Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡC.17 / 40
Chương 17

Giấy Nợ Đổi Chủ

Tống Khải thong thả nhấp một ngụm trà thô nơi gian khách ngoài, từng ngón tay thon dài gõ nhịp đều đặn, khoan thai lên mặt xấp giấy nợ ố vàng có đóng dấu triện đỏ sẫm của thương điếm Bến Bạch Sa.

Nước trà đựng trong chén sành sứt mẻ chỉ là thứ lá chè rừng hái vội trên vách đá sườn nam lộng gió, nấu bằng nước mưa lắng cặn, vị chát đắng gắt nơi đầu lưỡi và thoảng mùi khói củi ướt nồng nặc. Thứ nước ấy chẳng thể nào sánh được với trà búp Tuyết Trà ngâm sương sớm pha nước giếng ngọc mà vị chủ sự Thương hội Tam Giang vẫn thường dùng nơi phân hiệu huyện lỵ An Lưu. Nhưng dáng vẻ ông ta ngồi đó—tựa lưng thong dong vào chiếc ghế mây bọc nệm gấm mang theo từ cỗ xe ngựa bốn bánh lộng lẫy, vạt áo lông chồn quý giá sạch bóng không vương lấy một hạt bụi bùn—lại tạo nên một sự tương phản ngột ngạt đến tàn nhẫn với bốn bức vách trình tường loang lổ vết nước mưa xối xả và mùi ẩm mốc bốc lên từ kẽ nền đất của Đạo quán Vọng Đăng.

Gió lạnh từ hẻm núi Đoạn Phong thốc qua khe liếp rách, thổi lay lắt ngọn bấc leo lét cắm trong chiếc đĩa dầu lạc mờ xỉn.

Đối diện chiếc bàn gỗ tạp mộc mạc chưa bào nhẵn mép, ban quản trị của đạo quán đứng đó trong một bầu không khí im lặng nặng nề như chì đúc. Bùi Hạ khẽ kéo ống tay áo bên phải xuống thấp hơn một chút để giấu đi chiếc nẹp tre cố định cổ tay bị phế kinh mạch, ánh mắt nàng phẳng lặng như mặt hồ đóng băng, nhìn chằm chằm vào mép xấp giấy dập dấu đỏ quạch đặt ngay ngắn trước mặt Tống Khải. Bên cạnh nàng, Lâm Tự vẫn còn mặc nguyên chiếc áo vải thô dính đầy mạt cưa gỗ lim sau một đêm thức trắng ghìm cửa chống bão. Hai bắp tay vạm vỡ của người thợ mộc nổi rõ từng đường gân thép cuồn cuộn, mu bàn tay hằn sâu những vết trầy xước rớm máu do dăm gỗ cào xé, và bàn tay phải của anh vô thức đặt lên cán chiếc đục bén ngót giắt ngang thắt lưng da tạp.

Nguyễn Mộc đứng chếch về phía bên trái, hai bàn tay gầy guộc tì chặt lên đầu cây gậy tre ngâm dầu đã bóng loáng vì năm tháng. Đôi mắt mờ đục của người thợ già nheo lại, chăm chú quan sát từng nếp gấp rạn nứt trên những tờ văn tự cổ như thể đang thẩm định một vết nứt hiểm ác trên thớ đá tảng. Ở góc ngoài cùng, Phạm Sương đứng cứng đờ như một pho tượng gỗ mục. Hai bàn tay bà giấu kín trong vạt tạp dề bết bát tro bếp và mỡ cá, siết chặt lấy nhau đến mức các đầu ngón tay trắng bệch không còn một giọt máu, lồng ngực phập phồng nghẹn ứ dưới từng nhịp thở ngắt quãng.

"Chủ sự Tống đường xa ngàn dặm lên núi giữa lúc đường trơn dốc đứng, đá lở đầy lối, chắc không phải chỉ để thưởng thức thứ chè đắng của chốn lánh nạn này?"

Bùi Hạ mở lời phá vỡ sự im lặng ngột ngạt. Giọng nàng bình thản, trầm tĩnh, nhưng từng âm sắc nhả ra đều gãy gọn, sắc cạnh, giữ đúng khoảng cách ranh giới cần thiết giữa một người phụ trách đạo quán sơ lập vừa thoát khỏi cửa tử và một tài phiệt kiểm soát huyết mạch giao thương hạ lưu sông Vân Hà.

Tống Khải khẽ mỉm cười. Ông ta chậm rãi đặt chén sành xuống mặt bàn gỗ tạp. Đáy chén chạm vào mặt gỗ phát ra một tiếng *cạch* khô khốc, vang dội kỳ lạ giữa gian phòng trống hoác. Khóe môi ông ta cong lên một đường nét nhã nhặn, ánh mắt sắc sảo đảo qua gương mặt từng người, từ cổ tay băng bó của Bùi Hạ, bàn tay nắm cán đục của Lâm Tự, cây gậy của Nguyễn Mộc, rồi cuối cùng dừng lại ở xấp giấy dày cộm dưới lòng bàn tay mình.

"Bùi cô nương quả là người thực tế, dứt khoát hệt như lời đồn." Ông ta dùng đầu ngón tay trỏ khẽ đẩy nhẹ xấp giấy tuyên về phía trung tâm bàn, vừa vặn dừng lại trước mắt Bùi Hạ. "Người làm nghề đo đạc trận pháp các vị thường nói chuyện bằng phương vị và con số, ta làm nghề buôn bán dọc ngang sông nước cũng chỉ chuộng sự sòng phẳng, minh bạch. Đêm qua mưa to gió lớn, nước lũ từ thượng nguồn đổ về ngập trắng các bãi bồi, cỗ xe thồ hàng của ta may mắn được tá túc dưới mái hiên Vọng Đăng am này. Tận mắt thấy ba mươi hai con người nơi đây đồng lòng khiêng từng cây cột gỗ lim, vác từng tảng đá hộc chống bão, cứu vãn mắt trận số ba sắp sụp đổ, ta thực lòng nghiêng mình khâm phục ý chí sắt đá của các vị."

Tống Khải dừng lại một nhịp, khẽ thở dài ra một hơi khói mỏng giữa tiết trời buốt giá, giọng điệu chuyển thành vẻ trầm ngâm đầy thấu hiểu:

"Nhưng thói đời trớ trêu thay, Bùi cô nương à. Bão gió của đất trời dẫu có hung hãn đến đâu thì người ta vẫn có thể dùng gỗ táu, chốt lim và sức người đồng lòng để cản lại. Còn bão gió của sổ sách, khế ước và nợ nần... thì từ ngàn đời nay, chỉ có thể giải quyết bằng văn tự phân minh và bạc trắng ròng rã."

Tống Khải lật tờ giấy đầu tiên ra. Mặt giấy tuyên đã ngả sang màu vàng sẫm vì ngấm hơi ẩm sông nước qua nhiều tháng ngày, mép giấy rách sờn răng cưa, nhưng dòng chữ thảo sắc sảo viết bằng mực nho đặc cùng ba con dấu triện đỏ chót như máu tươi vẫn hiện lên rõ mồn một.

"Đây là văn tự vay nợ ba mươi lượng bạc trắng nguyên bảo cùng năm mươi hộc thóc giống loại một, ký kết vào ngày mười lăm tháng Hai năm ngoái tại thương điếm Vĩnh Mậu dưới Bến Bạch Sa. Người đứng tên vay: Phạm Sương, chủ quán cơm Nghĩa Phong. Tài sản thế chấp ghi rõ: toàn bộ căn nhà gỗ ba gian lợp ngói âm dương ven bến, mười bộ bàn ghế gỗ tràm, hai bếp lò đắp bằng đất sét nung, cùng tiền lãi tính theo lệ thường ba phân mỗi tháng."

Ngón tay Tống Khải lật tiếp tờ thứ hai, rồi tờ thứ ba. Tiếng sột soạt khô khốc của giấy cũ xé toạc bầu không khí tĩnh mịch, nghe chói gắt như tiếng kim loại cào vào đá tảng.

"Tiếp theo đây là ba tờ khế ước ứng trước hàng hóa: thịt lợn ướp muối mười vò, dầu mè thượng hạng năm chum, và các loại gia vị khô chuyên chở từ mạn ngược về trong vụ lũ tiểu mãn tháng Năm. Tổng cộng phần này thêm mười tám lượng sáu tiền bạc vụn nữa. Đáng tiếc thay, cơn đại hồng thủy tháng trước quét qua hạ lưu, phù sa sông Vân Hà dâng cao ba trượng nuốt trọn Bến Bạch Sa. Quán cơm Nghĩa Phong bị dòng nước cuốn phăng ra biển lớn, nhà cửa tan tành, đại lý Vĩnh Mậu kiệt quệ dòng tiền. Chủ điếm không còn sức gõ cửa từng nhà để đòi nợ, đành phải gom toàn bộ khế ước còn tồn đọng bán đổ bán tháo lại cho tổng hiệu Tam Giang để vớt vát chút vốn liếng còm cõi. Ba ngày trước, Thương hội Tam Giang chúng ta đã hoàn tất việc thanh toán và tiếp quản toàn bộ các khoản nợ của quán cơm từ tay đại lý cũ."

Tống Khải thu tay lại, ngước nhìn thẳng vào gương mặt không còn giọt máu của Phạm Sương. Nụ cười trên môi ông ta vẫn giữ nguyên vẻ nhã nhặn, điềm đạm, nhưng nơi đáy mắt lại ánh lên tia nhìn sắc lạnh của một con cắt đang ngắm nghía con mồi trong móng vuốt:

"Hiện tại, Thương hội Tam Giang là chủ nợ hợp pháp duy nhất và trọn vẹn của Phạm chưởng quỹ. Cả gốc lẫn lãi tích lũy qua hai mùa nước dâng, sau khi ta đã đích thân trừ đi phần hỗ trợ giảm trừ thiên tai theo đúng quy chế nội bộ của thương hội, con số chốt lại chẵn tròn là sáu mươi bốn lượng bạc trắng. Một món tiền không hề nhỏ đối với một quán cơm bình dân ven bến đò, và lại càng là một gánh nặng ngút trời đối với một người đang phải chia từng muỗng kê lép nấu cháo loãng trên đỉnh Đoạn Phong hoang vu này."

Căn phòng khách rơi vào một khoảng lặng đặc quánh, lạnh lẽo đến tận xương tủy.

Bùi Hạ khẽ liếc mắt sang Phạm Sương. Nàng hiểu quá rõ tình cảnh của những thị dân vùng hạ lưu khi lũ dữ tràn về; họ mất trắng nhà cửa chỉ sau một đêm, người thân phiêu bạt, gia tài chìm sâu dưới đáy bùn lầy. Nhưng nhìn con số sáu mươi bốn lượng bạc nằm ngay ngắn trên giấy trắng mực đen, nàng nhận ra chiếc thòng lọng mà Tống Khải mang lên núi hiểm độc và tinh vi hơn bất kỳ thanh đao mũi giáo nào. Thương hội Tam Giang không xuất hiện để đòi tiền của một kẻ khốn cùng; họ xuất hiện để mua đứt sự sống của cả đạo quán.

Lâm Tự không nén nổi cơn giận, anh bước xốc lên nửa bước, thân hình hộ pháp che khuất một phần ánh sáng hắt vào từ cửa sổ. Giọng anh ồm ồm phá tan sự ngột ngạt:

"Chuyện nợ nần ở Bến Bạch Sa là việc làm ăn cũ kỹ của riêng cá nhân muội ấy từ ngày quán cơm còn mở dưới chân đê. Nước lũ cuốn sạch nhà cửa, trôi sạch tài sản, người nhà lưu lạc tứ tán, giờ chủ sự lại lặn lội đem xấp giấy nợ mục nát này lên tận đỉnh núi hoang vu hiểm trở để đè đầu một người đàn bà trắng tay? Chẳng lẽ Thương hội Tam Giang giàu có nứt đố đổ vách khắp ba dặm khúc sông lại túng thiếu đến mức phải ép người vào đường chết thế này?"

Tống Khải khẽ bật cười thành tiếng, thong thả lắc đầu như thể một bậc trưởng giả đang bao dung tha thứ cho sự nông nổi của một gã phu thô lỗ:

"Lâm thợ cả nói năng sao mà hàm hồ thế. Người buôn bán xưa nay lấy chữ tín làm đầu, coi khế ước như tính mạng. Giấy trắng mực đen còn rành rành đó, chữ ký son và dấu điểm chỉ hoa tay của Phạm chưởng quỹ vẫn còn nguyên vẹn, sao có thể phủi tay bảo là chuyện cũ trôi theo dòng nước lũ? Nếu thiên tai nào ập đến cũng xóa sạch mọi nợ nần trần thế, thì các kho hàng dự trữ, các đội thuyền buôn của Tam Giang lấy cái gì để xuất lương cứu trợ, lấy tiền đâu thuê mười vạn dân phu đắp đê ngăn sóng? Tuy nhiên..."

Ông ta ngả lưng sâu hơn vào chiếc đệm gấm êm ái, hai bàn tay thon dài đan chéo vào nhau đặt hờ hững trên đầu gối, giọng điệu đột ngột chuyển sang vẻ ôn tồn, hòa nhã và đầy vẻ ban phát ân huệ:

"Ta biết Đạo quán Vọng Đăng đang ở vào thế ngàn cân treo sợi tóc. Biên nhận bảo hộ tạm thời ba mươi ngày của Trấn Linh Ty huyện An Lưu các vị vừa vất vả cầm được trong tay chưa ráo mực, nhưng ngoài chân núi kia, Huyện thừa Hoàng Cẩn vẫn đang lăm lăm mang quân rình rập bắt phu trốn dịch. Tạ Duy bên Thanh Huyền Môn thì liên tục gửi đơn kiện các vị chiếm đoạt mỏ linh sa Thạch Nhãn. Kho lương của các vị hiện giờ, dù có đào thêm được vài gánh củ mài mốc meo trên vách đá sườn bắc, cũng chẳng thể nào duy trì nổi cho ba mươi hai miệng ăn qua nổi nửa tháng tới. Một đạo quán sơ lập bần hàn rách nát, đào đâu ra sáu mươi bốn lượng bạc trắng để trả cho ta?"

Tống Khải ngừng lại, gõ nhẹ ngón tay lên mặt bàn theo nhịp ba tiếng *cộc, cộc, cộc*, từng âm thanh như dùi đục nện vào tâm can người nghe:

"Nếu hôm nay ta mang xấp giấy nợ này xuống huyện nha An Lưu, xin quan huyện phát trát tịch thu đinh thân theo đúng luật lệ hình sự của bản triều, Phạm chưởng quỹ đây sẽ lập tức bị nha sai xiềng xích giải vào ngục tối trừ nợ, hoặc bị sung làm quan nô đày đi khai khẩn biên ải. Khi ấy, ban quản trị chín người đứng tên lập quán của các vị sẽ khuyết mất một chân rường cột. Danh bộ không còn toàn vẹn, liệu tờ giấy bảo hộ mỏng manh của Trấn Linh Ty có còn giữ được giá trị hiệu lực trước mặt quan nha?"

Ánh mắt Tống Khải lia qua sự căng thẳng tột cùng trên mặt Lâm Tự, lướt qua đôi môi mím chặt của Nguyễn Mộc, rồi dừng lại trọn vẹn trên đôi đồng tử kiên định của Bùi Hạ:

"Tam Giang chúng ta không phải phường cho vay nặng lãi tàn nhẫn muốn dồn ép con người ta vào ngõ cụt. Chúng ta là thương nhân, mà thương nhân chân chính thì luôn tìm kiếm sự hợp tác bền vững đôi bên cùng có lợi. Hôm nay đích thân ta ngồi đây, chịu uống bát trà đắng ngắt này, chính là để mở ra cho Vọng Đăng một lối thoát êm đẹp nhất."

"Lối thoát thế nào? Xin chủ sự nói thẳng vào việc chính." Bùi Hạ lạnh lùng cất lời, không để sự dẫn dụ của đối phương lung lay tâm trí.

"Rất đơn giản và rộng rãi." Tống Khải mỉm cười, nụ cười giãn nở trên khuôn mặt phương phi. Ông ta thò tay vào trong bọc áo lông chồn, rút ra một bản khế ước mới toanh viết bằng mực son tươi tắn trên loại giấy quyến thượng hạng dày dặn, trải phẳng phiu ngay ngắn bên cạnh xấp giấy nợ cũ mòn.

"Thứ nhất, Thương hội Tam Giang sẽ lập tức phê chuẩn gia hạn toàn bộ khoản nợ sáu mươi bốn lượng của Phạm Sương trong thời hạn ba năm trọn vẹn, tuyệt đối không tính thêm một đồng tiền lãi phát sinh nào. Đồng thời, ta đại diện thương hội xóa thẳng hai mươi lượng tiền lãi cũ tích lũy từ mùa lũ trước coi như lễ vật chúc mừng đạo quán sơ lập. Thứ hai, ngay trong chiều nay, đoàn xe thồ bốn chiếc của ta đang chờ dưới chân núi sẽ chở lên đây mười bao gạo trắng thượng hạng Diêm Trì—mỗi bao nặng đúng một trăm cân, hạt gạo tròn mẩy, thơm phức, tuyệt đối không ẩm mốc, không lẫn một hạt sạn hay mạt linh sa độc hại. Đi kèm với đó là ba chum dầu lạc ép thủ công và năm tảng muối hầm tinh khiết. Chừng đó đủ để ba mươi hai con người của các vị ăn no mặc ấm, có sức đục đá vá tường, nuôi ngọn đèn dẫn đường sáng rực qua trọn vẹn mùa mưa lũ này mà không phải lo chết đói."

Mười bao gạo trắng Diêm Trì. Ba chum dầu lạc. Năm tảng muối hầm.

Từng danh từ thốt ra từ miệng Tống Khải rơi vào khoảng không gian ẩm mốc như những viên ngọc quý tỏa ra thứ ma lực cám dỗ ghê gớm. Chỉ mới ban sáng thôi, ba mươi hai con người ở Vọng Đăng còn phải ngồi nhặt từng hạt kê thối mốc trong hầm ẩm, phải gọt từng củ mài rừng đầy mủ ngứa đem ngâm qua ba lần nước tro củi để khử độc sa khoáng, phải chia nhau từng muỗng cháo loãng nấu độn với cám vụn để cầm hơi qua ngày. Mười bao gạo trắng tinh khiết kia không chỉ là lương thực; đó là sự sống sót, là sức lực, là phẩm giá của những kẻ cùng khốn đang đứng bên bờ vực chết đói.

Lâm Tự cắn chặt quai hàm đến mức hai bên má nổi cộm lên từng khối cơ, lồng ngực anh phập phồng nhưng cổ họng nghẹn đắng, không thốt ra được lời nào. Nguyễn Mộc đứng im lìm như hóa đá, chòm râu bạc dài khẽ rung lên bần bật dưới cằm.

"Và cái giá phải trả là gì?" Ánh mắt Bùi Hạ không hề chớp lấy một lần, nàng hỏi thẳng vào tâm điểm của cái bẫy.

"Cái giá ấy vô cùng nhỏ bé so với sự sống còn và tương lai của các vị." Tống Khải nhấp thêm một ngụm trà thô, giọng điệu nhẹ tênh như thể đang bàn bạc về một chuyến đò ngang chở củi qua sông. "Đạo quán Vọng Đăng chỉ cần đặt bút ký vào bản khế ước bảo đảm này: chuyển giao cho Thương hội Tam Giang toàn quyền khai thác, dẫn dòng và độc quyền phân phối nguồn nước cùng khoáng sa từ linh tuyền Thạch Nhãn trong thời hạn mười năm. Dĩ nhiên, thương hội chúng ta sẽ không để các vị chịu thiệt thòi: chúng ta cam kết mỗi ngày sẽ cấp phát lại cho đạo quán đầy đủ sáu gánh nước sạch để nấu ăn và sinh hoạt thường nhật. Toàn bộ chi phí gia cố cửa mạch ngầm, nạo vét bùn khoáng và lắp đặt đường ống đồng dẫn nước từ vách Thạch Nhãn xuống thẳng bến thuyền dưới chân núi đều do Tam Giang chúng ta gánh vác trọn vẹn. Các vị không phải bỏ ra một đồng vốn liếng, vừa xóa sạch nợ nần cho người nhà, vừa có gạo trắng muối sạch ăn no quanh năm, lại vừa danh chính ngôn thuận tu hành lập phái dưới sự bảo trợ kinh tế hùng hậu của thương hội lớn nhất vùng hạ lưu này. Một thỏa thuận vẹn cả đôi đường, Bùi cô nương thấy có phải là phúc lớn cho Vọng Đăng am hay không?"

Gian khách ngoài rơi vào một khoảng lặng chết chóc.

Độc quyền khai thác Thạch Nhãn trong mười năm. Cấp phát lại sáu gánh nước sinh hoạt mỗi ngày cho ba mươi hai con người.

Đó không phải là một sự hợp tác kinh doanh. Đó là một sợi dây thừng siết cổ từ từ và tàn độc.

Mạch linh tuyền Thạch Nhãn trên vách đá mỗi ngày đêm chỉ rỉ ra được vỏn vẹn hai mươi tư gánh nước linh khí yếu ớt nhưng quý giá. Nếu cắt phăng đi mười tám gánh cùng toàn bộ khoáng sa linh lực để dẫn vào mạng lưới kinh doanh béo bở của Tam Giang, ngọn Đăng Dẫn Lộ trên gác chuông sẽ vĩnh viễn tắt ngấm vì thiếu năng lượng nuôi dưỡng, ba mắt trận phòng hộ bảo vệ toàn bộ am cốc sẽ biến thành đống đá chết vô dụng trước móng vuốt của Thanh Huyền Môn, và ba mươi hai con người trên đỉnh Đoạn Phong này sẽ bị tước đoạt hoàn toàn quyền tự chủ, biến thành những kẻ làm thuê mạt hạng sống phụ thuộc vào từng gáo nước bố thí của thương hội. Tống Khải không cần mang đao kiếm hay lính tráng lên núi; ông ta dùng chính miếng cơm, manh áo, hạt muối và món nợ cũ rách nát để bẻ gãy xương sống của Vọng Đăng ngay từ trong trứng nước.

Trước khi Bùi Hạ kịp mở miệng cự tuyệt, một tiếng nấc nghẹn ngào xé ruột bỗng nhiên bùng lên từ góc phòng.

Phạm Sương bước giật lùi lại hai bước, lưng đập mạnh vào vách tường đất loang lổ. Đôi mắt bà trợn trừng nhìn vào bản khế ước son đỏ chót, hơi thở dồn dập như người sắp chết đuối. Rồi bất thần, không ai kịp ngăn cản, bà ôm mặt lao vụt ra khỏi ngưỡng cửa gian khách ngoài, chạy thục mạng ra khoảng sân đá dăm lầy lội phía trước chính điện.

"Sương muội!"

Bùi Hạ biến sắc, vội vã nhấc vạt áo rảo bước đuổi theo. Lâm Tự và Nguyễn Mộc cũng biến đổi sắc mặt, lập tức lao nhanh ra ngoài thềm đá.

Tống Khải khẽ nhướng đôi lông mày rậm rạp, thong thả đứng dậy khỏi chiếc ghế mây êm ái. Ông ta đưa tay phủi nhẹ những hạt bụi vô hình vương trên vạt áo lông chồn quý tộc, rồi chắp hai tay sau lưng, chậm rãi bước từng bước khoan thai ra ngoài với nụ cười tự tin của một kẻ nắm chắc toàn bộ thế cờ trong tay áo.

Ngoài sân đạo quán, trời vẫn giăng giăng một màn mưa phùn buốt giá. Gió bấc rít qua những khe đá trên đỉnh núi nghe như tiếng khóc than của oan hồn. Nghe thấy tiếng bước chân dồn dập và tiếng la thảng thốt, những nạn dân đang cặm cụi quét dọn bùn đất sau cơn bão đêm qua và nhóm người đang sấy củ mài bên chái bếp đều giật mình buông rơi công việc. Bà cụ Trịnh thị tay ôm đứa cháu nhỏ gầy gò, đám thợ chèo đò Trần Đại, Lê Trọng với vạt áo tơi rách bươm, thợ đóng bè Ngô Bính mang theo chiếc cưa gỗ trên tay, cùng cả Vũ Liên và bé Lâm An đang ngồi nhóm bếp... tất cả đều ngơ ngác, hoang mang dồn ánh mắt về phía giữa sân.

Ở đó, người phụ nữ sắc sảo, kiên cường từng nắm chặt chùm chìa khóa kho lương, từng cầm gậy đứng chắn trước cửa vựa thóc quát mắng những kẻ toan cướp bóc trong đêm lũ, nay đang quỳ sụp xuống nền đá dăm lởm chởm nước đục.

Nước mưa buốt giá hòa lẫn với những giọt nước mắt lăn dài trên đôi gò má hốc hác, nhăn nheo của Phạm Sương. Bà run rẩy đưa hai bàn tay thô ráp bết đầy bùn đất lên ôm chặt lấy mặt, rồi ngửa đầu lên nhìn về phía ba mươi mốt con người đang vây quanh mình, tiếng khóc vỡ òa ra giữa màn sương lạnh ngắt:

"Mọi người ơi... con lạy trời lạy đất, ta có tội tày đình với mọi người rồi!"

Bùi Hạ bước nhanh tới, cúi người định đưa tay đỡ bà dậy: "Sương tỷ, tỷ đứng lên trước đã! Có chuyện gì xảy ra thì chúng ta vào trong nhà cùng nhau bàn bạc giải quyết, đừng quỳ giữa mưa lạnh thế này—"

"Không! Bùi cô nương, người buông ta ra! Để ta nói! Hôm nay ta phải nói hết ra trước mặt trời đất, thần linh và bà con lối xóm!" Phạm Sương gạt mạnh tay Bùi Hạ ra, bà lắc đầu quầy quậy, mái tóc hoa râm ướt sũng dính bết vào hai bên thái dương. Giọng nói nghẹn đặc nước mắt của bà xé toạc màn mưa phùn, vang vọng khắp bốn bề vách núi: "Ta... ta là con tiện nhân đã giấu giếm mọi người một chuyện tày trời! Món nợ sáu mươi bốn lượng bạc trắng kia là nợ riêng của một mình ta! Là tiền ta đã ký giấy vay mượn của thương điếm Vĩnh Mậu để mở rộng gian quán cơm Nghĩa Phong, để gom thóc giống trữ trong kho dưới Bến Bạch Sa từ mùa xuân năm ngoái!"

Đám đông nạn dân đứng quanh sân bắt đầu xôn xao, nháo nhác. Những người già như bà cụ Trịnh thị mở to đôi mắt đục ngầu kinh ngạc, đám thợ chèo đò đưa mắt nhìn nhau với vẻ bàng hoàng sững sờ.

"Trời cao không có mắt! Cơn lũ tháng Năm tràn về... nước sông cuồn cuộn dâng lên cuốn trôi sạch sành sanh không còn một mảnh ván!" Phạm Sương vừa khóc vừa đưa tay đấm thùm thụp vào ngực mình, từng giọt nước mắt mặn chát rơi lã chã xuống vũng bùn dưới gối. "Cả cơ nghiệp gom góp nửa đời người của ta chìm sâu dưới đáy sông sâu, chồng ta bị nước cuốn trôi mất tích không tìm thấy xác! Ta ôm manh chiếu rách cùng bọc quần áo cũ trốn theo đoàn người chạy loạn lên ngọn núi Đoạn Phong này. Ta sợ... ta sợ đến phát điên phát dại! Ta sợ chủ nợ đuổi theo bắt ta đi đày làm nô tỳ, ta sợ mọi người biết ta là kẻ cõng món nợ ngập đầu sẽ ghê tởm mà đuổi ta ra khỏi đạo quán, đẩy ta trở lại dòng nước lũ đang chực chờ nuốt xác! Cho nên ta cắn răng giấu kín như bưng... Ta cố thức khuya dậy sớm làm việc quần quật như trâu như ngựa, ta chắt chiu từng hạt gạo, hạt muối mốc meo để bù đắp tội lỗi... Nhưng ta không ngờ... ta ngàn lần không ngờ bọn họ lại đem món nợ dơ bẩn của riêng ta ra để làm cái thòng lọng bóp nghẹt cổ họng của tất cả mọi người nơi đây!"

Bà quay phắt người lại, hướng thẳng ánh mắt đỏ ngầu căm hờn về phía Tống Khải đang đứng ung dung dưới mái hiên gian khách. Sự sợ hãi hèn nhát trong đáy mắt người phụ nữ khốn khổ lúc này đã biến mất hoàn toàn, chỉ còn lại sự phẫn uất cùng cực của một kẻ bị dồn vào chân tường:

"Tống chủ sự! Phạm Sương này nợ tiền ông, nợ tiền của Thương hội Tam Giang các người, chứ ba mươi mốt con người đang đứng trên đỉnh núi này không nợ ông một xu một cắc nào hết! Thân xác này của ta, xương thịt dãi dầu này của ta, các người muốn bắt đi làm phu quét đường, muốn giải lên công đường huyện nha An Lưu xiềng xích, hay muốn đem chôn sống dưới chân đê Hồi Long để trừ nợ, ta đều xin giơ đầu chịu hết! Nhưng linh tuyền Thạch Nhãn là của chung, là nguồn nước cứu mạng cho cả ba mươi mốt con người đã liều chết bám trụ, chia nhau từng cọng rau muỗng cháo trên ngọn núi này! Ta tuyệt đối không bao giờ để món nợ nhơ nhớp của bản thân kéo sụp cả mái nhà Vọng Đăng am! Không bao giờ!"

Những lời gầm thét xé lòng như rút cạn chút tàn lực cuối cùng trong lồng ngực gầy guộc của Phạm Sương. Bà đổ gục cả người xuống nền đá dăm lầy lội, hai bờ vai run lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào trong mưa lạnh.

Cả khoảng sân đá lặng ngắt như tờ.

Không gian tĩnh mịch đến mức người ta có thể nghe rõ mồn một tiếng nước mưa nhỏ tong tòng từ mái ngói rêu phong xuống nền đất, tiếng gió bấc rít qua những tán thông già trên đỉnh núi, và tiếng thở dốc nghẹn ngào của những con người cùng khổ. Ba mươi mốt nạn dân đứng đó, dưới làn mưa phùn buốt giá. Không một ai cất lời trách móc hay oán thán. Những ánh mắt nhìn Phạm Sương không còn vẻ bàng hoàng, nghi ngại ban đầu, mà thay vào đó là nỗi niềm xót xa cùng cực của những số phận cùng chung cảnh ngộ trôi dạt—những kẻ đã mất sạch người thân, mất sạch cửa nhà, trơ trọi hai bàn tay trắng trước sự tàn khốc của thiên tai và lòng dạ hiểm độc của những kẻ có tiền.

Vũ Liên cắn chặt môi đến rớm máu, đôi mắt đỏ hoe toan chạy lại đỡ Phạm Sương dậy, nhưng Lâm Tự đã bước lên trước một bước.

Người thợ mộc cao lớn sừng sững như một thân cây lim cổ thụ, đứng chắn ngay trước mặt người phụ nữ đang ngã quỵ, che chắn cho bà khỏi những hạt mưa buốt giá đang xối xả rơi xuống từ bầu trời xám xịt. Anh không buông ra những lời an ủi sáo rỗng hay thương hại thừa thãi. Lâm Tự chỉ lặng lẽ cúi người xuống, dùng bàn tay thô ráp chằng chịt vết chai sần của một người thợ đỡ lấy cánh tay gầy guộc của Phạm Sương, dùng sức mạnh vững chãi kéo bà đứng thẳng dậy trên đôi chân của mình.

"Ở Vọng Đăng này," giọng Lâm Tự trầm đục nhưng vang rền như tiếng đục thép gõ vào thớ gỗ lim già, dội vào vách đá xung quanh, "điều lệ do chín người chúng ta cùng ký tên điểm chỉ đã ghi rõ: sinh mạng và nghĩa vụ của từng thành viên là trách nhiệm chung của toàn thể đạo quán. Chúng ta cùng chia nhau muỗng cháo loãng khi đói, cùng chia nhau tấm chăn rách khi rét, thì tai ương họa nạn cũng cùng nhau gánh vác. Không một ai bị bỏ lại phía sau chỉ vì một tờ giấy nợ của thương hội."

Bùi Hạ bước lên ngang hàng với Lâm Tự. Tà áo lam bạc màu của nàng bay phần phật trong gió núi. Nàng đứng thẳng tắp, gương mặt lạnh lùng như băng tuyết ngàn năm, ánh mắt sắc bén như lưỡi gươm tuốt trần xoáy thẳng vào Tống Khải.

Đúng lúc ấy, từ phía hành lang sau điện, tiếng gậy tre gõ nhịp *cộc... cộc... cộc* đều đặn và đanh thép trên nền đá dăm bỗng vang lên. Nguyễn Mộc chậm rãi bước ra giữa sân. Trên bàn tay gân guốc của lão thợ đá già là một bản rập giấy bổi mỏng dính, đã ố vàng theo năm tháng nhưng từng nét chữ khắc cổ vuông vức, sâu hoắm vẫn hiện lên rõ ràng dưới ánh sáng ban ngày.

"Tống chủ sự," Nguyễn Mộc cất giọng khàn đặc nhưng rành rọt từng âm tiết, vang xa khắp khoảng sân rộng, "lão già này cả đời đục đá, xẻ núi, khắc bia ký ở vùng hạ lưu sông Vân Hà này đã hơn năm mươi năm có lẻ. Chữ nghĩa của thánh hiền nơi kinh kỳ hay luật lệ uốn éo nơi nha môn, lão mù chữ không dám nhận là thông suốt. Nhưng những chữ gì đã được tiền nhân khắc sâu vào bia đá ngàn năm, thì lão già này chưa từng quên mất một nét gạch."

Lão thợ đá từ từ giơ cao bản rập bia đá lên trước mặt mọi người, hướng thẳng mặt giấy về phía vị chủ sự của Thương hội Tam Giang:

"Bia đá sa thạch dựng ở sân sau Vọng Đăng Am từ thời tiền triều, cách đây một trăm hai mươi năm, đã khắc rõ bốn chữ đại tự: *'Thế đại tị thủy chi sở'* — Nơi đời đời tránh lũ của muôn dân trăm họ. Chiểu theo Điển chế Vân Hà của vương triều, thiên thứ sáu về Quản lý Tài nguyên và Cứu nạn Công ích, điều thứ bốn mươi mốt đã quy định rành rành: Toàn bộ công trình, giếng nước, mạch ngầm thuộc cơ sở cứu nạn công ích được xác nhận bởi bia ký tiền triều hoặc điển tịch quan phương đều là tài sản công cộng bất khả xâm phạm. Nguồn tài nguyên ấy không thể bị chia cắt, không thuộc quyền sở hữu riêng của bất kỳ cá nhân, chưởng môn, thương gia hay giáo phái nào!"

Nguyễn Mộc hít một hơi sâu, lồng ngực gầy guộc phập phồng, đôi mắt mờ đục bỗng quắc lên tia nhìn sắc bén như mũi đục đá:

"Phạm Sương nợ tiền ông, đó là nghĩa vụ dân sự cá nhân giữa bà ấy và thương điếm buôn bán dưới Bến Bạch Sa. Còn nguồn nước linh tuyền Thạch Nhãn là mạch sống chung của cơ sở tị nạn Vọng Đăng, đã được Trấn Linh Ty huyện An Lưu cấp Biên Nhận Bảo Hộ Tạm Thời theo đúng danh bộ chín người sáng lập! Luật pháp Vân Hà quy định sáng tỏ như trăng rằm giữa trời đêm: Tài sản công ích cứu nạn tuyệt đối không thể bị đem ra làm vật thế chấp, cấn trừ, gán nợ hay bảo lãnh cho bất kỳ nghĩa vụ nợ nần cá nhân nào! Phạm Sương không có tư cách đem Thạch Nhãn đi gán nợ, Bùi Hạ cô nương đây không có quyền ký tên chuyển nhượng, mà ngay cả Huyện thừa Hoàng Cẩn hay viên kiểm định Đinh Tuệ của Trấn Linh Ty cũng không có đủ thẩm quyền ký phê chuẩn một bản khế ước trái luật trắng trợn như thế!"

Nghe từng lời lẽ đanh thép, khúc chiết và nắm chắc điển chế luật pháp của lão thợ đá già, nụ cười nhã nhặn, tự mãn trên gương mặt phương phi của Tống Khải dần dần đông cứng lại rồi biến mất hoàn toàn.

Đôi mắt ông ta híp lại thành hai đường chỉ hẹp, âm trầm và lạnh lẽo. Tống Khải bước từng bước chậm rãi ra khỏi mái hiên, giẫm chiếc ủng da bóng lộn lên mặt đá dăm ẩm ướt, đứng sừng sững dưới làn mưa phùn lất phất. Chiếc áo choàng lông chồn quý giá khẽ rung rinh trong gió lạnh buốt.

"Nguyễn lão trượng quả thực có trí nhớ phi phàm đáng nể," Tống Khải cất giọng mỉa mai, từng lời buốt giá như sương muối, "nhưng một lão thợ đá già nua như ông hình như đã quên khuấy mất một điều tối quan trọng: bản đồ địa bạ mới nhất của huyện nha An Lưu lập ra cách đây ba mươi năm đã dùng mực chu sa khoanh vùng toàn bộ vách đá Thạch Nhãn thành mỏ sa khoáng độc lập thuộc quyền tài nguyên dự phòng của quan phủ! Tấm bia đá sứt mẻ rêu phong của các vị có thể nói về đạo lý cứu người của trăm năm trước, còn trát đòi nợ của thương hội và dấu mộc của quan nha thì định đoạt sự sống chết của ngày hôm nay!"

Tống Khải chuyển mũi dùi về phía Bùi Hạ, giọng điệu sắc nhọn như dao cạo:

"Bùi cô nương, cô là người đứng đầu chèo lái cái đạo quán rách nát này, cô thực sự muốn đem tính mạng và miếng cơm manh áo của ba mươi hai con người ra để đánh cược với những dòng chữ vô hồn trên một tấm bia đá cổ lỗ sĩ hay sao? Một khi trát bắt người của huyện nha ban xuống, ai trong số các vị gánh nổi tội danh bao che tội phạm nợ nần trốn chúa lộn sòng?"

Bùi Hạ nhìn thẳng vào mắt Tống Khải, không hề né tránh hay chùn bước dù chỉ nửa phân. Nàng bước lên một bước dài, tay trái nâng chiếc la bàn đồng sứt mẻ lên ngang ngực, giọng nói dõng dạc, đanh thép vang vọng giữa trời đất:

"Chủ sự Tống, ngài nói rất đúng: chúng ta nói chuyện của ngày hôm nay! Ngày hôm nay, Đạo quán Vọng Đăng là một Tông Môn Sơ Lập hợp pháp, đứng tên dưới sự bảo hộ chính thức của Trấn Linh Ty huyện An Lưu. Món nợ sáu mươi bốn lượng bạc của Phạm tỷ, Vọng Đăng chúng tôi thừa nhận đó là món nợ hợp pháp của một thành viên trong môn phái. Chúng tôi không chối bỏ trách nhiệm, không trốn tránh khế ước. Chúng tôi sẽ trả nợ cho ngài sòng phẳng từng xu từng cắc!"

Tống Khải nhếch mép cười khẩy, giọng đầy châm chọc: "Trả nợ? Bằng cách nào đây? Bằng mấy gánh củ mài phơi khô đắng ngắt trên vách đá hay bằng mấy gáo nước lã múc từ Thạch Nhãn?"

"Bằng chính bàn tay, khối óc và sức lao động chân chính của ba mươi hai con người chúng tôi!" Bùi Hạ dứt khoát đáp trả, từng lời nói nặng tựa ngàn cân. "Ngày hôm qua, chúng tôi đã mở lại đường thồ sạt lở, hiệu chỉnh lại la bàn định vị cho cháu gái ngài là Tống Mai để đổi lấy gạo và muối ăn một cách sòng phẳng, minh bạch. Ngày mai, chúng tôi sẽ cử đội thợ xuống công trường Đê Hồi Long, đảm nhận thi công rãnh xả lũ ngầm dài mười hai trượng bằng kỹ thuật ghép đá chốt mộng để đổi lấy công xá và hạn mức lương thực từ huyện phủ! Từng đồng bạc trắng, từng bát gạo nợ nần với Thương hội Tam Giang, chúng tôi sẽ dùng sức đục đá, xẻ gỗ, vá trận pháp để gom góp trả dần từng kỳ một, có khế ước lao động và người làm chứng đàng hoàng!"

Bùi Hạ dừng lại một nhịp, ánh mắt nàng lóe lên tia sáng rực rỡ đầy kiêu hãnh:

"Nhưng nếu các người muốn dùng món nợ ấy làm chiếc thòng lọng để cướp trắng linh tuyền Thạch Nhãn, muốn biến ba mươi hai con người tự do ở đây thành nô dịch phụ thuộc vào sự bố thí của Tam Giang, thì xin lỗi chủ sự — một gáo nước, một hạt cát của Thạch Nhãn, các người cũng đừng hòng tơ hào tới!"

Tống Khải đứng chôn chân tại chỗ, nhìn chằm chằm vào Bùi Hạ trong suốt mười nhịp thở dài dằng dặc.

Gương mặt phương phi của vị tài phiệt dần dần đanh lại, từng thớ thịt giật giật. Sự điềm tĩnh giả tạo, vẻ lịch thiệp hào sảng thường ngày hoàn toàn biến mất không còn dấu vết, để lộ ra bản chất tàn nhẫn, lạnh lùng của một kẻ buôn bán lọc lõi quen dùng sức mạnh của đồng tiền và quyền lực để đè bẹp mọi sự kháng cự. Ông ta quét mắt nhìn một vòng: nhìn sang Lâm Tự đang lăm lăm chiếc đục bén ngót trên tay, nhìn Nguyễn Mộc vững chãi chống gậy tre với tấm bản rập bia đá thời tiền triều, nhìn đám thợ thuyền Trần Đại, Lê Trọng đang siết chặt những chiếc đòn khiêng và xẻng đá trong tay áo, nhìn Trịnh thị ôm chặt đứa cháu nhỏ nhưng ánh mắt không hề có vẻ khiếp nhược, và cuối cùng dừng lại ở Phạm Sương—người phụ nữ vừa lau khô dòng nước mắt, đứng thẳng lưng giữa bùn lầy.

Không có sự run sợ. Không có sự tan rã, chia rẽ nội bộ như những tính toán chi li trong sổ sách của ông ta.

Một tập thể chắp vá từ ba mươi hai nạn dân khốn cùng, qua một đêm bão giông kinh hoàng và thử thách sinh tử nơi ranh giới đất trời, đã kết chặt lại thành một khối đá tảng lì lợm và kiên cường đến mức không một khối bạc trắng nào có thể mua chuộc hay làm rạn nứt.

"Tốt. Rất tốt."

Tống Khải bật ra một tiếng cười khẩy khô khốc, sắc lạnh như tiếng băng nứt giữa mùa đông.

Ông ta quay phắt người bước nhanh vào chiếc bàn gỗ nơi gian khách ngoài. Đôi bàn tay thon dài dứt khoát gom sạch xấp giấy nợ ố vàng cùng bản khế ước mới tinh viết bằng mực son, nhét sâu vào trong bọc áo lông chồn quý giá.

Khi quay trở ra thềm đá, ánh mắt Tống Khải nhìn Bùi Hạ đã trở nên sắc lạnh và hiểm độc như một lưỡi dao găm tẩm thuốc độc:

"Bùi cô nương, cô quả thực có khí phách ngút trời của một đệ tử từng xuất thân từ đại phái danh gia. Nhưng một kẻ thông minh như cô nên mở to mắt ra mà nhìn lại cho kỹ: ngọn núi Đoạn Phong này dẫu có cao thật đấy, dẫu có hiểm trở thật đấy, nhưng nó vẫn nằm trọn trong địa phận huyện An Lưu. Và mọi con đường mòn thồ hàng, mọi bến thuyền bè xuôi ngược dẫn lên ngọn núi này đều phải đi qua các điếm canh và bến bãi do Thương hội Tam Giang chúng ta nắm giữ huyết mạch!"

Tống Khải bước từng bước nặng nề xuống bậc tam cấp sứt mẻ, giọng nói lạnh lùng buông ra từng chữ rành rọt giữa tiếng mưa phùn rả rích:

"Các vị muốn trả nợ bằng mồ hôi nước mắt? Được thôi, ta cho các vị đúng thời hạn ghi trên giấy tờ, không thiếu một ngày. Nhưng bắt đầu từ giờ phút này trở đi, Thương hội Tam Giang sẽ lập tức phong tỏa toàn diện, siết chặt toàn bộ các tuyến đường vận chuyển hàng hóa dưới chân núi Đoạn Phong! Bất kỳ một thuyền buôn, một chuyến xe thồ nào mang theo dù chỉ là một bao gạo, một hạt muối, một giọt dầu đèn hay một mảnh linh thạch trận pháp lên ngọn núi này mà không có Lệnh Xuất Kho và Lộ Dẫn đóng dấu đỏ của Tam Giang, ta sẽ lập tức liệt vào danh sách buôn lậu và báo cho quan nha huyện tịch thu sạch bách ngay tại bến Bạch Sa!"

Ông ta dừng lại ở mép sân, quay đầu lại nhìn Bùi Hạ một lần cuối với nụ cười tàn nhẫn:

"Để ta chống mắt lên xem, một khi không có lấy một hạt gạo, một hạt muối nào lọt qua nổi bàn tay của Tam Giang lên tới đỉnh núi, các vị lấy cái gì để nhét vào ba mươi hai cái miệng ăn đang đói rã ruột? Các vị lấy cái gì để giữ vững sự kiêu hãnh hão huyền và ngọn đèn dẫn đường của các vị trước mặt quan phủ huyện nha!"

Dứt lời, Tống Khải phất mạnh tay áo lông chồn, sải bước dài tiến thẳng về phía cỗ xe ngựa bốn bánh lộng lẫy đang đỗ bên mé sân.

Tiếng roi da quất vun vút xé toạc màn mưa phùn, bốn con ngựa kéo hí vang một tiếng dài não nùng. Bánh xe bọc sắt nghiến rào rạo trên nền đá dăm lầy lội, lao vụt qua cổng tam quan rêu phong đổ nát rồi khuất dần sau khúc quanh dốc đứng, hiểm trở của sườn nam.

Ở góc sân phía sau gốc cây đa cổ thụ rủ đầy rễ phụ, một bóng người mảnh mai khẽ nép mình sát vào vách đá ướt sũng.

Tống Mai đứng chôn chân ở đó từ nãy đến giờ, chiếc áo tơi bằng lá cọ sũng nước mưa dán chặt vào đôi vai gầy guộc của nàng. Đôi mắt thông minh, lanh lợi của cô gái buôn bán nhìn trừng trừng theo bóng cỗ xe ngựa của người chú ruột vừa khuất dạng sau màn sương mù, rồi lại lén lút đưa mắt nhìn về phía Phạm Sương đang đứng thất thần giữa sân với vẻ mặt đầy bất an, bối rối và cắn rứt lương tâm. Đôi môi nàng mấp máy toan bước ra nói điều gì đó để phân trần, nhưng rồi nàng lại cắn chặt môi, lặng lẽ lùi sâu hơn vào bóng tối ẩm ướt của hốc đá, không dám đối diện với những ánh mắt ngập tràn căm phẫn và u uất của những người dân đạo quán.

Cỗ xe của Tống Khải vừa khuất sau màn mưa phùn, những ánh mắt nghi ngại và lời xầm xì từ phía các nạn dân lớn tuổi lập tức đổ dồn về phía gian bếp nơi Phạm Sương đang bưng mặt khóc nấc.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn