỡ của một người thợ mộc giữ chặt nàng nằm yên trên phản, nhẫn nại chịu đựng những vết cào cấu vô thức từ bàn tay nàng cào rách cả ngực áo mình, liên tục cất lên những lời trấn an trầm đục giữa đêm tăm tối hoang tàn.

***

Cánh cửa gỗ lim bật mở với một tiếng "cạch" khô khốc khi ánh rạng đông đầu tiên còn chưa kịp xua tan màn sương mù mịt.

Đỗ Nghi bước vào phòng, mang theo một luồng gió lạnh buốt giá và mùi thuốc sắc đặc quánh nồng nặc lấn át cả mùi khói ngải cứu. Phía sau nàng là Phạm Sương, người phụ nữ giữ kho của am, với đôi mắt thâm quầng trũng sâu vì thức trắng đêm, trên tay bưng một chiếc khay gỗ mộc đựng bảy gói giấy dầu màu vàng nhạt đã được buộc dây cói cẩn thận.

Đỗ Nghi bước thẳng tới chiếc bàn gỗ giữa phòng, dằn mạnh khay thuốc xuống mặt bàn bằng một lực đạo dứt khoát. Đôi mắt nàng đỏ hoe vì cay khói và mệt mỏi, chiếc tạp dề vải thô buộc ngang ngực lấm lem những vệt nước thuốc màu nâu sẫm cáu cặn.

"Tỉnh chưa?" Đỗ Nghi khoanh tay trước ngực, nhìn chằm chằm vào người thợ trận đang nằm thở dốc từng hơi nặng nhọc trên phản.

Bùi Hạ khẽ cử động mí mắt sưng húp. Cơn mê sảng dữ dội nhất của đêm qua đã tạm thời lui đi, nhưng nàng vẫn cảm thấy toàn thân đau nhức rã rời, các khớp xương như bị đá tảng ngàn cân nghiền vụn. Nhìn thấy bóng dáng Đỗ Nghi và Phạm Sương mờ ảo qua làn hơi nước, bờ môi nứt nẻ của nàng run rẩy, cố gượng chống khuỷu tay trái toan nhổm người dậy:

"Đỗ... Đỗ Nghi... khu đông... tình hình... thế nào rồi?"

"Tỷ nằm im ngay đó cho ta!"

Đỗ Nghi bước xộc tới, hai bàn tay lạnh ngắt đè nghiến lấy bả vai Bùi Hạ, ấn mạnh nàng trở lại mặt phản gỗ. Giọng Đỗ Nghi không còn là sự lo lắng đơn thuần của một người muội muội nữa, mà là uy quyền lạnh lẽo, tuyệt đối của một y sĩ đang đứng trước bờ vực của một trận dịch bệnh sinh tử:

"Tỷ muốn biết khu đông thế nào ư? Cả bảy người bọn họ đến giờ vẫn chưa dứt cơn tiêu chảy! Nước thuốc cầm cự cả đêm qua chỉ đủ để giữ cho họ không bị rút cạn nước mà chết khô! Và đây—"

Đỗ Nghi xoay phắt người lại, chỉ ngón tay gầy guộc vào khay thuốc trên bàn, từng lời nói thốt ra đanh thép như đá tảng va vào nhau:

"Đây là toàn bộ số thảo mộc còn sót lại trong toàn bộ Am Vọng Đăng này! Ba chỉ tử tô đất, hai chỉ phục linh vụn, năm lát cát cánh mốc mép và nửa bát con bột hoàng liên sao khô! Hết sạch rồi! Toàn bộ hòm thuốc dự trữ chúng ta gom góp mang từ Bến Bạch Sa lên chỉ còn lại chừng này thứ có thể dùng được! Nếu trong vòng hai ngày tới mà thứ dịch thối ruột này vượt qua ranh giới cách ly, lây lan sang nhóm sáu đứa trẻ con hoặc những người già yếu ở chính điện, chúng ta sẽ phải trơ mắt đứng nhìn từng người một co giật chết vì kiệt sức mà không có lấy một mẩu rễ cây hay một ngọn cỏ khô để sắc thành thuốc cầm cự!"

Phạm Sương đứng tựa lưng vào mép cửa, đôi môi mỏng mím chặt đến mức rớm máu, những giọt nước mắt kìm nén từ đêm qua rốt cuộc lăn dài trên đôi gò má hốc hác. Nàng siết chặt chùm ba chiếc chìa khóa bằng đồng thau của kho lương trong lòng bàn tay run rẩy, khẽ cất lời nghẹn ngào:

"Hạ muội... Đỗ cô nương nói không sai một chữ nào đâu. Kho lương của chúng ta sau đợt kiểm tra lúc rạng sáng tuy còn năm bao lương khô của huyện cấp mang về an toàn, nhưng toàn bộ ngũ cốc dự trữ từ vụ trước thì bắt đầu bốc hơi ẩm vì nước rỉ từ mé đông ngấm qua mạch nứt dưới sàn. Nếu dịch bệnh này mà lan rộng, nếu người trong quán ngã xuống hết, Am Vọng Đăng này sẽ sụp đổ tan tành từ bên trong trước khi quan binh hay người của môn phái kịp tìm đến đây gây khó dễ."

Bùi Hạ nhắm nghiền hai mắt lại. Một giọt nước mắt nóng bỏng ứa ra từ khóe mi sâu hoắm, lăn chầm chậm qua gò má xám xịt vì kiệt sức.

Nàng hiểu. Nàng thấu suốt sự tàn nhẫn khốc liệt của những con số ấy hơn bất kỳ ai trên cõi đời này. Trận pháp phòng thủ có thể khuyết thiếu một mắt đá, cửa chắn lũ có thể hở một mối mộng ghép, nhưng sinh mạng con người thì không thể sống sót qua cơn dịch tả nếu thiếu nước sạch và thuốc men khử khuẩn.

"Ta... ta vẫn có thể..." Bùi Hạ thều thào, bàn tay trái lần mò sang bên hông, run rẩy chạm vào phiến đá trận thanh hoa đã mòn vẹt mép. "Hộ sơn trận... nếu ta chuyển hướng dòng linh lưu từ mắt trận số ba... ta có thể dùng linh áp ép mạch nước Thạch Nhãn tăng lưu lượng lọc qua tầng than củi... có thể ép nước độc trôi ngược ra sườn tây..."

"Câm miệng lại ngay!"

Một tiếng quát sắc lẹm, chói tai vang lên cắt đứt lời nàng.

Đỗ Nghi rút phắt từ trong tay áo rộng ra một tờ giấy bản màu vàng dày dặn. Trên mặt giấy, một con dấu hình chữ thập đỏ tươi được đóng bằng mực chu sa nổi bật lên giữa những hàng chữ ngay ngắn—đây chính là bản Chứng Thư Y Tế Cộng Đồng được toàn bộ ba mươi hai thành viên của đạo quán cùng nhau lập ra và điểm chỉ từ những ngày đầu tiên dựng am.

Đỗ Nghi giơ cao tờ giấy bản trước tầm mắt của Bùi Hạ, ánh mắt nàng không chứa một tia nhân nhượng hay khoan nhượng nào:

"Chiếu theo Điều mười một của Điều Lệ Vọng Đăng Am: 'Y sĩ chịu trách nhiệm có toàn quyền tối cao đình chỉ mọi hoạt động lao động chân tay, vận hành công pháp và dẫn truyền linh lực đối với bất kỳ thành viên nào mang thương tật đe dọa trực tiếp đến tính mạng bản thân hoặc có nguy cơ gây hại cho trật tự an toàn vệ sinh của tập thể'! Ta, Đỗ Nghi, với tư cách người phụ trách y tế duy nhất của đạo quán, chính thức tuyên bố đình chỉ tuyệt đối quyền vận hành trận pháp của Chưởng môn Bùi Hạ kể từ giờ khắc này trở đi!"

Nàng không để Bùi Hạ kịp mở lời, lập tức quay ngoắt sang nhìn Lâm Tự:

"Lâm huynh, lấy nẹp gỗ lại đây!"

Lâm Tự không chần chừ dù chỉ một cái chớp mắt. Anh cúi người nhặt hai thanh nẹp bằng gỗ táu mỏng, nhẵn thín và đã được vát tròn các góc cạnh để sẵn dưới chân phản, bước nhanh tới bên cạnh giường.

Bùi Hạ ngước nhìn Lâm Tự, ánh mắt nàng bàng hoàng, đau đớn xen lẫn một nỗi bất lực tột cùng:

"Lâm Tự... huynh cũng hùa theo muội ấy sao? Huynh biết rõ mạch nước..."

"Nghe lời Đỗ muội đi." Ánh mắt Lâm Tự nhìn nàng sâu thẳm và vững chãi như một tảng đá ngầm ngàn năm cắm sâu dưới lòng sông cuộn sóng.

Anh nhẹ nhàng nhưng kiên quyết nắm lấy cổ tay phải đang sưng phù, biến dạng của nàng, đặt một thanh gỗ táu áp sát vào mu bàn tay, thanh còn lại ép chặt dưới lòng bàn tay kéo dài vượt qua khớp cùi chỏ.

"Đạo quán này cần trận pháp của nàng, nhưng ba mươi hai con người ở đây cần nàng sống hơn gấp vạn lần. Nếu nàng phế luôn cả tính mạng này, nếu nàng chết đi, thì lũ chúng ta giữ lấy ngọn đèn trên đỉnh núi đổ nát này để làm cái gì nữa?"

Đỗ Nghi nhanh thoăn thoắt tiến lại gần. Nàng lấy ra một nắm cao tiêu viêm đen nhánh, sực nùi giấm thanh và ngải cứu, đắp dày cộm lên khắp rãnh thịt nứt toác của Bùi Hạ. Sau đó, bằng những động tác dứt khoát, điêu luyện và không chút do dự, nàng dùng những dải vải gai dày quấn chặt nhiều vòng quanh hai thanh nẹp gỗ táu.

Từng vòng vải gai siết chặt lại, ép hai thanh gỗ cứng ngắc áp chặt vào xương thịt Bùi Hạ.

Một cơn đau buốt thấu tận tim gan truyền đến, theo sau đó là cảm giác tê dại lan nhanh dọc theo toàn bộ cánh tay nàng. Hai thanh nẹp gỗ táu và những vòng vải gai không chỉ cố định cơ học khớp xương, mà dược lực của lớp cao tiêu viêm kết hợp với áp lực siết chặt đã phong tỏa hoàn toàn các đại huyệt đạo Liệt Khuyết, Xích Trạch và Thái Uyên trên kinh Phế của nàng.

Toàn bộ các nhánh kinh lạc phụ—nơi từng cho phép Bùi Hạ điều động những tia mộc linh lực nhỏ nhoi, tinh tế để nắn chỉnh từng rãnh đá hay kích hoạt mắt trận—giờ đây bị cắt đứt hoàn toàn mối liên hệ với đan điền. Cánh tay phải của nàng bấy giờ chẳng khác nào một khúc gỗ mục khô cằn, tuyệt đối không còn khả năng dẫn truyền bất kỳ một tia linh lưu nào ra đến mười đầu ngón tay nữa.

Bùi Hạ ngửa đầu ra sau phản gỗ, lồng ngực phập phồng thở dốc từng cơn cay đắng. Hai mắt nàng dán chặt vào những thanh xà gồ đen đúa vì khói bếp trên trần nhà. Lần đầu tiên kể từ sau ngày cơn đại hồng thủy càn quét qua Bến Bạch Sa, cướp đi tất cả người thân và sư môn của nàng, Bùi Hạ bị tước đoạt đi thứ vũ khí duy nhất, quyền năng duy nhất mà nàng có thể dựa vào để bảo vệ những con người khốn khổ xung quanh mình.

***

Thế nhưng, Am Vọng Đăng không hề vì sự gục ngã của người thợ trận mà sụp đổ hay dừng lại.

Bên ngoài gian phòng kho, khi màn sương sớm bắt đầu loãng dần, tiếng hô hoán rộn rã, tiếng bước chân rầm rập và tiếng kim loại va chạm leng keng bắt đầu vang lên khắp các khoảng sân. Mùi vôi bột nồng nặc hòa lẫn với mùi khói bồ kết cay xè cuộn tròn theo từng cơn gió luồn lách qua khe cửa gỗ.

"Kê cao thùng nước lên ba tấc nữa!"

Tiếng của Vũ Liên vang lên đanh gọn, dứt khoát từ khoảng sân sau chái bếp.

"Lê đại ca, anh cùng Trần đại ca khiêng chiếc nồi đồng ba quai lớn nhất lên bệ bếp lò! Chụm lửa cực đại bằng củi nghiến khô! Lâm thợ cả đã tính toán kỹ lưỡng rồi, chúng ta phải dẫn luồng nước sôi một trăm độ này qua toàn bộ hệ thống máng tre tẩm nhựa thông xối thẳng vào từng ngóc ngách của cống rãnh ngầm!"

Qua ô cửa sổ nhỏ mở hé một nửa, Bùi Hạ có thể nhìn thấy trọn vẹn khung cảnh bận rộn đến nghẹt thở ở khoảng sân chái bếp.

Vũ Liên—cô thiếu nữ mang tạp căn ngày nào còn rụt rè, luôn cúi gằm mặt giấu đi những vết sẹo bỏng trên cánh tay và sợ hãi từng ánh mắt thương hại của người đời—giờ đây đang khoác trên mình một chiếc áo chẽn bằng vải thô gọn gàng, mái tóc búi cao quấn chặt bằng chiếc khăn chàm để ngăn mồ hôi chảy xuống mắt. Một tay nàng cầm bản vẽ phân khu vệ sinh do chính tay nàng phác thảo bằng than củi trên giấy bổi, một tay cầm chiếc thước tre dài, bình tĩnh chỉ huy bốn gã thợ chèo đò lực lưỡng đang vận chuyển củi lửa.

Ở góc sân bên kia, Lâm Tự đang thoăn thoắt vung chiếc rìu mộc sắc bén. Những nhát rìu bổ xuống dứt khoát, chuẩn xác đến từng ly, đẽo gọt những đoạn mộng mang cá trên thân những ống tre rừng có đường kính bằng cả gang tay. Anh ghép nối các ống tre lại với nhau, quét nhựa thông nóng chảy vào các kẽ hở rồi đóng chặt bằng những chiếc chốt tre đực, tạo thành một đường ống dẫn nước khép kín dài hàng chục trượng, nối thẳng từ miệng nồi nước sôi khổng lồ trên lò lửa xuyên qua vách ngăn đá, đổ dồn vào hệ thống rãnh thoát nước ngầm của khu bếp và kho lương.

"Vũ Liên, van xả nước sôi ở bức tường ngăn chái đông đã khóa chặt then cài chưa?" Lâm Tự lớn tiếng hỏi qua làn khói bếp nghi ngút, chiếc búa gỗ trong tay gõ cồm cộp nêm chặt một mối mộng cuối cùng.

"Đã khóa chặt bằng hai lớp then gỗ táu và chèn chốt nêm rồi thúc thúc!" Vũ Liên nhanh nhẹn đáp lời, chân thoăn thoắt bước đến kiểm tra từng bao gạo vừa được kê kích trên các giàn đá xanh cao ráo. "Toàn bộ mặt sàn khu vực kho lương đã được rải một lớp vôi bột dày ba phân trộn lẫn tro bếp nóng để hút ẩm và diệt trùng! Cửa thông gió hướng đông đã bịt kín bằng rơm khô tẩm giấm thanh! Nhóm sáu đứa trẻ con và những người già yếu đã được dồn hết về gian nhà sau chính điện, do bà Trịnh và thím Tư đích thân canh giữ nghiêm ngặt. Nước uống của bọn trẻ được múc riêng từ nhánh lọc thứ nhất của Thạch Nhãn, đun sôi kỹ qua ba lượt lửa và niêm phong trong các hũ sành đậy kín bằng sáp ong rừng!"

Nhìn từng động tác chuẩn xác, nhịp nhàng, từng mệnh lệnh phân công rành mạch, dứt khoát không một chút thừa thãi của Vũ Liên, cùng sự phối hợp răm rắp, kỷ luật và tự giác của những người phàm trần quanh sân, sâu thẳm trong lồng ngực Bùi Hạ dâng lên một nỗi chấn động mãnh liệt.

Họ không còn là những nạn dân đói khát, hoảng loạn, chỉ biết khóc lóc van xin và run rẩy bấu víu vào vạt áo tu sĩ của nàng ở bờ bến sông ngập lụt ngày nào. Họ không còn ngồi thụ động chờ đợi một vị tiên nhân hay một tu sĩ thần thông quảng đại nào ban phát sự cứu rỗi, hay phán xét sự sống chết của giống nòi mình nữa.

Dưới mái đạo quán dột nát này, bài học về sự minh bạch của từng cân lương thực, về kỷ luật lao động nghiêm ngặt và trách nhiệm phân quyền mà nàng cùng bọn họ đã dày công xác lập qua từng bao gạo mốc, từng viên sỏi trắng bỏ phiếu biểu quyết, từng cái chốt mộng gỗ táu ăn khớp vào nhau... đã thực sự đâm chồi, bén rễ và ăn sâu vào xương tủy của từng con người nơi đây.

Dịch bệnh nguy hiểm đã bị chặn đứng lại bên ngoài bức tường đá kiên cố ngăn cách mé đông.

Ngay lúc này, luồng nước sôi sùng sục bốc khói nghi ngút từ đường ống máng tre của Lâm Tự bắt đầu tuôn chảy xối xả qua các rãnh đá ngầm, cuốn phăng đi mọi cặn bẩn, mầm mống độc hại và thứ uế khí ẩm mốc quanh khu vực dự trữ lương thực và nơi trú ngụ an toàn của những đứa trẻ thơ.

***

Hừng đông rốt cuộc cũng ló rạng sau màn sương mù xám đục trôi lững lờ ngang lưng chừng núi.

Cơn mưa rào tầm tã suốt mấy ngày đêm qua đã bắt đầu ngớt hạt, chỉ còn lại những giọt nước mưa rớt tí tách từ mái ngói rêu phong xuống các bậc đá. Nhưng trên nền trời phía xa, mây đen vẫn trĩu nặng một màu xám chì u ám, báo hiệu rằng đây chỉ là một khoảng lặng ngắn ngủi đầy bất trắc trước khi cơn bão lớn tiếp theo quét qua đỉnh Đoạn Phong.

Từ phía vực sâu hun hút dưới chân núi, tiếng nước sông Vân Hà cuồn cuộn gầm gừ vọng lại từng hồi trầm đục như tiếng sấm rền trong lòng đất. Mực nước sông đỏ ngầu dưới kia vẫn đang lầm lũi dâng cao thêm từng tấc, từng tấc một, nuốt chửng những ngọn cây khẳng khiu còn sót lại ngoài bãi bồi ven bờ.

Cơn sốt hầm hập thiêu đốt trong da thịt Bùi Hạ cuối cùng cũng dần dần rút lui theo những giọt mồ hôi ướt đầm đìa manh chiếu cói. Đầu óc nàng nhẹ bẫng đi, hơi thở đã thông suốt trở lại dù nơi lồng ngực vẫn còn âm ỉ những cơn đau nhói buốt buốt từ kinh Phế bị tổn thương.

Nàng khẽ cựa quậy thân mình, thử gượng nâng cánh tay phải lên khỏi mặt chiếu.

Hai thanh nẹp gỗ táu ghì chặt lấy cổ tay nàng, cứng nhắc, lạnh lùng và bất biến. Nàng thử tập trung ý niệm vào đan điền, cẩn trọng dò dẫm tìm kiếm dòng linh lưu mộc tính quen thuộc bấy lâu. Nhưng ngay khi một tia linh khí mỏng manh vừa chớm chạm tới huyệt Liệt Khuyết ở cổ tay, một cơn tê dại buốt nhói như kim châm lập tức chặn đứng nó lại—kinh mạch đã hoàn toàn bị phong tỏa kín kẽ dưới lớp nẹp gỗ và dược lực tiêu viêm. Bàn tay từng sửa chữa hàng trăm mắt trận tinh vi, từng nắn chỉnh những đường dẫn linh lực huyết mạch của cả một sơn môn danh tiếng năm xưa, giờ đây thậm chí không thể tự mình cầm nổi một chiếc thìa tre múc nước.

Nàng lúc này là một người thợ trận hoàn toàn tàn phế, không còn khả năng vận chuyển dù chỉ một tia linh khí. Giữa lúc đại hồng thủy dữ dội nhất chuẩn bị ập đến chân núi.

Thế nhưng, lạ lùng thay, trong lồng ngực Bùi Hạ bấy giờ không hề có lấy một tia hoảng loạn, sợ hãi hay tuyệt vọng nào bùng lên.

Nàng gượng chống cánh tay trái còn lại, chầm chậm ngồi dậy, dựa lưng vào bờ tường đá hoa cương lạnh ngắt của gian phòng kho, đưa ánh mắt bình thản nhìn qua ô cửa sổ đang mở rộng đón luồng gió sớm trong lành.

Dưới khoảng sân đá rộng lớn, ngọn đèn gác quán trên đài cao vẫn đang bền bỉ tỏa ra một vầng sáng màu vàng nhạt ấm áp, kiên cường xuyên thủng qua lớp sương mù ẩm ướt của buổi sớm mai.

Và ngay dưới chân ngọn đèn bất diệt ấy, Vũ Liên đang cầm cuốn sổ chép tay bằng giấy bổi, cây bút lông kẹp ngay ngắn bên vành tai, thoăn thoắt phân công sáu người thợ chèo đò chia làm hai nhóm mang theo dây chằng bằng vỏ gai và cọc tiêu gỗ tiến thẳng ra mé sườn núi để gia cố lại hệ thống rãnh xả lũ trước giờ nước dâng cao.

Đỗ Nghi từ gian phòng cách ly mé đông bước ra ngoài sân, nàng tháo bỏ lớp mạng che mặt tẩm vôi, đưa tay gật đầu ra hiệu với mọi người rằng các ca bệnh tiêu chảy cấp ở khu đông đã bước đầu vượt qua cơn nguy kịch nhờ được bù nước muối ấm và uống bột hoàng liên kịp thời.

Lâm Tự đứng tựa lưng vào cây cột hiên bằng gỗ táu của chính điện, tay cầm chiếc cưa mộc sắc bén, ánh mắt hiền từ dõi theo bóng lưng thoăn thoắt, vững chãi của Vũ Liên giữa sân đá, khóe môi thô ráp của anh khẽ nở một nụ cười kín đáo, an lòng.

Bùi Hạ khẽ khép hàng mi mệt mỏi lại.

Nơi khóe môi nứt nẻ của nàng run run, rồi nở một nụ cười nhẹ nhõm, thanh thản đầu tiên sau chuỗi ngày dài đằng đẵng chìm trong giông bão và sợ hãi.

Hạt giống nàng gieo xuống nền đá nứt nẻ của ngọn núi vỡ này, hóa ra, chẳng cần đến linh lực của nàng để nảy mầm.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn