Món nợ ở quán bà Sương
Quán cơm bình dân của bà Đỗ Thị Sương nằm nép mình ở mép một con hẻm cụt rải đá dăm, chỉ cách bờ kè cảng cá chừng hai trăm mét. Vào cữ mười hai giờ trưa, không khí oi nồng quánh đặc lại như một khối thạch vô hình bị nung nóng. Nắng tháng Sáu miền duyên hải đổ lửa xuống những mái tôn xi măng xám xịt, hắt ngược lên từ mặt đường nhựa loang lổ vết dầu máy và nước rỉ rác từ các xe đông lạnh chở cá. Không gian chìm nghỉm trong vẻ vắng hoe ảm đạm. Chỉ có tiếng quạt trần ba cánh bằng sắt cũ kỹ treo trên xà nhà quay cọt kẹt từng nhịp nặng nề, phả xuống những luồng gió nóng ran pha lẫn mùi cá nục kho tiêu thoang thoảng mắm nhĩ Hải Thành.
Gió từ phía mé biển thốc qua rãnh thoát nước lộ thiên, lùa qua lớp rèm nhựa ngả màu cháo lòng trước cửa quán, cuốn theo hơi muối mằn mặn xộc thẳng vào cánh mũi cùng cái mùi bùn tanh đặc trưng của bãi triều đang lúc rút nước kiệt. Dưới mái hiên thấp lè tè, bốn chiếc bàn inox dài xếp xộc xệch, mặt bàn loang loáng những vệt nước lau chưa kịp khô. Ghế nhựa đỏ chồng ngược từng cọc năm sáu chiếc dựa vào góc tường quét vôi bong tróc. Tuyệt nhiên không có lấy một bóng khách quen ghé ăn cơm trưa. Chiếc tủ kính bày đồ ăn chỉ lỏng chỏng vài khay nhôm: một đĩa trứng chiên hành xẹp lép nguội ngắt, nửa con cá thu bè kho sẫm màu nước màu dừa, và một âu canh chua bắp chuối nấu đầu cá bốc lên làn hơi mỏng manh. Nồi cá nục kho tiêu đặt liu riu trên chiếc bếp than tổ ong kê sát vách đất tỏa khói nhè nhẹ, mùi nước mắm cốt đượm đà bốc lên ngào ngạt nhưng lại chìm nghỉm trong vẻ lạnh lẽo, ế ẩm đến nao lòng của một hàng quán bên bờ vực phá sản.
Lan gạt chân chống chiếc xe Wave cà tàng của xưởng dưới bóng râm cằn cỗi của cây trứng cá trước cửa quán. Những chùm quả chín đỏ vương vãi trên nền đất khô nứt nẻ, bị bánh xe chẹt nát bốc lên mùi chua nồng. Phúc bước xuống sau cô, áo sơ mi sờn cổ ướt đẫm mồ hôi lưng, bết chặt vào sống lưng gầy guộc. Nét mặt anh vẫn còn vương nguyên vẻ dùng dằng, cau có và bực bội. Suốt dọc đoạn đường ba cây số từ xưởng ủ chạy dọc theo con đường ven biển đầy ổ gà ra bến cá, Phúc gần như không thèm mở miệng nói lấy nửa lời. Anh lái xe trong im lặng hậm hực, thỉnh thoảng lại cố tình giật mạnh tay ga qua những khúc cua gắt để bày tỏ sự phản kháng ngấm ngầm. Anh khó chịu vì bị Lan lôi đi xoi mói những chỗ thân tình lâu năm của cha, lại thêm phần mặc cảm khi phải đứng nhìn chị gái mình mang tư thế một kiểm toán viên thành phố về hạch sách từng người hàng xóm quen mặt từ thuở hai chị em còn cởi trần tắm mưa ngoài bến.
“Em nói trước với chị một câu,” Phúc lầm bầm dưới hơi thở, giọng anh khàn đặc vì khát và gắt gỏng, hai tay chà mạnh vạt áo ướt sũng lên trán. “Bà Sương một nách nuôi hai đứa con ăn học trối chết ngoài này. Chồng bả đi bạn biển mất tích trong bão mười năm trước, sống nhờ cái quán cơm đắp đổi qua ngày. Ba hồi trước ghé đây ăn sáng miết, thiếu đồng nào ba cũng xua tay bảo cứ để đó tính sau, chừng nào dư dả hẵng gửi. Giờ ba vừa nằm xuống một chỗ trên tỉnh, chị đã vác sổ vác viết tới đòi ráo riết từng đồng thế này, người ta ngó vào lại bảo cả cái nhà họ Võ cạn tình cạn nghĩa, thấy người ta sa cơ là nhảy vô bóp cổ.”
Lan dừng bước ngay bậc tam cấp nứt toác của quán. Mũi giày búp bê màu đen của cô đã phủ một lớp bụi cát mỏng màu xám tro. Cô quay người lại, ngước mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt đang nhễ nhại mồ hôi và đỏ gay vì nắng của em trai. Ánh mắt Lan không có sự giận dữ, chỉ có sự bình thản sâu hun hút của một người đã quen nhìn đời qua lăng kính của những con số nghiệt ngã:
“Chị không đến đây để cạn tình với ai cả, Phúc à. Nhưng chị cần biết ba mươi lăm triệu ghi trong sổ của ba rốt cuộc là tiền gì. Tiền mắm giao đi có phiếu nhận hay là tiền ba rút túi riêng đưa cho người ta? Nếu là tiền hàng của xưởng, xưởng đang thiếu từng đồng tiền điện ba pha, thiếu tiền cọc vỏ chai của bà Quyên để đóng hàng, và tuần tới đây lấy gì trả lương cho mười bốn người thợ đang đứng nhìn mình? Mình không thể để xưởng sập chỉ vì một chữ ngại mở miệng. Còn nếu là tiền ba cho vay tình nghĩa cá nhân, chị cũng phải rạch ròi để biết đường mà tính vào dòng tiền, chứ không thể nhắm mắt để một con số ba mươi lăm triệu treo lơ lửng trên giấy rồi tự dối mình là xưởng vẫn còn tài sản khả dụng. Vào trong đi, đứng ngoài này nắng cháy da không giải quyết được gì đâu.”
Cô không chờ Phúc trả lời, một tay cầm chắc chiếc túi vải thô đựng tập hồ sơ dày cộp và cuốn sổ da màu nâu đã sờn rách mép gáy, dứt khoát bước thẳng vào quán. Phúc đứng chần chừ dưới bóng cây trứng cá chừng vài giây, đá mạnh mũi dép tổ ong vào một viên sỏi ven đường rồi lầm lũi đi theo sau, đầu cúi gằm.
Bà Sương đang cặm cụi dùng chiếc giẻ lau bằng vải thun rách lau đi lau lại mấy khay nhôm đựng thức ăn rỗng không bên quầy kính. Tiếng kim loại va vào nhau lách cách khô khốc. Nghe tiếng bước chân giẫm lên nền gạch tàu loang lổ, bà ngẩng phắt đầu lên. Nụ cười đon đả quen thuộc của một người đàn bà buôn bán ven đường vừa kịp nở trên gương mặt sạm nắng đầy nếp nhăn thì bỗng nhiên sượng lại. Nụ cười ấy chùng xuống, méo mó đi trong khoảnh khắc khi ánh mắt bà chạm phải Lan—người con gái lớn của ông Thành với dáng vẻ tề chỉnh, chiếc áo sơ mi lụa màu lam cài kín cổ, mái tóc buộc gọn gàng sau gáy, tay kẹp tập bìa hồ sơ dày cộp—và Phúc đang lầm lũi đi phía sau như một kẻ phạm tội bị điệu đi.
“Ủa… Lan mới ở trên trăng Sài Gòn dìa hả con? Cả thằng Phúc nữa…” Bà Sương lúng túng buông chiếc giẻ lau ướt nhẹp vào chậu nước đục ngầu dưới chân quầy, hai bàn tay thô ráp đầy vết nứt nẻ quẹt vội vào mép tạp dề dính đầy vết ố mỡ cá và nghệ vàng. Ánh mắt bà đảo qua đảo lại giữa hai chị em, bờ mi giật giật, rõ ràng là chột dạ. “Bữa nghe tin ông Thành bị biến chứng nằm trên tỉnh, dì bủn rủn cả chân tay, rụng rời cả buổi sáng không thiết nấu nướng gì. Định bụng chiều nay đóng quầy sớm rồi đón xe đò ghé viện thăm ổng một lát, ngặt nỗi mấy bữa nay cá ế quá, người ta đi biển thưa thớt, ghe nằm bờ hết trơn, bán buôn chẳng ra làm sao cả… Ổng… ổng đỡ chút nào chưa hai đứa?”
“Dạ, cảm ơn dì Sương đã hỏi thăm,” Lan cất tiếng chào, giữ âm vực trầm, chừng mực và nhã nhặn. Cô kéo nhẹ chiếc ghế nhựa màu xanh ra, ngồi xuống chiếc bàn inox gần quầy kính nhất. “Ba con đã cai được máy thở, nhưng xuất huyết bao trong làm liệt toàn bộ nửa người bên phải. Giờ ổng vẫn chưa cử động được cánh tay hay nhấc nổi bàn chân, miệng méo nên nói năng còn ngọng nghịu nhiều lắm dì. Bác sĩ chuyên khoa bảo phải tập vật lý trị liệu phục hồi chức năng cả năm trời, chi phí thuốc men với tiền thuê người phụ nâng đỡ tốn kém dữ lắm dì à.”
Bà Sương khẽ thở dài một hơi sườn sượt, kéo một chiếc ghế nhựa thấp ngồi thụp xuống đối diện bên kia bàn, đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt gân xanh đan chặt vào nhau trên mặt bàn inox lạnh ngắt. Phúc không ngồi. Anh đứng dựa lưng vào chiếc cột nhà bằng gỗ tràm đã lên nước đen nhánh, hai tay khoanh trước ngực, mắt nhìn lảng ra phía vạt nắng chói chang ngoài đường như thể toàn bộ cuộc trò chuyện này chẳng liên quan gì đến mình.
“Tội nghiệp ổng quá… Người tốt như ổng mà ông trời lại bắt tội đày đọa,” bà Sương ngậm ngùi, ngón tay run run vân vê mép chiếc khăn trải bàn rách. Nhưng đáy mắt bà vẫn không giấu nổi sự dè chừng lấm lét khi lén nhìn vào tập giấy kẹp bìa cứng mà Lan vừa đặt ngay ngắn xuống bàn. “Hôm nay… hai đứa ghé quán dì có việc gì vậy Lan? Hay là xưởng có đồ gì cần dì phụ gom rửa?”
Lan không vòng vo làm mất thời giờ, nhưng cô cũng tuyệt nhiên không dùng giọng điệu gắt gỏng hay hống hách của một chủ nợ tới siết cửa siết nhà. Cô kéo khóa chiếc túi vải, lấy ra cuốn sổ da màu nâu cũ kỹ của cha. Bìa sổ đã mòn vẹt, lộ ra lớp bìa các-tông xám bên trong. Lan lật giở từng trang giấy kẻ ngang ngả vàng vì khói thuốc và hơi ẩm nước mắm, dừng lại ở đúng trang giấy có dòng chữ mực tím đã bạc màu, đẩy nhẹ về phía trước mặt bà Sương.
Dưới ánh sáng ban trưa hắt qua mái hiên tôn rách, dòng chữ viết tay thô ráp, nét chữ cứng cỏi nhưng nguệch ngoạc quen thuộc của ông Võ Văn Thành hiện lên rõ mồn một: *Quán ăn Đỗ Thị Sương: 35.000.000đ. Cho Sương lo việc nhà, tính sau.*
“Dì Sương, con về đợt này là để phụ mẹ với thằng Phúc thu xếp lại toàn bộ sổ sách công nợ của xưởng Hải Thành,” Lan từ tốn nói, ngón tay trỏ thon dài đặt nhẹ lên mép dòng chữ mực tím. “Hiện tại tài khoản xưởng trên ngân hàng bị phong tỏa tạm thời vì ba con chưa thể ký giấy ủy quyền theo đúng thủ tục pháp lý. Tiền mặt tích lũy ở nhà đã cạn kiệt sau đợt cấp cứu đầu tiên trên Chợ Rẫy chuyển về. Tuần tới đây, tụi con phải lo tiền viện phí đợt hai, tiền cọc ba mươi triệu tiền vỏ chai cho cơ sở bà Quyên bên Phú Hài để có chai đóng mắm, và trả lương tuần cho mười bốn người thợ chượp. Trong sổ của ba con ghi quán mình còn nợ xưởng ba mươi lăm triệu đồng chẵn. Con đưa Phúc cùng qua đây đối chiếu lại với dì xem con số này cụ thể gồm những khoản nào, để hai bên tiện đường thu xếp, giải quyết cho dứt điểm.”
Nhìn thấy con số ba mươi lăm triệu nằm rành rành bằng nét bút của ông Thành trên trang giấy ố vàng, mặt bà Sương thoáng chốc tái mét đi như người vừa bị trúng gió. Nụ cười niềm nở và sự thương cảm xã giao ban đầu hoàn toàn biến mất, thay vào đó là một vẻ sững sờ, lúng túng và bối rối đến tội nghiệp. Bà nuốt khan một ngụm nước bọt, hai bờ môi khô nẻ mấp máy liên hồi như muốn thanh minh điều gì đó nhưng nghẹn ứ lại nơi cuống họng. Đôi mắt kèm nhem của người đàn bà góa bụa chớp liên tục, nhìn chằm chằm vào nét mực tím rồi lại ngước lên nhìn vẻ mặt điềm đạm của Lan.
Phúc thấy cảnh tượng ấy, không kiềm chế được bèn sốt ruột bước lên nửa bước, cất giọng can thiệp: “Chị Lan, từ từ đã… đã bảo hoàn cảnh người ta…”
Lan giơ nhẹ bàn tay trái lên ngang ngực, một cử chỉ dứt khoát ngăn em trai lại mà không cần phải quay đầu nhìn. Ánh mắt cô vẫn nhìn thẳng vào bà Sương, kiên nhẫn, điềm tĩnh và ôn hòa chờ đợi câu trả lời từ người phụ nữ đang ngồi đối diện.
Bà Sương thở hắt ra một hơi run rẩy, đưa hai bàn tay sần sùi lên ôm lấy trán, giọng bà bắt đầu vỡ ra từng chặng phân trần, nghẹn ngào pha lẫn chút uất ức:
“Lan ơi… Dì biết, dì nhớ số tiền đó chứ dì đâu có quên… Nhưng con phải hiểu cho dì. Con là dân ăn học cao trên Sài Gòn, con nhìn con số con tưởng dì ôm của xưởng ba mươi lăm triệu tiền mắm… Nhưng số tiền ba mươi lăm triệu này đâu phải toàn bộ là tiền dì mua nước mắm của xưởng Hải Thành đâu con!”
“Con cũng đoán như vậy,” Lan khẽ gật đầu, ánh mắt không hề dao động một li. “Nên trưa nay con mới ngồi đây để nghe dì nói cho rành rọt. Cụ thể khoản tiền này từ đâu ra hở dì?”
Bà Sương rơm rớm nước mắt, hai vai run lên bần bật khi những ký ức kinh hoàng của mùa mưa bão năm ngoái ùa về:
“Đợt bão số chín cuối năm ngoái đó Lan… Con ở trên thành phố làm phòng máy lạnh chắc con không thấu hết cái cảnh nước biển dâng ngoài bãi này. Đêm đó triều cường dâng cao chưa từng thấy, sóng đánh bể toang bờ kè tạm, nước mặn đen ngòm tràn qua đê, ngập lút cả nửa cái quán này. Tủ đông trữ cá, bàn ghế nhựa, gạo mắm, đồ đạc trôi sạch bách ra cửa biển. Mẹ con dì ba bữa phải leo lên cái gác xép ọp ẹp ăn chực mì gói cứu trợ của xã, cái quán coi như tan hoang trắng tay, nợ nần ngoài chợ rau chợ cá bủa vây không còn đường sống. Hôm đó nước vừa rút xuống mé sân, bùn non còn dày tới bắp chân, ba con ghé qua ăn dĩa cơm nguội lót dạ đặng ra bến xem ghe mắm. Thấy quán xá ngập ngụa, đồ đạc hư hỏng hết, mấy đứa nhỏ nhà dì ngồi ôm nhau khóc queo râu bên góc cột mục…”
Bà Sương đưa mép tạp dề lên chùi vội giọt nước mắt vừa ứa ra nơi khóe mắt đầy vết chân chim, giọng run bắn lên:
“Ổng đứng nhìn một hồi lâu, mặt buồn rười rượi. Thấy thương quá, ổng mới móc túi rút bóp lấy ra hai mươi triệu đồng tiền mặt đưa tận tay cho dì. Lúc đưa tiền, ba con dặn rành rọt từng tiếng một: ‘Thôi, chị Sương cầm hai mươi triệu này mà kêu thợ sửa lại cái mái tôn cho kín gió, sắm lại cái tủ mát cũ đặng còn buôn bán nuôi tụi nhỏ ăn học. Tiền này tui cho mượn không có tính một cắc lãi nào hết, chừng nào quán xá ổn định, khách khứa ghe thuyền đông đúc trở lại rồi hẵng tính trả cho tui.’ Ba con nói miệng bằng tình nghĩa vậy đó Lan! Ổng dặn là chừng nào đông khách trở lại mới trả! Chứ dì có giật, có quịt của ổng đâu! Mà con ngó cái quán dì bây giờ coi…”
Bà Sương buông thõng hai tay, chỉ một vòng quanh gian quán trống huếch trống hoác. Mấy chiếc bàn inox trơ trọi, mặt đường ngoài ngõ bốc khói mờ ảo trong nắng gắt, không một tiếng xe máy dừng lại, không một tiếng gọi cơm:
“Từ đầu năm tới giờ, giá dầu ngoài khơi lên cao ngất ngưởng, tàu thuyền cá cơm nằm bờ la liệt ngoài bến kìa con. Bạn ghe người ta đói ăn, người ta bỏ xứ lũ lượt dắt díu nhau đi Bình Dương, Đồng Nai làm công nhân hết trơn. Khách ăn cơm của quán dì toàn là dân lao động bốc vác với thợ bạn, giờ người ta đi hết thì dì bán cho ai? Quán dì mỗi ngày bán trầy trật chưa nổi ba mươi dĩa cơm bụi, mỗi dĩa lời lãi được vài ngàn lẻ đắp đổi qua ngày, tiền đóng học kỳ này cho thằng út còn phải đi giật gấu vá vai ngoài chợ nặng lãi. Ba con ngã bệnh bất thình lình dì rầu thúi ruột thúi gan, đêm nào cũng thắp nhang cầu cho ổng tai qua nạn khỏi… nhưng biểu dì đào đâu ra một lúc ba mươi lăm triệu trả cho con bây giờ? Giết dì, xẻ thịt dì ra dì cũng không moi đâu ra số tiền lớn như vậy!”
Bà Sương gục đầu xuống bàn, tiếng nấc nghẹn ngào bật ra giữa gian quán lặng ngắt như tờ.
Phúc đứng bên cạnh thở dài sườn sượt một hơi nặng trịch. Anh đưa mắt nhìn sang Lan, ánh mắt vừa bực tức vừa đầy vẻ trách móc như muốn gào lên: *Chị thấy chưa? Em đã nói từ ở nhà rồi mà chị không chịu nghe! Chị ép người ta vào chân tường thế này thì được cái gì?*
Nhưng Lan không hề nao núng trước những giọt nước mắt và lời phân trần ai oán ấy. Hơn sáu năm làm việc trong môi trường kiểm toán và rà soát tài chính doanh nghiệp tại các công ty lớn ở Sài Gòn đã rèn luyện cho cô một bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng: cô có thể thấu cảm sâu sắc với nỗi đau và nghịch cảnh của con người, nhưng tuyệt đối không bao giờ cho phép cảm xúc nhất thời làm mờ đi ranh giới của sự thật trên những con số.
Chính sự lẫn lộn tai hại giữa lòng trắc ẩn cá nhân và tài sản kinh doanh của xưởng mắm là căn nguyên sâu xa đẩy Hải Thành vào thảm cảnh kiệt quệ thanh khoản như ngày hôm nay. Ba cô là một người thợ làm mắm truyền thống thuần túy, cả đời sống bằng chữ “tình” của dân miền biển. Thấy người hoạn nạn thì sẵn sàng rút hầu bao cứu giúp, thấy đại lý gặp khó thì cho gối đầu công nợ vô tội vạ. Nhưng ông không hiểu rằng, một cơ sở sản xuất không thể tồn tại chỉ bằng lòng tốt vô nguyên tắc. Ba cô đã dùng tiền của xưởng để xoa dịu vết thương của người khác, nhưng lại để mặc cho chính cơ nghiệp của dòng họ mình chảy máu từng ngày mà không hề có một tấm khiên phòng ngừa rủi ro nào.
Lan ngồi thẳng lưng, hai bàn tay đan nhẹ vào nhau đặt trên mặt bàn. Giọng cô cất lên, mềm mỏng nhưng từng chữ rành mạch, rõ ràng:
“Dì Sương, con hiểu hoàn cảnh của dì. Con nhìn cái quán trưa nay không có một bóng khách là con hiểu dì không hề nói dối. Và con hoàn toàn tin lời dì kể về khoản hai mươi triệu ba con đưa cho dì sau trận bão năm ngoái. Ba con là người trọng nghĩa khí, thấy lối xóm gặp nạn không bao giờ ổng khoanh tay đứng nhìn. Đó là cái phúc đức của ba con để lại cho tụi con. Nhưng dì cho con hỏi, còn khoản mười lăm triệu còn lại thì sao?”
Bà Sương hơi khựng lại, tiếng khóc nhỏ dần. Bà ngước đôi mắt đỏ hoe lên, ánh mắt thoáng chút ngập ngừng rồi lén liếc về phía ngăn kéo chiếc bàn tính tiền cũ kỹ bằng gỗ ép đã mục nát ở góc quán:
“Khoản đó… khoản đó là tiền ba đợt lấy nước mắm của xưởng… Dì lấy về một phần để kho cá cho quán, một phần dì chiết chai nhỏ bán lẻ lại cho mấy bà nội trợ quanh xóm…”
“Dì có còn giữ giấy tờ giao nhận hàng của ba đợt đó không dì?” Lan hỏi tiếp, giọng cô đều đều, không một chút gợn ép uổng.
“Có chứ… Chú Thành với thằng Phúc giao hàng lần nào cũng cẩn thận xé cho dì một tờ giấy than làm tin… Dì cất kỹ trong hộc bàn đằng kia, dì đâu có dám vứt đi…”
Lan đứng dậy, khẽ gật đầu: “Dì cho phép con mở hộc bàn coi lại xấp giấy than đó được không dì?”
Bà Sương thở dài một hơi não nề, lách người đứng dậy đi về phía góc quầy. Chiếc ngăn kéo gỗ ép bị kẹt rít vì ẩm mồ hôi muối, bà phải giật mạnh hai ba lần nó mới chịu trượt ra, phát ra tiếng cọt kẹt chói tai. Bên trong ngăn kéo là một mớ hỗn độn đặc trưng của những tiệm buôn thúng bán bưng: vài cọc hóa đơn tiền điện, tiền nước nhàu nát ngả màu ố vàng, những vỏ bao thuốc lá ba số rỗng, mấy cây bút bi Thiên Long đã hết mực cắm trong một chiếc lon sữa đặc rỉ sét, và một xấp phiếu giao hàng bằng giấy than mỏng dính được kẹp chung trong một chiếc kẹp bướm bằng kim loại đã hoen ố vì hơi muối biển.
Bà Sương rút tập giấy than đưa cho Lan, hai bàn tay vẫn còn run lẩy bẩy, vẻ mặt vừa ngượng ngùng vừa e dè như một học trò nộp bài thi muộn.
Lan nhận lấy xấp giấy, quay lại bàn ngồi xuống. Cô cẩn thận dùng ngón tay bẩy chiếc kẹp bướm rỉ sét ra, nhẹ nhàng trải từng tờ phiếu giao hàng màu hồng nhạt ra trước mặt. Mùi giấy than ẩm mốc lẫn mùi bụi cá khô bốc lên khe khẽ. Lan miết nhẹ ngón tay lên từng mép giấy quăn queo, đối chiếu ngày tháng, số lượng hàng hóa và từng con chữ viết tay bằng mực tím:
Tờ phiếu thứ nhất, lập ngày mười bốn tháng Hai: *Giao 10 thùng nước mắm nhĩ chai thủy tinh loại đặc biệt (loại 40 độ đạm), quy cách 6 chai một lít/thùng. Đơn giá: 500.000đ/thùng. Thành tiền: 5.000.000đ.* Bên dưới có chữ ký nhận hàng nguệch ngoạc: *Đỗ Thị Sương.*
Tờ phiếu thứ hai, lập ngày hai mươi tám tháng Ba: *Giao 10 thùng nước mắm cốt truyền thống loại 1. Đơn giá: 500.000đ/thùng. Thành tiền: 5.000.000đ.* Người nhận hàng ký tên: *Đỗ Thị Sương.*
Tờ phiếu thứ ba, lập ngày mười lăm tháng Năm—tức là chỉ chưa đầy một tháng trước ngày ông Thành ngã quỵ bên thùng lều: *Giao 10 thùng nước mắm hỗn hợp gồm mắm nhĩ và mắm nấu. Thành tiền: 5.000.000đ.* Người giao hàng ký tên: *Võ Minh Phúc.* Người nhận hàng ký tên: *Đỗ Thị Sương.*
Tổng cộng ba tờ phiếu giao hàng bằng giấy than, có đầy đủ chữ ký sống của bà Sương và người giao hàng, khớp đúng tròn trĩnh mười lăm triệu đồng chẵn. Tuyệt nhiên không có bất kỳ một mảnh giấy hay dòng ghi chú nào liên quan đến khoản tiền hai mươi triệu đồng tiền mặt kia.
Lan xếp ba tờ phiếu màu hồng thẳng hàng ngay ngắn trên mặt bàn inox, đặt song song với cuốn sổ nợ bìa da của cha. Bức tranh công nợ lúc này đã hiện ra hoàn toàn sáng rõ, minh bạch và bóc tách mạch lạc đến từng chi tiết, không còn một chút mập mờ nào nữa.
“Dì Sương, con đã kiểm tra xong toàn bộ giấy tờ,” Lan ngước lên nhìn thẳng vào bà Sương, ánh mắt cô sáng, đanh thép nhưng chứa đựng sự thấu hiểu sâu sắc. “Con số ba mươi lăm triệu ghi trong sổ tay của ba con thực chất được cấu thành từ hai khoản hoàn toàn khác nhau về bản chất. Khoản thứ nhất là mười lăm triệu đồng tiền nước mắm của ba đợt giao nhận hàng gần nhất. Khoản này có đầy đủ phiếu xuất kho, có chữ ký xác nhận của dì, hàng hóa đã được đưa vào tiêu thụ tại quán. Đây là nghĩa vụ công nợ thương mại hợp pháp giữa xưởng Hải Thành và quán cơm của dì. Còn khoản thứ hai là hai mươi triệu đồng tiền mặt ba con rút túi riêng đưa cho dì vay lúc ngập lụt sau bão số chín. Khoản này không có biên nhận, không có giấy nợ, không ghi vào sổ sách xuất quỹ của xưởng, hoàn toàn là sự tương trợ cá nhân dựa trên sự tin tưởng và tình nghĩa xóm giềng giữa ba con với dì.”
Bà Sương cúi gầm mặt xuống, hai ngón tay cái bấm chặt vào nhau đến trắng bệch, lí nhí trong miệng: “Đúng… đúng là như vậy đó con… Dì không dám nói sai một lời nào với vong linh trời đất…”
Phúc đứng tựa cột nãy giờ, ánh mắt anh dần chuyển từ bực bội, khó chịu sang sững sờ. Anh không thể ngờ được rằng, chỉ bằng việc lật giở xấp giấy than cũ kỹ mà anh vẫn thấy vứt lăn lóc ở xưởng bấy lâu nay, Lan đã có thể bóc tách rành rọt một mớ bòng bong công nợ kéo dài cả năm trời ra làm hai phần rõ rệt—điều mà suốt bấy lâu nay, cả cha anh lẫn chính bản thân anh chỉ biết nhìn vào như một con số ba mươi lăm triệu đầy bế tắc, để rồi kết thúc bằng những tiếng thở dài buông xuôi.
Lan đảo mắt nhìn quanh quán một lần nữa. Những chồng bát đĩa sứt mẻ men xanh xếp chồng lên nhau phủ một lớp bụi mỏng, chiếc tủ mát cũ kỹ chạy rung bần bật từng chặp, vài bó rau muống héo rũ nằm chơ vơ nơi góc sàn nước ẩm ướt, và đôi bàn tay chai sần, nứt nẻ vì ngâm nước rửa chén của người phụ nữ góa bụa đang run rẩy trước mặt. Hoàn cảnh khó khăn của bà Sương là hoàn toàn có thật. Sự ế ẩm này là hiện thực cay đắng của cả vùng bến cá sau một mùa biển thất bát. Nếu bây giờ Lan dùng bài bản thu hồi nợ cứng nhắc của một chuyên viên tài chính thành phố, ép bà Sương phải thanh toán toàn bộ ba mươi lăm triệu đồng ngay lập tức, bà Sương sẽ sụp đổ, quán ăn sẽ đóng cửa, và xưởng Hải Thành không những vĩnh viễn mất trắng toàn bộ số tiền, mà còn chuốc lấy sự khinh miệt của toàn bộ dân chài quanh cảng cá.
Nhưng nếu Lan mềm lòng buông tay, hoặc tiếp tục dễ dãi để số nợ này trôi nổi vô định theo lời hẹn miệng “chừng nào đông khách hãy trả”, thì chính xưởng Hải Thành sẽ chết chìm ngay trong tuần tới. Mười bốn người thợ chượp đang trông chờ từng đồng lương để đong gạo, nguy cơ bị cúp điện ba pha làm hỏng hai mươi thùng chượp cá cơm đang trong kỳ lên hương thơm nhất, không một ai có thể đợi đến ngày quán bà Sương đông khách trở lại.
Sự cứu vãn không nằm ở việc triệt hạ người khác để giành giật sự sống, mà nằm ở một thỏa hiệp thực tế và công bằng mà cả hai bên đều có thể cắn răng chịu đựng được.
Lan hít một hơi thật sâu, gập cuốn sổ nợ bìa da lại, cất giọng ôn tồn:
“Dì Sương, con hiểu khó khăn của dì. Và vì trân trọng cái tình của ba con dành cho dì lúc hoạn nạn, con sẽ không đòi dì khoản hai mươi triệu tiền vay cá nhân lúc này.”
Bà Sương ngẩng phắt đầu lên, đôi mắt ngấn lệ mở to hết cỡ, nhìn Lan như không dám tin vào tai mình: “Thật… thật hả Lan? Con… con nói thiệt lòng hả con?”
“Dạ, thật. Con tạm thời tách khoản hai mươi triệu đó ra khỏi kế hoạch thu hồi vốn trước mắt của xưởng,” Lan gật đầu khẳng định, nhưng giọng điệu của cô lập tức trở nên đanh thép, dứt khoát ở vế tiếp theo: “Khoản đó coi như là việc riêng giữa ba con với dì. Khi nào ba con bình phục xuất viện, hoặc khi nào việc buôn bán của quán dì khấm khá trở lại, hai bên sẽ tự ngồi lại nói chuyện với nhau sau. Nhưng còn mười lăm triệu tiền hàng, con bắt buộc phải thu. Đây là mồ hôi nước mắt của thợ xưởng, là tiền muối, tiền cá cơm mà xưởng đã bỏ vốn liếng ra làm. Con không có quyền xóa và cũng không thể xóa khoản này được.”
Nét mặt bà Sương lại xịu xuống, vẻ âu lo, căng thẳng lập tức quay trở lại: “Nhưng mà Lan ơi… mười lăm triệu… một lúc dì lấy đâu ra nhiều tiền mặt dữ vậy con ơi…”
“Con không bắt dì phải nộp đủ mười lăm triệu ngay trưa hôm nay,” Lan mở chiếc cặp da công sở, lấy ra một tờ giấy A4 trắng tinh và một cây bút bi mực đen, đặt ngay ngắn lên mặt bàn inox. “Con đề nghị một phương án thế này: Hôm nay, dì thanh toán cho xưởng tám triệu đồng tiền mặt ngay tại chỗ. Con biết trưa nay dù ế ẩm, nhưng dì vừa bán xong đợt cơm, trong hòm tiền chắc chắn có gom góp được một phần tiền hàng xoay vòng của mấy ngày qua. Bảy triệu còn lại, con chia nhỏ ra cho dì trả góp dần: mỗi tuần dì trả cho xưởng một triệu rưỡi, cố định vào đúng ngày thứ Bảy. Trả liên tục trong gần năm tuần là dứt điểm toàn bộ số nợ hàng mười lăm triệu. Một tuần một triệu rưỡi, tính ra mỗi ngày dì chỉ cần trích ra hơn hai trăm ngàn từ tiền bán quán cất riêng vào hũ. Mức đó dì có gánh nổi không?”
Không gian trong quán ăn bỗng chốc rơi vào một khoảng tĩnh lặng tuyệt đối. Chỉ còn tiếng quạt trần quay lạch cạch đều đặn trên trần nhà và tiếng sóng biển vỗ ì oạp từ phía mé cảng cá vọng lại.
Phúc đứng sững sờ nhìn chị gái mình. Là người trực tiếp chạy xe máy giao từng thùng mắm đi khắp hang cùng ngõ hẻm Phan Thiết, anh hiểu rất rõ biên độ lợi nhuận và sức chịu đựng tài chính của những quán cơm bình dân như thế này. Một triệu rưỡi một tuần là một con số được tính toán vô cùng chuẩn xác: nó nằm sát nút với giới hạn chịu đựng tối đa của bà Sương, không quá nhẹ để bà có thể ỷ lại hay lơ là việc trả nợ, nhưng cũng tuyệt đối không dồn ép bà vào bước đường cùng phải dẹp tiệm trốn nợ. Quan trọng hơn cả, việc thu được ngay tám triệu tiền mặt vào trưa hôm nay có ý nghĩa sống còn đối với Hải Thành: nó sẽ trám ngay lập tức vào khoản tiền điện ba pha đang quá hạn ba ngày và đủ để mua thêm năm bao muối tinh dằn lên mặt các thùng chượp mới vào tuần tới.
Bà Sương ngồi bất động, đôi môi mấp máy tính nhẩm trong đầu. Tám triệu tiền mặt trả ngay lúc này gần như là vét sạch toàn bộ số tiền bà vừa gom góp được để chuẩn bị trả tiền mối thịt heo và mối rau củ vào sáng ngày mai. Nhưng đổi lại, bà trút bỏ được tảng đá nợ nần hai mươi triệu đồng đang đè nặng trĩu trên lồng ngực suốt bao tháng qua, lại không bị con gái ông Thành làm ầm ĩ hay cắt đứt nguồn cung nước mắm nhĩ—thứ gia vị cốt lõi giúp nồi cá kho của bà giữ chân được những người khách quen hiếm hoi còn lại.
“Được… được con…” Bà Sương gật đầu lia lịa, hai giọt nước mắt lăn dài qua những nếp nhăn sâu hoắm trên má, giọng bà run run vì xúc động xen lẫn sự nhẹ nhõm tột cùng. “Nếu con chịu mở đường cho dì chia nhỏ ra như vậy thì dì ráng được! Dì bóp mồm bóp miệng, khất lại mối rau một hai bữa để gom đủ trả cho con. Chứ con mà làm căng đòi một cục ba mươi lăm triệu thì chắc trưa nay mẹ con dì dắt díu nhau trốn biệt xứ chứ mặt mũi nào nhìn lối xóm nữa…”
Bà Sương lật đật đứng dậy, hai chân như muốn khuỵu xuống vì vừa trút được gánh nặng. Bà đi nhanh vào gian buồng phía sau tấm rèm vải hoa đã bạc màu. Từ bên trong, tiếng lạch cạch của ổ khóa tủ sắt vang lên khe khẽ giữa không gian tĩnh mịch. Một lát sau, bà bước trở ra, hai tay ôm khư khư một bọc nilon màu đen dày cộp trước ngực. Ngồi phịch xuống chiếc ghế nhựa đối diện Lan, bà run rẩy mở từng lớp bọc nilon bên ngoài.
Bên trong là những cọc tiền lẻ mệnh giá năm mươi ngàn, một trăm ngàn và hai trăm ngàn đồng. Những tờ tiền đã cũ, ám mùi dầu mỡ và mùi tanh của cá, nhưng được vuốt phẳng phiu từng góc mép và buộc chặt bằng dây thun khoanh cẩn thận.
Bà Sương cặm cụi đếm từng tờ tiền, những ngón tay gầy guộc run bần bật theo từng nhịp đếm. Đếm đủ tám triệu đồng, bà gom lại thành một cọc dày cộp, đẩy nhẹ sang phía mép bàn của Lan, ánh mắt ngập tràn vẻ cảm kích chân thành:
“Đây… đủ tám triệu tiền mặt của con đây Lan. Con đếm lại giùm dì cho chắc chắn.”
Lan không vội vàng cầm lấy tiền. Cô rút cây bút bi, cẩn thận đặt một tờ giấy than màu xanh biển vào giữa hai tờ giấy biên nhận, rồi nắn nót viết từng dòng chữ rõ ràng, mạch lạc: ghi rõ ngày tháng năm, nội dung thu đợt một số tiền tám triệu đồng trên tổng công nợ hàng hóa mười lăm triệu, lịch trình trả góp cụ thể một triệu rưỡi vào thứ Bảy hằng tuần, và kèm theo một điều khoản phụ cam kết tạm hoãn khoản nợ cá nhân hai mươi triệu đồng cho đến khi hai bên có thỏa thuận mới bằng văn bản.
“Dì Sương ký tên vào góc này giùm con,” Lan xoay tờ giấy lại, đưa bút cho bà Sương.
Bà Sương cầm cây bút bi bằng đôi tay thô ráp, nắn nót ký tên mình vào góc dưới tờ giấy than. Lan cũng ký tên xác nhận với tư cách đại diện cơ sở nước mắm Hải Thành. Cô xé liên giấy màu hồng phía dưới đưa tận tay cho bà Sương giữ làm bằng chứng, còn mình gấp gọn liên gốc màu trắng kẹp vào tập hồ sơ. Lúc bấy giờ, Lan mới cầm cọc tiền tám triệu đồng lên. Đôi tay cô thoăn thoắt đếm lại từng tờ tiền với sự chuẩn xác, điềm đạm và thuần thục của một người làm nghề tài chính lâu năm. Đếm xong, cô xếp cọc tiền ngay ngắn rồi cất sâu vào ngăn trong của chiếc túi xách cá nhân.
Nhìn Lan kéo khóa túi xách, bà Sương thở hắt ra một hơi dài thườn thượt như một người vừa thoát khỏi một cơn chết đuối. Nhưng rồi, khi ánh mắt bà lướt qua Phúc đang đứng lặng lẽ bên cột nhà và nhìn vào dòng chữ *Cơ sở Nước mắm Truyền thống Hải Thành* in trên bìa tập hồ sơ, bà Sương bỗng tặc lưỡi buột miệng, giọng bà chuyển từ sự cảm kích sang một nỗi ấm ức, thở dài than vãn:
“Nói thiệt lòng với hai đứa tụi con, dì bấm bụng vét sạch tiền trả cho con trưa nay là vì thương ông Thành tốt bụng cả đời, với lại thấy con biết điều, biết thương cái cảnh ngặt nghèo của dì. Chứ dì nói thiệt nghen Lan… Dì buôn thúng bán bưng nhỏ lẻ, chạy ăn từng bữa toát mồ hôi hột ra mà còn ráng cào cấu trả nợ cho xưởng. Sao mấy chỗ đại lý lớn đùng ngoài kia, tiền muôn bạc vạn, con không tới thẳng đó mà đòi cho ra ngô ra khoai? Như cái lão Phan Quốc Lợi ngoài mặt đường lớn ngã ba cảng đó! Trời đất ơi, đợt trước lão vừa nhập của xưởng mình cả trăm thùng mắm nhĩ loại một, hàng chở bằng xe tải bốc đi rầm rầm giữa ban ngày, tiền bán ra thu vào túi lão đầy ắp… Vậy mà nghe đâu lão cứ chây ì ra đó, dây dưa từ tháng này qua tháng nọ không chịu trả một đồng một cắc nào cho ba con! Sao con không tới thẳng nhà lão Lợi mà đòi ráo riết, lại đi đè mấy người nghèo khổ buôn bán cầm chừng như dì ra mà vét từng đồng từng cắc?”
Câu than vãn buột miệng đầy ấm ức của bà Sương như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào không gian oi ả, ngột ngạt của quán cơm.
Đôi bàn tay Lan vừa chạm vào quai túi xách bỗng khựng lại giữa không trung.
Những khớp ngón tay cô siết nhẹ lại. Trong đầu Lan, một chuỗi những dữ kiện rời rạc, bất thường xuất hiện suốt mấy ngày qua lập tức khớp nối lại với nhau với tốc độ của một bài toán logic: bức ảnh chụp trộm trang sổ nợ mà Đặng Thị Thảo—cô kế toán kiêm cháu họ của xưởng—đã vội vàng giấu vào điện thoại khi cô bất ngờ bước vào phòng làm việc; con số năm mươi sáu triệu đồng cho hai trăm thùng mắm cốt loại một được ông Thành ghi bằng mực đỏ chói lọi kèm theo dấu hỏi chấm lớn; thái độ hoảng loạn, ấp úng đến tái mét mặt mày của Thảo khi bị gặng hỏi; và bây giờ là lời khẳng định rành rọt của bà Sương về việc đại lý Phan Quốc Lợi vừa tiếp tục nhập thêm cả trăm thùng mắm nhưng vẫn không chịu thanh toán công nợ cũ.
Một đại lý phân phối lớn có sức tiêu thụ hàng trăm thùng mắm mỗi đợt, nằm ngay vị trí đắc địa nhất ngã ba cảng cá, nhưng lại liên tục chiếm dụng vốn lưu động của một cơ sở thủ công đang đứng bên bờ vực phá sản. Khoản nợ năm mươi sáu triệu đồng ghi trong sổ liệu có thực sự chỉ dừng lại ở con số đó, hay ẩn sâu phía sau nó là một mạng lưới cấn trừ hàng trả, khai khống vỏ chai vỡ, nâng khống tỷ lệ hư hao và những thỏa thuận ngầm bất minh mà ba cô đã nhắm mắt bỏ qua vì nể nang mối quan hệ bằng hữu lâu năm ngoài bến?
Lan từ từ quay đầu nhìn sang Phúc.
Sắc mặt của em trai cô lúc này đã biến đổi một cách rõ rệt. Đôi môi Phúc mím chặt lại thành một đường chỉ mỏng, gò má giật giật. Ánh mắt anh hoàn toàn né tránh cái nhìn xoáy sâu của Lan, nhìn trân trân xuống mũi đôi dép tổ ong cũ mòn dưới chân. Hai bàn tay buông thõng bên hông của Phúc đã vô thức siết chặt lại thành hai nắm đấm, những khớp xương ngón tay trắng bệch ra. Sự im lặng và căng thẳng tột độ toát ra từ từng thớ cơ trên người Phúc. Rõ ràng, Phúc biết tường tận những góc khuất dơ bẩn trong mối quan hệ làm ăn giữa xưởng Hải Thành và đại lý Phan Quốc Lợi, nhưng anh đã chọn cách ngậm miệng, bao che cho những thỏa thuận ngầm ấy suốt bấy lâu nay.
“Dì Sương,” Lan ngước lên nhìn bà Sương, giọng cô hạ thấp xuống một tông, trầm đục nhưng sắc lẹm như một lưỡi dao mổ. “Dì nói đại lý Phan Quốc Lợi mới nhập thêm một đợt mắm nữa của xưởng con cách đây bao lâu?”
“Thì… mới hồi đầu tuần trước chứ đâu xa xôi gì!” Bà Sương chép miệng, hoàn toàn không nhận ra bầu không khí căng thẳng nghẹt thở vừa đột ngột bao trùm lên hai chị em họ Võ. “Bữa đó thằng cháu dì đi bốc vác ngoài bến thấy rõ ràng chiếc xe tải năm tạ của lão Lợi de đuôi vô tận cổng sau xưởng mắm Hải Thành bốc hàng mà. Mấy tay tài xế còn kháo nhau lão Lợi đợt này gom mắm nhĩ về ém hàng chờ giá lên cao bán kiếm lời đậm. Lão Lợi đó buôn bán ma mãnh lắm, khôn róc đời, chỉ có mấy người thật thà như ông Thành là bị lão dắt mũi…”
Chưa kịp để bà Sương dứt câu than vãn, chiếc điện thoại thông minh nằm sâu trong ngăn kéo túi xách của Lan bỗng rung lên từng hồi bần bật, kéo theo tiếng chuông mặc định reo vang chói lói.
Âm thanh kim loại sắc lạnh của chiếc điện thoại phá tan bầu không khí ngột ngạt, oi bức trong quán ăn nghèo.
Lan hít một hơi sâu, ra hiệu bằng mắt cho Phúc và bà Sương giữ yên lặng. Cô rút chiếc điện thoại ra khỏi túi. Màn hình cảm ứng sáng rực dưới bóng râm, hiển thị một dãy số máy bàn lạ hoắc có mã vùng cố định của Thành phố Hồ Chí Minh: *028.3829.xxxx.*
Lan bình tĩnh quẹt ngón tay lên màn hình, áp máy vào tai, giọng nói lấy lại vẻ chuẩn mực, chuyên nghiệp của một chuyên viên tài chính:
“Alo, tôi là Võ Ngọc Lan xin nghe.”
Đầu dây bên kia truyền đến một giọng nữ trẻ trung, dứt khoát, ngữ điệu chuẩn xác, gãy gọn và lịch thiệp đặc trưng của những nhân sự cấp tiến được đào tạo bài bản trong các tập đoàn bán lẻ hiện đại:
“Xin chào chị Ngọc Lan. Tôi là Trần Mai Chi, chuyên viên phụ trách thu mua ngành hàng gia vị và thực phẩm truyền thống của hệ thống bán lẻ Nam Lộ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi liên hệ với chị theo thông tin trong bộ hồ sơ giới thiệu năng lực sản xuất của cơ sở nước mắm Hải Thành mà gia đình chị từng gửi tiếp cận hệ thống chúng tôi hồi đầu năm.”
Lan cảm thấy lồng ngực mình khẽ thắt lại. Nhịp tim cô tăng tốc nhẹ nhưng giọng nói vẫn giữ được độ trầm ổn tuyệt đối: “Dạ chào chị Mai Chi. Tôi đang nghe đây ạ.”
Giọng người phụ nữ đầu dây bên kia tiếp tục đều đặn, mang theo âm hưởng của những quyết định thương mại mang tính chiến lược:
“Ban giám đốc khối thu mua của Nam Lộ hiện đang ráo riết triển khai dự án phát triển dòng sản phẩm nhãn hàng riêng mang thương hiệu *Bếp Bờ Biển*, định vị phân khúc nước mắm truyền thống chất lượng cao phục vụ toàn bộ chuỗi siêu thị của chúng tôi trên toàn quốc. Bộ phận kỹ thuật và kiểm định chất lượng của Nam Lộ đã xem xét rất kỹ các chỉ số phân tích mẫu thử nước mắm cá cơm truyền thống của Hải Thành mà cơ sở từng gửi lên. Chúng tôi đánh giá rất cao độ đạm tự nhiên và hương vị ủ chượp gài nén truyền thống của bên mình. Tôi muốn đặt một lịch hẹn làm việc trực tiếp với chị Lan vào đầu tuần tới ngay tại Phan Thiết để tiến hành khảo sát thực địa khu nhà thùng ủ chượp, đồng thời thảo luận sơ bộ về các điều khoản của một hợp đồng hợp tác gia công nhãn riêng dài hạn với sản lượng lớn. Không biết lịch trình của chị vào ngày thứ Ba tới có thuận tiện để đón tiếp đoàn khảo sát của Nam Lộ không?”
Lan đứng sững lại giữa quán cơm bình dân nghèo nàn, chiếc điện thoại áp chặt bên tai. Xung quanh cô, mùi cá kho tiêu cay nồng, mùi mắm nhĩ đượm đà và hơi gió mặn từ biển thổi thốc qua tấm rèm nhựa vẫn đang cuộn lên từng đợt ngột ngạt.
Một luồng điện vô hình chạy dọc sống lưng Lan, làm tê rát từng đầu ngón tay.
Một cánh cửa cứu sinh khổng lồ cho dòng tiền và tương lai của Hải Thành vừa bất ngờ bật mở ngay giữa thời khắc đen tối và bế tắc nhất của xưởng mắm. Hợp đồng gia công nhãn riêng cho một chuỗi bán lẻ tầm cỡ như Nam Lộ không chỉ giải quyết toàn bộ lượng hàng tồn kho đang ứ đọng trong các thùng lều, mà còn có thể mang lại một dòng vốn lưu động ổn định, đưa thương hiệu của gia đình cô bước ra khỏi cái ao làng chật hẹp này.
Nhưng đi liền với cơ hội ngàn vàng ấy là một cái giá vô cùng khốc liệt: những tiêu chuẩn kiểm định ngặt nghèo về công suất, hồ sơ truy xuất nguồn gốc minh bạch không tì vết, và một cuộc đối đầu không thể nào tránh khỏi với mạng lưới công nợ ngầm, những sự thỏa hiệp mục ruỗng mà đại lý Phan Quốc Lợi đang là một mắt xích đen tối nhất.