Sổ Nợ Trường Sinh — Phần 1: Người Đòi Nợ TrờiC.33 / 38
Chương 33

Quỹ dự phòng rỗng

Tiếng xích sắt nặng nề rơi xuống nền đá hoa cương khi cánh cửa thép dày ba tấc của Quỹ Dự Phòng Sinh Khố tại phủ Tĩnh Giang từ từ mở ra.

Âm thanh kim loại nghiến vào nhau ken két rợn người vọng dọc theo đường hầm sâu hun hút dưới lòng đất, làm rơi rụng từng mảng bụi vôi bám trên vòm cuốn bằng đá đen. Mỗi một tấc xích trượt qua ròng rọc bằng đồng xanh đều kéo theo tiếng rên rỉ khô khốc của những trục quay đã nhiều năm không được tra dầu mỡ, ma sát chói tai đến mức làm màng nhĩ người ta ong lên từng hồi. Một luồng tử khí lạnh lẽo, khô khốc và tanh nồng mùi hàn thiết lâu ngày không thông gió ùa thẳng vào mặt những người đứng trước cửa hầm, buốt thấu qua từng lớp vải gai dày dặn. Không khí dưới đáy sâu này dường như đã bị giam hãm suốt nhiều năm tháng, cô đặc lại thành một thứ chướng khí u uất, không có lấy một hạt hơi ẩm của sự sống, chỉ có sự xơ xác của kim thạch hoang phế và mùi nấm mốc mục rỗng lẩn khuất trong những khe nứt của đá hoa cương.

Đỗ Hoài Nam siết chặt cây đoản côn gỗ lim bịt sắt trong tay phải. Khớp ngón tay anh trắng bệch vì dùng lực quá độ, lớp da ram ráp trên thân côn ép chặt vào lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh. Vết chém của đoản kiếm tẩm độc trên cẳng tay trái dẫu đã được rịt thuốc bột thảo dược và băng bó cẩn thận bằng vải sạch vẫn nhói buốt theo từng nhịp đập của mạch máu, kéo căng các đường kinh lạc vừa miễn cưỡng đả thông ở cảnh giới Thông Mạch sơ kỳ. Luồng độc khí tuy đã bị trục xuất phần lớn ra ngoài qua ngón tay, nhưng dư độc vẫn như những mũi kim vụn li ti cào xước dọc theo kinh mạch thủ thái âm phế, khiến mỗi lần hít thở sâu, hai huyệt Phế Du và Tâm Du sau lưng anh lại âm ỉ nóng ran như có tàn tro chôn vùi dưới thịt da. Cảm giác nóng rát đó liên tục nhắc nhở anh về cái ranh giới mong manh giữa cái sống và cái chết mà anh vừa bước qua nơi đầu cầu Bến Lau rạng sáng nay.

Đứng bên cạnh anh, bà Mẫn khoác chiếc áo choàng xám bạc cũ kỹ, vạt áo đã sờn rách ở gấu do cọ xát với sỏi đá trên đường dài. Mái tóc bạc hoa râm của bà được búi chặt bằng một cây trâm gỗ đơn sơ, không gọt giũa cầu kỳ, để lộ vầng trán hằn sâu những nếp nhăn của mấy mươi năm chìm nổi chốn quan trường khế ước. Ánh mắt bà sắc lẹm như lưỡi dao cạo khế ước găm thẳng vào bóng tối đặc quánh bên trong cánh cửa thép đang hé mở. Đôi môi mỏng mím chặt thành một đường thẳng tắp, không hề hé ra một hơi thở thừa thãi, toàn bộ tinh thần của cựu thư lại trưởng đều dồn cả vào việc phán đoán những cạm bẫy hay những dấu hiệu giả mạo có thể ẩn giấu sau cánh cửa ngầm.

Người bước lên đầu tiên là Lê Hữu Cẩn. Đại diện của Hội đồng Góp vốn Sinh Khố tại Tĩnh Giang hôm nay không mặc cẩm bào hoa lệ thường nhật thêu chỉ vàng chỉ bạc mà ông vẫn diện mỗi khi bước vào các phòng tiệc của giới tài phiệt. Ông khoác một bộ trường bào màu chàm sẫm, vạt áo nẹp da cá đuối thô ráp, lưng thắt đai da bò thuộc có móc treo chiếc ngọc phù kiểm toán hình bầu dục. Bàn tay to bè của ông nắm chặt lấy phiến ngọc, chân khí nhàn nhạt truyền vào khiến ngọc phù phát ra ánh sáng vàng nhạt trầm mặc, soi tỏ từng bước chân thận trọng trên nền đá trơn trượt.

Cùng đi sau lưng họ là Thị sát viên Tiết Chấn của Tòa Khế cùng bốn chấp pháp quan mang giáp bạc sáng loáng. Ánh kim loại từ những tấm giáp ngực phản chiếu ánh đuốc chập chờn, tay họ lăm lăm trường thương phong linh mũi nhọn hoắt, đầu ngọn thương có gắn những lá bùa phong tỏa linh lực màu tím nhạt. Ánh mắt của bốn viên chấp pháp quan đảo qua đảo lại không ngừng, cảnh giác cao độ trước từng ngóc ngách tối tăm của lối đi ngầm, bàn chân bọc ủng sắt giẫm lên nền đá tạo thành những bước chân dồn dập, nặng nề, khuấy động sự tĩnh mịch ngàn năm của Quỹ Dự Phòng.

— “Mở đèn quang thạch.” Lê Hữu Cẩn cất giọng trầm thấp, giọng điệu khô khốc không gợn một tia cảm xúc, vang vọng đập vào vách đá rồi tan biến vào khoảng không đen ngòm phía trước.

Một viên chấp pháp quan lập tức tiến lên, giơ cao lệnh bài bằng đồng áp vào một hốc lõm bên cạnh khung cửa vòm. Bốn viên quang thạch cỡ đầu người gắn trên bốn góc trần vòm cao vút lập tức bừng sáng. Luồng bạch quang chói lòa, lạnh lẽo như ánh trăng mùa đông tức khắc xé toạc màn đêm dày đặc, rọi thẳng xuống toàn bộ không gian rộng lớn của kho dự phòng ngầm sâu ba mươi trượng dưới lòng đất.

Nhưng khung cảnh hiện ra trước mắt khiến hơi thở của tất cả những người có mặt lập tức đông cứng lại trong lồng ngực.

Không gian bên trong Quỹ Dự Phòng Sinh Khố rộng tới hơn trăm trượng, được thiết kế theo đúng quy chuẩn dự trữ chiến lược nghiêm ngặt của Viện Thẩm Khế Cửu Hà: ba mươi sáu dãy kệ bằng đá hoa cương xanh xếp thành hình bát quái trận bao quanh lấy khu vực trung tâm, mỗi tầng kệ khoét sẵn hàng trăm hốc tròn có rãnh dẫn linh ngọc để cố định và nuôi dưỡng các bình đồng chứa sinh cơ lỏng loại một. Giữa gian phòng là một bể chứa điều áp bằng huyền thiết khổng lồ, cao tới ba trượng, chu vi mấy chục người ôm, nơi lẽ ra phải cuồn cuộn ánh sáng xanh biếc của hơn bốn mươi vạn chỉ sinh cơ lỏng nguyên chất dự trữ khẩn cấp cho toàn phủ thành Tĩnh Giang mỗi khi có biến cố hạn hán, lũ lụt, vỡ đê hay đứt gãy thanh khoản trên diện rộng.

Thế nhưng, tất cả những gì phơi bày dưới ánh bạch quang chỉ là một khoảng không hoang tàn, trơ trọi đến rợn ngốc.

Hàng ngàn hốc đá trên các dãy kệ đá hoa cương đều trống trơn, bụi phủ một lớp xám xịt dày cộm đến mức che lấp cả những đường vân đá tự nhiên. Không có lấy một chiếc bình đồng niêm phong bùn son nào. Không có lấy một tia sáng xanh dịu dàng của sinh cơ nguyên chất. Bể chứa huyền thiết ở trung tâm cạn khô tận đáy, trơ trọi như một cái xác kim loại khổng lồ đã chết từ lâu đời. Những đường rãnh dẫn linh ngọc chạm khắc bằng bạc ròng dọc theo thành bể đã bị cạo sạch nham nhở, nhiều chỗ cháy đen thui chóa, kết lại thành những vệt xỉ xám xịt vì cạn kiệt năng lượng đột ngột trong quá khứ.

Mùi kim loại rỉ sét và mùi đá cháy khét lẹt bốc lên từ đáy bể, thay thế hoàn toàn cho hương sen thanh khiết vốn có của sinh cơ thuần khiết. Sự trống rỗng tuyệt đối ấy phơi bày một sự thật tàn nhẫn và trần trụi: trái tim tài khóa của cả phủ Tĩnh Giang, tấm lá chắn sinh mệnh cuối cùng của hàng vạn con người phàm trần và tu sĩ hạ tầng trước những tai ương định mệnh, thực chất chỉ là một cái vỏ rỗng tuếch, bị rút ruột sạch sẽ từ bên trong mà không một ai hay biết.

— “Trống... trống rỗng?” Tiết Chấn buột miệng thốt lên, giọng nói vỡ vụn ra thành từng âm thanh run rẩy. Bước chân của viên thị sát viên Tòa Khế lảo đảo lui lại nửa bước, bàn tay cầm thẻ bài thị sát khẽ run lên bần bật, khiến thẻ bài bằng đồng va vào giáp ngực kêu lách cách. “Báo cáo kiểm kê tài khóa quý trước của Ty Chấp Khế... vẫn ghi nhận số dư khả dụng là bốn mươi hai vạn ba ngàn chỉ... Dấu triện đỏ của Ty Tài Chính và chữ ký của Chưởng khế vẫn còn nguyên vẹn trên hồ sơ lưu trữ... Số sinh cơ ấy đâu cả rồi? Bốn mươi vạn chỉ... đủ để duy trì mạng sống cho nửa thành Tĩnh Giang qua một mùa đông... biến đi đâu được?”

Lê Hữu Cẩn không đáp một lời nào. Khuôn mặt vuông vức của người đàn ông trung niên từng trải qua bao cơn sóng gió tài chính, từng chứng kiến sự sụp đổ của biết bao thương hội lớn nhỏ, bỗng chốc đanh lại như một pho tượng đá vô hồn. Những đường gân xanh nơi thái dương ông giật mạnh từng hồi, da mặt tái nhợt đi dưới ánh quang thạch lạnh lẽo. Bàn tay ông siết chặt lấy thanh đoản trâm ngọc kiểm toán đến mức khớp ngón tay run lên bần bật. Ông bước nhanh tới bệ ngọc kiểm toán trung tâm đặt ngay trước bể chứa huyền thiết — nơi đặt phiến đá lưu ký nhật trình xuất nạp của toàn bộ kho tàng.

Bệ ngọc làm bằng cẩm thạch trắng, bề mặt phẳng lì khắc đầy những rãnh phù văn trận pháp phức tạp, nhưng lúc này toàn bộ các rãnh đều mờ mịt, phủ đầy một lớp bụi xám mỏng manh chứng tỏ đã rất lâu không có người truyền chân khí vào để vận hành.

— “Hoài Nam, đặt Sổ Đối Chiếu lên.” Giọng Lê Hữu Cẩn khàn đặc, từng âm tiết như bị nghiền nát qua kẽ răng, mang theo một nỗi phẫn nộ bị đè nén đến cực điểm.

Nam tiến lên một bước. Mỗi bước đi của anh in lại một dấu chân rõ rệt trên lớp bụi dày của nền đá hoa cương. Anh rút từ trong ngực áo ra cuốn sổ bìa da rễ cây sần sùi — di vật quý giá nhất mà bác Trần Định đã dùng cả tính mạng để giữ lại trước khi chết dưới tay đám sát thủ của Lương Trạch. Mặt giấy làm bằng vỏ dâu tằm cổ thụ khẽ rung rinh khi tiếp xúc với luồng hàn khí ẩm mốc của lòng đất. Nam hít sâu một hơi, nhắm mắt lại trong một khoảnh khắc ngắn ngủi để ổn định tâm thần. Anh điều động một tia chân khí non nớt nhưng thuần khiết của cảnh giới Thông Mạch sơ kỳ từ đan điền, dẫn nó chạy dọc theo kinh mạch cánh tay phải, vượt qua những chỗ tắc nghẽn đau nhói, rót thẳng vào gáy sổ bọc đồng.

Xoạt!

Nam đặt phẳng phiu cuốn sổ lên bề mặt phiến đá ngọc lưu ký của bệ kiểm toán.

Vừa chạm vào phiến đá, bề mặt Sổ Đối Chiếu lập tức nổi lên một vòng xoáy huyết quang lờ mờ. Những vệt mực son đỏ thẫm như máu tươi từ các trang giấy dâu tằm tự động trồi lên bề mặt, phát ra ánh sáng đỏ rực rỡ, kết nối trực tiếp với các rãnh phù văn trên bệ cẩm thạch. Các mạch phù văn trên bệ đá như những con rắn nước thức giấc sau giấc ngủ đông ngàn năm, đồng loạt phát ra ánh sáng màu lam thẫm, chạy dọc theo các đường rãnh rồi hút lấy huyết quang từ cuốn sổ.

Xoẹt! Xoẹt! Một chuỗi âm thanh giòn giã như tiếng kim loại cọ xát vang lên liên tiếp giữa không gian tĩnh mịch của căn hầm ngầm. Một luồng sáng màu xám đục pha lẫn ánh xanh lục ma quái phóng vọt lên từ mặt sổ, ngưng tụ giữa không trung thành một bức màn ánh sáng mờ ảo cao chừng nửa trượng. Trên bức màn ánh sáng ấy, hàng ngàn hàng vạn dòng ký tự phù văn cổ ngoằn ngoèo, sắc lạnh và biến ảo liên tục bắt đầu tuôn trào như thác lũ, tái hiện lại toàn bộ lịch sử các giao dịch ngầm đã diễn ra bên dưới lòng đất này.

Nam căng mắt nhìn vào luồng sáng, đồng tử co rút lại. Đầu ngón tay anh lướt đi trên không trung, lần theo từng con số và ký hiệu đang nhảy múa điên cuồng:

— “Không phải bị trộm cắp vật lý...” Nam thì thầm, giọng anh đanh lại, mang theo sự sắc lạnh quen thuộc của một người kiểm sổ đã quá quen với những trò ma mãnh tinh vi trên các bản vận đơn bến bãi. “Bốn mươi vạn chỉ sinh cơ nguyên chất không hề bị chở ra khỏi cổng phủ bằng xe ngựa, xe bọc sắt hay thuyền buôn dưới sông lớn. Toàn bộ niêm phong vật lý của các cánh cửa ngầm dẫn ra cống thoát nước thành phố đều chưa từng bị phá vỡ. Chúng đã bị rút cạn thông qua hệ thống truyền dẫn viễn trình của đài Huyền Thủy tại Tháp Thu Niên... Chuyển dịch theo hình thức thế chấp ngầm!”

— “Thế chấp ngầm cho ai? Vào tài khoản nào?” Lê Hữu Cẩn gằn giọng, bước chân ông dẫm mạnh xuống nền đá, bàn tay siết chặt đến mức các khớp xương kêu răng rắc như muốn bẻ gãy thanh ngọc phù trong tay. “Ai có đủ quyền hạn để ký một lệnh điều chuyển viễn trình vượt qua mặt cả Viện Thẩm Khế và Hội đồng Góp vốn?”

Nam không trả lời ngay. Anh dồn toàn bộ tâm trí vào việc lật giở từng trang sổ đối chiếu trên bệ ngọc, đối chiếu chuỗi chuyển giao dữ liệu đang phát sáng rực rỡ trước mắt. Bàn tay trái đau nhức của anh run rẩy lật nhẹ góc giấy dâu tằm. Trên mặt giấy, một vệt mực son đậm nét kéo dài từ mã tài khoản mẹ `QUỸ-DỰ-PHÒNG-SINH-KHỐ-TG-99` đâm thẳng lên phía trên, cắt ngang qua ba tầng kiểm soát tài khóa của phủ, nối liền với một chuỗi ký tự phức tạp gồm mười sáu ký hiệu hình móc câu và sao sáu cánh: `LIÊN-PHỦ-THUẬN-004 // HẠN-MỨC-TÍN-DỤNG-CẤP-CAO // KHÓA-THƯỢNG-TẦNG-09`.

Tuy nhiên, khi dòng mực son ma quái chạy đến điểm tận cùng để hiển thị tên của chủ thể thụ hưởng nghĩa vụ cuối cùng — nơi danh tính của kẻ đứng sau toàn bộ âm mưu này lẽ ra phải lộ diện — nét mực bỗng dưng đứt đoạn một cách kỳ dị.

Nơi lẽ ra phải ghi rõ tên của tông môn bảo chứng, ngân khố liên phủ hay danh tính của vị đại năng đứng sau khoản vay khổng lồ này, chỉ có một mã khóa phù văn hình mạng nhện phong tỏa dày đặc. Những sợi chỉ sáng màu tím đen đan chéo vào nhau, tạo thành một kết giới văn tự cấm kỵ cực kỳ phức tạp. Một lớp cấm chế vô hình nhưng thâm sâu và nặng nề, mang theo áp lực linh hồn vượt xa năng lực của bất kỳ tu sĩ Lập Đài hay cơ quan tài phán cấp phủ nào của chín phủ Cửu Hà, đã khóa chặt danh tính thực sự của chủ nợ.

Sổ Đối Chiếu chỉ hiển thị mã khóa liên kết thượng tầng mà không hiển thị danh tính chủ nợ thực sự.

— “Mã khóa liên kết thượng tầng...” Bà Mẫn bước lên phía trước nửa bước, nheo mắt nhìn vào luồng sáng xám đục đang lơ lửng giữa không trung, gương mặt già nua phủ đầy bóng tối của sự kinh hoàng và căm phẫn. “Đây không phải là cấu trúc khế ước thông thường của chín phủ Cửu Hà. Đây là dạng thức khế ước ký gửi sinh mệnh vượt cấp... Thuật ngữ cổ thư gọi là ‘Huyết Khế Nghịch Chuyển’. Lương Trạch không chỉ đơn thuần là rút ruột sinh cơ để nuôi dưỡng vây cánh hay mua chuộc các trưởng lão chấp pháp của Thanh Đài Tông như chúng ta từng nghĩ. Hắn to gan hơn thế nhiều. Hắn đã đem toàn bộ sinh cơ dự phòng của hàng vạn con người nơi đây ném vào một canh bạc tín dụng ở tầng thứ cao hơn nhiều. Hắn thế chấp quỹ dự phòng để đổi lấy một hạn mức tín dụng ngầm từ thượng giới hoặc một liên minh bí mật ngoài biên giới Cửu Hà!”

— “Nói cách khác,” Nam tiếp lời, ánh mắt lạnh buốt nhìn vào đáy bể huyền thiết trơ trọi, từng câu từng chữ phát ra như băng giá rơi trên đá tảng, “sinh cơ trong kho này đã bị chuyển đi từ ba năm trước, đúng vào thời điểm dịch tả bùng phát ở Tĩnh Giang, khi mà người chết như rạ dọc theo bờ sông Cửu Hà. Lương Trạch đã dùng mã nợ của người chết để lấp liếm các khoản thâm hụt nhỏ lẻ trong sổ sách thường nhật, nhưng thực chất là để che đậy cái hố đen khổng lồ bốn mươi vạn chỉ này. Khoản nợ hai mươi năm của nhà Tống Lăng hay dải khế ước bảo lãnh chéo gán lên lưng ba mươi hai hộ dân Bến Lau chỉ là những mảnh vá vụn vặt, những đồng bạc lẻ đẫm máu mà hắn ráo riết vơ vét hằng quý để trả lãi định kỳ cho cái hạn mức tín dụng cấp trên chết tiệt đó!”

Một sự im lặng ngột ngạt và nghẹt thở bao trùm lấy toàn bộ căn hầm ngầm rộng lớn.

Tiết Chấn cùng bốn viên chấp pháp quan Tòa Khế đưa mắt nhìn nhau, sắc mặt ai nấy đều tái mét như người chết trôi. Bốn mươi vạn chỉ sinh cơ lỏng biến mất không dấu vết vào một tài khoản thượng tầng vô danh. Đây không còn là một vụ án tham nhũng hay lạm quyền thông thường của một vị Chưởng khế cấp phủ nữa. Đây là một thảm họa mang tính hủy diệt toàn bộ nền móng tài chính của cả một vùng đất.

Nếu tin tức này lọt ra ngoài cửa hầm, dù chỉ là một lời đồn thổi phong phanh, không chỉ thị trường tín dụng của Tĩnh Giang sụp đổ trong nháy mắt, mà làn sóng hoảng loạn sẽ thiêu rụi toàn bộ các thương hội, phường thợ, các phường buôn muối, buôn lụa và cả các tông môn liên kết. Mọi khế ước vay mượn, mọi phiếu sinh cơ lưu hành trên thị trường sẽ lập tức trở thành giấy lộn vô giá trị. Người dân sẽ tràn vào các chi nhánh Sinh Khố để đòi rút lại sinh mệnh của mình, và khi họ nhận ra bên trong chỉ là những bể rỗng, bạo loạn đẫm máu sẽ xé nát cả tòa thành Tĩnh Giang thành từng mảnh vụn. Trật tự xã hội xây dựng trên sự bảo chứng của Sinh Khố suốt mấy trăm năm qua sẽ tan tành xác pháo.

Lê Hữu Cẩn lùi lại một bước, toàn bộ trọng lượng cơ thể như sụp xuống, ông phải tựa lưng vào mép bệ đá hoa cương để khỏi ngã quỵ. Lồng ngực người đại diện phập phồng dữ dội dưới lớp áo chàm sẫm, hơi thở dồn dập và đứt quãng. Là đại diện của Hội đồng Góp vốn Sinh Khố — tập hợp những gia tộc lâu đời, những thương nhân giàu có nhất bỏ vốn thật, linh thạch thật và tài sản gia truyền vào hệ thống để đổi lấy lợi tức sinh cơ — ông hiểu rõ hơn bất kỳ ai ý nghĩa tàn khốc của cảnh tượng này.

— “Không còn tài sản bảo đảm...” Lê Hữu Cẩn lẩm bẩm, giọng nói run rẩy hiếm thấy ở một người đàn ông cả đời chỉ biết đến những phép tính lạnh lùng. “Quỹ dự phòng trống rỗng có nghĩa là Sinh Khố Tĩnh Giang đã mất khả năng thanh toán hoàn toàn trên danh nghĩa pháp lý. Bể rỗng, kho rỗng, không có lấy một giọt dự trữ bắt buộc... Chiếu theo Điều 9 Quy chế Tài khóa Cửu Hà, nếu không có tài sản bảo đảm thay thế được xác lập và chứng thực trong vòng hai mươi tư giờ kể từ khi mở niêm phong kiểm toán, toàn bộ các lệnh bảo lưu và lệnh đình chỉ khẩn cấp của Tòa Khế sẽ tự động mất hiệu lực pháp lý! Hệ thống Tháp Thu Niên sẽ tự hiểu rằng chi nhánh này đã phá sản hoàn toàn!”

Bàn tay Lê Hữu Cẩn bấu chặt vào mép đá, các ngón tay cào mạnh đến mức trầy xước:

— “Tòa Khế sẽ buộc phải kích hoạt cơ chế phát mại cưỡng chế tự động để thu hồi nợ cho các chủ nợ hợp pháp... Lệnh Đình Chỉ Mở Rộng của Tống Nhược Thủy vừa ban hành... sẽ trở thành một tờ giấy vụn không hơn không kém!”

— “Không thể để chuyện đó xảy ra!” Nam lập tức cắt ngang, giọng anh vang lên đanh thép giữa căn hầm trống trải, xé toạc sự bi quan đang bóp nghẹt tâm trí mọi người.

Anh bước tới, đứng sừng sững đối diện với Lê Hữu Cẩn:

— “Nếu cơ chế cưỡng chế tự động của Tháp Thu Niên bị kích hoạt theo Điều 9, trận pháp sẽ không phân biệt khế ước thật hay khế ước giả nữa! Nó sẽ vận hành mù quáng theo các dòng lệnh phù văn đã được thiết lập từ ngàn năm trước! Cọc câu linh sẽ cắm xuống từng mái nhà ở Bến Lau, từng con hẻm lầy lội ở Cầu Mới, từng phường thợ đúc đồng, dệt lụa trong thành phố! Người dân vô tội, những người phàm trần không có một tấc sắt trong tay, sẽ bị hút cạn thọ mệnh, héo mòn mà chết chỉ để thanh lý một khoản nợ ma mà họ không hề hay biết và chưa từng được hưởng một hạt gạo nào từ nó!”

— “Cậu tưởng ta muốn thấy cảnh đó sao, Đỗ Hoài Nam?” Lê Hữu Cẩn bỗng gầm lên, ánh mắt vằn đỏ những tia máu nhìn trừng trừng vào Nam, sự sợ hãi tột cùng biến thành cơn giận dữ điên cuồng. “Hội đồng Góp vốn không phải là một tổ chức từ thiện! Chúng ta không phải những kẻ cứu thế! Tiền của chúng ta, linh dược của chúng ta, sinh cơ của hàng ngàn hội viên, của cả dòng họ Lê và các gia tộc góp vào đây không thể tự nhiên biến thành tro bụi! Luật khế ước Cửu Hà quy định rất rõ: nợ không tự sinh ra và không tự biến mất! Nếu kho này rỗng, thì theo luật định, nghĩa vụ bắt buộc phải truy hồi từ tài sản bảo đảm khả dụng gần nhất có liên đới! Ta lấy cái gì để báo cáo với các vị bô lão trong Hội đồng? Lấy cái gì để cầm chân hàng ngàn nhà đầu tư đang chực chờ bạo loạn ngoài kia khi tin này vỡ lở? Ta lấy cái gì để trám vào cái hố bốn mươi vạn chỉ này?”

— “Lấy chính sản nghiệp của kẻ đã tạo ra cái hố đen này!”

Tiếng nói của Nam vang lên dõng dạc, rành rọt từng chữ, âm vang dội vào các vòm đá đen rồi dội ngược lại, đanh thép như tiếng búa gõ trên đe sắt. Anh không hề lùi bước trước cái nhìn như muốn ăn tươi nuốt sống của người đàn ông quyền lực. Anh bước thẳng tới trước mặt Lê Hữu Cẩn, rút từ trong ống tay áo ra một tập chứng từ dày cộm, được bọc cẩn thận trong một tấm vải dầu chống ẩm mà bà Mẫn đã chuẩn bị sẵn từ đêm qua tại căn nhà vách đất Bến Lau.

— “Lương Trạch điều hành mạng lưới khế ước giả suốt mười lăm năm qua,” Nam giơ cao tập hồ sơ, ngón tay trỏ điểm mạnh vào từng trang giấy dâu tằm chi chít con dấu đỏ, chữ ký và các bản trích lục địa bạ. “Khoản sinh cơ lỏng bốn mươi vạn chỉ đã bị tẩu tán vào hạn mức thượng tầng, chúng ta chưa thể truy thu ngay lập tức vì bị vướng mã khóa bảo mật và thế lực phía sau. Nhưng tài sản cá nhân, bất động sản và các cơ sở sinh lợi mang lại dòng tiền thực tế của phe cánh Lương Trạch tại Tĩnh Giang thì vẫn còn nguyên vẹn trên mặt đất này! Chúng không thể mọc cánh bay đi trong một sớm một chiều được!”

Bà Mẫn bước lên một bước, đứng cạnh Nam. Bà chỉnh lại nếp áo choàng xám, tiếp lời anh bằng chất giọng sắc sảo, lạnh lùng và chuẩn xác đến từng thuật ngữ của một cựu thư lại trưởng từng nắm rõ từng ngóc ngách, từng kẽ hở của hệ thống pháp lý Cửu Hà:

— “Chiếu theo Điều 41 Khoản 2 Quy chế Thi hành Tố tụng và Xử lý Khủng hoảng Tài khóa Liên Phủ: Trong trường hợp Quỹ Dự Phòng bị thâm hụt nghiêm trọng do hành vi gian lận, cố ý làm trái hoặc vi phạm ủy thác nghiêm trọng của người quản lý điều hành, bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan — mà ở đây chính là Hội đồng Góp vốn do ông Lê Hữu Cẩn làm đại diện hợp pháp — có toàn quyền đệ trình yêu cầu khẩn cấp lên Tòa Khế. Yêu cầu áp dụng Biện pháp Phong tỏa Khẩn cấp và Kê biên Toàn diện Toàn bộ Sản nghiệp đối với người đứng đầu và các đồng phạm liên đới, để thiết lập Khối Tài sản Bảo đảm Thay thế!”

Bà Mẫn chỉ tay vào tập tài liệu trên tay Nam:

— “Một khi Khối Tài sản Bảo đảm Thay thế được Hội đồng Góp vốn chấp thuận và Tòa Khế phê chuẩn, nó sẽ có giá trị pháp lý tương đương với bốn mươi vạn chỉ sinh cơ lỏng trong kho! Điều 9 Quy chế Tài khóa sẽ bị vô hiệu hóa! Tháp Thu Niên sẽ bị ngăn chặn không thể tự động phát mại cưỡng chế! Lệnh đình chỉ của Tống Thẩm khế sẽ tiếp tục có hiệu lực!”

Nam lật mở trang thứ ba của tập hồ sơ dày cộm, trải phẳng phiu ra trước mặt Lê Hữu Cẩn, trên mặt phiến đá cẩm thạch của bệ kiểm toán:

— “Xem đi, Lê đại diện! Đây là danh mục tài sản độc lập mà tôi và Tạ Bách đã bí mật rà soát, kiểm tra chéo suốt ba ngày ba đêm qua từ các sổ bến bãi, vận đơn đường thủy và hồ sơ chuyển nhượng ngầm: Mười hai kho hàng trung chuyển lớn tại Cảng Mới đứng tên cháu ruột Lương Trạch; ba mươi mẫu linh điền trồng dược liệu tam phẩm tại thung lũng Thượng Du thuộc quyền sở hữu của các thương hiệu bình phong; Xưởng Khế Hai Dấu tại phố Đông; năm lò đúc đồng và xưởng chế tác phù cụ lớn nhất thành phố; cùng toàn bộ dinh thự, trang trại ngựa và phần vốn góp bí mật của Lương Trạch trong các thương hội vận tải thủy bộ! Tổng giá trị định giá sơ bộ của khối tài sản này không dưới năm mươi vạn lượng bạc trắng nguyên chất, tương đương với hơn ba mươi vạn chỉ sinh cơ quy đổi theo thời giá hiện hành!”

Đôi mắt Lê Hữu Cẩn co rút lại thành hai chấm nhỏ. Ông cúi rạp người xuống, nhìn chằm chằm vào bản danh mục chi tiết đến từng số thửa đất, từng mã số kho bãi, từng hợp đồng thuê mướn và từng tên người đứng hộ khế ước. Từng dòng chữ được viết bằng thứ mực đen nhánh rõ ràng, bên cạnh có kèm theo những con dấu chứng thực bến bãi mà Tạ Bách đã bí mật sao chép từ sổ lưu cảng.

— “Phong tỏa toàn bộ sản nghiệp của Chưởng khế...” Lê Hữu Cẩn lẩm bẩm, hơi thở dồn dập, mồ hôi hột rỉ ra trên trán rồi chảy dài xuống cằm. “Đây là hành động tuyên chiến công khai. Không còn đường lui nữa. Một khi đã hạ bút niêm phong tài sản của một Chưởng khế đương nhiệm có tu vi Lập Đài trung kỳ, có quan hệ chằng chịt với giới chức liên phủ... sẽ không còn đường sống cho kẻ thất bại.”

— “Từ lúc cụ Thiều trút hơi thở cuối cùng ở Bến Lau rạng sáng nay, đã không còn đường lui nào cho bất kỳ ai trong chúng ta nữa rồi!” Nam trầm giọng, trong mắt ánh lên ngọn lửa kiên định cháy bỏng, không hề có lấy một tia do dự hay sợ hãi. “Nếu ông chần chừ dù chỉ một khắc, chỉ cần một canh giờ nữa thôi, Lương Trạch sẽ nhận ra kho dự phòng đã bị mở niêm phong kiểm toán. Hắn sẽ dùng quyền Chưởng khế tẩu tán toàn bộ ngân phiếu ra khỏi thành, chuyển nhượng toàn bộ kho bãi cho thân tín, tiêu hủy chứng cứ và ôm con Dấu Chủ bỏ trốn sang các phủ lân cận! Khi đó, Hội đồng Góp vốn của các người sẽ ôm một đống giấy lộn và một cái kho rỗng tuếch, còn hàng vạn dân thường sẽ bị cọc câu linh nghiền nát dưới bánh xe cưỡng nợ! Ký vào đây, thưa Lê đại diện. Thiết lập tài sản bảo đảm thay thế, giữ vững Lệnh Đình Chỉ, và tự cứu lấy phần tín dụng còn trong sạch của chính các người!”

Lê Hữu Cẩn nhìn sâu vào đôi mắt của người thanh niên kiểm sổ trước mặt. Trong khoảnh khắc ngột ngạt ấy, dưới ánh bạch quang lạnh lẽo của hầm ngầm, ông không thấy một tên tiểu tử Thông Mạch non nớt đang run rẩy trước uy áp của quyền lực, mà chỉ thấy một con người kiên định đến mức tàn nhẫn trong việc bảo vệ sự thật của những con số, một kẻ dám đem cả tính mạng ra đánh cược để duy trì sự cân bằng của cán cân công lý.

Không một lời thừa thãi, Lê Hữu Cẩn rút chiếc bút lông ngỗng bịt vàng từ thắt lưng ra. Ông giật lấy hộp mực chu sa pha linh dịch mà người thị sát viên Tiết Chấn đang run rẩy cầm trên tay, chấm mạnh ngòi bút vào mực đỏ thẫm.

Soạt!

Một nét chữ dứt khoát, sắc bén như một nhát chém hạ xuống góc dưới bản đề xuất phong tỏa. Tiếp đó, Lê Hữu Cẩn gỡ ngọc phù đại diện của Hội đồng Góp vốn Sinh Khố khỏi thắt lưng, rót toàn bộ chân khí vào phiến ngọc rồi ấn mạnh lên trang giấy dâu tằm.

Ầm! Một luồng kim quang rực rỡ bùng lên từ mặt giấy, để lại một dấu triện hình chiếc vạc ba chân tỏa ánh sáng vàng rực — biểu tượng cho quyền năng tài chính tối cao của Hội đồng Góp vốn phủ Tĩnh Giang.

— “Ta chấp thuận bản đề xuất phong tỏa,” Lê Hữu Cẩn ngẩng đầu lên, ánh mắt lấy lại vẻ lạnh lùng, quyết đoán và tàn nhẫn của một tài phiệt lão luyện chốn thương trường. “Tiết thị sát, cùng ta và bà Mẫn mang toàn bộ hồ sơ này sang phòng Thẩm phán Tối cao ngay lập tức. Yêu cầu Thẩm khế Tống Nhược Thủy triệu tập phiên tòa khẩn cấp ngay tại chỗ, phát lệnh niêm phong toàn diện toàn bộ sản nghiệp của phe Lương Trạch trước giờ Ngọ!”

***

Nửa canh giờ sau, tại sảnh chính Tòa Khế Tĩnh Giang.

Bầu không khí bên trong đại sảnh rộng lớn căng thẳng đặc quánh như chì nấu sôi. Không có tiếng ồn ào của những người đến khiếu kiện thường nhật, toàn bộ các cửa lớn bằng gỗ lim đều được đóng chặt và canh gác nghiêm ngặt bởi hai hàng chấp pháp quan mang giáp bạc, tay cầm đại đao sắc lạnh.

Thẩm khế Tống Nhược Thủy ngồi sau bàn thẩm phán bằng đá cẩm thạch đen đồ sộ. Bà khoác bộ pháp bào màu tím sẫm thêu hoa văn sóng nước Cửu Hà, mái tóc búi cao nghiêm nghị, gương mặt thanh tú không để lộ một tia dao động cảm xúc nào. Đôi mắt phượng sắc sảo của bà quét qua ba văn bản mang tính quyết định sinh tử đang đặt ngay ngắn trên bàn:

Thứ nhất là Biên bản khám xét Quỹ Dự Phòng Sinh Khố xác nhận kho rỗng hoàn toàn, có chữ ký run rẩy của Tiết Chấn và bốn chấp pháp quan thị sát.

Thứ hai là Văn bản đề xuất phong tỏa và thiết lập tài sản bảo đảm thay thế do Đỗ Hoài Nam khởi xướng, mang chữ ký và dấu triện kim quang chuẩn y của Lê Hữu Cẩn đại diện Hội đồng Góp vốn.

Thứ ba là Bản giải trình căn cứ pháp lý do bà Mẫn đích thân dùng bút mực thảo ngay trên xe ngựa, viện dẫn Điều 41 Khoản 2 Quy chế Tố tụng và Xử lý Khủng hoảng Tài khóa Liên Phủ một cách chặt chẽ, không để hở một kẽ hở nào cho bất kỳ sự phản kháng pháp lý nào.

Hai nguồn chứng cứ độc lập từ bên kiểm toán và bên thị sát, chuỗi lưu ký không thể chối cãi từ Sổ Đối Chiếu, cùng sự đồng thuận tuyệt đối của đại diện bên cấp tín dụng lớn nhất phủ Tĩnh Giang đã tạo thành một thế gọng kìm pháp lý tuyệt đối vững chắc, trao vào tay Thẩm khế Tống Nhược Thủy một thanh kiếm lệnh có quyền năng tối thượng.

Tống Nhược Thủy nâng chiếc búa gỗ đàn hương đen lên. Giọng nói của bà vang lên, trong trẻo nhưng uy nghiêm như chuông đồng ngân nga giữa vòm sảnh đá:

— “Chiếu theo thẩm quyền tài phán khẩn cấp của Viện Thẩm Khế phủ Tĩnh Giang, căn cứ Điều 41 Quy chế Tố tụng Cửu Hà, xét tính chất đặc biệt nghiêm trọng đe dọa trực tiếp đến an ninh tài khóa và sinh mệnh của cư dân trong phủ: Tòa Khế chính thức ban hành Lệnh Niêm Phong Khẩn Cấp Số Chín! Phong tỏa toàn bộ bất động sản, kho bãi, cơ sở sản xuất, linh điền và tài khoản lưu động thuộc quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp của Chưởng khế Lương Trạch cùng mười bảy thân tín liên quan. Tạm đình chỉ quyền điều hành hành chính, quyền ký duyệt khế ước và quyền tiếp cận hệ thống trận pháp của Chưởng khế Lương Trạch để phục vụ điều tra hình sự. Lệnh này có hiệu lực thi hành ngay lập tức!”

Cạch!

Chiếc búa gỗ đàn hương giáng mạnh xuống mặt bàn đá cẩm thạch, âm thanh đanh gọn vang dội khắp đại sảnh.

Bốn đội Chấp pháp quan Tòa Khế, mỗi đội mười hai người trang bị giáp trụ đầy đủ, mang theo các cuộn bùa niêm phong bằng lụa đỏ thêu chỉ vàng và lệnh bài công vụ có khắc dấu triện của Viện Thẩm Khế, lập tức rầm rập xuất phát. Cánh cửa lớn của Tòa Khế mở toang, tiếng ủng sắt giẫm dồn dập trên thềm đá hoa cương khi họ chia thành nhiều ngả túa ra khắp các tuyến phố lớn nhỏ của phủ thành Tĩnh Giang để cấp tốc phát lệnh niêm phong toàn diện sản nghiệp của phe cánh chưởng khế.

Tin tức nổ ra như một tiếng sét giữa trời quang, xé toạc sự yên ắng giả tạo của thành Tĩnh Giang trong buổi chiều tà, đẩy toàn bộ cỗ máy quyền lực của thành phố vào một cơn chấn động chưa từng có suốt năm mươi năm qua.

***

Tại Phủ đường Chưởng khế, nằm uy nghiêm ở khu trung tâm hành chính phía Bắc thành.

Lương Trạch ngồi bất động sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ lim ngàn năm chạm trổ rồng mây tinh xảo. Chiếc lò trầm bằng đồng thau đặt ở góc phòng vẫn tỏa ra làn khói mỏng mùi hương tùng bách thanh tịnh, nhưng sắc mặt của vị Chưởng khế ngũ tuần lúc này lại xám ngoét như tro tàn của người chết.

Trước mặt hắn, một tên thư lại thân tín đang quỳ rạp dưới đất, trán dập sát xuống nền gạch hoa, toàn thân run lẩy bẩy như cầy sấy giữa mùa đông giá rét:

— “Bẩm... bẩm Chưởng khế... Tòa Khế vừa ban hành Lệnh Số Chín... Bốn đội chấp pháp quan của Tống Nhược Thủy đã kéo đến niêm phong mười hai kho hàng tại Cảng Mới... Lò than, xưởng đúc đồng và xưởng chế tác phù cụ ở phố Đông cũng đã bị dán phù lụa đỏ phong tỏa... Người của chúng ta vừa định tẩu tán ngân phiếu thì bị chặn đứng ngay tại cổng... Lê Hữu Cẩn... Lê Hữu Cẩn đã công khai đứng về phía thằng ranh Đỗ Hoài Nam, ký giấy chuyển toàn bộ tài sản cá nhân và cơ sở kinh doanh của ngài thành khối bảo đảm thay thế cho Quỹ Dự Phòng rồi!”

Lương Trạch không nói một lời nào. Bàn tay gầy guộc với những móng tay cắt tỉa cẩn thận của một tu sĩ Lập Đài trung kỳ khẽ siết chặt lấy chiếc chén trà bằng sứ men xanh thượng hạng đang cầm trên tay.

Rắc!

Chiếc chén vỡ vụn thành hàng trăm mảnh nhỏ li ti. Nước trà nóng hổi cùng bột sứ sắc nhọn đâm sâu vào da thịt, hòa lẫn với máu tươi đỏ thẫm rỉ ra từ lòng bàn tay hắn, nhỏ tong tỏng xuống mặt bàn gỗ lim quý giá. Nhưng Lương Trạch dường như không hề cảm nhận được nỗi đau thể xác.

Đại cục mười lăm năm dày công xây dựng đã sụp đổ hoàn toàn chỉ trong một buổi sáng.

Lương Trạch nhắm nghiền hai mắt lại, hít một hơi thật sâu để nén cơn giận dữ đang cuộn trào như núi lửa trong lồng ngực. Hắn đã tính toán mọi nước cờ một cách cẩn mật nhất: hắn đẩy sớm kỳ hạn cưỡng thu sinh cơ ba ngày để tạo yếu tố bất ngờ; hắn dùng cọc câu linh viễn trình để ép Bến Lau và các phường thợ nghèo vào chỗ chết hòng gom đủ số sinh cơ còn thiếu để lấp liếm sự thâm hụt trước ngày đoàn thanh tra liên phủ kéo đến; hắn thậm chí đã ngầm sai người đổ nước cường toan phá hủy Trạm Truyền Tin Pháp Lệnh để ngăn chặn Lệnh Đình Chỉ của Tòa Khế.

Thế nhưng, hắn ngàn tính vạn tính cũng không thể ngờ rằng một tên kiểm sổ phàm nhân xuất thân từ bến bãi bùn lầy hôi hám như Đỗ Hoài Nam lại có thể sống sót sau vụ ám sát, liên kết được một bà già quỷ quyệt như bà Mẫn, kéo được cả một con cáo già bảo thủ như Lê Hữu Cẩn về phía mình, và cuối cùng dùng chính các điều khoản khô khốc trong quy chế tố tụng để bẻ gãy toàn bộ thế cờ của hắn!

Bến Lau đã thất thủ — tin tức về việc toán tư binh do cháu ruột hắn chỉ huy bị người dân tước vũ khí và cọc câu linh bị tháo dỡ rạng sáng nay vừa được chim bồ câu đưa về cách đây nửa canh giờ. Giờ đây, Quỹ Dự Phòng trống rỗng bị khui ra giữa thanh thiên bạch nhật, toàn bộ sản nghiệp cá nhân bị niêm phong toàn diện, chiếc ghế Chưởng khế nắm quyền sinh sát trong tay hắn đã chính thức biến thành một cái giá treo cổ đang chờ sẵn.

Một khi Tòa Khế tiến hành thẩm tra sâu hơn vào các sổ sách niêm phong, họ sẽ lần ra được mối liên kết giữa Xưởng Khế Hai Dấu với hàng ngàn bản khế ước giả mạo đã được sản xuất liên tục suốt mười lăm năm qua. Và nguy hiểm hơn tất cả, nếu họ tìm ra được các cuộn hồ sơ gốc cất giấu dưới tầng hầm bí mật của xưởng khế, đường dây liên kết giữa hắn với hạn mức tín dụng ngầm thượng giới mang mã `LIÊN-PHỦ-THUẬN-004` sẽ bị phơi bày hoàn toàn trước ánh sáng.

Khi đó, không chỉ Tòa Khế hạ lệnh tru diệt hắn và gia tộc, mà chính thế lực thượng tầng khủng khiếp đứng sau bản hợp đồng ma quái kia cũng sẽ nghiền nát linh hồn hắn thành tro bụi để diệt khẩu, không để lại một dấu vết nào trên cõi đời này.

— “Chưởng khế... chúng ta... chúng ta phải làm sao bây giờ?” Tên thư lại run rẩy ngẩng đầu lên, trong mắt tràn ngập nỗi tuyệt vọng cùng cực. “Chấp pháp quan Tòa Khế cùng người của Lê Hữu Cẩn sắp kéo đến bao vây toàn bộ phủ đường rồi! Cổng trước cổng sau đều đã có tai mắt...”

Lương Trạch mở mắt ra. Đôi mắt hắn lúc này không còn vẻ điềm đạm, khoan thai của một vị quan chức cấp cao luôn nắm giữ vận mệnh người khác, mà chỉ còn lại sự tàn nhẫn, điên cuồng và lạnh lẽo của một con thú dữ bị dồn vào chân tường đá.

Hắn đứng phắt dậy, vung ống tay áo dính đầy máu gạt phăng toàn bộ tập công văn, nghiên mực và bút lông trên bàn xuống đất:

— “Hoảng cái gì! Lũ chuột nhắt Tòa Khế tưởng một tờ giấy niêm phong rách nát là có thể trói được Lương Trạch này sao?” Hắn bước từng bước nặng nề tới trước mặt tên thư lại, cúi người xuống, giọng nói rít qua kẽ răng như tiếng rắn độc phì hơi giữa đêm đen: “Nghe lệnh ta! Lập tức mang ba đạo phù hỏa lôi cấp bốn trong mật thất đến Xưởng Khế Hai Dấu! Khóa chặt toàn bộ cửa sắt bên ngoài bằng then thép, tưới dầu thông vào các hốc gió và phóng hỏa thiêu rụi toàn bộ xưởng cho ta!”

Tên thư lại sững sờ, mắt trợn tròn kinh hãi, lắp bắp không thành tiếng:

— “Đốt... đốt xưởng khế? Nhưng thưa Chưởng khế... trong đó còn hơn mười người thợ phụ và thợ tiện đang làm việc... cả đống hồ sơ lưu trữ gốc mười lăm năm qua...”

— “Ta bảo đốt!” Lương Trạch gầm lên một tiếng sắc lạnh. Một luồng kình lực hùng hậu của tu vi Lập Đài bộc phát từ lòng bàn tay hắn, hất tung tên thư lại bay ra xa, đập mạnh lưng vào vách tường đá hoa cương kêu rầm một tiếng. “Đốt sạch! Máy ép, khuôn đúc đồng, giấy dâu tằm, và toàn bộ những kẻ đang ở bên trong! Không được để sót lại dù chỉ là một mẩu tro tàn của các bản phụ lục tráo đổi! Chỉ cần hồ sơ gốc bị thiêu rụi thành tro, Tòa Khế sẽ không bao giờ có đủ chứng cứ vật lý để kết tội cấu thành một mạng lưới gian lận có hệ thống! Đi ngay! Chậm một khắc, ta sẽ rút cạn sinh cơ của cả nhà ngươi!”

Tên thư lại ôm ngực thổ huyết, sợ hãi đến mức hồn xiêu phách lạc. Hắn không dám nói thêm nửa lời, vội vã bò lê bò càng lùi ra khỏi cửa phòng, rồi cắm đầu lao vào màn đêm u ám để thi hành mật lệnh tàn độc cuối cùng.

Trong căn phòng vắng lặng lúc này chỉ còn lại ánh đèn dầu le lói chập chờn chiếu lên những mảnh sứ vỡ và vệt máu loang lổ trên sàn gỗ.

Lương Trạch quay người bước về phía bức bình phong bằng gỗ mun thêu hình sông núi Cửu Hà đồ sộ dựng ở góc phòng. Hắn quỳ một gối xuống, vươn bàn tay dính máu ấn mạnh vào một khớp mộng ẩn giấu cực kỳ tinh vi dưới chân đế bình phong.

Cạch.

Một phiến đá trên bức tường gạch phía sau bình phong từ từ trượt sang một bên, để lộ ra một hốc ngầm nhỏ hẹp. Bên trong hốc ngầm không hề có vàng bạc, châu báu hay ngân phiếu, mà chỉ đặt duy nhất một chiếc hộp bằng gỗ đàn hương đen khảm bạc tinh xảo, bề mặt hộp được phong kín bằng ba đạo phù chú triệt tiêu dao động linh lực màu xanh thẫm.

Lương Trạch run rẩy đưa tay gỡ ba đạo phù chú, rồi cẩn thận mở nắp hộp gỗ.

Nằm tĩnh lặng trên lớp lụa nhung đỏ thẫm là một khối ngọc tủy thanh u lớn bằng nắm tay, tỏa ra ánh sáng xanh lơ mờ mịt và lạnh buốt thấu xương tủy. Ánh sáng từ khối ngọc tủy chiếu rọi lên gương mặt dữ tợn của Lương Trạch, phản chiếu vẻ tham lam và tuyệt vọng đan xen. Trên thân khối ngọc được chạm khắc bốn chữ triện cổ uy nghiêm và sắc sảo: *Tĩnh Giang Chưởng Ấn*.

Đây chính là Dấu Chủ tối cao của phủ Tĩnh Giang.

Vật phẩm quyền lực tuyệt đối này không đơn thuần chỉ là con dấu dùng để phê chuẩn các bản khế ước tài khóa hành chính của toàn phủ. Nó là chiếc chìa khóa sống duy nhất chứa linh hồn của đại trận, có thẩm quyền cao nhất để kích hoạt, điều phối và chuyển giao toàn bộ dòng chảy sinh cơ của Tháp Thu Niên. Mất đi chức vụ Chưởng khế, mất đi các kho bãi hàng hóa, mất đi phủ đường xa hoa, nhưng chỉ cần còn nắm giữ Dấu Chủ này trong tay, Lương Trạch vẫn còn cơ hội lật ngược lại thế cờ sinh tử.

Hắn có thể bí mật tiến vào Tháp Thu Niên, dùng Dấu Chủ cưỡng chế kích hoạt chu kỳ vận hành tối hậu của cổng Huyền Thủy, hoàn tất việc chuyển giao mẻ sinh cơ cuối cùng còn tích tụ trong các đường ống ngầm vào tài khoản thượng giới mang mã `LIÊN-PHỦ-THUẬN-004`, sau đó mượn chính trận pháp dịch chuyển viễn trình của tháp để đào tẩu rời khỏi cõi Cửu Hà trước khi bất kỳ ai kịp chạm vào vạt áo hắn.

Lương Trạch cẩn thận đóng nắp hộp gỗ đàn hương, cất chiếc hộp chứa dấu chủ quyền lực của phủ sâu vào tay áo rộng của chiếc cẩm bào sẫm màu.

Hắn đưa tay thổi tắt ngọn nến duy nhất còn leo lét trên bàn. Toàn bộ phủ đường chìm vào bóng tối đặc quánh, lạnh lẽo như một nấm mồ chôn giấu những tội ác tày trời.

Lương Trạch xoay người, bước nhanh qua khung cửa sổ phía sau dẫn thẳng ra khu vườn rậm rạp hoang vắng. Thân hình của tu sĩ Lập Đài khẽ nhún một cái, hóa thành một bóng ma mờ ảo hòa lẫn vào màn đêm u ám, lướt nhanh trên những mái ngói rêu phong, hướng thẳng về phía trung tâm vận hành trận pháp của toàn thành — nơi ngọn Tháp Thu Niên bằng đá đen khổng lồ đang sừng sững vươn lên giữa trời đêm như một gã khổng lồ lạnh lùng và tàn nhẫn đang chờ đợi mồi tế.

Chưa đầy nửa khắc sau, từ phía khu phố Đông thành Tĩnh Giang, một tiếng nổ trầm đục vang lên xé toạc màn đêm tĩnh mịch.

Một cột khói đen đặc cuộn lên giữa trời đêm thành Tĩnh Giang, báo hiệu ngọn lửa của kẻ bị dồn vào chân tường đã bắt đầu liếm vào những trang giấy sống còn.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn