Tiệm Sửa Những Điều Chưa MuộnC.2 / 24
Chương 2

Một chỗ đứng chưa phải một nghề

Sáu giờ bốn mươi lăm sáng, Bảo đã đứng trước cửa tiệm đóng kín, sương sớm đọng ướt tay nắm cửa sắt đã tróc sơn.

Gió từ phía bờ kè thổi xốc vào con hẻm hẹp, mang theo hơi lạnh ngai ngái của con nước triều chưa kịp rút và mùi bùn cát ẩm ướt đặc trưng của thị trấn cửa biển Hải An. Từng đợt gió ràn rạt quất qua mái tôn của dãy nhà lân cận, cuốn theo đám bụi xám xịt và những mảnh lá bàng khô rách nát xoay tròn trên nền đá dăm. Hai bàn tay Bảo lạnh buốt, thọc sâu vào túi chiếc áo khoác gió mỏng tang đã sờn cả đường chỉ viền. Cậu giẫm nhẹ chân trên nền xi măng ẩm ướt để xua bớt cảm giác tê cóng đang len dần qua đôi giày vải cũ mèm.

Chiếc ba lô sờn rách góc bên phải đeo lệch trên vai, sức nặng của nó nhẹ bẫng đến nao lòng: bên trong chỉ vỏn vẹn một cuốn sổ tay bìa cứng cỡ bàn tay mà cậu từng dùng ghi bài giảng kinh tế vi mô, cây bút bi Thiên Long màu xanh đã mòn đầu bấm, và một bộ quần áo lao động bạc phếch màu cháo lòng mà cậu phải lục lọi cả buổi tối hôm trước từ tận đáy chiếc rương gỗ của cha.

Đêm qua Bảo gần như thức trắng. Tiếng quạt trần ba cánh kẽo kẹt từng nhịp rệu rã trên trần nhà cấp bốn không đủ át đi tiếng trở mình trằn trọc liên tục của ông Lâm ở gian buồng bên cạnh. Từng tiếng thở dài nặng trịch, nghẹn ứ sau cánh cửa liếp khép hờ cứ quẩn quanh trong không gian tối đặc, đè nghiến lên màng nhĩ Bảo cho tới tận lúc chiếc đồng hồ báo thức cũ kỹ reo lên hồi chuông đanh gắt lúc năm giờ rưỡi. Giờ đây, đứng trước cánh cửa tiệm còn then cài khóa chặt, lòng cậu vẫn trĩu nặng một khối u ám vô hình, lơ lửng giữa nỗi hoang mang của kẻ vừa trượt ra khỏi đường ray bằng phẳng và sự bơ vơ của một kẻ bắt đầu bước chân vào thực tế trần trụi.

Đúng bảy giờ kém hai phút, tiếng lách cách kim loại khô khốc vang lên từ phía sau cánh cửa xếp sắt.

Âm thanh ổ khóa chạm vào then cửa đập vào vách tường gạch vang dội. Ngay sau đó, cô Mai dùng hai tay nắm chặt thanh chốt, kéo mạnh hai cánh cửa sắt lùa sang hai bên. Tiếng bi trượt rít gắt gỏng trên rãnh kim loại khô dầu mỡ, tạo nên những âm sắc chói tai kéo dài trước khi mở toang ra khoảng sân xi măng xám xịt và gian xưởng nhỏ bên trong.

Khói bụi và mùi dầu mỡ lưu cữu lập tức ùa ra ngoài theo khe cửa. Người phụ nữ trung niên đứng chắn ngay lối đi, thân hình đậm chắc trong bộ quần áo bảo hộ công nhân màu xanh thẫm đã qua nhiều lần giặt tẩy tới mức ngả sang màu chì xám. Mái tóc hoa râm lốm đốm của cô được búi gọn gàng thành một búi gù chắc nịch sát sau gáy bằng chiếc kẹp nhựa màu đen đã sứt một răng. Cô liếc nhìn Bảo một cái thật nhanh. Ánh mắt cô sâu hoắm, điềm tĩnh và dửng dưng tuyệt đối, không có một tia ngạc nhiên hay dò xét, tựa hồ việc có một thằng thanh niên đứng chôn chân chịu rét ngoài cửa từ tảng sáng là điều đương nhiên phải xảy ra theo quy luật.

"Đứng nép vào trong," cô Mai nói cộc lốc, thanh âm trầm đục như tiếng đá mài chạm vào thép. Tay cô với lấy cây gậy sắt dài dựng bên góc cột, thành thạo đẩy chiếc chốt trên cao lên lỗ mộng trên xà gồ. "Đứng chắn ngang ngay giữa lối đi, lát nữa khách người ta mang xe tới không có chỗ dắt vào."

"Dạ, con chào cô." Bảo lí nhí đáp, vội vàng nghiêng người bước qua bậc thềm xi măng mòn vẹt.

Cô Mai chẳng buồn ừ hử. Cô xoay người đi thẳng vào góc bếp nhỏ được ngăn cách tạm bợ sau tấm vách tôn lượn sóng phía cuối xưởng. Tiếng bật tanh tách của chiếc bếp gas du lịch đã rỉ sét vang lên ba bốn lần mới bắt được lửa. Chỉ một thoáng sau, tiếng nước sôi lục bục bên trong chiếc ấm nhôm móp méo bắt đầu trỗi dậy, hòa cùng mùi khen khét của đáy ấm cháy sém.

Đúng năm phút, cô bưng ra một chiếc khay nhựa tròn màu đỏ đã bạc phếch vì nắng gió. Đặt lên mặt bàn là một chiếc ấm trà bằng sành da lươn màu nâu sẫm cùng hai chiếc chén hạt mít cáu ố vệt trà đen sì dọc theo thành mép. Khi cô nghiêng vòi ấm rót ra dòng nước xanh sẫm bốc khói nghi ngút, mùi trà xanh tươi om đặc, ngai ngái, nồng đượm vị đắng chát xộc thẳng vào cánh mũi Bảo. Hơi nóng phả ra từ chén sành làm tan bớt cái giá buốt đang bám riết nơi vành tai và cổ áo cậu.

Cô Mai đẩy nhẹ một chén trà về phía mép bàn đối diện, nơi Bảo đang đứng ngập ngừng, rồi tự mình kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp ngồi xuống trước chiếc bàn làm việc duy nhất trong xưởng.

Mặt bàn làm việc này là một tấm gỗ mun dày dặn nhưng đã biến dạng hoàn toàn qua năm tháng: bốn góc mòn vẹt thành những đường lượn sóng nham nhở, trên mặt phẳng chi chít những vết khía sâu hoắm của lưỡi cưa sắt, những lỗ thủng nhỏ do đầu tuốc nơ vít đâm phải, và vô số những vệt ố đen hình tròn xếp chồng lên nhau tạo bởi đít những ca đựng dầu hôi.

Cô Mai với tay kéo ngăn kéo bàn rít lên ken két, rút ra một tờ giấy A4 được gấp làm đôi một cách cẩn thận. Bằng một cử chỉ dứt khoát của ngón tay cái thô ráp, cô miết phẳng mép gấp rồi đặt tờ giấy ngay ngắn vào giữa khoảng trống duy nhất không dính dầu trên mặt bàn.

Bảo cúi đầu nhìn xuống. Tờ giấy được kẻ bằng thước tay ngay ngắn đến từng milimét bằng bút mực đen. Từng nét chữ của cô Mai vuông vức, góc cạnh, mực ngấm sâu vào thớ giấy thô ráp, dứt khoát và lạnh lùng hệt như những nhát búa đóng then chốt:

*THỎA THUẬN HỌC VIỆC VÀ THỬ THÁCH NĂNG LỰC* *Thời gian thử thách: 03 tháng (kể từ ngày bắt đầu).* *Giờ làm việc: 07:00 – 11:30; 13:30 – 17:30 hằng ngày. Nghỉ chiều Chủ nhật.* *Nội dung: Phụ việc lặt vặt, vệ sinh xưởng, dọn dẹp phụ tùng, tiếp nhận xe theo mẫu. Tuyệt đối không tự ý tháo lắp, chỉnh sửa xe của khách khi chưa có chỉ định trực tiếp.* *Khoản phụ cấp hỗ trợ: 1.200.000 đồng/tháng (chi trả vào ngày cuối cùng của tháng).* *Đánh giá: Hết mỗi 30 ngày đối chiếu sổ sách và tay nghề một lần.*

Bảo đọc từng từ, từng dấu chấm phẩy được vạch ra rõ ràng. Ánh mắt cậu dừng lại rất lâu, dán chặt vào con số một triệu hai trăm ngàn đồng nằm ở dòng thứ tư. Lồng ngực cậu khẽ co thắt lại, một cảm giác hụt hẫng nhói buốt lan nhanh từ cuống họng xuống dạ dày.

Một triệu hai trăm ngàn. Ở cái thị trấn Hải An này, dù mức sống không đắt đỏ như chốn đô thành nơi cậu vừa rời bỏ, thì con số đó chỉ vừa khít cho tiền ăn sáng qua loa bằng những gói xôi bắp năm ngàn và vài ba lít xăng đổ tạm vào chiếc xe máy cũ nếu cậu có xe để chạy. Hoặc giả như dè xẻn đến mức tối đa, nó chỉ đủ trả cho những bữa cơm trưa đạm bạc với đậu phụ kho và đĩa rau muống xào nhiều mỡ ở quán cơm bình dân gần cổng chợ. Cậu đã từng vẽ ra trong đầu con số hai triệu, thậm chí một triệu rưỡi để có thể góp cho cha vài trăm ngàn tiền chợ mỗi tháng, cốt để ông bớt đi cái nhìn nặng trĩu mỗi khi nhìn vào đôi bàn tay trắng trẻo của mình. Nhưng thực tế nằm ngay đây, phẳng lì và lạnh ngắt trên trang giấy trắng.

Cô Mai nâng chén trà nóng lên miệng, nhấp một ngụm nhỏ. Đôi mắt có đuôi dài và những vết chân chim sâu hoắm nhìn xoáy thẳng vào từng biểu cảm đang biến đổi trên gương mặt còn non choẹt của Bảo.

"Đọc kỹ chưa? Có chỗ nào chữ viết tay xấu quá đọc không ra không?" Giọng cô phẳng lặng như mặt nước giếng khơi.

"Dạ... con đọc rõ hết rồi cô," Bảo nuốt khan một ngụm nước bọt đắng ngắt, hai bàn tay đan chặt vào nhau trên đùi, các đốt ngón tay trắng bệch ra vì bóp mạnh. Cậu ngập ngừng, cảm giác xấu hổ và tự ti dâng lên làm hai bên mang tai nóng bừng như bị lửa táp. "Nhưng mà... cô Mai ơi, con xin phép được hỏi thật cô một chuyện này thôi ạ."

"Nói."

"Cái khoản phụ cấp này... tháng đầu tiên con có thể xin tạm ứng trước một ít được không ạ? Tiền riêng con tích cóp mang từ trên trường về... sau khi trả tiền xe đò với chi tiêu mấy thứ lặt vặt hôm qua thì chỉ còn lại hơn tám trăm ngàn một chút. Con nhẩm tính thì khoản đó chỉ đủ cầm cự tiền cơm trưa với mấy việc lặt vặt chừng hai tuần là cạn sạch..."

Không gian trong xưởng đột ngột chùng xuống, quánh đặc lại. Tiếng còi xe máy của ai đó chạy vội qua con lộ lớn phía ngoài vọng vào nghe khô khốc và lạc lõng.

Cô Mai không vội trả lời. Cô chầm chậm đặt chén trà xuống mặt bàn gỗ mun. Đáy chén chạm vào mặt gỗ phát ra một tiếng "cộc" dứt khoát, gọn gàng, vang lên như tiếng búa gõ định đoạt. Nét mặt cô không hề lộ vẻ bực tức hay giận dữ, nhưng cái lạnh lùng, nghiêm nghị hiện rõ trong từng nếp nhăn nơi khóe miệng khiến Bảo bất giác rụt cổ lại một cách vô thức.

"Không có chuyện tạm ứng," cô Mai nói, giọng rành rọt, từng âm tiết nhả ra đều đặn và nặng trịch. "Cái tiệm sửa xe này tồn tại được hơn mười năm nay là nhờ từng đồng bạc cắc dắt lưng của mấy bà bán cá ngoài chợ, mấy ông đạp xích lô với bà con lối xóm quanh đây. Một miếng vá săm lấy người ta năm ngàn bạc. Chỉnh lại một cặp vành đảo lấy mười lăm ngàn. Thay một sợi xích mới cặm cụi nửa tiếng đồng hồ kiếm lời được hai chục ngàn. Từng đồng tiền thu về bỏ vào cái hộp sắt kia đều phải đánh đổi bằng mồ hôi, bằng dầu mỡ nhét đen kịt kẽ móng tay, trầy vi tróc vảy mới có được."

Cô Mai nghiêng đầu, ánh mắt sắc như dao cau dừng lại ở cuốn sổ tay bìa cứng đang thò ra ngoài mép túi ba lô của Bảo:

"Mày bảo trong túi mày còn tám trăm ngàn, tức là mày vẫn còn tiền để nuốt cơm vào bụng trong hai tuần tới. Mày chưa chết đói được. Muốn có thêm tiền thì cái đầu với hai bàn tay của mày phải làm cho ra việc, phải chứng minh được cho tao thấy cái công sức mày bỏ ra ở đây nó đáng giá một triệu hai trăm ngàn đó, rồi tới ngày ba mươi cầm tiền. Còn nếu ngay từ ngày đầu tiên bước chân qua cái bậu cửa này, chưa đụng vào cây cờ lê, chưa quét được một cọng rác mà đã lo tính đường ứng trước để đỡ phải chịu áp lực thiếu thốn, thì cái đầu mày vẫn còn giữ nguyên cái thói ỷ lại của một thằng sinh viên quen sống bằng tiền trợ cấp của người lớn."

Cô Mai ngừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt Bảo, ánh mắt không hề chớp:

"Tiệm này là nơi làm ăn cơ bắp, không phải quỹ từ thiện của ủy ban xã hay cái hội khuyến học nào đó có sẵn ngân sách nuôi người khi người đó chưa tạo ra nổi một cắc giá trị. Chấp nhận được thì cầm cây bút lên, ký tên xuống góc dưới bên phải. Không chấp nhận được thì cầm tám trăm ngàn đó quay về nhà, bước ra bến phụ ba mày vác mấy két cá trích, ngày nào xong việc người ta trả tiền tươi ngày đó. Tự quyết đi."

Từng câu, từng chữ của cô Mai nện xuống như những cú đấm thẳng vào lòng tự trọng mong manh mà Bảo vẫn cố bọc kín bên trong vẻ ngoài trí thức dở dang. Cậu thấy nhục nhã, nhưng kỳ lạ thay, sự nhục nhã ấy lại không hề nhen nhóm lên lòng oán hận. Lời của người đàn bà làm nghề sửa xe thô ráp nhưng lại sòng phẳng và chân thực đến trần trụi. Nó đập vỡ tan tành những công thức, những biểu đồ lý thuyết và những toan tính viển vông về dòng tiền mà cậu từng đọc trong giảng đường, buộc cậu phải nhìn thẳng vào đôi chân đang đứng trên sàn xi măng bám đầy muội than.

Cậu nhớ đến ánh mắt vô hồn của cha bên mâm cơm trưa hôm qua. Cậu nhớ đến cái bóng lưng gầy cộc cằn vác từng sọt đá lạnh ngoài bến cá trong những chiều đông buốt giá. Cậu không thể quay đầu được nữa. Con đường rút lui đã bị chính cậu cắt đứt bằng lời thú nhận bỏ học ngày hôm qua.

Bảo run run rút cây bút bi Thiên Long trong túi áo khoác ra. Cậu hít một hơi thật sâu, nén chặt sự run rẩy nơi đầu ngón tay, đặt ngòi bút xuống góc dưới bên phải tờ giấy và nắn nót ký tên: *Trần Gia Bảo*.

Cô Mai đưa tay cầm lấy tờ thỏa thuận, mắt lướt qua nét chữ ký gãy gọn rồi gấp đôi lại theo nếp cũ. Cô mở chiếc hộp sắt đựng biên lai và tiền lẻ đặt cạnh vách tường, cất tờ giấy vào đáy hộp rồi đậy nắp lại bằng một tiếng *cạch* dứt khoát.

"Được rồi. Đã ký thì từ giờ trở đi làm việc theo luật," cô Mai đứng bật dậy, chiếc ghế đẩu gỗ cọ xuống sàn xi măng ken két. Cô chỉ tay về phía góc trong cùng của gian xưởng, nơi ánh sáng ban ngày chỉ lờ mờ chiếu tới. "Cởi cái áo khoác ngoài ra, treo lên cái đinh trên cột kia. Việc đầu tiên của mày sáng nay: dọn dẹp sạch sẽ toàn bộ cái đống phụ tùng cũ chất ở góc tường phía sau, phân loại từng món vào mấy cái giỏ nhựa. Xong xuôi việc đó thì ra bàn học cách viết phiếu tiếp nhận xe."

Bảo nhìn theo hướng tay cô Mai chỉ. Góc trong cùng của gian xưởng là một bãi chiến trường thực sự của kim loại phế thải tích tụ qua hàng năm trời. Những chiếc giỏ nhựa đan màu xanh đỏ cũ kỹ, cáu bẩn vì bụi đất và mỡ bò khô cứng nằm ngổn ngang dưới chân tường ẩm mốc. Bên trong và xung quanh chúng là hàng trăm món đồ cơ khí tháo rời từ những chiếc xe đạp hỏng không còn khả năng phục hồi: từ những cụm líp năm tầng, bảy tầng rỉ sét nâu xỉn bám chặt mạt sắt, những đoạn xích đứt gãy nằm cuộn tròn như những con rắn chết khô, hàng bó nan hoa cong queo đan chéo vào nhau, cho đến hàng vốc bu-lông, đai ốc, long đền vênh đủ mọi kích cỡ vương vãi khắp mặt đất.

Bảo cởi chiếc áo khoác gió, chỉ mặc chiếc áo thun dài tay cũ bạc màu của cha, rồi bước vào góc xưởng. Cậu ngồi xổm xuống, bắt đầu thò tay vào đống sắt vụn lạnh ngắt.

Mùi dầu hôi nồng nặc bốc lên hòa lẫn với mùi ẩm mốc của góc tường rêu xanh khiến sống mũi cậu cay xè. Da tay Bảo vốn mềm mại vì chỉ quen cầm bút và gõ phím máy tính, nay vừa chạm vào bề mặt ráp sắc của những con ốc han gỉ và xích xe khô mỡ đã cảm thấy rát buốt. Cậu bắt đầu nhặt nhạnh từng món: gom đai ốc sang một bên, bu-lông sang một bên, những chiếc vòng bi vỡ vụn sang một góc.

Mới được chừng mười lăm phút, một đầu nan hoa gãy sắc lẹm ẩn dưới đống líp cũ bất ngờ đâm sượt qua mép ngón tay trỏ bên phải của Bảo. Cậu rụt vội tay lại, xuýt xoa. Một vệt rách nhỏ xuất hiện, máu tươi rỉ ra hòa lẫn với mỡ bò đen nhẻm tạo thành một vệt sẫm màu. Cậu cắn chặt môi, nhìn về phía trước xưởng—cô Mai đang cặm cụi cúi đầu trên chiếc giá cân vành xe đạp, tiếng búa gõ lách cách vào nan hoa đều đặn vang lên như nhịp đồng hồ, không một chút xao lãng. Bảo không dám lên tiếng, chỉ lẳng lặng quẹt vội ngón tay dính máu vào gấu quần lao động rồi tiếp tục cúi xuống nhặt nhạnh.

Vốn là đứa có thói quen ngăn nắp và ưa chuộng sự quy củ của sách vở, Bảo không chỉ dừng lại ở việc nhặt ốc bỏ vào rổ. Sau khi phân chia được các loại ốc trục, đai ốc mười, đai ốc mười hai và các loại long đền vênh, cậu đứng dậy đi tìm mấy mảnh bìa các-tông rách nằm lăn lóc cạnh đống lốp xe phế thải. Cậu dùng kéo cắt tỉa chúng thành từng mảnh hình chữ nhật vuông vức, phẳng phiu bằng nửa bàn tay.

Rút cây bút bi xanh trong túi quần, Bảo cẩn thận nắn nót viết từng dòng chữ in hoa thật đều đặn: *ỐC TRỤC BÁNH TRƯỚC 14MM*, *LONG ĐỀN CHỐNG TRƯỢT 10MM*, *LÍP CŨ CÒN RĂNG - CHỜ TẬN DỤNG*, *NAN HOA 26 INCH CÒN DÙNG ĐƯỢC*. Cậu tìm thấy một cuộn băng dính trong suốt trên bàn cô Mai, cẩn thận dán từng miếng bìa các-tông lên mép trên của các giỏ nhựa, vuốt cho phẳng phiu không để lại một nếp nhăn nào, rồi xếp các giỏ thẳng hàng tăm tắp dọc theo chân tường như một gian trưng bày linh kiện mẫu trong các cửa hàng kim khí lớn.

Gần chín giờ ba mươi sáng, cái lạnh đầu đông bị xua bớt bởi ánh nắng hanh hao hắt xiên qua mái hiên. Tiếng thắng đóm cao su mòn vẹt rít lên một hồi *kin kít* chói tai ngay ngoài bậu cửa tiệm, kèm theo tiếng chân chống giữa va mạnh xuống nền bê tông.

Một người phụ nữ trạc bốn mươi lăm tuổi, dáng người phốp pháp, mặc bộ đồ bộ may bằng vải tole hoa sặc sỡ, đầu đội chiếc nón lá đã tơi vành dắt chiếc xe đạp mini Nhật màu xanh ngọc bích vào trong sân. Đó là chị Sương, người phụ nữ bán bún riêu cua nổi tiếng đanh đá nhưng đông khách nhất khu chợ Cũ mà Bảo từng nhiều lần nhìn thấy khi theo cha đi chợ sớm mua cá mồi.

"Chị Mai ơi là chị Mai! Coi giùm tôi cái xe này với, khổ quá cơ!" Chị Sương dựng mạnh chân chống giữa, lấy tay áo quệt vội mồ hôi đang rịn ra đầy trán, cất giọng the the oang oang khắp gian xưởng. "Sáng nay tôi mới chở có hai thùng nước lèo với một thúng rau muống chẻ từ dưới bến lên chợ mà cái xe này nó dở chứng, cứ lảo đảo như người say rượu! Đạp thì nặng trịch như kéo cối xay đá, mà cái chân đạp xuống cứ nghe nó kêu lọc cọc lọc cọc ở dưới gầm, tức cành hông luôn á!"

Cô Mai lúc này đang dở tay dùng cờ lê tròng siết lại bộ bát phốt cho một chiếc xe đạp cào cào của học sinh. Hai bàn tay cô đen nhẻm dầu mỡ, không hề ngẩng đầu lên khỏi cổ phốt xe, chỉ khẽ hất cằm về phía góc trong nơi Bảo đang đứng:

"Bảo! Ra bàn lấy cái kẹp phiếu tiếp nhận xe mang ra đây. Ghi thông tin phương tiện cho chị Sương."

Bảo giật thót mình. Cậu vội vàng buông chiếc giỏ nhựa trên tay xuống, chùi vội hai bàn tay nhem nhuốc vào chiếc giẻ lau treo lủng lẳng bên hông rồi chạy lại bàn làm việc. Cậu cầm lấy tập phiếu in sẵn trên giấy bãi bằng màu vàng nhạt cùng cây bút bi, bước nhanh ra hiên xưởng. Trong đầu Bảo, những bài học về giao tiếp khách hàng, kỹ năng xử lý phản ánh dịch vụ mà cậu từng đọc lướt qua trong các giáo trình đại học lập tức trỗi dậy. Cậu tự nhủ đây là cơ hội tốt nhất để chứng minh rằng một người có học thức như cậu hoàn toàn vượt trội hơn một người thợ phụ việc chỉ biết tay chân thô lỗ.

"Dạ, chị... chị cho em xin họ tên đầy đủ với số điện thoại liên lạc ạ," Bảo mở đầu bằng giọng điệu nhỏ nhẹ, cố giữ vẻ nhã nhặn như một nhân viên bàn giấy tiếp dân.

"Tên Sương! Sương bán bún riêu chợ Cũ, ai mà chẳng biết tao!" Chị Sương xua tay lia lịa, nét mặt đầy vẻ sốt ruột, mắt đảo liên hồi ra phía đầu hẻm. "Số má làm cái giống gì, tao xài cái máy 'cục gạch' mà sáng nay bỏ quên ở sạp rồi, nhớ số chết liền! Ghi nhanh giùm tao cái đi em trai, tao còn phải chạy bộ ngược về chợ phụ con nhỏ em bưng bún cho người ta ăn sáng. Cái xe này dạo này nó bị yếu dữ lắm rồi! Xích thì xích dởm, xích đểu, tao đạp hụt chân mấy lần suýt lộn cổ xuống mương! Coi sửa sao cho nó ngon lành cành đào giùm tao, trưa mười một giờ tao tan chợ ghé qua lấy liền nghen!"

"Dạ, dạ, để em ghi nhận đầy đủ yêu cầu của chị..." Bảo gật đầu lia lịa, tay lia ngòi bút bi trên mặt giấy vàng nhạt.

Cậu nhớ lại toàn bộ lời phàn nàn của chị Sương, cố gắng tóm tắt lại theo cách diễn đạt văn bản mà cậu cho là đầy đủ và súc tích nhất: *- Khách hàng: Chị Sương (bán bún riêu chợ Cũ).* *- Tình trạng tiếp nhận: Xe đạp bị yếu nghiêm trọng, khung xe ọp ẹp lảo đảo khi chở nặng. Khách phản ánh xích dởm, thường xuyên đạp hụt chân.* *- Yêu cầu xử lý: Khắc phục cho xe ngon lành, bảo dưỡng toàn bộ, giao xe lúc 11:00 trưa.*

Viết xong, Bảo cẩn thận xé liên hai màu hồng của tờ phiếu, hai tay đưa cho chị Sương với một nụ cười chuyên nghiệp: "Dạ xong rồi đó chị. Chị cầm cái phiếu hẹn này, trưa đúng mười một giờ chị quay lại tiệm nhận xe nhé."

Chị Sương cầm mảnh giấy mỏng nhét đại vào chiếc túi vải đeo trước bụng tạp dề, chẳng buồn liếc nhìn lấy một giây, rồi vội vã xỏ đôi dép tổ ong đi thoăn thoắt ngược ra phía lộ lớn.

Bảo nhìn theo bóng người đàn bà, trong lòng dâng lên một cảm giác đắc thắng nhè nhẹ. Cậu thấy mọi việc trôi qua thật trơn tru, gọn gàng, đâu có phức tạp hay khắc nghiệt như cái cách cô Mai hù dọa cậu lúc sáng. Cậu cầm liên chính màu vàng mang lại bên bàn làm việc của cô Mai, đứng thẳng lưng chờ đợi lời khen ngợi.

"Cô Mai, con hoàn thành phiếu tiếp nhận xe cho chị Sương rồi ạ," Bảo đưa tờ giấy ra trước mặt cô.

Cô Mai vừa vặn siết xong ốc bát phốt. Cô đặt chiếc cờ lê mười lăm xuống khay đồ nghề phát ra một tiếng *keng* chói tai. Cô tháo đôi găng tay len đã thủng ngón, với lấy cặp kính lão gọng nhựa màu đồi mồi cài trên túi áo ngực đeo lên sống mũi, rồi đón lấy tờ phiếu từ tay Bảo.

Cô đọc. Từng giây trôi qua trong sự im lặng ngột ngạt. Đôi lông mày rậm rạp, thô cứng của người thợ già nhíu chặt lại, tạo thành những nếp gấp sâu hoắm trên vầng trán đen sạm vì dầu khói. Nét mặt cô đanh lại, lạnh lùng đến mức khiến nụ cười mỉm trên môi Bảo từ từ đông cứng.

Không nói một lời nào, cô Mai với tay lên giá gỗ đầu bàn, cầm lấy cây bút chì chuyên dụng ngòi to màu đỏ—thứ bút mà thợ sửa xe hay dùng để đánh dấu điểm thủng trên săm hoặc vạch dấu cân vành.

Bằng một lực cổ tay cực mạnh, cô gạch một đường chéo dứt khoát xoẹt qua toàn bộ phần nội dung mà Bảo vừa viết. Ngòi chì đỏ to bản cày sâu xuống mặt giấy bãi bằng mỏng manh, làm rách toạc một đường nhỏ ở góc phiếu. Vết gạch đỏ chói lọi, đậm nét và tàn nhẫn hệt như một con số không tròn trĩnh cho một bài kiểm tra học kỳ.

Bảo sững sờ, tim đập thót một cái: "Cô... sao cô lại gạch đi ạ? Con... con ghi sai chỗ nào sao cô?"

"Mày ghi sai từ chữ đầu tiên cho tới chữ cuối cùng," cô Mai tháo kính lão xuống, quẳng cả kính lẫn tờ phiếu xuống mặt bàn gỗ mun. Giọng cô gằn xuống, sắc và bén như một lưỡi dao cạo. "Mày học đại học ba năm trên thành phố, người ta dạy mày dùng cái thứ chữ nghĩa cảm tính, mơ hồ của mấy bà đi chợ buôn dưa lê để làm văn bản kỹ thuật hả Bảo?"

Mặt Bảo tái đi, cậu lắp bắp: "Dạ... nhưng mà con ghi đúng nguyên văn những gì chị Sương miêu tả mà cô? Chị bảo xe bị yếu, xích dởm..."

"Thế nào là 'xe bị yếu'?" Cô Mai cắt ngang, từng câu chữ đanh thép nện thẳng vào mặt cậu. "Cái xe đạp là một cỗ máy cơ khí! Nó cấu thành từ sắt thép, nhôm, cao su và dầu mỡ. Nó không phải là một con trâu, một con bò kéo xe hay một con người mà biết 'yếu' với 'khỏe'! Yếu là do áp suất lốp sau bị tụt hơi khiến diện tích tiếp xúc mặt đường tăng lên làm đạp nặng chân? Hay yếu là do bộ rọ bi trục giữa bị vỡ vụn làm kẹt cứng trục láp? Hay là do người đạp xe chở hai thùng nước lèo nặng cả trăm ký vượt quá tải trọng của khung xe khiến người ta đuối sức rồi người ta đổ thừa cho xe yếu? Mày là người thợ kỹ thuật, mày nhận xe mà mày dùng chữ 'xe bị yếu' để chẩn đoán bệnh à?"

Bảo chết lặng, hai tai lùng bùng.

"Rồi cái chữ 'xích dởm' này ở đâu ra?" Cô Mai tiếp tục dồn ép, ngón tay trỏ chai sạn gõ mạnh xuống mặt bàn. "Khách hàng họ là người sử dụng bình thường, họ không có chuyên môn về cơ khí. Khi xe họ gặp trục trặc, họ bực bội, họ bực mình thì họ vơ đũa cả nắm bảo đồ dởm đồ đểu. Nhưng mày là người đứng ở cửa tiệm này đại diện tiếp nhận phương tiện, mày cũng hùa theo cái mồm của khách mà ghi vào văn bản là 'xích dởm' à? Lỡ sợi xích của người ta là xích Shimano chính hãng của Nhật, nhưng do ba năm trời chạy mưa chở nước lèo mặn chát không thèm nhỏ một giọt dầu, đất cát với muối biển nó đóng bánh vào từng mắt xích làm cứng ngắc khớp quay thì sao? Mày ghi 'xích dởm', lát nữa tháo ra rửa sạch dầu hôi thấy xích còn nguyên độ dày chưa giãn, mày ăn nói làm sao với người ta? Mày tính đè đầu khách ra bắt người ta mua sợi xích mới để tiệm này mang tiếng là phường chém chặt, lừa đảo hả?"

Từng câu chất vấn của cô Mai như những gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt Bảo. Máu dồn hết lên màng nhĩ, khiến hai bên thái dương cậu giật giật từng cơn. Cậu chưa bao giờ tưởng tượng được rằng những chữ nghĩa mà cậu viết ra một cách vô tư, tưởng chừng chỉ là việc ghi chép lại lời nói của người khác, lại có thể chứa đựng nhiều lỗ hổng chết người và rủi ro nghề nghiệp đến thế.

"Một tờ phiếu tiếp nhận xe ở cái xưởng này chỉ được phép tồn tại đúng ba phần rành mạch," cô Mai cầm cây bút chì đỏ lên, gõ mạnh từng nhịp cộc cộc xuống bàn.

"Phần thứ nhất: Lời khai của khách hàng. Phải ghi nguyên văn hiện tượng mà họ cảm nhận được, nhưng phải để trong ngoặc kép rõ ràng. Ví dụ: 'Khách báo đạp nặng chân, phát ra tiếng kêu lọc cọc ở khu vực cụm đĩa xích khi chở tải nặng'.

Phần thứ hai: Hiện trạng thực tế quan sát được bằng mắt thường và thao tác kiểm tra sơ bộ tại thời điểm nhận xe. Ví dụ: 'Lốp sau non hơi, xích chùng chạm chắn xích, vành sau có dấu hiệu đảo nhẹ sang trái'.

Và phần thứ ba: Luôn luôn phải có một dòng kết luận: 'Chờ tháo rời cụm cơ khí để xác định chính xác nguyên nhân hỏng hóc'.

Tuyệt đối không được phép kết luận nguyên nhân khi hai bàn tay mày chưa cầm cờ lê mở ốc ra nhìn vào bên trong! Và cái tội lớn nhất của mày: ai cho phép mày tự tiện hứa với khách là mười một giờ trưa lấy xe? Tao đã lên phương án sửa chiếc xe đó chưa? Tao đã kiểm tra xem trong kho còn phụ tùng thay thế hay không chưa mà mày dám ấn định giờ giao xe cho người ta? Mày hứa cho sướng cái miệng để lấy lòng khách, rồi tới mười một giờ xe chưa xong, chị Sương ra đây đứng chửi đổng trước cửa tiệm thì cái mặt sinh viên của mày có ra hứng giùm tao không?"

Cô Mai cầm tờ phiếu bị gạch chéo đỏ, vò nát thành một cục tròn vo rồi ném thẳng vào chiếc sọt rác bằng nan tre đặt dưới gầm bàn. Tiếng giấy vò xào xạc nghe buốt nhói trong tai Bảo. Cô rút từ ngăn kéo ra một tờ phiếu trắng tinh khác, đẩy mạnh về phía cậu.

"Viết lại. Bước cái chân ra ngoài sân, dựng ngay ngắn chiếc xe của chị Sương lên. Cúi cái đầu xuống, mở hai con mắt ra nhìn cho kỹ xem mắt mày thấy được cái gì, tay mày sờ thấy cái gì, rồi quay vào đây đặt bút viết lại từng chữ cho đàng hoàng."

Bảo cắn chặt môi dưới đến rớm máu. Cậu cúi đầu cầm lấy tờ phiếu mới, lẳng lặng bước thụt lùi ra ngoài sân hiên. Gió lạnh từ bờ kè lại thổi thốc vào, nhưng lúc này toàn thân Bảo đang nóng bừng như người lên cơn sốt.

Cậu ngồi xổm xuống bên cạnh chiếc xe mini Nhật màu xanh ngọc. Không còn cái vẻ hời hợt, xem thường công việc chân tay như lúc sáng, Bảo quỳ một bên gối xuống nền xi măng ẩm ướt để tầm mắt ngang bằng với bộ truyền động của chiếc xe.

Cậu vươn tay nắm lấy bàn đạp bên phải, chầm chậm quay ngược một vòng: sợi xích chùng võng xuống hẳn một đoạn, quét sột soạt vào thành dưới của chiếc hộp chắn xích bằng sắt tây đã rỉ sét. Cậu dùng hai ngón tay bóp mạnh vào lốp sau: cao su mềm nhũn, thành lốp lún sâu tới tận vành nhôm, rõ ràng áp suất hơi bên trong đã thoát gần hết qua chân van. Cậu tiếp tục dùng hai tay nắm chặt lấy giò đĩa bên trái lắc mạnh sang hai bên: một độ rơ lỏng lẻo rõ rệt phát ra từ cụm trục giữa, kèm theo tiếng *cục cục* của những viên bi sắt bị vỡ rọ đang cọ xát tự do bên trong bát phốt. Cuối cùng, cậu đứng dậy, hai tay giữ chặt ghi đông xe, bóp chặt phanh trước rồi đẩy mạnh xe tới lui: chén cổ hơi lỏng, phát ra tiếng kêu lách cách nhỏ nhưng chưa đến mức nghiêm trọng.

Bảo hít một hơi thật sâu, đặt tờ phiếu lên yên xe da cũ, nắn nót viết lại từng dòng bằng ngòi bút bi xanh:

*- Khách hàng: Chị Sương (khu chợ Cũ).* *- Hiện tượng khách báo: "Đạp nặng trịch, phát ra tiếng kêu lọc cọc ở chân khi chở nặng, xe lảo đảo".* *- Quan sát thực tế: Lốp sau non hơi nghiêm trọng; xích chùng võng cọ sát hộp xích; cụm trục giữa rơ lắc nhiều, phát ra tiếng kêu cơ khí khi quay tay; cổ phốt rơ nhẹ.* *- Biện pháp: Chờ tháo rã cụm trục giữa và kiểm tra xích líp để xác định mức độ mòn hỏng.* *- Thời gian hẹn: Tiệm sẽ kiểm tra và thông báo giờ hẹn chính xác khi khách ghé lại.*

Viết xong, Bảo cẩn thận kiểm tra lại từng chữ một, đảm bảo không có bất kỳ một tính từ cảm tính nào lọt vào văn bản. Cậu cầm tờ phiếu bước vào nhà, hai tay cung kính đặt lên mặt bàn trước mặt cô Mai.

Cô Mai đeo kính lão, cầm tờ giấy lên xem. Ánh mắt cô quét chậm rãi qua từng gạch đầu dòng. Lần này, cây bút chì đỏ nằm yên trên mặt bàn. Sau gần một phút im lặng, cô Mai khẽ gật đầu một cái—một cái gật đầu kín đáo, khô khan đến mức nếu Bảo không nín thở quan sát thì chắc chắn đã bỏ qua. Cô với tay lấy chiếc kẹp sắt treo trên vách tôn, bấm chiếc phiếu dính chặt vào hàng phiếu đang chờ xử lý.

Thế nhưng, ngay khi Bảo vừa kịp thở phào nhẹ nhõm thì ánh mắt sắc sảo của cô Mai lại lia sang góc xưởng phía sau—nơi những giỏ nhựa đựng phụ tùng cũ vừa được Bảo dọn dẹp lúc sáng đang nằm ngay ngắn dưới chân tường.

Nhìn những tấm bìa các-tông được cắt gọt tỉ mỉ từng góc cạnh, dán băng dính bóng lộn với những dòng chữ in hoa nắn nót kiểu học sinh gương mẫu, khóe miệng người thợ già khẽ giật giật. Cô quay sang nhìn Bảo, ánh mắt đầy vẻ ngao ngán:

"Còn cái đống nhãn mác màu mè kia nữa," cô Mai chỉ chiếc tuốc nơ vít dài về phía góc tường. "Mày rảnh rỗi quá hả Bảo? Dán nhãn phân loại phụ tùng là để người thợ khi cần đồ thì chỉ việc thò tay vào lấy cho nhanh, đúng kích cỡ ren, đúng chủng loại bulông để kịp tiến độ sửa xe cho người ta. Cái tiệm này là cái xưởng sửa xe cơ khí của xóm lao động, không phải cái phòng triển lãm thủ công mỹ nghệ hay cái thư viện trên tỉnh mà cần mày ngồi cắt tỉa bìa cứng mất cả tiếng đồng hồ cho nó 'đẹp mắt'!"

Bảo sững người, mặt lại nóng ran.

"Làm nghề chân tay, cái gì thiết thực phục vụ cho năng suất, cho tốc độ thì làm. Bớt mấy cái trò hình thức rườm rà, vẽ vời đó lại giùm tao. Thời gian mày ngồi vuốt mấy cái mép băng dính đó, để dành mà học cách dùng mắt thường nhìn vào bước ren để phân biệt con ốc nào là ren mịn một chấm không, con ốc nào là ren thô một chấm hai lăm đi! Con ốc ren mịn mà mày cầm nhầm vặn đại vào cái lỗ ren thô của mayo xe đạp thì mày phá nát cả cái may-ơ của người ta, lúc đó có dán mười cái nhãn đẹp cũng chẳng đền nổi tiền cho khách đâu!"

"Dạ... con xin lỗi, con rút kinh nghiệm ạ," Bảo cúi gầm mặt, hai bàn tay nắm chặt vạt áo lao động bám đầy bụi sắt.

Cô Mai không nói thêm lời nào nữa. Cô xoay người quay trở lại với chiếc xe cào cào đang dang dở trên giá đỡ. Cô cúi người xuống, với tay lấy chiếc cờ lê tròng cỡ mười bốn, tròng chặt vào con ốc trục của bánh trước. Cô dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể và lực cánh tay xuống để siết chặt vòng ren cuối cùng.

Thế nhưng, đúng khoảnh khắc lực siết đạt mức tối đa, toàn bộ động tác của cô Mai bỗng nhiên khựng lại giữa chừng.

Một cái nhíu mày đau đớn thoáng hiện trên gương mặt sạm nắng của cô. Các cơ mặt cô co giật nhẹ. Cô Mai buông vội chiếc cờ lê ra, để mặc nó rơi tự do xuống sàn phát ra một tiếng *choang* khô khốc. Người đàn bà nhanh chóng đưa bàn tay trái lên nắm chặt lấy cổ tay phải của mình. Cô xoay nhẹ cổ tay thành một vòng tròn vụng về, rồi dùng các ngón tay thô ráp bóp chặt vào các khớp ngón tay đang run rẩy một cách vô thức. Đôi mắt người thợ già thoáng hiện lên một tia mệt mỏi, nặng nhọc và bất lực đến tột cùng—dấu vết không thể che giấu của một căn bệnh thoái hóa khớp kinh niên do hàng chục năm dùng sức siết ốc và cầm búa nặng.

Toàn bộ cử chỉ ấy diễn ra chỉ trong chưa đầy ba giây. Ngay khi cô Mai vừa ngước mắt lên và bắt gặp ánh nhìn của Bảo đang trân trối nhìn về phía cổ tay mình, vẻ mặt cô lập tức biến đổi. Nét mệt mỏi biến mất như chưa từng tồn tại, thay vào đó là sự lạnh lùng, nghiêm nghị quen thuộc.

Cô Mai hạ tay xuống thật nhanh, cúi người nhặt chiếc cờ lê dưới sàn lên, lau nhẹ vào vạt áo rồi tiếp tục siết nốt nửa vòng ren còn lại một cách dứt khoát như không có bất kỳ chuyện gì xảy ra.

"Đứng ngây ra đó làm gì?" Cô Mai nói cộc lốc, không ngoảnh đầu lại. "Ra lấy cái thau nhôm với nửa ca dầu hôi dưới gầm bàn ra đây. Rửa sạch đống líp cũ trong cái rổ thứ ba cho tao."

Suốt cả buổi chiều hôm đó, nhịp độ công việc trong gian xưởng diễn ra dồn dập trong tiếng kim loại va đập lách cách và mùi dầu hôi nồng nặc đến nghẹt thở. Bảo tuyệt đối không được phép chạm tay vào bất kỳ chiếc cờ lê, mỏ lết hay cây tuốc nơ vít nào. Công việc duy nhất của cậu là cúi rạp người trên chiếc thau nhôm cáu bẩn, dùng chiếc bàn chải sắt sợi cứng chà xát từng kẽ răng của những chiếc líp cũ ngâm trong dầu hôi, cho tới khi lớp mỡ bò chết và bùn đất đen ngòm bong ra hết, để lộ màu kim loại xám xịt.

Dầu hôi ngấm qua da tay, xông thẳng vào vết xước ở ngón trỏ lúc sáng làm nó xót buốt đến tận óc. Khi đã rửa xong đống líp, cậu lại cầm cây chổi đóa quét dọn từng vụn mạt sắt vương vãi trên nền xi măng, gom đống giẻ lau dơ sũng dầu vào chiếc thùng phuy sắt rỉ sét đặt ở góc hiên.

Trong suốt buổi chiều, có thêm hai người khách vãng lai dắt xe đạp bị xẹp lốp và đứt xích vào tiệm. Dưới ánh mắt giám sát khắt khe như thanh tra của cô Mai, Bảo đứng ra tiếp nhận xe, cẩn thận đặt từng nét bút bi lên tờ phiếu tiếp nhận. Cậu kiểm tra kỹ lưỡng từng chi tiết: từ độ mòn của xích, độ rơ của vành xe cho đến chân van cao su. Mỗi lần ngòi bút chạm vào mặt giấy, tay cậu lại hơi run lên vì căng thẳng; cậu rà soát lại từng câu chữ trong đầu ba bốn lần, sợ rằng chỉ cần một chữ dùng sai hay một tính từ cảm tính lọt vào trang giấy thì cây bút chì đỏ kia sẽ lại bổ xuống không thương tiếc.

Đúng năm giờ ba mươi chiều, ánh hoàng hôn đỏ quạch bắt đầu buông xuống mặt sông phía bờ kè. Tiếng còi tan ca từ nhà máy chế biến thủy sản ngoài bến cảng hú lên một hồi dài báo hiệu kết thúc ngày làm việc.

Cô Mai cất toàn bộ đồ nghề trên bàn vào chiếc tủ sắt có khóa số, khóa chặt cánh cửa tủ lại. Cô bước ra sàn nước nhỏ phía sau, dùng bánh xà phòng bột xoa kỹ hai bàn tay đen nhẻm cho tới khi nổi bọt trắng xóa rồi dội nước thật sạch. Bước ra ngoài, cô nhìn Bảo đang đứng nép bên góc cửa, hai ống quần dính đầy mạt sắt và hai bàn tay ố vàng mùi dầu hôi.

"Nghỉ được rồi," cô Mai nói, giọng đã bớt đi vẻ gay gắt nhưng vẫn giữ nguyên khoảng cách lạnh lùng. "Cầm cái bản sao thỏa thuận học việc với mức phụ cấp hồi sáng về nhà đi. Mai đúng bảy giờ kém mười lăm có mặt mở cửa xưởng."

Bảo nhìn về phía chiếc xe đạp Martin 107 của mình đang dựng nép bên góc tường xưởng. Chiếc xe vẫn nằm nguyên ở đó, chưa hề được đụng tới. Cô Mai liếc mắt theo hướng nhìn của cậu, nói thêm một câu ngắn ngủn:

"Cái trục giữa xe mày bị mòn lún rãnh bi quá sâu rồi, ren bát phốt cũng bị trờn mép. Mai tao rảnh tay mới đưa lên bàn tiện lại ren được, giờ lấy xe đi về là trật khớp ren hỏng luôn cả cái sườn xe. Để xe lại đây. Đi bộ về."

"Dạ... con chào cô con về ạ." Bảo lí nhí đáp. Cậu cẩn thận gấp tờ giấy ghi bản thỏa thuận học việc làm tư, nhét sâu vào túi ngực bên trong của chiếc áo khoác gió mỏng, rồi bước qua bậu cửa sắt đi ra đường lộ.

Quãng đường hai cây số từ trung tâm thị trấn Hải An về xóm Cồn ven sông chiều nay dường như dài gấp đôi mọi ngày. Gió từ cửa biển thổi ngược chiều từng cơn lồng lộng, mang theo vị mặn chát của hơi muối và mùi tanh nồng của cá tôm táp thẳng vào mặt Bảo. Đôi chân cậu mỏi nhừ sau một ngày dài đứng liên tục trên nền xi măng cứng. Hai bàn tay sau nhiều giờ ngâm trong dầu hôi và cọ xát với sắt vụn trở nên khô khốc, căng cứng, da tay nhăn nheo lại như da người già. Vết xước nhỏ do nan hoa đâm ban sáng giờ đây gặp gió biển lạnh ngắt bắt đầu nhức nhối từng cơn, buốt nhói lên tận cổ tay.

Thế nhưng, giữa cái mệt mỏi rã rời của thể xác, Bảo lại cảm nhận được một sự thay đổi kỳ lạ đang nhen nhóm bên trong tâm trí mình. Cảm giác trống rỗng, chới với và hoang mang tột độ của những ngày đầu tiên vác ba lô rời khỏi cổng trường đại học đã dần biến mất. Thay vào đó là một điểm tựa thực tế vô cùng rõ ràng—dù điểm tựa ấy chỉ là một bản thỏa thuận thử thách ba tháng đầy khắc nghiệt, với mức phụ cấp bèo bọt một triệu hai trăm ngàn đồng mỗi tháng. Cậu không còn lơ lửng giữa những ảo tưởng về một tương lai bàn giấy xa vời; cậu đã bắt đầu chạm chân xuống mặt đất, nơi mà mỗi đồng tiền kiếm được đều phải trả giá bằng sự chính xác và mồ hôi thật sự.

Về đến căn nhà cấp bốn ở mé xóm Cồn thì trời đã sụp tối hoàn toàn. Ánh đèn dầu lờ mờ hắt ra từ những khe liếp của xóm chài nghèo. Mùi cá trích kho mật mía và mùi mắm tỏi thơm nồng quen thuộc thoang thoảng bay ra từ gian bếp nhỏ phía sau nhà.

Bảo bước qua ngõ đất, thấy đôi ủng cao su màu xanh bám đầy vảy cá của cha dựng ngay cạnh bậc tam cấp. Ông Lâm đã về từ lúc nào.

Người đàn ông năm mươi mốt tuổi ngồi một mình bên chiếc bàn ăn bằng gỗ tạp ngoài hiên sau. Trên người ông vẫn là chiếc áo thun dài tay màu cháo lòng cáu ố vệt mồ hôi muối nơi nách áo—bộ đồ lao động quen thuộc của những buổi đi bốc dỡ cá thuê ngoài bến cảng từ bốn giờ sáng. Chiếc nón cối sờn rách, nát bươm một bên vành được đặt ở góc bàn, cạnh bao thuốc lá Tam Đảo đã bẹp dúm và chiếc bật lửa ga màu đỏ.

Nghe tiếng bước chân Bảo bước vào thềm, ông Lâm không hề ngẩng đầu lên. Chiếc lưng còng gập của người phu vác cá hơi bất động trong một tích tắc, rồi ông lại lẳng lặng dùng đôi đũa tre so le gắp mấy cọng rau muống luộc chấm vào bát nước mắm ớt dầm tỏi đặt giữa mâm. Không khí trong căn nhà vẫn đặc quánh sự ngột ngạt và nặng nề sót lại từ trận cãi vã dữ dội trưa hôm qua, khi Bảo cúi đầu thú nhận chuyện cậu đã bỏ ngang giảng đường đại học để quay về quê.

Bảo nhẹ nhàng đặt chiếc ba lô lên chiếc ghế băng dài kê sát vách đất. Cậu đi thẳng ra vại nước mưa ngoài góc sân, múc từng gáo nước lạnh buốt rửa sạch lớp bụi bặm bám trên mặt và cọ rửa thật kỹ hai bàn tay nhem nhuốc bằng cục xà phòng tắm rẻ tiền cho tới khi bớt mùi dầu hôi.

Rửa xong, cậu bước vào gian nhà sau, kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ ngồi xuống đối diện với cha qua chiếc mâm nhôm tròn trầy xước.

"Ba... ba đi làm về lâu chưa ạ?" Bảo cất tiếng, cố gắng phá vỡ sự im lặng đang đè nặng lên gian phòng.

Ông Lâm nhai chậm rãi từng hạt cơm khô khốc, nuốt xong miếng cơm xuống cổ họng mới cất giọng khàn đặc, đục ngầu vì khói thuốc và sương đêm:

"Ừ. Hôm nay ghe ngoài đảo về ít, biển động nên xong việc sớm hơn mọi bữa."

Ánh mắt đùng đục của ông Lâm khẽ lướt qua mặt bàn, dừng lại ở hai bàn tay của Bảo. Đôi bàn tay vốn trắng trẻo, mềm mại của đứa con trai được ông chắt chiu từng đồng tiền vác cá nuôi ăn học ba năm trên tỉnh, giờ đây đã đen nhẻm những vệt mỡ bò bám sâu vào tận kẽ móng tay không thể cọ sạch. Ở đốt thứ hai ngón trỏ bên phải, một miếng băng gạc cá nhân loại rẻ tiền mua vội ở tiệm tạp hóa đầu ngõ dán vẹo vọ, mép băng đã bắt đầu bong tróc và thâm đen vì bụi sắt.

Đôi chân mày rậm rạp đầy những nếp nhăn nheo của người cha khẽ co giật một cái thật nhẹ. Bàn tay đang cầm đũa của ông khựng lại trong một thoáng ngắn ngủi, nhưng ông không hỏi một lời nào.

Bảo hít một hơi thật sâu để lấy lại can đảm. Cậu thò tay vào túi ngực bên trong của chiếc áo khoác gió, rút ra tờ giấy A4 được gấp làm tư đã hơi nhăn nhúm mép vì mồ hôi. Cậu dùng hai tay trải nhẹ tờ giấy ra, miết phẳng nếp gấp rồi đẩy nhẹ nó qua mặt mâm nhôm, đặt ngay trước mặt cha.

"Ba xem giùm con cái này với ạ."

Ông Lâm buông đôi đũa tre xuống cạnh miệng bát sứt. Ông nhìn tờ giấy một lúc, rồi chầm chậm thò tay vào túi áo ngực lấy ra chiếc kính lão cũ mòn. Một bên gọng kính nhựa đã bị gãy từ lâu, được ông lấy một đoạn dây đồng nhỏ tước ra từ dây điện cũ quấn chằng chịt lại để giữ chặt tròng kính. Ông cẩn thận móc gọng kính vào hai bên vành tai, rồi cầm tờ giấy thỏa thuận học việc lên ngang tầm mắt.

Dưới ánh sáng vàng vọt, tù mù của chiếc bóng đèn sợi đốt bốn mươi oát treo lơ lửng bằng sợi dây điện chùng võng giữa trần nhà, ông Lâm đọc từng dòng chữ viết tay của cô Mai. Đôi mắt kèm nhèm nhiều tia máu đỏ của người phu vác cá rê theo từng ngón tay thô ráp, chai sạn như một khúc gỗ mục:

*Thời gian thử thách: 03 tháng...* *Giờ làm việc: Bảy giờ sáng đến năm giờ ba mươi chiều...* *Nội dung: Phụ việc lặt vặt, vệ sinh xưởng... Tuyệt đối không tự ý tháo lắp xe của khách...* *Khoản phụ cấp hỗ trợ: 1.200.000 đồng/tháng...* *Đánh giá năng lực: Mỗi 30 ngày đối chiếu một lần...*

Không gian trong căn nhà cấp bốn trôi qua trong sự im ắng đến nghẹt thở. Chỉ có tiếng gió đông lùa qua những khe hở của vách liếp kêu lên từng hồi *ù ù* lạnh lẽo, tiếng mỡ cá trích sôi lách tách trong chảo gang ở góc bếp và tiếng chiếc đồng hồ quả lắc cũ kỹ treo trên tường buồng điểm từng nhịp *tíc tắc* khô khốc.

Đọc xong dòng chữ cuối cùng nơi có chữ ký *Trần Gia Bảo* của con trai, ông Lâm từ từ tháo chiếc kính lão xuống. Ông đặt kính lên mặt bàn ăn, bàn tay to bè, nứt nẻ vì nước biển và đá lạnh khẽ miết lên mép tờ giấy hồi lâu. Sau đó, ông ngước mắt lên, nhìn thẳng vào mắt Bảo:

"Một triệu hai một tháng," giọng ông trầm đục, không còn cái gay gắt dữ dội như buổi trưa hôm qua, nhưng chứa đầy sự hoài nghi sâu sắc và nỗi âu lo trần trụi của một người đã cả đời nếm trải cái đói nghèo cơ cực. "Cái tiền này... một ngày ba bữa cơm bụi ngoài chợ còn không đủ để mày nhét vào mồm, mày tính sống bằng cái gì để trụ qua ba tháng?"

Bảo nhìn thẳng vào ánh mắt của cha, không hề né tránh như những lần trước. Cậu cố giữ cho giọng mình không bị run rẩy:

"Con tính toán kỹ rồi ba. Ba tháng đầu tiên con là đứa học việc, chưa làm ra được đồng tiền nào cho tiệm của cô Mai nên cô chỉ hỗ trợ chừng đó tiền gọi là phụ cấp ăn trưa tượng trưng thôi. Con... con muốn xin ba cho con được ăn cơm ở nhà hai bữa sáng với bữa tối. Tiền ăn của con trong tháng đầu tiên này... con xin ba cho con được mượn ba trước. Hết ba tháng thử thách, nếu con được cô Mai giữ lại làm thợ phụ chính thức, có lương tháng đều đặn, con sẽ dành dụm gửi lại ba đầy đủ từng đồng tiền ăn này."

Ông Lâm ngồi bất động, đôi mắt nhìn chằm chằm vào khuôn mặt con trai. Ánh nhìn của ông nặng trĩu, sắc lạnh như những tảng đá ướp cá ngừ mà ông vẫn gồng lưng vác trên vai mỗi sớm mai ngoài bến cảng.

"Mày có chắc chắn là mày theo nổi cái nghề này không?" Ông Lâm hỏi, giọng chùng hẳn xuống, nghe xót xa. "Hay là mày chỉ làm được dăm bữa nửa tháng, chân tay phồng rộp lên, người ta mắng chửi cho vài ba câu rồi lại vứt áo chạy về nhà bảo là không hợp, không chịu nổi cực khổ?"

"Con không bỏ," Bảo ngẩng cao đầu, ánh mắt kiên định và quả quyết chưa từng thấy trong suốt hai mươi hai năm qua. "Chữ ký này là do chính tay con đặt bút ký xuống tờ giấy, con sẽ tự chịu trách nhiệm tới cùng về nó. Nếu hết ba tháng thử thách mà con không chứng minh được bản thân, không được cô Mai nhận làm thợ... con sẽ tự giác xếp đồ bước ra bến cảng vác cá với ba, không bao giờ mở miệng kêu ca hay viện cớ thêm một lời nào nữa."

Hai người đàn ông ngồi đối diện nhau qua chiếc mâm nhôm sứt mẻ. Gió ngoài cửa sông lại thổi mạnh một đợt mới, làm rung bần bật tấm liếp che sau bếp, mang theo hơi ẩm lạnh buốt của con nước đêm tràn vào gian nhà.

Một lúc lâu sau, một khoảng lặng dài tưởng như vô tận trôi qua, ông Lâm khẽ thở dài một tiếng thật sâu. Tiếng thở dài dường như đã trút bớt một phần gánh nặng u uất, cay đắng đã đè nghiến lên lồng ngực người cha già suốt hai ngày đêm vừa qua.

Ông chầm chậm thò tay vào túi sau của chiếc quần tây bộ đội bạc phếch, rút ra một chiếc ví da cũ kỹ đã sờn rách hết các mép viền, bên ngoài buộc túm bằng một sợi dây thun tròn. Ông cẩn thận tháo sợi dây thun ra, mở chiếc ví mỏng dính.

Bằng những ngón tay thô ráp, vụng về, ông rút ra hai tờ tiền polyme mệnh giá hai trăm ngàn đồng đã cũ mòn, nhàu nát và quăn queo mép. Ông đặt hai tờ tiền ngay ngắn xuống mặt mâm nhôm, ngay sát cạnh bản thỏa thuận học việc của cô Mai.

"Tiền cơm nước trong nhà này xưa nay tao chưa bao giờ tính toán chi li từng bát gạo với con cái làm gì," ông Lâm nói, giọng trầm và dứt khoát như chặt củi. "Bốn trăm ngàn này tao cho mày mượn để mày dắt lưng, đổ xăng với uống chén nước chè dọc đường trong cái tháng đầu tiên này. Tao chỉ hỗ trợ cho mày đúng một tháng này thôi, nghe cho rõ chưa? Hết tháng này, làm được việc hay không làm được việc thì tự thân mày phải bươn bả mà lo lấy cái thân xác mày. Mày hai mươi hai tuổi đầu rồi, chữ ký mày đã đặt xuống trang giấy trắng mực đen thì mày phải tự gánh lấy toàn bộ cái hậu quả của nó."

Nói dứt lời, ông Lâm cầm đôi đũa tre lên, và một miếng cơm nguội vào miệng, cúi đầu tiếp tục ăn bữa tối đạm bạc của mình trong im lặng, không nói thêm một câu nào nữa.

Bảo nhìn hai tờ tiền hai trăm ngàn nhàu nát nằm trên mặt mâm nhôm, rồi nhìn mái tóc hoa râm bù xù cùng cái bóng lưng còng gập của cha in trên vách tường đất dưới ánh đèn vàng vọt. Một cục nghẹn đắng ngắt bất ngờ dâng ứ lên nơi cuống họng, làm cay xè hai hốc mắt cậu.

Cậu vươn tay, cẩn thận cầm hai tờ tiền lên, dùng lòng bàn tay miết phẳng từng nếp gấp quăn queo rồi nhét sâu vào túi áo ngực cùng với bản thỏa thuận học việc.

Bảo đưa bàn tay còn dính đầy mỡ bò thọc sâu vào túi quần, khẽ chạm vào cuốn sổ tay bìa cứng nhỏ bé bên trong. Nơi đó, góc tờ phiếu tiếp nhận xe đầu tiên bị cô Mai dùng bút chì đỏ gạch chéo một đường tàn nhẫn vẫn còn nguyên vẹn vết lằn sâu hoắm trên mặt giấy bãi bằng. Vết hằn cơ học ấy như một chiếc la bàn bằng kim loại nhọn hoắt ghim chặt vào da thịt cậu, nhắc nhở Bảo một chân lý trần trụi: ở cái xưởng sửa xe nghèo nàn này, cũng như trong suốt chặng đường đời lao động thực tế đang mở ra trước mắt, sẽ không bao giờ có chỗ cho những lời văn hoa sáo rỗng hay sự tự ái viển vông tồn tại.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn