Thành Phố Trên Mây Hay Mất ĐồC.5 / 9
Chương 5

Một lời khai không đủ

Trụ sở Hội Giữ Hộ chật ních những chiếc hòm gỗ xếp chồng lên nhau tới tận xà nhà, tỏa ra mùi long não ngai ngái hòa lẫn với mùi ẩm mục của giấy bồi cũ nồng nặc ngay khoảnh khắc Nhi lách qua bậc cửa hẹp.

Không gian bên trong tối lờ mờ và oi bức, như thể từng khối không khí đã bị giam cầm tại đây qua hàng chục mùa gió chướng mà chưa từng một lần được luân chuyển. Chỉ có vài tia nắng trưa rọi xiên qua những khe cửa chớp bám đầy bụi mạng nhện, chiếu rọi hàng triệu hạt bụi lơ lửng thành từng vệt sáng mỏng manh như tơ kéo thẳng xuống mặt sàn. Dọc theo hai bên lối đi, những thùng các tông rách mép, rương bọc da cá đuối đã mòn xơ xác, va li đan bằng mây có quai xách đứt chỉ cùng từng bó nan dù gãy gập được ken đặc thành những bức tường gồ ghề, chỉ chừa lại một lạch hẹp vừa vặn cho một người nghiêng mình lách qua. Mỗi bước chân của Nhi đặt lên sàn ván thông đều làm phát ra những tiếng cọt kẹt rầu rĩ, kéo theo sự rung rinh khẽ khàng của những chồng đĩa gốm mẻ miệng chất cao ngất ngưởng như những ngọn tháp chuông chực sụp đổ. Ríu đậu trên vai Nhi, hai cánh kim loại khẽ thu lại, các khớp chốt co khít vào lườn để tránh quẹt phải những góc bàn nhọn hoắt hay những cuộn dây gai lủng lẳng từ trần nhà.

“Coi chừng quẹt vào mép hòm sắt góc trái đấy cháu! Cái hòm đó từ thời trận bão cát năm ba mươi hai, góc khóa bị rỉ sét sắc như dao cạo đấy!”

Giọng nói the thé nhưng vang vọng bất ngờ phát ra từ phía sau một bức bình phong khổng lồ dựng bằng hàng trăm cuốn niên giám thương mại ngả vàng.

Một cái đầu hoa râm nhô ra. Bà Sương bước ra từ một ngách hẹp chỉ vừa một thân người, mái tóc muối tiêu búi trễ sau gáy được găm chặt bằng một chiếc trâm tiện thô sơ từ xương nan quạt cũ. Trên sống mũi gầy gò của bà, một cặp kính lão gọng đồi mồi trễ xuống tận chóp mũi, bên tròng kính bên phải nứt một vệt dài và được gia cố bằng hai lớp băng keo trong đã ố vàng theo năm tháng. Hai bàn tay khẳng khiu của bà đang ôm khư khư một chiếc ấm gốm sứt vòi được bọc kín mít trong một tấm giẻ len đan vụng. Vừa nhìn thấy chiếc áo khoác xanh đặc trưng của Bưu Cục Gió và khuôn mặt lấm tấm mồ hôi của Nhi, đôi mắt sau lớp tròng kính dày cộp của bà lập tức sáng rực lên như người vừa nhặt được nắm bạc vụn giữa đống tro tàn.

“Bà Sương, cháu đến nhờ bà tra sổ bộ của hội,” Nhi vội vàng cất tiếng trước khi bà kịp mở đầu bất kỳ câu chuyện nào, hai tay nâng chiếc túi da bưu tá lên phía trước như một tấm lá chắn ngăn cách. “Cháu cần biên lai bàn giao hoặc giấy xác nhận lưu kho cũ của hai thứ: chiếc tất len bên trái bị mất ở xóm Giặt Giũ sáng hôm qua, và chiếc bàn ăn gỗ thông ba chân mà cư dân Phố Cầu Thang dùng để bắc ngang qua vực đá hôm trước.”

Bà Sương nghe nhắc đến hai món đồ ấy thì đứng sững lại, ngực phập phồng rồi buông chiếc ấm sứt vòi xuống mặt một chiếc ghế đẩu mục gần đó. Bà vỗ hai bàn tay khô ráp vào nhau bôm bốp, phát ra tiếng kêu giòn tan giữa căn phòng tĩnh mịch:

“À! Chiếc tất! Lạy trời, cháu hỏi đúng ngay tim đen của cái xóm này rồi đấy! Cháu có biết lai lịch của chiếc tất len cừu mây đó không? Đừng có đứa nào dại dột mà tưởng nó chỉ là một mẩu len vụn trôi dạt bên bờ rào nhé! Mùa gió chướng ba năm về trước, bà Tư ngồi bên bậu cửa sổ số 8, cái bậu cửa nhìn thẳng ra hẻm hút gió tầng ba ấy, vừa gảy từng sợi tơ mây vừa se từng tao chỉ nhuộm bằng vỏ quả thông chín rụng ven đồi. Thằng Hai, con trai út của bà ấy, khi đó vừa nhận lệnh chuẩn bị bước chân lên boong tàu viễn chinh đo gió ngoài rìa ngoại vi. Nó đi chuyến ấy là đi vào vùng nhiễu động tầng trời, sương muối đặc quánh như sữa đông. Bà Tư đã thức trọn một đêm giông bão gầm gừ, ngồi bên ngọn đèn dầu lạc mà đan chiếc tất bên trái ấy. Riêng cái phần ngón chân cái, bà ấy đã cẩn thận chèn thêm hai lượt sợi đồng mềm kéo mỏng, đan kép lại để chống cái rét cắt da cắt thịt của mây mù ngoài rìa...”

Bà Sương bắt đầu khoa hai cánh tay gầy guộc lên không trung, từng ngón tay múa may mô phỏng đường kim mũi chỉ của ba năm trước. Lời bà tuôn ra xối xả như một dòng thác lũ không có đập chắn. Không để Nhi kịp hít một hơi thở, bà lại quay ngoắt nửa vòng, chỉ ngón tay khẳng khiu về phía đống đồ đạc ngổn ngang chất ở góc nhà rồi nhảy tót sang câu chuyện của chiếc bàn gỗ thông:

“Còn cái bàn ăn ba chân ở Phố Cầu Thang ư? Trời đất quỷ thần ơi, đó mà là một cái bàn bình thường à? Đó là cả một cái rễ cái cắm sâu vào ký ức ba đời của cái họ Hoàng làm nghề thợ mộc! Cái mâm cơm đón dâu của mẹ thằng Hoàng cách đây bốn mươi năm đặt trên mặt bàn ấy đấy. Cháu có thấy vệt mực tím loang lổ như hình con thạch sùng ở góc ván bên mép trái không? Năm đó, cụ cố thằng Hoàng run tay ký vào tờ cam kết hiến một phần lan can gỗ của gia đình cho khu phố mở rộng lối đi chung, lọ mực tàu đổ tràn ra, ngấm sâu vào thớ thông đỏ đến mức ba lần bào lại vẫn không tài nào tẩy sạch! Còn cái chân bàn bên phải ngắn hơn đúng một phân, phải kê bằng hai mảnh ngói vỡ, là vì trong trận lốc xoáy năm Mây Đỏ, nó bị kẹt cứng vào rãnh trượt của cáp treo hàng hóa. Cả cái xóm ấy hợp sức níu giữ cái bàn lại để làm điểm tựa níu sợi dây thừng cứu mạng cho ba đứa trẻ con bị trượt chân...”

Nhi đứng chôn chân giữa hai bờ tường phế tích, kiên nhẫn lắng nghe suốt gần một tiếng đồng hồ. Hai bắp chân cô bắt đầu mỏi nhừ, sức nặng của chiếc túi da trĩu xuống bờ vai, mồ hôi rịn ra từng giọt bết chặt những lọn tóc mai vào thái dương và làm ướt đẫm cổ áo đồng phục bưu tá. Trong khi đó, Ríu trên vai cô đã đổi chân đậu đến lần thứ mười bảy. Chú chim máy ngả nghiêng bộ khung kim loại, cái mỏ sắt thỉnh thoảng lại va vào nhau phát ra tiếng gõ lách cách khô khốc, báo hiệu rằng bộ con lắc điều tốc bên trong khoang ngực đang dần cạn dầu bôi trơn và sắp chuyển sang trạng thái ngủ đông vì quá mệt mỏi.

“Bà Sương ơi,” Nhi khẽ cất giọng, cố gắng chêm vào một khoảng ngắt rất ngắn khi bà lão vừa dừng lại để lấy hơi tiếp tục kể về nguồn gốc của từng chiếc đinh gỉ đóng dưới gầm bàn. “Cháu hiểu. Cháu hiểu hết những điều đó, và chúng thực sự rất quý giá đối với mọi người. Nhưng Cục Ngăn Nắp... họ không bao giờ tiếp nhận tiểu sử bằng lời kể miệng đâu bà. Họ làm việc trên giấy tờ. Cháu cần biên lai lưu kho, giấy xác nhận quyền sở hữu tập thể, hay ít nhất là một tờ cuống vé bàn giao nào đó của bưu cục ghi nhận ngày giờ cụ thể. Bà có những thứ đó không ạ?”

Bà Sương chớp chớp mắt sau cặp kính nứt, nét mặt bà sững lại rồi thoáng vẻ hụt hẫng cay đắng, tựa như một nghệ sĩ đang cất giọng đến đoạn cao trào tuyệt mỹ nhất thì bị người ta thô bạo giật phăng chiếc micro khỏi tay. Bà thở hắt ra một hơi dài thườn thượt, mùi trầu thuốc thoang thoảng phả vào không khí:

“Giấy tờ... Giấy tờ! Lúc nào lũ người các cháu cũng chỉ biết lăm lăm đòi giấy mực vô tri! Ký ức sống động của cả một đời người, mồ hôi nước mắt của cả một chòm xóm rành rành ra ở đây, từng thớ gỗ từng sợi chỉ còn ấm hơi người thế này mà các người bảo không có giá trị bằng một mảnh giấy lộn đóng con dấu đỏ hay sao?”

Miệng thì càu nhàu cay đắng, nhưng trước vẻ mặt cương nghị và ánh mắt khẩn thiết của Nhi, bà Sương vẫn quay người, lúi húi trèo lên một chiếc ghế đẩu chân thấp kê sát vách tường. Bà vươn tay kéo mạnh một tập hồ sơ dày cộp được kẹp giữa hai mảnh bìa các tông mốc thếch, buộc chặt bằng mấy tao dây đay thô ráp. Cú kéo mạnh làm một đám bụi mây xám xịt từ nóc tủ đổ ụp xuống như một đám mây mù nhỏ. Ríu giật nảy mình, hắt hơi liên tiếp ba tiếng, từ hai bên khóe mỏ kim loại phụt ra hai tia lửa điện xanh lè lách tách.

“Đây! Muốn giấy thì có giấy! Tất cả lời chứng, chữ ký của bà con các hộ dân trong xóm đây!” Bà Sương bước xuống, đập mạnh tập hồ sơ xuống mặt một chiếc hòm gỗ trước mặt Nhi, làm bụi bay tung tóe thêm một lần nữa.

Nhi vội vàng đặt túi xách xuống, dùng hai ngón tay cẩn thận gỡ nút thắt dây đay đã mục giòn rồi mở từng trang giấy ra xem. Ánh mắt cô quét nhanh qua các dòng chữ, nhưng càng lật giở, đôi chân mày thanh tú của cô càng nhíu chặt lại thành một đường thẳng thắt nút.

Tập hồ sơ dày cộp này không phải là sổ bộ đăng ký tài sản. Nó là một tập hợp lộn xộn những bản tự khai viết tay đầy cảm xúc, trình bày trên đủ loại giấy vụn: từ giấy gói hàng màu nâu, giấy tập học sinh kẻ ô ly đến mặt sau của những tờ hóa đơn mua than đá đã mờ chữ. Người thì viết tràng giang đại hải ba trang giấy đẫm nước mắt kể lại chuyện chiếc bàn gỗ đã nâng đỡ tuổi thơ đói khổ của gia đình mình ra sao; người thì lấy danh dự cả đời ra thề thốt đoan chắc rằng chiếc tất len kia chính là linh hồn bảo hộ cho sự bình an của toàn bộ xóm Giặt Giũ. Nhưng khi đi vào các mốc kỹ thuật để đối soát pháp lý, toàn bộ mớ tài liệu này lập tức vỡ vụn ra thành từng mảnh vô nghĩa.

Tuyệt nhiên không có lấy một tờ biên nhận gốc nào lưu lại mã số định danh bưu cục hay con dấu nổi của phòng địa chính thành phố. Nguy hại hơn nữa, chiếc bàn ăn gỗ thông ba chân kia trong vòng năm năm qua đã được chuyền tay qua ít nhất bốn hộ gia đình khác nhau sống dọc theo trục dốc Phố Cầu Thang, mà không hề có bất kỳ một văn bản chuyển giao hay biên bản bàn giao hiện trạng nào được thiết lập. Lời khai của các bên đập chan chát vào nhau: bác thợ may ở phòng 21 viết giấy cam đoan rằng chiếc bàn được khiêng ra đặt ở hành lang dùng chung từ mùa thu năm ngoái để làm chỗ cho trẻ con học bài; nhưng ngay trang sau, bà bán cá khô ở phòng 22 lại khăng khăng ký tên điểm chỉ xác nhận nó vốn thuộc về góc hiên nhà bà, và bà chỉ mới mang ra chắn gió hẻm vực cách đây hai tháng sau một trận giông lớn.

“Bà Sương ơi, những mốc thời gian này chọi nhau chan chát thế này thì làm sao đối soát được?” Nhi day day hai bên thái dương đang căng lên như dây đàn, ngón tay cô chỉ vào hai con số năm lệch nhau gần một khoảng trời trên hai mặt giấy đặt cạnh nhau. “Bên Cục Ngăn Nắp chỉ cần liếc mắt qua dòng này là họ sẽ dập ngay dấu đỏ 'lời khai ngụy tạo' rồi ném thẳng toàn bộ vào lò hủy giấy mà không cần xem tiếp. Chúng ta hoàn toàn không có bằng chứng để chứng minh ai là người chịu trách nhiệm pháp lý cuối cùng trong việc bảo dưỡng kết cấu của nó!”

“Kệ xác cái Cục Ngăn Nắp nhà chúng nó!” Bà Sương bướng bỉnh bĩu môi, hai cánh mũi phập phồng giận dữ. “Một lũ người máy móc nặn ra từ giấy mực! Chúng nó ngồi trong phòng kín máy lạnh thì làm sao mà hiểu được cái lý lẽ của đời sống? Một món đồ khi đã bước chân ra phục vụ cộng đồng, khi đã cùng chia ngọt sẻ bùi với người nghèo thì ranh giới sở hữu của nó tự khắc hòa tan vào tình làng nghĩa xóm chứ còn gì nữa!”

Nhi không đáp lại, cô chỉ im lặng nhìn một vòng quanh căn phòng rộng thênh thang nhưng ngột ngạt. Những lối đi giữa các dãy kệ gỗ đang ngày một teo tóp lại, bị bóp nghẹt bởi hàng trăm thùng đồ đạc vô danh vô chủ xếp chồng chất lên nhau từ sàn lên tận trần. Những chiếc rương sắt không dán nhãn kiểm kê, những bao tải vải gai buộc túm miệng mốc meo mà chủ nhân của chúng có lẽ đã chuyển đi nơi khác hoặc đã chết từ nhiều năm trước, tất cả vẫn đang âm thầm nằm đó, chiếm đoạt từng tấc không gian sống, từng ngụm không khí thở của những người đang sống. Tư duy muốn gom giữ tất cả mọi thứ chỉ dựa vào sợi dây cảm xúc mong manh, không có trật tự, không có quy chuẩn, đang biến nơi này thành một cái bẫy kẹt cứng khổng lồ — một đầm lầy hoài niệm tự chôn vùi chính nó.

Đúng lúc đó, những tiếng bước chân nện huỳnh huỵch trên cầu thang gỗ cùng tiếng kim loại va đập leng keng chói tai từ ngoài cửa xé toạc bầu không khí ngột ngạt trong phòng.

Kha bước xộc vào, trên lưng đeo một chiếc gùi sắt nặng trịch chứa đầy cờ lê, mỏ lết, hai bàn tay thô tháp đang ôm khư khư một cụm linh kiện cơ khí bám đầy dầu mỡ đen sì dính lẫn bụi than.

“Chào bà Sương! Kìa, nhóc Nhi cũng ở đây à?” Kha thở hồng hộc, đặt phịch khối sắt nặng trịch xuống nắp một chiếc hòm gỗ gia cố đai sắt gần lối vào, quệt vệt dầu mỡ trên trán bằng mu bàn tay khiến mặt anh lem nhem như hề. “May quá, gặp cả hai người ở đây đỡ mất công tôi chạy vạy. Tôi vừa lượm được cái cụm khớp truyền động này ở góc bãi phế liệu Chợ Mây Vá, đồ trôi nổi rạt vào sau đợt rà quét sáng nay, không nhãn mác không giấy tờ gì ráo. Định bụng mang sang gửi bà Sương ký gửi tạm vào kho, để chiều tà rảnh tay tôi đem sang bán lại cho phường thợ đúc lấy ít tiền mua dầu máy.”

Ríu lập tức nghển chiếc cổ kim loại lên. Nghe thấy mùi dầu máy quen thuộc, nó nhảy tót từ vai Nhi sang mép nắp hòm gỗ, nghiêng đầu dùng chóp mỏ gõ “cốc cốc” vào một bánh răng lớn nằm ở trung tâm cụm máy. Cánh phải của chú chim khẽ giật giật, phát ra tiếng rít ken két khô khốc đầy đau đớn của một ổ bi đã mòn vẹt rãnh lăn.

Kha nghe thấy tiếng rít ấy thì mắt sáng bừng lên, anh cúi sát xuống nhìn chú chim máy:

“Ủa, cái chốt hãm cánh phải của con Ríu lại bị kẹt nữa rồi à? Nhìn cụm này mà xem, vừa khéo làm sao! Ở đây có mấy cái bánh răng hành tinh bằng thép mây chuẩn đét luôn này! Chờ tôi một chút, tôi rút kìm chết tháo bung cái cụm này ra, lấy mấy cái bánh răng với chốt định vị bên trong thay ngoắc vào cánh cho nó. Vừa khớp chuẩn xác từng rãnh lăn, vừa đỡ phải tốn cả đống tiền chạy ra tiệm mua phụ tùng mới toanh đắt đỏ!”

Vừa dứt lời, bàn tay hộ pháp của Kha đã thoăn thoắt rút phắt chiếc kìm chết mạ kền sáng loáng giắt bên thắt lưng da ra. Miệng anh ngậm chặt chiếc tuốc nơ vít dẹp lớn, hai tay vặn mở then kẹp, nhắm thẳng vào trục ren trung tâm của khối máy toan dùng lực bẻ gãy chốt hãm niêm phong để bung từng tầng linh kiện.

“Dừng tay lại ngay, anh Kha!”

Nhi hét lên thất thanh, cả người cô chồm tới phía trước như một mũi tên, hai bàn tay chộp chặt lấy cổ tay đầy lông lá và gân guốc của Kha, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể kéo giật anh ra phía sau.

“Gì thế nhóc con?” Kha giật mình ngơ ngác, chiếc kìm kẹp sững lại giữa khoảng không chỉ cách trục máy vài phân. Anh cau mày nhìn Nhi, nhổ chiếc tuốc nơ vít ra khỏi miệng. “Chỉ là tháo lấy vài cái bánh răng phụ tùng thôi mà? Cái cụm này là đồ trôi nổi nhặt ở bãi rác, không giấy tờ, không chủ sở hữu, vứt lăn lóc ở đó thì ai mà biết của ai để giữ nguyên vẹn làm gì?”

“Anh nhìn kỹ vào đây đã!” Nhi không buông tay ra, cô thở dồn dập, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào bề mặt các bánh răng và gờ trục kim loại còn dính lớp mỡ bò đông đặc. “Anh là thợ cơ khí mà anh không nhìn thấy những vết trầy xước này sao? Nhìn các rãnh mài mòn này đi! Đây hoàn toàn không phải là những vết gỉ sét do vứt lăn lóc ngoài mưa gió, cũng không phải vết mòn ngẫu nhiên của sắt vụn! Toàn bộ các vành răng đều bị mài vẹt chuẩn xác một góc ba mươi độ theo hướng chịu lực tì đè liên tục từ trên xuống dưới. Đây là vết mòn định hình đặc trưng của cơ cấu hãm cáp tời tải trọng lớn hoặc van điều tiết áp lực đường ống trung tâm!”

Nhi nuốt nước bọt, chỉ tiếp vào đường rãnh khuyết ở tâm trục:

“Nếu anh rút kìm tháo bung từng bánh răng này ra để lấy linh kiện rời cho Ríu, toàn bộ các vết ăn khớp bề mặt nguyên bản này sẽ bị phá hủy vĩnh viễn. Anh sẽ bẻ gãy toàn bộ chuỗi chứng cứ vật lý chứng minh công năng vận hành thực tế của nó!”

Kha chớp mắt liên hồi. Nghe những lời phân tích đanh thép của cô bé bưu tá, vẻ cợt nhả trên mặt anh biến mất. Anh hạ chiếc kìm chết xuống, khom lưng cúi sát mặt vào khối kim loại, nheo một mắt lại để quan sát kỹ lưỡng vệt xước xám mờ chạy dài dọc theo vành răng thép mây. Là một người thợ lành nghề đã từng tháo lắp hàng trăm cỗ máy, Kha lập tức nhận ra Nhi hoàn toàn có lý. Vết biến dạng kim loại tinh vi này chỉ có thể hình thành nếu khối cơ cấu này từng được gắn chặt vào một hệ thống máy móc vận hành liên tục dưới tải trọng hàng chục tấn trong suốt nhiều năm ròng rã.

“Nếu tháo rời nó ra,” Nhi nói tiếp, thanh âm trầm xuống nhưng vang lên rành rọt như lời tuyên bố của một viên thanh tra hiện trường, “nó sẽ lập tức biến thành một đống sắt vụn vô danh, một món rác rưởi không hơn không kém trong mắt Cục Ngăn Nắp. Nhưng nếu anh giữ nguyên trạng từng con ốc, từng vết trầy xước hao mòn này, chính chúng sẽ là nhân chứng sống không thể chối cãi, chứng minh khối máy này từng là một bộ phận cốt tử thuộc về một cỗ máy công cộng đang vận hành của thành phố trước khi bị đội dọn dẹp thu gom nhầm lẫn!”

Kha đứng thẳng người dậy, nhìn chằm chằm vào cô bé bưu tá rồi lại nhìn xuống cụm máy bám đầy dầu mỡ. Anh gãi gãi mái tóc bù xù, nở một nụ cười ngượng ngùng rồi cẩn thận nhét chiếc kìm chết lại vào bao da bên hông:

“Được rồi... Tôi nghe cô bưu tá nhỏ vậy. Thừa nhận là cặp mắt của nhóc tinh tường hơn gã thợ già này nhiều. Giữ nguyên trạng thì giữ nguyên trạng.”

Nhi thở phào nhẹ nhõm, lồng ngực cô khẽ xẹp xuống sau cơn căng thẳng. Cô không lãng phí thêm một giây phút nào nữa. Quay trở lại chiếc hòm gỗ của bà Sương, Nhi dứt khoát đưa tay gạt phăng chín phần mười những tập giấy tự khai kể lể dông dài, đẫm nước mắt nhưng vô giá trị sang một bên mép hòm. Trước ánh mắt xót xa của bà Sương, cô chỉ giữ lại đúng ba tài liệu có giá trị đối soát kỹ thuật:

Thứ nhất là tờ biên lai tiếp nhận mẫu phẩm lưu kho số 04 ghi nhận hương bánh nướng của tiệm bác Vạn ở Chợ Mây Vá, trên đó còn nguyên vết mực tím hình con dấu kiểm định tròn của Bưu Cục Gió; thứ hai là bản vẽ mặt cắt kỹ thuật chiếc bàn ba chân do chính tay ông giáo già về hưu ở Phố Cầu Thang vẽ lại theo tỷ lệ thực, trên đó ghi rõ từng kích thước của mộng gỗ âm dương ăn khớp hoàn hảo với các vết cọ xát chịu lực trên vách đá vực hẻm; và cuối cùng là cuốn sổ tay ghi nhật ký pha trà suốt ba mươi năm qua của Ông Giờ. Dù chiếc đồng hồ số 4 đã bị Ông Giờ làm sai lệch ba mươi phút số liệu, nhưng từng dòng chữ viết tay bằng mực tàu đều đặn ghi lại khoảnh khắc bóng đỉnh tháp chạm đúng vào gờ đá hoa cương ở góc quảng trường mỗi ngày chính là biểu đồ thực nghiệm chuẩn xác nhất về sự tồn tại của chiếc bóng.

Nhi cẩn thận xếp ngay ngắn ba tập tài liệu vào bìa hồ sơ công vụ bằng da thuộc, luồn sợi dây chỉ sáp niêm phong qua các lỗ khuy rồi buộc chặt lại bằng một nút thắt bưu chính chuyên dụng. Cô ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào Kha và chú chim máy trên vai:

“Đi thôi. Chúng ta phải chạy sang Cục Ngăn Nắp trước khi tiếng chuông đóng sổ buổi trưa vang lên.”

***

Trụ sở Cục Ngăn Nắp tọa lạc ở rìa phía bắc của quảng trường hành chính, sừng sững vươn lên giữa nền trời xanh nhợt nhạt như một khối đá hoa cương xám tro khổng lồ, vuông vức và tuyệt đối không một tì vết. Trái ngược hoàn toàn với sự bề bộn ấm cúng, tiếng cọt kẹt của gỗ thông mục và mùi long não ngai ngái ở Hội Giữ Hộ, bước chân qua ngưỡng cửa của Cục Ngăn Nắp giống như bước sang một thế giới khác bị đóng băng trong trật tự.

Bên trong là những dãy hành lang thênh thang hun hút, được lát bằng đá cẩm thạch trắng bóng loáng đến mức phản chiếu rõ mồn một từng bước chân và cái bóng in ngược của người đi bên trên. Tuyệt nhiên không có lấy một hạt bụi mây nào dám vương lại trên những bậu cửa sổ bằng đồng thau hay những gờ tường thẳng tắp. Không khí bên trong lạnh ngắt, khô khốc và phẳng lặng như mặt hồ không gợn sóng, chỉ có tiếng vang khô khốc từ gót giày da của các viên chức hành chính mặc đồng phục xám tro cài kín cổ áo đang rảo bước vội vã nhưng trật tự. Mọi thứ ở nơi này đều tuân thủ theo những quy tắc hình học nghiêm ngặt: những cánh cửa gỗ sồi đen không tay nắm rườm rà, những biển tên bằng đồng mạ kền sáng choang không một vết vân tay, và một sự im lặng tuyệt đối đến mức rợn người, tựa hồ như một tiếng thở dài cũng có thể bị xem là hành vi vi phạm trật tự công cộng.

Ríu rụt chặt cổ lại, nép sát vào vành tai Nhi. Những chiếc móng kim loại nhỏ xíu của nó bấm thật nhẹ, bước đi nhón gót trên vai cô bé bưu tá, dường như chính cỗ máy nhỏ này cũng linh cảm được rằng chỉ cần một tiếng kim loại va đập lách cách vang lên trên sàn đá, một điều luật trừng phạt vô hình nào đó sẽ lập tức giáng xuống đầu chúng.

Nhi dừng bước trước Cửa số 03 — Phòng Đối Soát Sổ Bộ Địa Chính và Tài Sản Bị Bỏ Quên.

Ngồi phía sau tấm vách ngăn bằng pha lê dày cộp, trong suốt là kiểm viên Liên. Cô trạc chừng ba mươi tuổi, sở hữu mái tóc đen nhánh cắt ngắn ngang cằm sắc lẹm như một nhát kéo dứt khoát. Trên ve áo khoác màu xám tro cài chặt nút của cô ghim một chiếc huy hiệu bằng bạc mờ hình một chiếc thước kẻ đan chéo với một cây bút lông ngỗng — biểu trưng cho sự chuẩn xác và văn bản. Mặt bàn làm việc bằng đá phiến đen trước mặt Liên trống trơn một cách tuyệt đối, ngoại trừ một nghiên mực tàu màu đen sâu hoắm, một con dấu đồng vuông vức đặt ngay ngắn bên góc phải và một chiếc kính lúp cán bạc cỡ lớn.

“Hồ sơ khiếu nại bưu chính số bao nhiêu?”

Liên cất tiếng hỏi mà mắt thậm chí không thèm ngẩng lên khỏi cuốn sổ bộ bìa da dày cộp đang mở sẵn trước mặt. Giọng nói của cô nhỏ nhẹ, đều đều, phát âm chuẩn xác từng âm tiết nhưng lạnh lẽo như tiếng kim loại chạm vào mặt băng.

“Cháu là Nhi, bưu tá thuộc Bưu Cục Gió,” Nhi hít một hơi thật sâu để nén lồng ngực đang đập thình thịch, cẩn thận đẩy tập hồ sơ da vừa được thanh lọc qua khe giao dịch bằng đồng mây khoét dưới chân vách kính. “Cháu đến nộp hồ sơ khiếu nại chính thức về việc thu gom sai quy trình đối với ba tài sản dân sinh: mẫu phẩm thuộc tính vô hình số 04 tại Chợ Mây Vá, kết cấu hỗ trợ di chuyển dân sinh tại hẻm vực Phố Cầu Thang, và chiếc bóng của Tháp Đồng Hồ trung tâm.”

Đôi mi thanh tú của Liên khẽ động đậy. Cô từ từ ngẩng đầu lên. Ánh mắt sắc sảo, lạnh lùng sau cặp kính gọng kim loại mỏng quét qua khuôn mặt còn lấm tấm mồ hôi của Nhi, dừng lại đúng một giây ở chiếc thẻ đồng mây lắc lư trước ngực cô bé rồi lướt sang đôi mắt tròn xoe bằng kính thủy tinh của chim máy Ríu.

Không nói một lời, Liên xỏ đôi găng tay bằng vải dệt trắng muốt vào tay, cầm tập hồ sơ lên. Cô dùng một chiếc dao rọc giấy bằng xương cẩn thận rạch đứt sợi chỉ sáp niêm phong, rồi nhấc từng trang tài liệu bằng hai đầu ngón tay với sự cẩn trọng vô hồn của một người đang mổ xẻ một mẫu vật chết.

Chiếc kính lúp cán bạc lớn được nhấc lên. Liên cúi xuống, soi từng dòng chữ, từng nét mực viết tay.

Tờ đầu tiên lọt vào tầm mắt cô là bản kiến nghị tập thể của cư dân Phố Cầu Thang mà bà Sương đã chép lại. Chiếc kính lúp rà chầm chậm qua ba trang giấy đầy những câu chữ thống thiết về “ký ức ba thế hệ thiêng liêng gắn liền với chiếc bàn thông”. Một bên lông mày của Liên khẽ nhướng lên một cách lạnh lùng. Không có bất kỳ một lời bình luận hay một tiếng thở dài nào, ngón tay đeo găng trắng của cô nhẹ nhàng kẹp lấy mép tờ giấy, đẩy nó dứt khoát sang mép bàn bên phải — khu vực định sẵn dành cho những tài liệu phế phẩm bị loại bỏ ngay từ vòng thẩm định đầu tiên.

“Lời khai gián tiếp,” Liên cất giọng đều đều, thanh âm phẳng lặng không chút gợn sóng. “Hoàn toàn không có giá trị xác lập quyền quản lý công trình. Văn bản thiếu sự xác nhận thời điểm chuyển giao kỹ thuật giữa các chủ thể. Không có biên bản kiểm định khả năng chịu lực do kỹ sư địa chính ký duyệt.”

“Nhưng thưa cô kiểm viên, người dân của cả cái dốc phố đó đều ngồi ăn quanh chiếc bàn ấy mỗi ngày suốt bao nhiêu năm qua!” Nhi không kìm được, sốt ruột bước áp sát vào mặt kính pha lê, giọng cô run lên. “Họ nhớ từng vết trầy, từng vết mực loang trên mặt gỗ! Chiếc bàn ấy đã cứu sống trẻ con trong trận lốc xoáy!”

“Ký ức của cư dân không có giá trị thanh khoản hành chính, cô bé à,” Liên đáp lại mà ánh mắt không hề dao động, cây kính lúp vẫn tiếp tục rà trên tờ tài liệu tiếp theo. “Thành phố trên mây này không vận hành bằng nỗi nhớ hay những giọt nước mắt. Thành phố này vận hành bằng biểu đồ tải trọng, bằng sức căng của dây cáp thép và sự chuẩn xác tuyệt đối của các trang sổ bộ. Nếu một đồ vật không có bất kỳ ai đứng tên chịu trách nhiệm đóng phí bảo dưỡng neo gió định kỳ, thì trên mặt văn bản pháp lý, nó mang định danh là 'vật chắn lối vô thừa nhận'. Hệ thống máy quét thu gom tự động kích hoạt chế độ dọn dẹp để đảm bảo an toàn không gian là hoàn toàn chuẩn xác theo đúng Nghị định 42 của Hội đồng Thành phố.”

Nhi cắn chặt môi dưới đến mức bật máu, hai bàn tay buông thõng siết chặt lấy quai túi bưu tá bằng da. Cảm giác bất lực nghẹn ứ nơi cổ họng cô như một khối đá tảng. Những lời kể tâm huyết đầy tự hào của bác thợ may, giọt nước mắt của bà bán cá khô, những câu chuyện hào hùng mà bà Sương đã say sưa kể suốt cả một tiếng đồng hồ... khi đặt chân vào căn phòng lát đá cẩm thạch này, trước mặt người đàn bà mang găng tay trắng và chiếc kính lúp bạc này, tất cả bỗng chốc nhẹ bẫng và tan biến như một làn khói mỏng. Chúng không có bất kỳ một chút trọng lượng nào trước cỗ máy hành chính khổng lồ.

Tuy nhiên, chiếc kính lúp trên tay Liên bỗng nhiên dừng bặt lại khi di chuyển đến tờ tài liệu thứ hai: Tờ biên lai mẫu phẩm mùi hương của tiệm Bánh Nướng Lò Gạch.

Đầu ngón tay Liên khẽ miết nhẹ lên vệt sáp niêm phong màu đỏ sẫm có dập nổi hình cánh chim bưu chính còn dính nguyên vẹn trên mép giấy bìa. Cô nghiêng chiếc kính lúp, soi thật kỹ vào con dấu kiểm định mực tím có mã số khắc chìm “BC-G-881”. Nét mặt vô cảm của cô thoáng qua một tia dao động rất nhỏ. Liên vươn tay kéo cuốn sổ bộ bìa da đen dày cộm bên cạnh bàn lại gần, lật nhanh qua hàng chục trang giấy kẻ cột chi chít số liệu, đối chiếu từng chữ số mã vùng.

“Biên lai tiếp nhận lưu kho dịch vụ công có đóng dấu nổi của bưu bộ,” Liên lẩm bẩm một mình, âm sắc trong giọng nói lần đầu tiên xuất hiện một tầng biến chuyển nhẹ, không còn hoàn toàn bằng phẳng như trước. “Vật phẩm thuộc nhóm thuộc tính vô hình, nhưng đã được đăng ký bản quyền thương mại địa phương trước thời điểm chiến dịch thu gom ngăn nắp bắt đầu ba năm. Mã số định danh còn hiệu lực đối soát trên mạng cáp đồng mây.”

Liên đặt chiếc kính lúp xuống bàn. Bằng một động tác dứt khoát và thuần thục, cô nhấc con dấu đồng vuông vức lên khỏi khay, chấm đẫm vào nghiên mực đen rồi ấn một phát thật mạnh, dứt khoát xuống góc dưới bên phải của tờ biên lai mùi hương.

*Cộp!*

Một vệt mực đen vuông vức hiện lên sắc nét: **ĐÃ TIẾP NHẬN ĐỐI SOÁT**.

Trái tim trong lồng ngực Nhi đập thịch một tiếng mạnh mẽ. Một món! Mùi bánh nướng của bác Vạn đã được giữ lại trước ngưỡng cửa lò tiêu hủy!

Liên tiếp tục chuyển chiếc kính lúp sang tập tài liệu thứ ba: Bản vẽ mặt cắt chiếc bàn ăn ba chân của ông giáo già và cuốn sổ tay nhật trình pha trà của Ông Giờ. Chiếc kính lúp dừng lại rất lâu trên những trang giấy ố vàng ghi lại chi tiết từng giờ, từng khắc pha trà bằng nét mực tàu sắc cạnh, đối chiếu từng li từng tí với vệt bóng tháp in trên thềm đá quảng trường.

“Vết mòn sử dụng thực tế có thể kiểm chứng gián tiếp thông qua nhật trình sinh hoạt cố định của công dân có đăng ký hộ tịch...” Liên lẩm bẩm, ngón tay cô lướt chầm chậm dọc theo đường biểu đồ dao động góc nghiêng ánh sáng mà chính tay Nhi đã cẩn thận dùng thước kẻ thêm ở góc trang để minh họa sự tương thích giữa bóng tháp và nhịp sinh hoạt. “Bóng đổ của công trình... quả thực đã được toàn bộ tiểu khu vực phía nam sử dụng như một công cụ đo nhịp thời gian công cộng trên thực tế trước khi hệ thống đồng hồ điện tử được lắp đặt...”

Liên không lập tức nhấc con dấu đồng lên để đóng dấu tiếp nhận cho chiếc bóng tháp, nhưng ngón tay cô cũng không hề đẩy nó sang mép bàn bên phải như số phận của những tờ đơn trần tình trước đó. Thay vào đó, cô rút một chiếc bìa kẹp hồ sơ màu xám tro từ ngăn kéo bàn, cẩn thận đặt bản vẽ và cuốn nhật ký pha trà vào bên trong rồi gập lại.

Đứng sững giữa sảnh hành lang lạnh ngắt, nhìn chiếc bàn đá phiến đen phẳng phiu không một hạt bụi của Cục Ngăn Nắp, nhìn ngọn bút lông ngỗng và chiếc thước kẻ bạc lạnh lùng vạch ra một lằn ranh giới sinh tử tuyệt đối giữa những gì được phép tồn tại và những gì phải bị xóa sổ vĩnh viễn, một luồng nhận thức sâu sắc và cay đắng bỗng bừng sáng trong tâm trí Nhi.

Ký ức cá nhân, dù có tha thiết, sâu nặng và ấm áp đến nhường nào, cũng sẽ trở nên hoàn toàn bất lực và vô nghĩa trước guồng quay pháp lý khổng lồ của một thành phố vận hành bằng máy móc, nếu như nó không gắn liền với những chứng cứ công năng thực tế có thể đo đạc và kiểm chứng được. Tình cảm của cư dân xóm Giặt Giũ dành cho chiếc tất len là thật, tấm lòng gắn bó của người dân Phố Cầu Thang với chiếc bàn ăn ba chân là thật, nhưng chính sự tùy tiện, thói quen cẩu thả không lưu trữ chứng từ và tâm lý tích trữ vô tội vạ của Hội Giữ Hộ đã vô tình biến những kỷ vật thiêng liêng ấy thành những món đồ “vô chủ” trên mặt giấy tờ, mở toang cánh cửa cho cỗ máy thu gom lạnh lùng nuốt chửng lấy chúng.

Muốn cứu lấy linh hồn của thành phố này, lòng trắc ẩn và sự nhiệt tình là hoàn toàn chưa đủ. Cô cần trật tự. Cô cần kỷ luật sắt đá. Và trên tất cả, cô cần những bằng chứng vật lý không thể nào chối cãi.

Liên từ từ buông chiếc kính lúp xuống mặt bàn nỉ. Cô ngước mắt lên, đưa ánh nhìn sắc lạnh quét qua không gian tĩnh mịch của sảnh hành lang vắng lặng phía sau lưng Nhi. Rồi rất nhanh, ánh mắt của viên chức mẫn cán ấy lướt qua đỉnh đầu cô bé, hướng thẳng về phía một chiếc tủ hồ sơ khổng lồ bằng thép đen đúc nguyên khối, cao sừng sững chạm tận trần nhà bằng đá hoa cương nằm ở góc sâu nhất của căn phòng lưu trữ phía sau quầy.

Ánh mắt của Liên thoáng dao động trong một phần mười giây — một tia nhìn sâu thẳm, căng thẳng và ẩn chứa một nỗi bất an kỳ lạ, tựa như phía sau những hàng ngăn kéo sắt khóa kín bằng mã số cơ học kia không phải là những trang giấy lưu trữ bình thường, mà là một cánh cửa bí mật dẫn thẳng xuống một vực sâu không đáy của thành phố.

Liên kéo ngăn kéo bàn làm việc, rút ra một mảnh giấy biên nhận hành chính in sẵn rồi đẩy qua khe giao dịch cho Nhi. Nhưng ngay khoảnh khắc những đầu ngón tay của Nhi chạm vào mép giấy ráp, cô bé lập tức nhận ra bên dưới tờ biên nhận chính thức có kẹp lót một mẩu giấy ghi chú nhỏ xíu, mép giấy xé vội vàng còn nham nhở những sợi xơ bột gỗ.

Nhi giật mình ngước mắt lên nhìn, nhưng Liên đã nhanh chóng cụp mi mắt xuống. Bàn tay đeo găng trắng của cô lạnh lùng đậy nắp chiếc nghiên mực tàu lại, phát ra một tiếng *cạch* dứt khoát:

“Hồ sơ khiếu nại của cô bé chỉ đủ điều kiện thụ lý một phần theo thẩm quyền của kiểm viên ca sáng. Riêng đối với tài sản vô hình là chiếc bóng của Tháp Đồng Hồ, Cục trưởng Đoan sẽ đích thân chủ trì xem xét và ký lệnh bác bỏ vào phiên họp định kỳ sáng ngày mai vì thiếu cơ sở pháp lý trực tiếp chứng minh quyền tài phán.”

Nhi siết chặt mẩu giấy nhỏ cùng tờ biên nhận vào lòng bàn tay, khẽ cúi đầu chào theo đúng nghi thức bưu chính rồi quay lưng, bước nhanh ra khỏi căn phòng đối soát lạnh lẽo. Gót giày của cô gõ những nhịp vội vã trên nền đá cẩm thạch trơn láng, theo sau là tiếng kim loại khe khẽ của Ríu đang bám chặt trên vai.

Vừa bước qua bậc thềm đá hoa cương đồ sộ để bước ra ngoài khoảng sân rộng lộng gió của quảng trường phía bắc, Nhi vội vàng nép mình vào sau một bệ cột đá lớn. Dưới ánh nắng trưa chói chang đang đổ lửa xuống những phiến đá xám, cô mở lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi ra.

Bên dưới tờ biên nhận mang mã số lưu kho tạm thời, mẩu giấy nhỏ xíu hiện ra. Bằng những nét chữ viết bằng bút chì than nắn nót, sắc cạnh và nghiêng nhẹ về bên phải — nét chữ của một người quen làm việc với thước kẻ và sổ bộ — dòng chữ ngắn ngủi của Liên hiện lên rõ mồn một:

*“Muốn Cục trưởng Đoan mở kho, phải chứng minh hệ thống đang lấy nhầm tài sản công.”*

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn