Tiểu Thôn Nương Làm GiàuC.2 / 45
Chương 2

Kiểm kê gia sản, tìm lối thoát nơi góc vườn

Khói bếp chiều hôm bay lơ lửng trên mái rạ mục nát, tản ra từng cụm xám xịt rồi chầm chậm sà xuống khoảng sân hẹp, mang theo mùi ngô lép khô khét lẹt nồng nặc đến nghẹt thở. Đó là thứ mùi bốc lên từ những cùi bắp rỗng ruột bị tọng vội vào lò nung trấu, đượm chút ngai ngái của rơm rạ mục ải sau mấy trận mưa dầm cuối thu.

Gió bấc từ sườn núi Thanh Lĩnh dội xuống từng đợt lạnh buốt, thốc qua bờ giậu thưa, cuốn theo mấy nhánh cỏ may khô rách rưới lăn lông lốc qua góc sân đất nứt nẻ chằng chịt. Tiểu Mãn vừa buông gáo nước lạnh buốt, cúi người định với lấy cây chổi đót dựng ở chân cột hiên để gom mấy mẩu tre vụn vương vãi, thì một chiếc bóng người gầy guộc ngoài ngõ đã sầm sập bước qua chiếc then cổng tre khép hờ hững.

“Chú hai! Chú hai có nhà đấy không?”

Giọng nói the thé, đanh sắc và ngập ngụa mùi thăm dò của Diệp Đại Phúc vang lên trước cả khi vạt áo xám của ông ta kịp quét qua bậu cửa.

Người bác cả này trùm kín đầu bằng một manh khăn vải thô, khoác chiếc áo bông viền vải thô màu xám tro còn khá mới phẳng phiu, hai bàn tay thọc sâu vào trong ống tay áo rộng thùng thình, vai rụt lại vì rét nhưng đôi mắt ti hí kèm nhèm lại đảo lia lịa khắp khoảnh sân nhỏ. Từng góc sân, từ chiếc chõng tre ọp ẹp nơi Diệp Thành đang ngồi bó gối chịu rét, cho đến chồng niêu đất sứt mẻ lăn lóc ngoài chái bếp, không lọt qua nổi cái nhìn xoi mói như móc ruột người khác của ông ta.

Vừa bước tới gần bậc thềm, Diệp Đại Phúc liền khịt khịt mũi mấy cái, ngoái đầu liếc nhìn về phía ngõ sau nơi chiếc kiệu tay của quản sự Lương gia vừa khuất sau rặng tre đằng ngà, ngoài miệng làm ra vẻ xót xa, nhưng nơi đuôi mắt nhăn nheo lại giấu không nổi tia dò xét thấu tận xương tủy:

“Vừa rồi ta đứng bên bờ đầm rặng tre, nom thấy chiếc kiệu tay và mấy gã đòn khiêng lực điền của trang viện họ Lương rầm rộ kéo đi. Có phải tên quản sự Lương Quảng Tài lại dẫn người đến siết bạc đúng không? Ta đã bảo chú hai bao nhiêu lần rồi, người nghèo hèn rách rưới thì chớ có dại dột mà bấu víu vào chốn phú quý nhà quan làm gì. Chú liều mạng vay mười lăm lượng bạc trắng của người ta, giờ chân cẳng gãy dập, nằm bẹp một xó thế kia, lấy cái gì mà đền? Ban nãy ta đứng xa nghe loáng thoáng bên tai có chuyện gán đất gò Cồn Gió, sao chú không dứt khoát ấn tay điểm chỉ phức đi cho rảnh nợ rảnh thân?”

Diệp Thành ngồi co ro trên góc chõng tre, manh chiếu rách đắp ngang đôi chân teo tóp run lẩy bẩy. Bàn tay khô đét nổi gân xanh như rễ cây siết chặt lấy mép chăn bông rách tơi tả, để lộ từng mảng bông bẩn thỉu vón cục. Gương mặt người đàn ông vốn dạn dày sương gió bỗng chốc đỏ gay vì nỗi uất nghẹn dồn ứ nơi lồng ngực:

“Bác cả... hai mẫu ruộng gò Cồn Gió ấy là đất hương hỏa cha mẹ chia cho nhánh nhà em từ ngày chia gia tài, sao có thể rẻ rúng bán tống bán tháo với cái giá tám lượng mạt rạng thế được...”

“Ô hay cái chú này!” Diệp Đại Phúc dậm phịch chiếc giày vải cũ xuống nền đất nứt, giọng the thé vọt cao thêm một tông, the thé như dùi đâm vào màng nhĩ: “Đất với cát thì mài ra mà húp thay cháo được chắc? Tám lượng bạc trắng người ta đưa thẳng một lần đã là may phúc tổ ba đời nhà chú rồi đấy! Chú cố giữ lại hai mẫu đất sỏi đá cằn cỗi ấy thì làm ra hạt thóc hạt kê nào nuôi nổi năm miệng ăn nheo nhóc trong cái mùa đông rét mướt cắt da cắt thịt này? Ta là anh ruột cùng một bọc đẻ ra mới nói lời gan ruột xé lòng, chú không bán phắt cho Lương gia, rồi dăm bữa nửa tháng nữa người ta đệ đơn lên nha môn, đưa sai nha về trói gô cổ lôi đi, lúc ấy thì đừng trách họ tộc họ Diệp này không ai dang tay cứu vớt!”

Diệp Thành nghẹn đắng, lồng ngực gầy giơ xương phập phồng kịch liệt, đôi môi thâm tím run rẩy không thốt nên lời. Nỗi tuyệt vọng và sự bất lực của một người đàn ông trụ cột bỗng chốc hóa thành kẻ tàn phế như bóp nghẹt lấy hơi thở của ông.

Tiểu Mãn bước lên một bước. Thân hình cô thiếu nữ mười bảy tuổi mảnh mai, khoác tấm áo vá chằng chịt ba bốn lớp vải xanh chàm cũ kỹ, nhưng bước chân hạ xuống đất lại vững chãi lạ thường. Cô đứng chắn ngay trước chõng tre của cha, khẽ ngẩng đầu lên. Ánh mắt Tiểu Mãn phẳng lặng như mặt nước giếng sâu mùa đông, nhìn thẳng vào gương mặt nhọn hoắt gầy gò của người bác cả:

“Bác cả chớ bận lòng hao tâm tổn trí. Chuyện nợ nần của nhà cháu, cháu và cha mẹ tự có tính toán đường đi nước bước. Lúc nãy quản sự Lương gia đã nói năng rõ ràng, đồng ý đúng ngày rằm tháng mười mới quay lại nhận hai lượng bạc tiền lãi đợt đầu. Từ giờ cho tới rằm còn những mười lăm ngày nữa, nhà cháu chưa đến mức tuyệt đường sống mà phải đem đất đai mồ hôi nước mắt của ông bà tổ tiên đi gán non gán mạt cho kẻ khác với giá rẻ mạt.”

Diệp Đại Phúc khựng lại, hai con mắt ti hí trợn trừng lên, quét từ đầu đến chân cô cháu gái. Ông ta hừ mạnh một tiếng qua kẽ mũi, khóe môi trễ xuống thành một nụ cười mỉa mai đầy khinh bỉ:

“Mười lăm ngày? Con ranh ranh mở mồm ra là nói nghe dễ như bỡn! Hai lượng bạc trắng chứ có phải hai trăm đồng tiền kẽm rỉ sét đâu mà mày dám vỗ ngực xưng tên? Đến ngày rằm tháng mười, không có bạc nộp ra, người ta siết luôn cả ba gian nhà rách này, tháo luôn cả mấy cái rui mè mang đi thì cả lũ chúng mày chỉ có dắt díu nhau ra gầm cầu mà ăn mày!”

“Nếu nhà cháu có phải đi ăn mày thì cũng là chuyện nội bộ của gia đình cháu, tuyệt đối không dám ngửa tay xin phiền đến một hạt thóc, nửa cọng rơm của nhà bác cả.” Tiểu Mãn đáp lời, giọng điệu trước sau vẫn giữ lễ phép của kẻ bề dưới, nhưng từng chữ thốt ra lại sắc bén và dứt khoát như đinh đóng chặt vào cột gỗ: “Trời sập tối rồi, gió núi Thanh Lĩnh buốt lắm, bác cả mau về kẻo bác gái ở nhà lại đứng ngồi không yên trông ngóng.”

Diệp Đại Phúc nghẹn họng trừng mắt nhìn Tiểu Mãn, lồng ngực nghẽn lại vì tức tối. Ông ta không ngờ đứa cháu gái ngày thường chỉ lẳng lặng cúi đầu làm lụng nay lại có thể ăn nói đanh thép, chặn họng mình đến mức này. Đưa mắt lườm Diệp Thành một cái sắc lẹm, ông ta bực bội buông một câu rủa xả:

“Đúng là một lũ cứng đầu cứng cổ! Chết đến cổ rồi còn làm phách làm lối! Để rồi ta mở to mắt xem đến ngày rằm chúng mày lấy cái gì mà đập vào mặt quản sự nhà họ Lương!”

Dứt lời, Diệp Đại Phúc hậm hực phất mạnh vạt áo bông, quẩy gót đi thẳng ra cổng ngõ. Tiếng bước chân đạp lên lớp lá tre khô xào xạc giận dữ, vọng lại từng chặp rồi chìm hẳn vào bóng chiều nhập nhoạng đang buông xuống con ngõ dài.

Nhìn bóng lưng gầy còm, còng còng của người bác cả khuất hẳn sau rặng dâm bụt trơ cành, Tiểu Mãn khẽ thở dài một hơi thật nhẹ, xua tan làn hơi lạnh vừa đọng lại nơi đầu môi. Cô bước ra ngõ, với tay nhấc chiếc then tre cài chặt cánh cổng ọp ẹp lại.

Không thể để những lời đâm chọc hiểm độc làm lung lạc tinh thần. Muốn qua được cái ải rằm tháng mười này, việc sống còn đầu tiên là phải biết trong tay mình thực sự còn những gì.

“Mẹ, Nhị Hòa, Tam Nha.” Tiểu Mãn quay người lại, cất tiếng gọi trầm tĩnh, kéo cả nhà thoát khỏi nỗi bàng hoàng trĩu nặng: “Chúng ta vào bếp kiểm tra lại toàn bộ lương thực và đồ đạc trong nhà. Phải biết rõ ta còn ăn được bao nhiêu ngày, nông cụ còn dùng được mấy thứ thì mới tính tiếp được đường sống.”

Lâm Tú Nương khẽ gật đầu, vội vàng đưa chéo áo vá lên chấm những giọt nước mắt chực trào nơi khóe mi. Bà cúi xuống nắm lấy bàn tay nhỏ bé của cậu út Tiểu Đậu, lẳng lặng dắt con bước vào gian bếp đất ẩm thấp phía sau nhà chính.

Gian bếp chật chội tối tăm quánh lại mùi ẩm mốc, chỉ le lói chút ánh sáng đỏ quạch hắt ra từ đống tro tàn nơi đáy lò nung. Mùi đất ẩm lâu năm quyện với mùi bồ hóng bám dày đặc trên những thanh xà tre tạo nên một bầu không khí ngột ngạt, bức bối đến thắt lòng.

Tiểu Mãn bước tới bên góc tường đất nham nhở, nơi đặt hai chiếc vò sành lớn màu nâu sẫm – vốn là kho lương thực nuôi sống sáu miệng ăn của gia đình suốt mấy tháng ròng rã qua.

Cô đưa tay nhấc chiếc nắp vò bằng gỗ mộc đã nứt toác một đường dài từ mép vào giữa.

Bên trong chiếc hũ gạo lớn nhất, đáy sành trơ trọi hiện ra xám xịt dưới mắt Tiểu Mãn. Không gian trống hoác đến rợn ngợp. Cô cầm chiếc gáo dừa khô cào nhẹ một vòng tròn quanh mép sành, gom hết tất cả những hạt gạo tấm còn sót lại ở các ngóc ngách kẽ nứt. Gạo trắng lẫn với cám mạt và bụi bặm vụn vỡ gom lại vỏn vẹn chưa đầy hai bát con, chỉ đủ tráng một lớp mỏng dính nơi đáy chiếc gáo dừa nứt.

“Gạo chỉ còn chừng này thôi...” Lâm Tú Nương nghẹn ngào, giọng run rẩy như sắp vỡ ra: “Mấy ngày cha con bị sốt li bì sau tai nạn gãy chân ở mỏ đá, mẹ phải chắt chiu nấu từng thìa cháo hoa loãng cho ông ấy nuốt cho lại sức, số gạo vay mượn mua từ chợ phiên tháng trước đã cạn nhẵn từ hôm kia rồi...”

Tiểu Mãn mím chặt môi, bàn tay cầm gáo dừa khẽ siết lại rồi đặt nhẹ sang một bên chiếc kiềng sắt. Cô bước sang chiếc chum sành thứ hai đựng ngô hạt. Chiếc chum này cao tới thắt lưng, nhưng khi mở chiếc nắp đan bằng nứa mốc thếch ra, lượng hạt bên trong cũng đã vơi đi quá nửa.

Tiểu Mãn thò tay vốc lên một nắm ngô, đưa lại gần ngọn đèn dầu hạt lạc vừa được Tam Nha khêu sáng lên bằng que đóm.

Những hạt ngô khô khốc, quắt queo, bề mặt nhăn nheo xám xịt, đa phần là hạt lép mót nhặt từ vụ thu trước. Tệ hơn nữa, do góc bếp bị dột nước mưa dầm dạo đầu thu, một bên thành chum đã ngấm ẩm, bốc lên mùi chua nồng ngai ngái. Từng mảng hạt ngô kết dính lại với nhau, chuyển sang màu xám tro ma quái, bám đầy những sợi tơ mốc trắng xóa như mạng nhện.

“Chỗ ngô này nếu xay ra, sàng sảy kỹ lưỡng, vứt bỏ toàn bộ phần mốc hỏng đi thì còn được khoảng hai thúng.” Tiểu Mãn tính toán thật nhanh trong đầu, từng con số hiện lên lạnh lùng, tàn nhẫn và chuẩn xác: “Nhà mình sáu miệng ăn. Nếu mỗi ngày chỉ nấu hai bữa cháo ngô loãng độn thêm thật nhiều rau dại, bớt phần của người lớn nhường cho Tiểu Đậu và bồi dưỡng cho cha, thì chỗ ngô này giỏi lắm cũng chỉ cầm cự được mười đến mười hai ngày. Đến trước ngày rằm tháng mười, nhà ta sẽ chính thức đứt bữa.”

Nghe đến hai chữ “đứt bữa”, cậu bé Tiểu Đậu mới sáu tuổi nép sát vào lòng mẹ. Đôi bàn tay gầy khẳng khiu nhỏ xíu siết chặt lấy vạt áo vá của Lâm Tú Nương, đôi mắt tròn xoe ánh lên vẻ sợ hãi mơ hồ của một đứa trẻ đã từng nếm trải cảm giác cồn cào xót ruột vì đói lả.

“Chị cả... chúng ta sắp phải nhịn đói thật sao?” Diệp Nhị Hòa mười bốn tuổi đứng tựa lưng bên vách nứa, hai nắm đấm siết chặt đến trắng bệch các khớp ngón, trên vầng trán đen nhẻm nổi hằn những vệt gân xanh: “Để ngày mai đệ vác rựa lên núi Thanh Lĩnh đào củ mài, bẫy sóc, săn chuột đồng! Đệ có sức vóc, đệ không sợ lạnh buốt đâu!”

“Không được manh động!” Tiểu Mãn nghiêm giọng, quay phắt lại nhìn thẳng vào mắt em trai: “Mùa đông núi Thanh Lĩnh sương muối giăng mịt mùng, đất đá trên đỉnh núi bị đông kết cứng ngắc như sắt nguội, cây cối rụng sạch lá trơ trụi thì biết đào củ mài ở hốc nào? Chưa kể mùa này lợn rừng, chó sói đói ăn thường kéo bầy mò xuống triền núi thấp kiếm mồi. Đệ đi một mình, lỡ sẩy chân sa xuống hố đá hay gặp thú dữ thì mẹ và cha biết sống làm sao?”

Cô đưa tay vỗ nhẹ lên bờ vai áo vá phong phanh của Nhị Hòa để xoa dịu sự nóng nảy bồng bột của tuổi mới lớn, rồi khẽ nghiêng đầu ra hiệu: “Đi, chúng ta ra chái kho phía sau xem lại nông cụ.”

Chái kho thực chất chỉ là một gian chòi nhỏ dựng tạm bợ bằng mấy cọc tre khẳng khiu và vách nứa xiêu vẹo, áp sát vào vách tường đất phía tây của ngôi nhà chính. Nơi này gió bấc lùa qua các khe nứa hun hút, từng cơn rít lên nghe như tiếng còi ai oán. Mái lợp bằng rạ cũ mục nát, ngói vỡ từng mảng lớn khiến ánh trăng non đầu tháng rọi xuống những vệt sáng lạnh lẽo như vôi bạc.

Nhị Hòa cầm ngọn đèn dầu hạt lạc giơ cao lên, soi vào góc kho tối tăm.

Cảnh tượng bên trong càng khiến lòng người thêm trĩu nặng nghẹn ngào.

Chiếc cày gỗ do ông nội để lại nằm chỏng chơ dưới nền đất ẩm, bắp cày đã bị mọt đục thủng những lỗ chỗ li ti, mùn cưa rụng đầy xung quanh. Lưỡi cày bằng sắt gang thì rỉ sét đỏ quạch, một bên mép bị mẻ một mảng to bằng cả bàn tay người lớn do va phải đá ngầm từ vụ cày ải năm ngoái mà gia đình chưa gom đủ tiền đem ra lò rèn mài đắp lại.

Ba chiếc cuốc chim dựng dựa vào vách tường thì hai chiếc đã gãy rời cán tre, chỉ còn trơ lại phần lưỡi sắt cùn mòn trơ trẽn, lỗ tra cán nứt toác một đường dài. Chiếc bừa răng gỗ gãy mất năm chiếc răng cày, dây chão mủn nát đứt đoạn tơi bời. Mấy chiếc liềm cắt cỏ, xẻng xúc đất... thứ nào thứ nấy đều hoen gỉ, long ốc hoặc sứt mẻ te tua, nằm bẹp dí dưới lớp bụi bặm và mạng nhện giăng mắc.

Từ ngày Diệp Thành gặp tai nạn sập đá làm gãy nát khớp gối, cái chái kho nông cụ này coi như bị bỏ phế hoàn toàn. Không có bàn tay của người đàn ông trụ cột chăm chút, mài giũa, bôi mỡ lợn chống rỉ sét sau mỗi mùa vụ, những công cụ kiếm cơm này đã mục ruỗng, tàn tạ dần theo thời gian và cái nghèo bủa vây.

“Cuốc thì gãy cán, cày thì mẻ lưỡi, bừa thì trơ trọi mất răng...” Nhị Hòa nhìn đống đồ nghề tàn tạ, giọng chùng hẳn xuống, chan chứa nỗi bất lực cay đắng: “Như thế này thì làm sao vác ra cày xới nổi hai mẫu đất cằn cỗi toàn sỏi đá ở gò Cồn Gió? Đất trên ấy mùa này rắn như đá tảng, lưỡi cuốc cùn này bổ xuống khéo mẻ nốt phần sắt còn lại chứ xới được hạt đất nào!”

Lâm Tú Nương đứng tựa người vào khung cửa kho tre xiêu vẹo, khẽ sụt sịt đưa tay quẹt ngang dòng nước mắt: “Tiền bạc không có lấy một đồng kẽm, thóc gạo trong chum sắp cạn, nông cụ lại hư hỏng tan hoang thế này... Trời ơi, rốt cuộc là ông trời muốn dồn cái nhà này vào bước đường cùng không lối thoát hay sao...”

Giữa không khí u ám, lạnh lẽo và tuyệt vọng đang đè nặng lên từng hơi thở của mọi người, Tiểu Mãn lại lẳng lặng ngồi xổm xuống. Cô vươn tay, nhặt chiếc lưỡi cuốc gãy cán lên, đưa lại gần ngọn đèn dầu quan sát thật tỉ mỉ.

Đầu ngón tay thon thả nhưng thô ráp vì lao động của cô lướt chầm chậm qua mép sắt hoen rỉ, cẩn thận miết lấy độ dày của phần cốt thép còn sót lại bên trong, rồi đưa mắt nhìn sang đống thanh gỗ sồi cũ vứt lăn lóc ở góc kho bên cạnh mấy đoạn dây thừng bện bằng vỏ cây gai.

Một dòng ký ức ấm áp, xa xăm bất chợt ùa về trong tâm trí cô, xua đi cái buốt giá đang len lỏi qua từng thớ thịt.

Đó là những buổi trưa hè oi nồng của nhiều năm về trước, khi bà ngoại Lâm Thu Bà còn sống. Bà ngoại là người đàn bà tần tảo, chịu thương chịu khó nhất mà Tiểu Mãn từng biết trên cõi đời này. Cả cuộc đời bà gắn liền với từng tấc đất bờ xôi ruộng mật, luống rau cải, vò tương nén cà. Bà không biết mặt chữ thánh hiền, không đọc nổi một trang kinh thư, nhưng từng mạch đất ẩm, ngọn cỏ dại, từng giọt sương muối mùa đông bà đều hiểu rõ tường tận như đường chỉ tay của chính mình.

Tiểu Mãn nhớ như in giọng nói trầm ấm, khàn khàn nhưng chứa chan tình cảm của bà bên bếp lửa rực hồng những đêm đông giá rét:

*“Mãn Nhi à, con phải nhớ lấy lời bà dặn: người làm ruộng vụng về thì mở mồm ra là chê đất cằn, chê nông cụ hỏng; còn người làm ruộng khéo léo, có lòng với đất thì nhìn đâu cũng thấy phân bón, nhìn đâu cũng thấy sinh cơ nảy mầm. Đất ruộng chai cứng sau mùa khô hạn tuyệt đối không thể cậy sức trâu mà bừa ẩu cày bừa bãi được, làm thế chỉ tổ nát vụn đất mặt, nghẽn đường rễ cây thở. Muốn phục hồi mảnh đất cằn cỗi, người nông dân phải biết cách lấy nhu thắng cương.*

*Tro bếp tích lại từ rơm rạ mục có vị mặn chát của đất trời, chính là thứ xua tan khí lạnh buốt giá, khử chua và làm tơi xốp tầng đất mặt nhanh nhất. Còn phân chuồng, chớ dại dột mà đem bón tươi ngay xuống luống, bón tươi là rước sâu bọ thối rễ; phải ủ thật kỹ với lá khô mục nát, trấu mục, rồi đắp bùn non trát kín lại cho nó lên men, bốc khói nghi ngút. Khi nhiệt lượng bên trong diệt hết mầm bệnh mầm sâu, đống phân chuồng ấy sẽ biến thành thứ mùn đen nhánh, bóp trong tay mịn màng như mỡ gà. Khi ấy, rễ cây non cắm xuống mới bén nhanh như thổi.*

*Mùa đông lạnh giá, nước đọng không thoát được sẽ làm thối rễ non, nên luống rau mùa rét phải đắp thật cao, xẻ rãnh thật sâu hai bên mép để nước đọng và sương muối tự trôi đi, chỉ giữ lại hơi ẩm ấm áp ở trong lòng luống đất...”*

Từng lời dặn dò tỉ mỉ, mộc mạc của bà ngoại như một dòng suối trong lành mát rượi tưới thẳng vào tâm trí đang căng thẳng như dây đàn của Tiểu Mãn, thắp sáng lên từng ngóc ngách tối tăm.

Phải rồi! Đất gò Cồn Gió xa xôi tít tắp, sỏi đá ngổn ngang, trong tình cảnh ngặt nghèo sức tàn lực kiệt này tuyệt đối không thể đâm đầu vào đó gieo trồng đại trà. Nhà họ Diệp bây giờ không có trâu cày kéo, không có tiền mua phân bón dư thừa, không có người khỏe mạnh gánh nước đường trường, gieo hạt xuống gò Cồn Gió lúc này chẳng khác nào đem muối bỏ biển, tự tìm đường chết!

“Chúng ta không trồng ở gò Cồn Gió!” Tiểu Mãn đứng phắt dậy, thanh âm trong trẻo, dõng dạc vang lên giữa chái kho tối tăm, xé toang bầu không khí ủ rũ rệu rã.

“Không trồng ở Cồn Gió?” Lâm Tú Nương giật mình ngơ ngác nhìn con gái lớn: “Nhưng... nhưng nhà mình ngoài hai mẫu ruộng gò ấy ra thì làm gì còn đất canh tác nào nữa hả con?”

“Mẹ, mọi người lại đây, chúng ta vào nhà rồi con nói rõ ngọn ngành.”

Tiểu Mãn quả quyết xoay người bước nhanh vào gian nhà chính.

Chiếc bàn gỗ bốn chân khấp khểnh kê giữa gian nhà được Tam Nha nhanh tay lấy giẻ lau sạch sẽ. Diệp Thành ngồi ở đầu phản nứa, ánh mắt đầy lo âu và bồn chồn nhìn đứa con gái lớn. Nhị Hòa, Tam Nha và cậu út Tiểu Đậu ngồi quây quần xung quanh ngọn đèn dầu liu riu, nín thở chờ đợi từng lời của cô.

Tiểu Mãn lật úp một tấm nong rách đan bằng nứa cũ lên mặt bàn, với tay nhặt lấy một mẩu than củi đen từ góc lò, bắt đầu vạch vài đường nét rõ ràng, dứt khoát:

“Cha, mẹ, đệ muội nghe con nói cho kỹ. Ruộng gò Cồn Gió nằm chơ vơ trên triền dốc cao, đón trọn từng cơn gió bấc hung hãn từ núi Thanh Lĩnh dội về. Mùa này nguồn nước từ các mương thôn đều đã cạn kiệt trơ đáy bùn nứt nẻ. Mỗi lần gánh một gánh nước từ khe suối dưới chân núi lên đến đỉnh gò mất đứt nửa canh giờ đi bộ. Hai mẫu đất rộng mênh mông ấy, sức người gánh được bao nhiêu thùng nước cho xuể?

Chưa kể đất trên ấy toàn sỏi đá pha cát, khả năng giữ nước cực kỳ kém. Gió lạnh thổi qua một đêm là đất khô cong nứt toác, cây giống vừa nhú mầm non gặp sương muối buốt giá sẽ bị táp chết cóng ngay lập tức. Hiện tại nhà ta không có bạc mua hạt giống đại trà, nông cụ thì sứt mẻ gãy cán không thể cày xới nổi diện tích lớn. Nếu chúng ta cố chấp dồn hết số ngô giống và chút công sức tàn tạ còn lại lên gò Cồn Gió, mười phần thì nắm chắc mười phần trắng tay thất bại!”

Diệp Thành nghe con gái phân tích cặn kẽ, bờ vai gầy khẽ run lên. Ông thở dài một hơi sườn sượt, gật đầu công nhận: “Mãn Nhi nói trúng phóc... Vụ đông năm ngoái, nhà bác cả Đại Phúc gieo thử một mẫu kê trên triền đồi cao, gặp đúng đợt rét đậm sương muối phủ trắng xóa bờ ruộng, coi như mất trắng toàn bộ, hạt giống không thu lại nổi nửa bát...”

“Vậy thì... rốt cuộc chúng ta làm thế nào hả chị cả?” Nhị Hòa sốt ruột hỏi dồn, hai con mắt dán chặt vào những vệt than củi đen nhánh trên mặt nong.

Tiểu Mãn đưa ngón tay trỏ, chấm thật mạnh một điểm than đen ngay sát bên cạnh vệt vẽ biểu tượng ngôi nhà:

“Lối thoát duy nhất của nhà chúng ta lúc này chính là khoảnh vườn nhỏ ngay sau chái nhà!”

Lời vừa thốt ra, cả gian nhà lặng phắc. Diệp Thành, Lâm Tú Nương và Nhị Hòa cùng giật mình, ngơ ngác đưa mắt nhìn nhau.

Khoảnh vườn sau nhà họ Diệp thực chất chỉ rộng chừng nửa sào đất, bao bọc chung quanh bởi một hàng rào tre gai xơ xác, thủng lỗ chỗ. Từ trước tới nay, gia đình chỉ tiện tay trồng vài bụi gừng sẻ, mấy khóm hành hoa hoặc thả rông dăm ba con gà còi cọc mót giun mót dế. Đất đai ở đó bị giẫm đạp lâu ngày, chai cứng quắt queo, cỏ dại, cỏ gấu mọc cao lút tận đầu gối.

“Khoảnh vườn ấy... bé nhỏ quá con ơi.” Lâm Tú Nương ngập ngừng lên tiếng, nét mặt đầy vẻ hoang mang: “Nửa sào đất còi cọc ấy thì trồng trọt được bao nhiêu rau củ? Liệu có đủ sức kiếm ra hai lượng bạc trắng để trả lãi cho Lương gia không con?”

“Đất tuy nhỏ nhưng có ba cái lợi cực kỳ lớn mà hai mẫu ruộng Cồn Gió vĩnh viễn không thể nào sánh bằng!” Tiểu Mãn rành rọt phân tích, đôi mắt đen láy lấp lánh sự tự tin và sắc sảo khác thường:

“Thứ nhất, khoảnh vườn này nằm nép sát ngay sau vách buồng phía tây, được bức tường đất dày và rặng tre đằng ngà rậm rạp che chắn toàn bộ hướng gió bấc hung hãn từ sườn núi Thanh Lĩnh thổi xuống. Nhiệt độ ở khoảnh vườn này ấm hơn trên đỉnh gò Cồn Gió ít nhất là nửa phần! Mầm cây non mọc lên ở đây sẽ không lo bị gió quật gãy dập hay sương muối táp đóng băng rễ.

Thứ hai, chiếc giếng nước sinh hoạt của nhà mình nằm ngay bên mép vườn! Nước giếng tuy là mạch nông nhưng mùa đông này vẫn còn đủ dùng cho việc tưới tắm. Chúng ta chỉ cần múc nước tại chỗ xách vào tưới ngay cho từng luống, không tốn một chút công sức gánh gồng đường xa leo dốc, tiết kiệm được biết bao nhiêu thời gian và thể lực để tập trung chăm chút tỉ mỉ cho từng gốc cây.

Thứ ba, chính vì diện tích chỉ có nửa sào nên sức lao động hiện tại của cả nhà ta hoàn toàn kham nổi! Chúng ta có thể dồn toàn bộ tro bếp tích lũy, bùn phù sa mương máng và phân chuồng mục để biến mảnh đất nửa sào chai cằn này thành một khoảnh đất màu mỡ béo ngậy. Đất tốt đủ chất, rau sẽ lớn nhanh như thổi, vòng quay thu hoạch sẽ rút ngắn lại rất nhiều so với bình thường!”

Diệp Thành ngồi trên phản nứa, chăm chú lắng nghe con gái lớn phân tích từng tầng từng lớp, mạch lạc và thấu suốt. Nét mặt đờ đẫn, tuyệt vọng của người đàn ông tàn tật dần dần giãn ra, thay vào đó là sự kinh ngạc tột cùng xen lẫn niềm thán phục sâu sắc.

Ông đã gắn cả đời mình với đồng ruộng hơn ba mươi năm, cày thuê cuốc mướn khắp vùng Thanh Khê, nhưng chưa bao giờ ông nghĩ rằng việc chọn đất gieo trồng lại có thể tính toán một cách chuẩn xác, thấu đáo đến từng mạch gió, nguồn nước và độ ấm như thế này.

“Thế... con định gieo giống thứ gì trên nửa sào vườn ấy?” Diệp Thành run giọng hỏi, ngọn lửa hy vọng vừa nhen nhóm lại bùng cháy mãnh liệt trong đáy mắt: “Mùa đông rét buốt cắt da thế này, trồng lúa hay ngô đều không kịp vụ, hạt giống xuống đất chỉ tổ thối mầm.”

“Chúng ta gieo rau vụ đông ngắn ngày!” Tiểu Mãn quả quyết, giọng nói chắc nịch: “Cụ thể là hai loại giống chính: cải bẹ và củ cải trắng. Hạt cải bẹ là thứ nảy mầm cực nhanh, chỉ sau ba ngày gặp ẩm và đất ấm là nhú hai lá mầm xanh biếc. Đến ngày thứ mười lăm – đúng vào ngày rằm tháng mười khi tên quản sự Lương Quảng Tài dẫn người quay lại đòi bạc – chúng ta đã có thể tỉa lứa ngọn non đầu tiên mang ra chợ phiên bán lấy tiền tươi!

Loại cải bẹ non đầu mùa rét ăn rất giòn ngọt, vị hơi cay nồng dễ chịu, các nhà giàu có trên trấn Liễu Kiều hay các quán ăn ven bến sông cực kỳ chuộng mua về nấu canh cá rô đồng hoặc xào mỡ lợn bốc khói nghi ngút. Còn phần lá già hơn sau này tỉa lại, con sẽ đem muối nén thành dưa chua theo đúng bí quyết của bà ngoại ngày xưa. Rau tươi có thể rẻ, nhưng dưa chua giòn vàng ươm bán vào giữa mùa đông rét mướt thì giá trị sẽ tăng gấp đôi, thậm chí gấp ba lần rau tươi!”

Nói đến đây, cô bé Tam Nha mười tuổi đang ngồi bên mép bàn bỗng tròn xoe đôi mắt to tròn, vỗ hai bàn tay nhỏ reo lên giòn giã:

“A! Con nhớ rồi! Bí quyết làm dưa của bà ngoại! Mẹ ơi, con nhớ ở đáy chiếc rương gỗ long bản lề của mẹ có cất một cuốn sổ giấy đã ố vàng mà ngày trước bà ngoại trao cho mẹ đúng không? Lần trước dọn nhà tránh dột, con thấy mẹ bọc trong mấy lớp vải điều giấu kỹ lắm dưới đáy hòm!”

Lâm Tú Nương khẽ giật mình thót một cái, sắc mặt bà hơi biến đổi, thoáng hiện lên nét bối rối và hoảng hốt khó tả. Bà vội vàng liếc mắt nhìn Diệp Thành, rồi lại nhìn ánh mắt háo hức, sáng rực của mấy đứa con nhỏ. Bàn tay gầy guộc đầy vết chai sần của bà đặt trên đầu gối hơi siết chặt lại, mép vải áo bị vò nhàu. Bà ngập ngừng trong thoáng chốc rồi khẽ nói lảng sang chuyện khác:

“Chuyện... chuyện cuốn sổ cũ nát ấy để thong thả sau này hẵng hay... Mấy trang giấy mủn ố vàng nhòe nhoẹt hết cả mực rồi, chữ nghĩa thì loằng ngoằng rắc rối... Việc sống còn trước mắt của cả nhà là phải lo cải tạo cho xong mảnh vườn sau nhà đã, chớ có phân tâm.”

Tiểu Mãn tinh ý nhận ra ngay sự chần chừ, ngập ngừng và ánh mắt né tránh bất thường của mẹ, nhưng cô không gặng hỏi thêm vào lúc này. Gia đình đang đứng chênh vênh bên bờ vực sinh tử, từng khắc từng giờ trôi qua đều quý như mạng sống, điều quan trọng nhất lúc này là phải hành động ngay lập tức, không được phép lãng phí dù chỉ một tấc thời gian.

“Mẹ nói rất đúng đấy ạ.” Tiểu Mãn tiếp lời, kéo sự chú ý của mọi người trở lại với thực tại: “Bây giờ con xin phân chia công việc cụ thể cho từng người trong nhà. Từ giờ phút này, nhà ta không một ai được phép nhàn rỗi ngồi buồn, nhưng cũng tuyệt đối không một ai được phép làm việc quá sức dẫn đến kiệt quệ thân thể.”

Cô quay sang nhìn người cha đang ngồi trên phản:

“Cha, chân cha bị thương nặng, khớp gối chưa liền da liền thịt nên tuyệt đối không được bước chân xuống bùn đất hay mang vác vật nặng. Nhưng đôi bàn tay khéo léo của cha thì khắp cái thôn Thanh Khê này ai ai cũng phải nể phục. Con giao toàn bộ việc sửa chữa nông cụ lại cho cha.

Cha ngồi ngay trên hiên nhà râm mát, đẽo lại cán tre mới cho hai chiếc lưỡi cuốc gãy, tra chốt sắt cho thật chắc chắn, rồi dùng giũa mài lại cho thật sắc bén lưỡi cày và các răng bừa gỗ sồi. Không có bàn tay tra cán mài sắt khéo léo của cha, mấy chị em con dù có đem hết sức bình sinh ra cũng không tài nào xới tung nổi nửa sào đất vườn chai cứng đâu ạ.”

Nghe đứa con gái lớn giao việc cho mình với tất cả sự trân trọng và tin cậy, đôi mắt trũng sâu của Diệp Thành bỗng chốc đỏ hoe, ngấn nước. Suốt hơn ba tháng ròng rã nằm bẹp một chỗ, cảm giác mình là một kẻ phế nhân ăn bám, chỉ biết nằm trơ mắt nhìn vợ con nhịn đói chịu nhục khiến cõi lòng người đàn ông từng là trụ cột gia đình đau đớn như bị dao cứa từng khúc ruột.

Giờ đây, nghe Tiểu Mãn khẳng định đôi bàn tay mình vẫn còn giá trị to lớn, lồng ngực gầy guộc của ông phập phồng xúc động khôn nguôi, giọng nói run rẩy nghẹn ngào:

“Được! Tốt lắm con gái! Cứ giao hết đống cuốc xẻng gãy cán ấy cho cha! Đêm nay cha sẽ thức mài cho sắc lẻm, tra cán gỗ sồi vừa khít then sắt, dù có bổ xuống đá hộc cũng không lo bị lung lay hay mẻ cán!”

Tiểu Mãn mỉm cười ấm áp, ánh mắt chan chứa niềm tin, rồi cô quay sang nhìn mẹ và em gái:

“Mẹ và Tam Nha phụ trách toàn bộ khâu chọn lọc và xử lý hạt giống. Mẹ trèo lên gác bếp hạ chiếc hũ gốm đựng hạt giống xuống, cùng Tam Nha đổ ra chiếc nia tre lớn sàng sảy thật kỹ lưỡng. Hạt cải bẹ và củ cải trắng rất nhỏ li ti, hai mẹ con phải hết sức kiên nhẫn nhặt bỏ toàn bộ những hạt lép, hạt vỡ mọt đục, chỉ giữ lại những hạt tròn mẩy, căng bóng đen nhánh.

Sau đó, đem ngâm toàn bộ hạt giống vào nước ấm pha theo tỷ lệ hai phần nước sôi ba phần nước lạnh mà ngày xưa bà ngoại từng chỉ dạy. Ngâm đúng hai canh giờ cho vỏ hạt mềm ra, rồi vớt ra bọc vào tấm vải thô ẩm để ủ cho nứt nanh. Tam Nha có đôi mắt tinh tường, lại cẩn thận chu đáo, muội phải để mắt trông chừng độ ẩm của bọc vải ủ, tuyệt đối không được để khô ráo quá mà cũng không được để sũng nước làm thối mầm non.”

“Dạ! Chị cả cứ yên tâm giao trọn cho muội!” Tam Nha ưỡn ngực nhỏ nhắn, ánh mắt sáng ngời, giọng đáp lời giòn tan đầy phấn khởi.

“Còn Nhị Hòa.” Tiểu Mãn chuyển ánh mắt sang cậu em trai mười bốn tuổi, ánh nhìn đầy vẻ tin cậy và khích lệ: “Đệ là lao động trụ cột cùng với chị. Việc của đệ là phần việc nặng nhọc nhất: đệ lấy đôi sọt tre dày và chiếc đòn gánh dẻo dai, ra mép mương cạn sau xóm nạo lớp đất bùn phù sa màu mỡ lắng đọng gánh về góc vườn.

Sau đó, đệ xúc toàn bộ tro bếp tích lũy trong chum vại từ đầu mùa tới giờ, trộn thật đều với bùn phù sa và đống phân chuồng cũ ủ kín sau chuồng lợn bỏ hoang. Đệ dùng xẻng đánh thật nhuyễn, xới cho thật tơi xốp ra để làm phân bón lót sẵn cho các luống đất.”

Nhị Hòa nghe xong liền đứng phắt dậy, mặt mày rạng rỡ hẳn lên, vẻ bất lực ban nãy tan biến sạch sành sanh: “Chuyện gánh gồng thì đệ làm quen tay từ nhỏ rồi! Sáng sớm ngày mai đệ sẽ gánh đủ hai mươi gánh bùn tro rải khắp mặt luống cho chị!”

“Không được nôn nóng làm bừa, phải gánh vừa sức mình thôi kẻo sái khớp còng lưng.” Tiểu Mãn ân cần dặn dò, rồi cúi người nhìn xuống cậu út Tiểu Đậu đang ngước đôi mắt đen láy, tròn xoe đầy vẻ trông ngóng:

“Còn Tiểu Đậu ngoan ngoãn của chị cả, phần việc của đệ cũng quan trọng vô cùng đấy nhé. Khi chị dùng cuốc xới tung từng mảng đất lên, đệ cầm chiếc rổ xảo nhỏ đi lùi lũi phía sau, nhặt cho bằng sạch từng cọng rễ cỏ tranh, búi rễ cỏ gấu trắng hếu và gom những hòn đá cuội to ném gọn ra góc rào. Nếu rễ cỏ dại không được nhặt sạch bong, nó sẽ hút trộm hết chất màu mỡ của mầm cải non đấy, đệ có làm nổi không?”

Tiểu Đậu nghe mình cũng có phần việc quan trọng thì mừng rỡ khôn xiết, cái đầu nhỏ gật lia lịa như gà mổ thóc: “Được ạ! Chị cả cứ tin đệ! Đệ có đôi mắt sáng như sao trên trời, con sâu con kiến nhỏ xíu bò trong kẽ đất đệ còn nhìn thấy, huống chi là rễ cỏ tranh! Đệ sẽ nhặt sạch bong kin kít, không chừa lại nửa cọng cho chị cả xem!”

Gian nhà tranh dột nát bỗng chốc rộn vang tiếng cười nói giòn giã hiếm hoi sau chuỗi ngày dài đằng đẵng bị bóng ma nợ nần và tai họa bao trùm. Bầu không khí ngột ngạt, tang tóc trước món nợ khổng lồ dường như đã bị kế hoạch rõ ràng, chuẩn xác và ngọn lửa đồng lòng của cả gia đình thổi bay đi quá nửa.

Ngay đêm hôm ấy, dưới ánh trăng non đầu tháng bàng bạc lạnh lẽo và ánh lửa lay lắt của ngọn đèn dầu hạt lạc, nhà họ Diệp chính thức bước vào cuộc chiến giành giật lấy sự sống từ mảnh đất cằn.

Tiếng “cộc... cộc... cạch...” trầm đục vang lên đều đặn ngoài hiên nhà rách nát. Diệp Thành ngồi tựa lưng vào cột gỗ hiên, chân gãy duỗi thẳng trên manh chiếu, chân lành co lại làm điểm tựa vững chãi. Đôi bàn tay gân guốc, thô ráp của ông thoăn thoắt cầm chiếc dùi sắt nung đỏ trong lò than củi, dùi từng lỗ tra cán trên thân gỗ sồi. Từng thanh gỗ sồi già chắc nịch được ông dùng chiếc dao bài cong gọt đẽo tỉ mỉ, mài phẳng trơn tru, nêm chốt sắt vừa khít khao không một kẽ hở với họng sắt hoen rỉ.

Tiếng giũa sắt “xoẹt... xoẹt...” rít lên từng hồi đanh gọn trong đêm thanh vắng. Từng mảng gỉ sét đỏ quạch bong tróc rơi lả tả xuống nền đất, để lộ ra mép thép trắng sáng loáng, sắc lẹm dưới ánh trăng. Từng giọt mồ hôi mặn chát lăn dài trên gò má gầy guộc hốc hác của người cha, nhưng trong đôi mắt trũng sâu ấy, ngọn lửa sinh khí đã bùng cháy trở lại, ấm áp và kiên định vô cùng.

Bên trong gian nhà chính, hai mẹ con Lâm Tú Nương và Tam Nha cặm cụi ngồi bên chiếc nia tre lớn. Ngọn đèn dầu hạt lạc được Tam Nha cẩn thận che chắn bằng một mảnh ngói vỡ để tránh gió lùa làm tắt lửa. Những hạt giống cải bẹ bé li ti như những hạt vừng đen nhánh được những ngón tay gầy guộc khéo léo gạt qua gạt lại nhịp nhàng.

Tam Nha nheo mắt nhìn thật kỹ dưới ánh đèn vàng vọt, cẩn thận nhặt từng hạt lép kẹp, hạt vỡ mọt đục vứt vào chiếc gáo dừa nứt, miệng lẩm nhẩm đếm từng hạt giống mẩy tròn, bóng bẩy như đang nâng niu từng hạt ngọc quý giá nhất trần đời.

Lâm Tú Nương bưng chiếc chậu sành chứa nước ấm bốc làn khói mờ ảo, kiểm tra độ ấm bằng mu bàn tay một cách thuần thục, rồi nhẹ nhàng trút chỗ hạt giống đã chọn lọc kỹ càng vào ngâm.

Còn ngoài khoảnh vườn nhỏ phía sau nhà, dưới làn gió bấc lạnh buốt thấu tận xương tủy, Tiểu Mãn và Nhị Hòa đã bắt tay vào công việc dọn dẹp lớp cỏ dại bề mặt.

Tiểu Mãn cầm chiếc xẻng sắt cùn mòn mép, dùng hết sức bình sinh cắm sâu lưỡi sắt xuống lớp đất mặt chai cứng ngắc, lấy gót chân trần nứt nẻ đạp mạnh lên vai xẻng rồi bẩy mạnh từng tảng đất cỏ lên. Đất vườn bỏ hoang lâu ngày quả thực rắn chắc chẳng khác nào đá nung, mỗi nhát xẻng xắn xuống chỉ ngập sâu được chừng nửa gang tay là chạm phải lớp đất nén chặt bên dưới, lực dội ngược lại làm hai cổ tay cô run lên bần bật, đau nhói từng cơn.

Thế nhưng Tiểu Mãn không hề nản lòng buông tay. Cô nhớ như in từng lời truyền dạy của bà ngoại năm nào: đất cứng như đá thì phải dùng mũi nhọn chọc thủng lớp vỏ bọc bên ngoài, xới tung đất lên đón lấy làn sương đêm lạnh buốt, để hơi ẩm mùa đông ngấm sâu vào làm rã từng thớ đất cứng trước khi tiến hành bón lót tro bùn.

Tiểu Đậu quấn chiếc khăn vải rách quanh cổ cho đỡ lạnh, hai bàn chân trần đỏ ửng vì buốt giá, lon ton chạy theo sát từng bước chân của chị cả. Hai bàn tay nhỏ xíu lấm lem bùn đất đen nhẻm, thoăn thoắt nhặt từng búi rễ cỏ gấu trắng hếu, từng hòn sỏi cuội to bằng nắm tay bỏ đầy vào chiếc rổ xảo tre. Cậu bé vừa làm vừa lẩm bẩm một mình đầy vẻ nghiêm túc: “Mày là cỏ xấu xa, đừng hòng hút trộm phân bón của rau cải nhà tao nhé!”

Nhị Hòa ở góc vườn bên kia đang dùng chiếc rựa cùn phạt phui sạch sẽ những bụi gai tre rậm rạp mọc lấn vào mép rào. Tiếng rựa chém “phầm phập” vào thân gai khô giòn rã vang lên dứt khoát. Cậu thiếu niên mười bốn tuổi làm việc hăng say đến mức mồ hôi túa ra ướt đẫm cả mảng lưng áo vá phong phanh giữa đêm đông giá rét.

Đến tận nửa đêm, khi vầng trăng non đã lặn hẳn về phía sau rặng núi Thanh Lĩnh, sương muối bắt đầu buông dày đặc tạo thành một lớp màng mỏng manh trắng xóa như rắc muối trên những ngọn tre đằng ngà, công việc dọn dẹp bước đầu mới tạm dừng lại.

Khoảnh vườn nhỏ nửa sào đã được dọn sạch bong lớp cỏ dại um tùm. Toàn bộ lớp đất mặt chai cứng đã được xới lật tung lên thành từng tảng đất nâu xám phơi mình trong màn sương đêm lạnh giá, sẵn sàng chờ đón đợt phù sa màu mỡ và tro bếp ấm nồng vào sáng sớm ngày mai.

Tiểu Mãn bước lại mép bờ giếng sau nhà. Cô múc một gáo nước giếng lạnh buốt thấu xương để rửa sạch bùn đất bám đầy trên đôi bàn tay và đôi bàn chân tê cóng. Nước giếng chạm vào da thịt buốt lạnh như kim châm, nhưng lại khiến đầu óc cô trở nên tỉnh táo, minh mẫn lạ thường.

Bước vào trong nhà, Tiểu Mãn khẽ khàng dừng bước nhìn quanh. Cả gia đình cô vì lao động cật lực suốt mấy canh giờ liền đã mệt lả và chìm sâu vào giấc ngủ từ lúc nào.

Diệp Thành ngủ thiếp đi ngay bên hiên nhà lạnh lẽo, lưng vẫn tựa vào cột gỗ, một tay buông thõng bên sườn, tay kia vẫn còn nắm chặt chiếc giũa sắt vừa mài xong sáng loáng chiếc lưỡi cuốc thứ hai. Lâm Tú Nương ôm chặt lấy cậu út Tiểu Đậu ngủ say sưa trên chiếc phản nứa ọp ẹp.

Bên cạnh chỗ nằm của hai mẹ con, chiếc chậu sành ủ hạt giống đã được bọc kỹ càng bằng mấy lớp vải thô ấm áp, đặt sát cạnh góc bếp lò còn vương lại chút hơi ấm tàn tro để giữ nhiệt cho mầm non nứt nanh. Nhị Hòa thì nằm co ro trên chiếc chõng tre ngoài gian ngoài, miệng vẫn còn lẩm bẩm mấy tiếng mê sảng về chuyện gánh bùn gánh đất.

Tiểu Mãn bước lại gần hiên nhà, cẩn thận gỡ chiếc giũa sắt khỏi tay cha đặt xuống đất, rồi nhẹ nhàng kéo tấm chăn bông rách đắp kín lên người ông, cẩn thận chèn kỹ mép chăn quanh đôi chân gãy để gió bấc không lùa vào làm buốt nhức vết thương.

Làm xong mọi việc, cô chầm chậm ngồi xuống bên chiếc bàn gỗ khấp khểnh, khêu to ngọn bấc đèn dầu hạt lạc cho ánh sáng tỏa rộng hơn.

Tiểu Mãn lật mặt sau của chiếc nong rách đan bằng nứa cũ lên, cầm mẩu than củi đen nhánh, bắt đầu cẩn thận vạch ra những con số tính toán chi li, rành rọt.

Hai lượng bạc trắng tiền lãi nợ Lương gia đến hạn vào ngày rằm tháng mười. Khoảng năm trăm đồng tiền kẽm mua thêm thuốc thang bóp chân và thuốc bổ gân cốt cho cha. Vài thúng ngô hạt ăn độn để cầm cự qua mùa đông giá rét cho sáu miệng ăn.

Mọi thứ, từ hạt cơm manh áo cho đến mạng sống của từng người trong gia đình này, đều cần phải quy đổi ra tiền tươi bạc trắng.

Nếu nửa sào rau cải bẹ và củ cải trắng này gieo trồng thuận lợi, cô có thể bắt đầu tỉa lứa ngọn non đầu tiên sau mười lăm ngày nữa. Thế nhưng, số lượng rau non ít ỏi thu hoạch được đem bán ở chợ phiên thôn Thanh Khê nghèo nàn này liệu có đủ sức gánh vác nổi món tiền lãi khổng lồ hai lượng bạc hay không? Dân trong thôn Thanh Khê đa phần đều là bần nông nghèo khó, tự cung tự cấp, nhà nào cũng có dăm ba luống rau dại, người ta mua rau non của cô cũng chỉ trả dăm ba đồng tiền kẽm còm cõi.

Chắc chắn phải tính đến chuyện đưa số rau ngon ngọt đầu mùa này ra thẳng chợ phiên Trấn Liễu Kiều!

Trấn Liễu Kiều là nơi buôn bán sầm uất ven sông, thuyền bè qua lại tấp nập, hàng quán mọc lên san sát, các gia đình giàu có, quan lại nha môn tập trung đông đúc. Ở đó, người ta sẵn sàng bỏ ra lượng tiền tươi bạc thật để mua thứ rau cải bẹ non ngọt giòn đầu mùa về thết đãi khách khứa hoặc tẩm bổ mùa đông. Lượng tiêu thụ ở đó lớn hơn gấp mười lần, và giá cả bán ra cũng cao hơn gấp đôi, gấp ba so với cái chợ thôn xơ xác này.

Thế nhưng, bước chân ra ngoài trấn lớn buôn bán không phải chuyện đùa.

Muốn buôn bán trót lọt ở trấn Liễu Kiều, muốn quản lý chi li từng khoản chi phí từ việc mua phân tro, mua hạt giống, trả tiền đò qua sông, nộp thuế sạp chợ cho nha môn mà không bị những kẻ buôn gian bán lận lừa gạt, cô không thể chỉ dựa mãi vào trí nhớ mơ hồ và mấy vệt than củi nguệch ngoạc trên mặt chiếc nong rách này được.

Cô cần phải có một cuốn sổ ghi chép thu chi rành mạch từng đồng từng cắc!

Và quan trọng hơn cả, cô cần phải biết mặt chữ!

Cô phải tự mình đọc được, hiểu thấu từng nét chữ trên những bản khế ước nợ nần, những tờ biên nhận trả bạc sau này!

Lương Quảng Tài là một con cáo già xảo quyệt, ranh ma bậc nhất trong trang viện họ Lương. Hôm nay hắn có thể mang một tờ giấy nợ mập mờ ra ép người cha tàn tật của cô điểm chỉ, ngày mai hắn hoàn toàn có thể cài cắm những điều khoản phụ hiểm độc, những con số lắt léo vào văn tự để nuốt trọn toàn bộ đất đai, nhà cửa của gia đình cô mà quan phủ nha môn vẫn xử hắn đúng luật!

Nếu bản thân cô không biết chữ, không biết tính toán sổ sách ngọn ngành, thì dù cô có vắt kiệt từng giọt mồ hôi nước mắt, có cày xới nát cả nửa sào đất này làm ra bao nhiêu tiền bạc, cũng sẽ bị những kẻ có quyền có thế, thông thạo chữ nghĩa bẻ cong ngòi bút nuốt trọn vào bụng không chừa một mẩu xương!

Trong cả cái thôn Thanh Khê nghèo nàn, hẻo lánh này, người duy nhất có học vấn uyên thâm, giỏi giang tính toán sổ sách mà lại thanh cao, không hề dính líu hay xu nịnh phe cánh của bọn lý chính, địa chủ cường hào... chính là Tạ Cảnh.

Tạ Cảnh là một người thư sinh nghèo, tính tình trầm mặc, ít nói, quanh năm suốt tháng chỉ vùi đầu vào sách vở, hiện đang tá túc trọ học ở gian chái nhà trọ họ Lưu nằm nép cạnh từ đường của thôn.

Tiểu Mãn khẽ nghiêng đầu nhìn ra phía rặng tre đầu ngõ.

Bóng đêm mịt mùng bắt đầu tan dần, nhường chỗ cho làn sương sớm mờ ảo màu lam nhạt đang chầm chậm lan tỏa khắp các ngọn đồi. Tiếng gà gáy le te đầu tiên từ xa xa vọng lại, xé toang sự tĩnh mịch của buổi tàn canh.

Cô khẽ đứng dậy, nhẹ nhàng bước ra mép bờ ao cạnh giếng nước sau nhà. Dưới làn sương mai buốt giá đang đọng lại long lanh trên từng ngọn lá, Tiểu Mãn khom người, đôi bàn tay thoăn thoắt bấm từng ngọn rau muống dại non mướt, xanh ngắt còn đọng nguyên những giọt sương mai tinh khiết bỏ đầy vào chiếc rổ xảo tre.

Để ghi chép rành mạch chi tiêu mà không bị lừa, Tiểu Mãn quyết định mang rổ rau muống dại sang nhà trọ họ Lưu.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn