Lỗi không nằm ngoài sổ
Tiếng chuông xe đạp lách cách ngoài cửa tiệm giữa buổi trưa gay gắt kéo Bảo giật mình tỉnh khỏi những dòng tính toán luẩn quẩn về dự án.
Nắng tháng Tám dội thẳng xuống mái tôn fibro-xi măng của Tiệm Sửa Những Điều Chưa Muộn, nung không khí trong gian sửa xe bốc lên mùi ngai ngái của dầu hôi, bụi gỉ sắt và mỡ bò lâu năm. Cây quạt cóc con con gá trên góc cột gỗ chỉ thổi ra từng luồng gió hầm hập, làm bay bay mấy góc giấy đã quăn queo trên bàn làm việc. Bảo đặt cây bút bi xuống cuốn sổ tay cá nhân bìa bọc nhựa sờn gáy. Trên trang giấy kẻ ngang, những dòng ghi chú về danh mục linh kiện rã từ sáu xác xe phế thải X04, X07, X11, X14, X16, X18 vẫn còn dở dang những gạch đầu dòng chi chít mực xanh mực đỏ. Cậu đã từ chối ông Đạt tối qua, đã quyết tâm giữ vững con số mười hai chiếc xe an toàn cho học sinh nghèo của trường THCS Hải An, nhưng nỗi lo về kinh phí, về việc gom đủ phụ tùng tương thích đời cũ từ đại lý của anh Tín vẫn cứ quay cuồng như chiếc nan hoa lệch tâm trong đầu. Tiệm chỉ có vỏn vẹn ba triệu rưỡi tiền mặt do phía ban giám hiệu tạm ứng, trong khi giá sỉ từng cặp vành nhôm, từng sợi sên xích và từng bộ chén cổ gom ngoài vựa phế liệu cứ nhích lên từng ngày theo giá sắt thép ngoài thị trường.
— Cô Mai có nhà không đấy? — Giọng nói the thé, xé ngang không gian oi ả của cô Sương vang lên từ mé hiên, đi kèm tiếng chân chống sắt nặng trịch nện cái *keng* khô khốc xuống nền xi măng nứt nẻ.
Bảo vội đứng dậy, quẹt mồ hôi đang rịn ra đầy trán bằng mu bàn tay dính muội than:
— Dạ, cô Sương! Cô Mai đang ra bưu điện xóm gửi bọc giấy tờ chuyển phát nhanh cho bên phòng giáo dục rồi cô. Tầm hai mươi phút nữa cô Mai mới về. Có chuyện gì gấp không cô?
Cô Sương gạt chiếc nón lá rách vành ra sau lưng, để lộ gương mặt sạm nắng đầy vẻ sốt ruột và những nếp nhăn hằn sâu nơi khóe mắt. Bộ quần áo vải hoa màu xỉn của cô đẫm mồ hôi hai bên nách, vạt áo còn vắt ngang chiếc khăn rằn sũng nước muối biển và bụi đường. Chiếc xe đạp thồ Liên Xô đời cũ dựng trước hiên nghiêng hẳn một bên — chiếc xe có khung sắt đúc dày cui màu xanh rêu đã tróc từng mảng lớn, hai bên ba-ga sau hàn gia cố bằng hai gióng sắt đặc to bản chuyên dùng để chở sọt bánh mì và bánh bao đi bỏ mối khắp các ngóc ngách ven bờ vịnh.
— Chết dở, con Mai đi vắng à? Tao ghé vội đây để kiểm tra cái trục giữa giò dĩa — Cô Sương thở hổn hển, một tay chống vào hông, một tay chỉ thẳng xuống ổ trục bám đầy bùn đất khô khốc phía dưới. — Cả sáng nay chở bốn sọt bánh bao giao chợ Cũ, đạp nó cứ kêu *lục cục lục cục*, nặng trịch như có ai kéo ngược đùi đĩa lại. Chiều nay đúng hai giờ rưỡi là tao phải vào lò bánh của chú Ba lấy sáu mươi ổ bánh mì sỉ với ba thùng bánh ngọt chuyển sang bến đò Xóm Cồn trước con nước lớn. Trễ chuyến đò ba giờ là mối dưới đó người ta trả bánh lại hết, mất trắng hai trăm ngàn tiền cọc của tao chứ chẳng chơi!
Cô Sương sốt ruột rút chiếc quạt mo cau giắt ở ghi-đông phe phẩy lấy phe phẩy để, mắt đảo quanh tiệm nhìn những dãy đồ nghề treo ngăn nắp trên vách ván:
— Mày xem làm được không Bảo? Thay cái cốt trục giữa hay thay bi gì đó làm liền cho tao. Đừng có để trễ như bận trước, tao phải tốn ba chục ngàn thuê xe ôm chở rau muống tao rủa cả tuần đấy nhé!
Bảo thoáng chần chừ. Lời dặn của cô Mai về việc người học việc tuyệt đối không được tự ý sửa xe cho khách khi chưa có lệnh hay sự giám sát trực tiếp vẫn còn văng vẳng bên tai. Nhưng nhìn sự bồn chồn lộ rõ trên từng nét mặt của cô Sương, cộng thêm sự tự tin rằng mình đã thuần thục việc tháo lắp trục giữa vuông qua hàng loạt buổi rã xác xe ngày hôm qua, Bảo khẽ nuốt nước bọt. Hơn nữa, cậu nhớ quy tắc phiếu tiếp nhận hai liên mà chị Vy đã kỳ công in ấn để chuẩn hóa quy trình của tiệm.
— Dạ được cô, để con nhận xe kiểm tra cho cô. Con viết phiếu tiếp nhận rồi tháo ra sẵn, tí cô Mai về ký duyệt phương án là ráp vào ngay, kịp giờ cô đi lấy bánh.
Bảo rút tập phiếu tiếp nhận hai liên đặt ngay ngắn trên bàn làm việc, lấy bút bi cẩn thận điền vào từng ô mục: - *Lời khai của khách:* "Đạp nặng, kêu lục cục ở ổ trục giữa, cần xe trước 14:00 để chở bánh mối sỉ." - *Hiện trạng thực tế:* "Trục giữa xe thồ Liên Xô có độ rơ dọc trục khoảng 2mm, quay tay nặng, có tiếng kim loại cọ xát gắt trong bát trục." - *Kết luận:* "Chờ tháo rời kiểm tra bi và côn bát trục; chưa ấn định giờ giao chính thức."
Cô Sương liếc nhìn chiếc đồng hồ điện tử cũ kỹ đeo nơi cổ tay, sốt ruột giục:
— Thôi khỏi rườm rà giấy tờ với tao, tao khách quen cả chục năm rồi! Mày tháo coi đi, bi bể thì thay bi, mòn cốt thì thay cốt. Cốt vuông đợt trước thay ở đâu tao nhớ rồi. Đúng một giờ rưỡi tao quay lại lấy xe đấy!
Nói xong, chẳng đợi Bảo xé liên hồng đưa cho mình, cô Sương vội vã quày quả đi bộ ngược ra phía chợ cá để dọn nốt sạp bánh buổi sáng, tiếng dép nhựa lẹp xẹp xa dần trong ngõ nắng chang chang.
Bảo dắt chiếc xe thồ nặng trịch vào giữa gian sửa xe, gác đứng chân chống lên tấm ván gỗ kê phẳng để tránh làm xước nền nhà. Cậu lấy bộ cờ-lê tròng, bộ lục giác và chiếc cảo đùi đĩa chuyên dụng trong hòm đồ nghề ra. Cổ tay cậu thoăn thoắt tháo hai con ốc tán cố định đùi đĩa, vặn ren chiếc cảo vào sâu trong họng ren của đùi đĩa rồi dùng cờ-lê siết chặt trục cảo để đẩy chiếc đùi đĩa nặng trịch bằng thép đúc ra khỏi cốt trục. Mọi thao tác ban đầu diễn ra vô cùng trơn tru, đúng y như những gì cậu đã thực hành nhuần nhuyễn trên các khung xe học sinh.
Nhưng khi tháo đến chiếc bát trục phía bên phải — bát trục ren ngược của khung xe Liên Xô — Bảo bắt đầu lúng túng.
Chiếc bát trục này dường như đã rỉ sét bết chặt vào lòng ống khung xe do ngấm nước mưa, nước rửa cá và hơi muối mặn ròng rã suốt mấy mùa mưa nắng. Lớp đất cát quện với dầu mỡ chết đóng thành một vành đai cứng ngắc như đá vôi quanh miệng ren. Bảo phải xịt một lượng lớn dung dịch rã rỉ sét RP7, chờ năm phút cho hóa chất ngấm sâu rồi mới dùng cây cờ-lê móc chuyên dụng gõ nhẹ từng nhịp. Sau vài cú dằn búa cẩn trọng, ren mới chịu nhích ra từng phần mười milimét. Khi tháo hẳn được bát trục ra ngoài, Bảo ghé mắt nhìn vào trong: một vòng bi rế bên trong đã vỡ nát từ lâu, những viên bi thép méo mó nằm lẫn lộn trong lớp mỡ bò chuyển sang màu đen kịt, vón cục lại thành một thứ bùn mài mòn sắc lẹm, cắn nham nhở vào bề mặt côn trục và để lại những rãnh sâu hoắm.
*Hỏng cốt và vỡ bi rồi, phải thay nguyên bộ bát trục và cốt giữa mới,* Bảo thầm nhủ.
Cậu đi lại tủ linh kiện dự trữ của tiệm, tìm trong ngăn kéo dành riêng cho phụ tùng chịu tải nặng, lấy ra một bộ bát trục ren hệ inch mới tinh của xe thồ, xé lớp bao bì ni-lông ra. Cậu nhúng bàn chải sắt nhỏ vào khay dầu hôi, cọ rửa sạch sẽ cặn sắt rỉ sét bám trong lòng ống ren của sườn xe rồi lấy giẻ lau khô cẩn thận. Lòng ống sườn xe sau khi lau chùi lộ ra các đường ren thép nguyên bản, dù có chút sứt mẻ vì thời gian nhưng vẫn còn đủ sâu để giữ bát trục.
Đúng lúc Bảo chuẩn bị bắt tay vào lắp ráp, chuông điện thoại bàn của tiệm bỗng reo vang inh ỏi.
Chiếc máy điện thoại để bàn bằng nhựa đen bóng đặt trên bàn sổ sách rung bần bật, tiếng chuông cơ khí kim loại reng lên từng hồi chói gắt. Bảo giật mình quay lại nhìn. Cậu không dám nhấc máy, trong lòng dấy lên nỗi âu lo rằng đó lại là giọng nói gắt gỏng của ông Đạt gọi tới để tiếp tục gây áp lực về danh sách xe hay đe dọa chuyện bảng tin khu phố. Cậu cố tình quay mặt đi, vờ như không nghe thấy, nhưng tiếng chuông dai dẳng như một nhịp búa gõ dồn dập vào màng nhĩ, bóp nghẹt sự tập trung của cậu. Tâm trí Bảo lập tức bị kéo giật về dự án mười hai chiếc xe đạp: bảng giải trình kỹ thuật sáng nay cậu viết vội đã đủ rõ ràng để thuyết phục thầy hiệu phó chưa? Liệu cô Hạnh ra bảng tin khu phố Hai dán giấy có bị ông Đạt chặn lại sinh sự hay không? Rồi số phụ tùng thiếu hụt cho đợt ráp thứ hai, khoản tiền gom đơn để được hưởng mức chiết khấu năm phần trăm của anh Tín phải xoay xở ở đâu ra khi tiệm chỉ có đúng ba triệu rưỡi tiền mặt? Hàng tá con số, nỗi lo tài chính, danh dự của tiệm và sự an toàn của đám học sinh cứ chen lấn, xô đẩy nhau hỗn loạn trong tâm trí cậu học việc.
Tay phải Bảo cầm chiếc bát trục mới bôi một lớp mỡ bò mỏng, đưa vào miệng ống ren của khung xe.
Đáng lẽ theo đúng nguyên tắc sắt đá mà cô Mai từng răn dạy hàng chục lần, cậu phải dùng hai đầu ngón tay trần nhẹ nhàng mớm bát trục vào miệng ren, xoay ngược một chút để tìm đúng điểm bắt đầu của rãnh ren, rồi mới vặn xuôi theo chiều kim đồng hồ từ ba đến bốn ren đầu tiên. Bằng cách đó, người thợ mới cảm nhận được độ êm, độ ăn khớp tuyệt đối giữa hai bề mặt ren trước khi dùng cờ-lê tăng lực siết. Nhưng tiếng chuông điện thoại vừa tắt ngấm thì ngoài đường cái, tiếng còi xe tải chở cá đông lạnh lại rú lên một tràng dài inh tai nhức óc. Nhìn đồng hồ đã chỉ sang mười hai giờ trưa, Bảo nôn nóng muốn hoàn thành thật nhanh công đoạn này trước khi cô Mai từ bưu điện trở về. Cậu chỉ vừa gá hờ đầu bát trục vào miệng ren, thấy nó hơi ngậm vào mép ống thép là lập tức vồ lấy chiếc cờ-lê móc cỡ lớn gài vào khấc của bát trục.
Cậu tì cả lòng bàn tay lên cán cờ-lê dài, dồn trọng lượng nửa thân trên xuống để siết mạnh một vòng dứt khoát.
*Rắc!*
Một tiếng rạn khô khốc, đanh gọn và chát chúa vang lên từ sâu bên trong ống thép.
Cảm giác trên tay Bảo bỗng nhiên nặng trịch một cách bất thường, như thể có một viên sỏi cứng vừa bị nghiền nát vụn dưới chân ren. Bảo hơi giật mình khựng lại, một thoáng hoài nghi lóe lên, nhưng đầu óc cậu vẫn đang mải dính chặt vào hình ảnh sáu chiếc xe phế liệu nằm trong kho sau của trường học, nên cậu tự trấn an rằng đó chỉ là chút cặn gỉ sắt cũ còn sót lại bị lực ép đè bẹp. Cậu bặm môi, siết thêm nửa vòng cờ-lê nữa. Lực siết càng lúc càng kẹt cứng, dội ngược một phản lực chát chúa, tê buốt vào tận khớp cổ tay cậu.
Bảo dừng lại, thở hắt ra, đưa mu bàn tay áo lau giọt mồ hôi đang tứa ra ròng ròng trên sống mũi. Cậu với tay lấy chiếc cốt trục mới, xỏ qua ổ bi đầy ắp mỡ bò rồi lắp nốt chiếc bát trục bên trái vào. Sau đó, cậu gá tạm chiếc đùi đĩa vào đầu cốt vuông, dùng ngón tay gạt thử một vòng tròn để kiểm tra trớn lăn của trục giữa.
Chiếc đùi đĩa nhích được một góc chín mươi độ rồi khựng lại một cái *cục* nặng nề.
Bảo sững người. Cậu dùng cả bàn tay nắm chặt lấy tay quay đùi đĩa, dùng sức đẩy mạnh tới trước. Không hề có trớn trơn tru, êm ả của một bộ vòng bi mới thay. Thay vào đó là một cảm giác sượng ngắt, gồ ghề đến gai người, rồi toàn bộ cụm trục giữa kẹt cứng ngắc như bị ai dùng chốt thép đóng đinh chặt vào khung sắt.
Tim Bảo hẫng đi một nhịp, lồng ngực thắt nghẽn lại.
Linh cảm chẳng lành ập đến như một gáo nước lạnh. Cậu run rẩy tháo vội chiếc đùi đĩa ra, đưa chiếc cờ-lê móc vào bát trục bên phải để vặn ngược trở ra kiểm tra. Bát trục quay ra cực kỳ nặng nề, mỗi vòng ren nhả ra đều cọ xát ken két. Khi chiếc vòng ren kim loại bằng thép mạ vừa rơi hẳn ra khỏi miệng ống khung xe, một nhúm mạt sắt màu xám bạc li ti, sắc nhọn rụng lả tả xuống sàn xi măng, lấp lánh dưới ánh nắng trưa rọi xiên qua khe cửa.
Bảo quỳ thụp hai gối xuống sàn, dí sát mắt vào miệng ren của khung xe.
Toàn bộ năm đường ren đầu tiên bên trong lòng ống sườn xe Liên Xô đã bị cày xới nát bét. Bát trục mới bị ép vào khi chưa vào đúng khớp ren đã chạy chéo một góc năm độ, lực ép từ cánh tay vội vã của cậu đã biến các rãnh ren thép tôi cứng thành những lưỡi dao sắc lạnh, chém tiện bay toàn bộ các đường ren âm của khung xe thành một mảng kim loại phẳng lỳ, ba-via nham nhở tróc ra từng mảng như xỉ hàn rỗ mặt.
Cháy ren ổ trục!
Đầu óc Bảo quay cuồng như bị ai nện một thanh sắt vào gáy, tai cậu ù đi. Đây không phải là một chiếc xe phế liệu vô danh X04 hay X13 nằm trong góc kho sau của trường THCS Hải An để cậu có thể thong thả mượn phụ tùng đắp đổi. Đây là chiếc xe thồ kiếm cơm hàng ngày của cô Sương — khách quen lâu năm của tiệm, người đàn bà góa nuôi cả gia đình bằng từng cuốc giao bánh mì, bánh bao ra bến đò mỗi buổi chiều tà. Và khung xe thồ Liên Xô đời cũ này là loại ống thép đúc liền thành cực dày, một khi đã cháy toàn bộ ren bát trục giữa thì không thể thay bằng chén cổ thông thường, cũng không thể tiện lại ren nếu không có taro chuyên dụng cỡ lớn và kỹ thuật đắp cốt cực kỳ phức tạp.
Một nỗi sợ hãi tột cùng bóp nghẹt lấy cổ họng Bảo. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm sống lưng áo cậu, dính bết vào da thịt.
*Một giờ rưỡi cô Sương sẽ quay lại lấy xe. Bây giờ đã là mười hai giờ kém hai mươi.*
Thời gian đang trôi đi như cát chảy qua kẽ tay. Một ý nghĩ đen tối, méo mó chợt lóe lên trong đầu Bảo như một phản xạ tự vệ hèn nhát và đê tiện: *Hay là trét thật nhiều mỡ bò kháng mặn vào lòng ống? Bọc thêm một lớp cao su mỏng cắt từ ruột xe hỏng, hoặc quấn vài vòng băng keo non vào chân ren của bát trục, rồi dùng lực cờ-lê ép thật mạnh cho nó ăn chết cứng vào mảng ren sâu phía trong? Miễn sao siết thật chặt cho cốt không rơ lắc, ráp đùi đĩa vào xoay tạm được vài vòng để giao xe cho khách trước đã. Đợi cô Sương chở bánh xong vài hôm nữa, nếu nó có lỏng ra thì bảo là do sườn xe quá cũ, chở nặng quá tải nên bị tuôn ren tự nhiên, chứ không phải do mình làm hỏng...*
Ngón tay Bảo run rẩy với lấy hộp mỡ bò màu xanh rêu bên cạnh. Cậu móc một vốc mỡ dày, chuẩn bị trét vào vết ren nát vụn bên trong miệng ống để che lấp đi những vụn sắt nham nhở.
— Buông cây cờ-lê xuống!
Một giọng nói lạnh buốt, nghiêm khắc vang lên ngay sau lưng.
Bảo giật thót người, đánh rơi chiếc cờ-lê móc xuống nền xi măng phát ra tiếng kim loại va chạm khô khốc và chói tai.
Cô Mai đã đứng ở cửa tiệm từ lúc nào. Trên tay bà vẫn còn cầm chiếc túi vải đựng giấy tờ chuyển phát bưu điện còn thơm mùi mực in. Gương mặt người phụ nữ dày dạn gió sương đanh lại, đôi mắt sâu hoắm nhìn xoáy thẳng vào Bảo, rồi hạ xuống nhìn nhúm mạt sắt lấp lánh dưới sàn và vốc mỡ bò nhớp nháp trên ngón tay run rẩy của cậu.
Cô Mai bước tới, bước chân nặng nề và dứt khoát trên nền xi măng. Bà cúi xuống, nhặt chiếc cờ-lê móc lên khỏi sàn, ném nó vào khay đựng đồ nghề phát ra một tiếng *chát* nảy lửa.
— Mày vừa tính làm cái trò gì đấy? — Giọng cô Mai trầm xuống, không hề gắt gỏng ầm ĩ nhưng nặng như một tảng đá ngàn cân đè nghẹn không khí trong gian phòng.
Bảo cúi gằm mặt xuống, hai vành tai nóng bừng như bị hơ trên lửa, mồ hôi nhỏ tong tòng từ cằm xuống đùi chiếc quần bảo hộ lao động:
— Cháu... cháu vặn bát trục... nó bị kẹt...
Cô Mai không thèm nghe cậu giải thích thêm một lời nào. Bà quỳ một bên gối xuống nền đất, lấy ngón tay trỏ quét nhẹ qua miệng ren ống sườn xe, rồi đưa lên trước mắt nhìn những vảy sắt vụn dính bết trên lớp da chai sạn. Bà thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực phập phồng sau làn áo vải thô:
— Kẹt cái gì? Mày đưa bát trục vào lệch góc mà dám dùng cờ-lê đòn dài để tì lực ép chết ren của người ta! Mày học nghề gần ba tháng trời, tao đã dặn bao nhiêu lần: chi tiết ren của xe thồ, xe chở nặng là bước ren thép tôi, nhích lệch một ly là tiện đứt chân ren của sườn xe. Tay mày không rà ren bằng tay trần, đầu mày để đi đâu mà làm ăn cẩu thả, hấp tấp đến mức này hả Bảo?
Bảo đứng chết trân, hai bàn tay nắm chặt mép áo, lắp bắp không thành tiếng:
— Cháu... cháu sợ không kịp giờ cô Sương lấy xe chở bánh... cháu nghĩ...
— Mày nghĩ cái gì? Mày vừa định bôi mỡ bò vào để ém nhẹm vết cháy ren đúng không? — Ánh mắt cô Mai quắc lên, tia nhìn sắc như lưỡi dao chém thẳng vào mắt Bảo khiến cậu không thể né tránh hay chớp mắt. — Mày định quấn băng keo, siết ép cho cứng rồi giao xe cho người ta đi chở nặng ngoài đường? Mày có biết chiếc xe này chiều nay chở bao nhiêu ký bánh không? Sáu mươi ký bánh mì với bánh ngọt! Nếu chạy qua dốc đò Xóm Cồn, cái bát trục mày ép ẩu nó tuôn ra, đùi đĩa kẹt cứng giữa dốc, cô Sương ngã lộn nhào xuống lề đường thì sao? Mày giấu được cái lỗi của mày nửa ngày, nhưng mày suýt chút nữa lấy đi miếng cơm, thậm chí là cái mạng của người ta!
Từng lời cô Mai nói như giáng từng nhát búa tạ vào màng nhĩ Bảo. Cậu bàng hoàng, xấu hổ đến mức chỉ muốn độn thổ xuống lòng đất. Nỗi ô nhục của một kẻ vừa toan tính hành vi lừa dối đê hèn khiến hai đầu gối cậu run rẩy không sao đứng vững. Mới đêm qua thôi, cậu còn hùng hồn từ chối lời xúi giục gian dối của ông Đạt, còn tự hào ngẩng cao đầu rằng mình đã biết chọn sự an toàn cho mười hai đứa học sinh nghèo, vậy mà chỉ trong một khoảnh khắc hoảng loạn vì sự bất cẩn của bản thân, cậu lại suýt biến mình thành một kẻ dối trá tồi tệ hơn gấp trăm lần.
Cô Mai đứng dậy, đi thẳng lại bàn làm việc, lật cuốn sổ tiếp nhận và tờ phiếu hai liên mà Bảo vừa ghi lúc nãy. Bà rút cây bút chì đỏ gõ mạnh từng nhịp xuống mặt bàn:
— Lại đây!
Bảo lầm lũi bước lại gần, đầu cúi gục sát ngực.
— Cầm bút lên! — Cô Mai chỉ ngón tay thô ráp vào phần kết luận kỹ thuật còn để trống trên tờ phiếu tiếp nhận. — Điền vào liên một và liên hai. Ghi rõ ràng: *Người thao tác siết lệch ren, làm cháy toàn bộ 5 bước ren đầu miệng ống sườn bên phải. Lỗi hoàn toàn thuộc về thợ thao tác của tiệm.* Ghi ngay!
Bảo run rẩy cầm cây bút bi. Từng con chữ hiện ra trên trang giấy trắng ngoằn ngoèo, méo mó dưới bàn tay ướt đẫm mồ hôi của cậu. Mỗi nét mực hằn sâu xuống tờ giấy như một vết cứa vào lòng tự trọng của một kẻ học việc non nớt. Cậu ghi trọn vẹn sự thật tàn nhẫn về sai lầm của mình, không sót một chữ, không thể lấp liếm bằng bất cứ lý do khách quan hay sự biện hộ nào.
— Ký tên mày vào ô thợ sửa! — Cô Mai ra lệnh, giọng sắt đá.
Bảo run run ký tên mình vào góc dưới tờ phiếu. Chữ ký run rẩy như chính tâm trạng hoảng loạn đang giằng xé bên trong cậu.
Vừa lúc đó, tiếng chiếc đồng hồ quả lắc cũ kỹ treo trên vách gỗ điểm boong boong đúng một giờ ba mươi phút chiều.
Cùng lúc với tiếng chuông đồng hồ điểm nhịp, tiếng bước chân vội vã của cô Sương vang lên từ mé ngõ. Cô bước nhanh vào tiệm, chiếc nón lá cầm trên tay phe phẩy liên hồi xua đi cái nóng hầm hập, nét mặt hớn hở đầy hy vọng:
— Xong chưa Bảo ơi? Xe thồ của tao đâu? Chú Ba gọi điện giục tao ra lò lấy bánh mì rồi đây, nước ròng đang cạn nhanh ngoài bến đò, trễ mười lăm phút nữa là đò không cặp bến được đâu!
Bảo đứng như trời trồng sau bàn làm việc, toàn thân đông cứng lại, lồng ngực như bị ai bóp nghẹt, cổ họng khô khốc không thốt nên nổi một lời nào.
Cô Mai bước vòng qua quầy gỗ, đứng chắn giữa cô Sương và chiếc xe đạp thồ đang nằm chỏng chơ một bên đùi đĩa dưới sàn xi măng. Gương mặt cô Mai trầm tĩnh nhưng nghiêm trang tuyệt đối. Bà cầm theo tờ phiếu tiếp nhận hai liên vừa có chữ ký thừa nhận sai phạm của Bảo trên tay:
— Sương này. Xe của mày chưa giao được.
Nụ cười trên môi cô Sương vụt tắt ngấm. Ánh mắt cô quét nhanh từ gương mặt nghiêm nghị của cô Mai xuống chiếc xe chưa kịp lắp xích líp, rồi dừng lại trên vẻ mặt tái mét, không còn giọt máu của Bảo.
— Cái gì? Sao lại chưa giao được? Sáng nay thằng Bảo nó nhận xe nó bảo một giờ rưỡi là xong cơ mà! Bọn mày làm ăn cái kiểu gì thế hả Mai?
Cô Mai đưa tờ phiếu tiếp nhận ra trước mặt cô Sương, giọng nói rành rọt, bình thản và dứt khoát:
— Thằng Bảo thao tác sai kỹ thuật. Nó siết lệch ren làm cháy toàn bộ ren bát trục giữa của sườn xe rồi. Cái sườn xe thồ này bây giờ không thể ráp cốt mới vào để chạy được nữa, chở nặng là tuôn ren sập đùi đĩa ngay lập tức.
— Cháy ren? — Cô Sương giật thót người, giọng the thé vỡ ra thành một tiếng thét thất thanh giữa trưa vắng. Cô lao bổ lại gần khung xe, cúi rạp người nhìn vào miệng ống ren nham nhở mạt sắt, rồi quay ngoắt lại, hai mắt long sòng sọc nhìn Bảo. — Trời đất ơi là trời! Thằng quỷ con! Mày phá nát cái xe kiếm cơm của tao rồi! Tao đã dặn mày là tao phải đi lấy bánh mối chiều nay, chiều nào tao cũng phải bỏ sỉ sáu mươi ổ bánh mì cho hai cái quán nước ngoài bến đò Xóm Cồn! Bây giờ trễ đò thì ai đền tiền bánh cho tao? Ai đền hai trăm ngàn tiền cọc của tao? Hả? Mày có biết tao phải thức từ ba giờ sáng để kiếm từng đồng bạc lẻ không?
Tiếng mắng chửi xối xả vang khắp gian nhà nhỏ, dội vào bức tường gạch cũ kỹ bong tróc vôi vữa. Từng lời cay nghiệt của cô Sương như những cái tát trời giáng tát thẳng vào mặt Bảo. Cậu chỉ biết cúi gằm mặt xuống đất, hai bàn tay siết chặt lấy gấu áo, móng tay cắm sâu vào da thịt đau điếng nhưng không thấm tháp gì so với nỗi nhục nhã đang thiêu đốt cõi lòng.
— Tao xin lỗi mày, Sương — Cô Mai lên tiếng, giọng bà trầm nhưng đanh lại, không hề có ý bao biện hay né tránh trách nhiệm. — Lỗi này là lỗi của tiệm tao. Tao là thợ cả, tao quản người học việc không nghiêm để xảy ra hỏng hóc kỹ thuật trên tài sản của khách. Tiệm tao nhận hoàn toàn trách nhiệm.
Cô Sương tức tối vung chiếc nón lá lên trời:
— Nhận trách nhiệm thì làm được cái tích sự gì lúc này? Lò bánh người ta nướng xong từ một giờ mười lăm, trễ một tiếng là bánh ỉu xìu, mối người ta không thèm lấy! Rồi chuyến đò ba giờ ai đợi tao? Đò người ta chạy theo con nước chứ ai rảnh mà chờ con Sương này?
— Mày nghe tao nói — Cô Mai vẫn giữ ánh mắt nhìn thẳng vào cô Sương, không hề nao núng hay lảng tránh. — Bây giờ xe phải để lại đây. Tao phải dùng taro làm lại ren cỡ lớn, tiện một ống sơ-mi thép đóng ép vào lòng sườn rồi mới bắt cụm trục giữa mới vào được. Nhanh nhất cũng phải năm giờ chiều mới hoàn thành an toàn tuyệt đối cho mày chở nặng. Còn chuyến bánh chiều nay của mày...
Cô Mai rút chiếc ví vải cũ kỹ giắt trong cạp quần lao động ra. Đôi bàn tay thô ráp đếm ra đúng hai tờ tiền năm mươi ngàn đồng còn phẳng phiu, đặt dứt khoát vào lòng bàn tay đang run rẩy vì tức giận của cô Sương:
— Đây là năm mươi ngàn tiền mày thuê xe lôi của chú Bảy chở bánh chiều nay ra bến đò, với năm mươi ngàn bù vào tiền hao hụt bánh do chậm giờ. Toàn bộ tiền thay bộ trục giữa mới, tiền công tiện ren ống sơ-mi sườn xe chiều nay hết hai trăm hai mươi ngàn đồng, tiệm tao chịu hoàn toàn một trăm phần trăm, không lấy của mày một cắc nào. Mày cầm tiền này ra ngay ngã ba đón xe lôi của chú Bảy để kịp giờ bánh, rồi đúng năm giờ chiều quay lại đây lấy xe. Tao cam đoan chiếc xe thồ của mày sẽ chắc chắn hơn lúc mày dắt vào đây.
Cô Sương nhìn xấp tiền một trăm ngàn trong tay, rồi nhìn sang tờ phiếu tiếp nhận có dòng chữ nhận lỗi rành rọt bằng mực đỏ của tiệm. Nỗi giận dữ bốc hỏa trong mắt cô dịu đi đôi chút trước thái độ dứt khoát, sòng phẳng của người bạn cùng xóm, nhưng vẻ cay đắng và thất vọng thì không hề giảm bớt. Cô nghiến răng, trừng mắt nhìn Bảo một cái sắc lẹm:
— Học việc với chả học nghề! Làm ăn ba bửa như mày thì có ngày làm khổ chết người ta!
Nói rồi, cô Sương nhét phắt xấp tiền vào túi áo bà ba, quay ngoắt người, xách nón lá chạy như bay ra ngoài ngã ba đường để tìm xe lôi chở hàng cho kịp chuyến bánh chiều.
Tiệm sửa xe chìm vào một khoảng im lặng chết chóc.
Bên ngoài, tiếng gió biển thổi ràn rạt qua rặng phi lao ngoài bờ đê, mang theo hơi muối mặn chát lùa qua khung cửa sổ gỗ mục. Ánh nắng trưa chói chang chiếu xiên qua mái hiên, rọi rõ nhúm mạt sắt nằm trơ trọi trên nền xi măng xám xịt. Không khí oi ả quánh đặc lại như keo.
Cô Mai không nói thêm một câu nào. Bà cất chiếc ví rỗng vào túi quần, đi lại góc tủ đồ nghề chuyên dụng, cúi xuống mở chiếc hòm gỗ khóa kỹ ở ngăn dưới cùng. Đó là nơi cất giữ những dụng cụ cơ khí chính xác đắt tiền nhất của tiệm: bộ taro ren nghịch hệ inch loại lớn chuyên trị các dòng xe thồ Liên Xô, và một chiếc cữ kẹp định tâm ống khung bằng thép đặc. Bên cạnh bộ dụng cụ là một chiếc hộp sắt tròn dán nhãn giấy đã ố vàng: *Quỹ dự phòng rủi ro kỹ thuật*.
Cô Mai mở hộp sắt ra, rút một ống phôi sơ-mi thép đã tiện sẵn chuẩn bị từ đợt sửa chữa trước. Bà đặt tất cả lên mặt bàn làm việc, kim loại va chạm phát ra những tiếng *cạch* khô khốc, rợn người.
— Đi rửa sạch tay dính mỡ bò đi — Cô Mai nói, giọng lạnh lùng như băng tảng. — Rồi lấy khay dầu hôi, kéo chiếc bàn nguội ra đây. Trưa nay không có nghỉ trưa đâu.
— Dạ... cô... — Cổ họng Bảo nghẹn ứ, sống mũi cay xè, nước mắt chực trào ra nhưng cậu cố bặm môi nuốt ngược vào trong.
Cậu lầm lũi đi ra sau giếng, múc từng gáo nước lạnh vội vã rửa sạch lớp mỡ bò nhơ nhớp trên tay. Nước giếng mát lạnh dội qua da thịt, nhưng không tài nào làm dịu đi cảm giác bỏng rát, nhục nhã đang thiêu đốt trong tâm can cậu. Cậu quay trở vào gian sửa xe, dùng hết sức bình sinh kéo chiếc bàn nguội bằng sắt nặng trịch lại gần sườn chiếc xe thồ.
Suốt hai tiếng đồng hồ tiếp theo giữa buổi trưa oi ả, tiệm sửa xe không hề có một tiếng cười đùa hay một câu chuyện trò thường nhật. Căn phòng chỉ tràn ngập những thanh âm cơ khí nặng nề: tiếng kim loại miết vào kim loại ken két, tiếng mũi taro ren ăn từng vòng nặng trịch vào lòng ống thép, tiếng giũa ba-via sột soạt đều đặn và tiếng mồ hôi của hai người rơi lộp độp xuống mặt bàn gỗ.
Cô Mai quấn chặt lại dải băng thun màu cháo lòng trên cổ tay phải đang sưng tấy vì chứng viêm bao gân kinh niên. Bà trực tiếp cầm chiếc cữ kẹp định tâm, hai bàn chân bám chặt xuống sàn xi măng, hướng dẫn Bảo dùng cả hai tay giữ thật thăng bằng chiếc cần taro chữ T to bản.
— Đưa mũi vào vuông góc! Mắt nhìn thẳng tim trục! — Giọng cô Mai gắt khẽ trong tiếng thở dốc. — Nhớ quy tắc bẻ phoi: tiến nửa vòng, lùi một phần tư vòng! Không được tham lực! Cảm nhận mũi cắt ăn vào thép! Nếu thấy nặng bất thường thì phải lùi ra xịt dầu, tuyệt đối không được cậy sức mà bẻ gãy mũi taro trong lòng sườn!
Mỗi vòng quay taro là một cực hình đối với đôi bàn tay đã mỏi nhừ của Bảo. Cậu cắn chặt môi dưới đến mức bật cả máu tươi, vị tanh mặn rỉ ra nơi khóe miệng. Hai bắp tay cậu căng cứng như dây đàn, các khớp ngón tay run rẩy vì phải ghìm giữ phương vuông góc tuyệt đối, không được phép lệch dù chỉ nửa độ. Nhưng cậu không dám thở mạnh một tiếng, cũng không dám buông lời than vãn. Cậu tập trung toàn bộ tâm trí còn lại, toàn bộ thị giác và xúc giác vào từng đường ren mới đang dần hình thành bên trong lòng sườn xe dưới làn dầu cắt gọt đen sánh.
Không có thêm một lời mắng mỏ nào từ cô Mai. Nhưng chính sự im lặng nghiêm cẩn, sự tỉ mẩn sửa sai không hề kêu ca của người thợ cả càng làm cho Bảo thấm thía tận xương tủy cái giá đắt đỏ của sự cẩu thả và hấp tấp. Một sai lầm nhỏ chỉ mất năm giây nông nổi, nhưng để sửa chữa nó, người ta phải trả giá bằng hàng giờ lao động cật lực, bằng mồ hôi, máu và cả danh dự tích cóp suốt nhiều năm trời.
Đến bốn giờ bốn mươi phút chiều, ống sơ-mi thép đã được ép chặt vào lòng sườn xe bằng lực của chiếc cảo thủy lực mini, định vị chết cứng vào thân khung. Bộ bát trục mới tinh đã được bôi mỡ bò chịu nhiệt, vặn êm ru bằng tay trần trơn tru vào đúng ren chuẩn trước khi dùng cờ-lê siết chặt theo đúng tiêu chuẩn lực. Không một chút rơ lắc dọc trục, không một tiếng lạo xạo cọ xát. Khi Bảo lắp đùi đĩa vào, siết ốc tán và đẩy nhẹ tay quay, chiếc đĩa xích quay tít trơn tru trong thinh lặng, gió phả ra mát rượi qua những đầu răng thép sáng bóng.
Đúng năm giờ kém mười, cô Mai lôi cuốn sổ học việc bọc bìa da màu nâu của Bảo ra, đặt dứt khoát trên mặt bàn làm việc cùng với hai tờ hóa đơn mua phụ tùng thay thế và tờ biên lai xuất quỹ dự phòng của tiệm: - *Ống sơ-mi thép chuyên dụng:* 70.000 đồng. - *Bộ bát trục xe thồ Liên Xô:* 80.000 đồng. - *Chi phí hỗ trợ khách trễ hẹn:* 100.000 đồng. - *Tổng chi phí khắc phục rủi ro:* 250.000 đồng.
Cô Mai gõ ngón tay trỏ chai sần xuống trang sổ còn thơm mùi mực:
— Khoản hai trăm năm mươi ngàn này sẽ trừ dần vào tiền phụ cấp tháng thứ hai của mày, mỗi tuần trừ năm mươi ngàn. Mày có ý kiến gì không?
Bảo đứng nghiêm trang, hai tay khép chặt bên hông, hai mắt nhìn thẳng vào dòng số màu mực đỏ chói lọi trên trang giấy:
— Dạ không, cô. Lỗi do cháu làm hỏng, cháu xin chịu toàn bộ chi phí trừ vào phụ cấp ạ.
Cô Mai khép cuốn sổ lại cái *bộp*, ánh mắt nhìn thẳng vào cậu không hề có sự an ủi hay thương hại:
— Nhớ lấy cái cảm giác ngày hôm nay. Một người thợ cơ khí cầm cây cờ-lê trên tay, nếu trong đầu còn để tâm trí bay đi chỗ khác, nếu còn nghĩ đến chuyện làm ẩu làm bậy để che giấu khách hàng, thì cái giá phải trả không chỉ là tiền túi của mày đâu. Đó là nhân cách, là sự sống còn của cái nghề này.
Bên ngoài hiên, bóng dáng cô Sương lại lững thững xuất hiện. Cô đi bộ quay lại tiệm, bộ quần áo hoa bám đầy bụi đường đỏ quạch, gương mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi rã rời sau một buổi chiều chạy vạy ngược xuôi lo cho chuyến hàng trễ giờ ngoài bến đò.
Cô Mai bước ra hiên đón khách, bàn giao chiếc xe thồ đã hoàn chỉnh, dựng chân chống quay thử bàn đạp cho cô Sương tận mắt chứng kiến trớn quay trơn tru của đùi đĩa, rồi đưa lại tờ biên bản phụ lục bảo hành kỹ thuật trọn đời cho phần ren khung xe vừa được đóng sơ-mi. Cô Sương gật đầu nhận xe, không nói một lời khen nào, cũng chẳng thèm nhìn mặt Bảo lấy một lần dù cậu đang đứng ngay cạnh khung cửa. Cô dắt chiếc xe thồ bước nhanh ra đường cái, tiếng xích líp mới lăn bánh êm ru, nhưng bóng lưng gầy guộc của cô cứ chìm dần, chìm dần vào bóng hoàng hôn đang buông xuống con đường ngập gió biển lạnh lẽo.
Hóa đơn mua linh kiện thay thế đè lên tiền phụ cấp của Bảo, nhưng điều đau nhất là ánh mắt thất vọng của cô Sương khi quay lưng đi.