Sổ Nợ Nhà MìnhC.3 / 35
Chương 3

Những con số không cùng nghĩa

Cuốn sổ bìa da màu nâu lem vết mắm và mực tím mở ra trước mắt Lan với nét chữ nghiêng gãy khúc của ông Thành, nơi một cột ghi tên người nằm cạnh những con số không kèm ngày tháng hay lý do giao dịch.

Gió từ ô cửa sổ chấn song gỗ phía sau xưởng lùa vào từng chặp nặng nề, kéo theo mùi mắm chín nồng gắt lẫn với hơi muối khô khốc bốc lên từ kho chứa phía đông. Cái oi ả của buổi trưa miền duyên hải dường như đọng lại thành từng khối vô hình trong gian phòng kế toán chật hẹp, nơi những lớp bụi vôi từ bức tường quét ve vàng bong tróc rơi lấm tấm xuống bậu cửa. Trên chiếc bàn làm việc bằng gỗ tràm đã lên nước đen nhánh, trầy xước vô số vết dao rọc giấy và dấu đè của ngòi bút sắt, chiếc quạt trần ba cánh bằng tôn cũ kỹ quay từng vòng lờ đờ, chốc chốc lại phát ra tiếng rít ken két nơi khớp bạc đạn rỉ sét như hơi thở của một người bệnh hen suyễn.

Đặng Thị Thảo ngồi đối diện Lan trên chiếc ghế đẩu bọc simili rách góc, để lộ ra lớp mút xốp ố vàng bên trong. Hai bàn tay cô gái trẻ đan chặt vào nhau đặt trên đùi, ngón tay cái liên tục bấm vào kẽ móng tay trỏ đến đỏ ửng, lớp da mỏng quanh khóe móng đã bị cắn rách nham nhở tự lúc nào. Mỗi lần chiếc quạt trần rít lên một nhịp khục khặc trên đỉnh đầu, bả vai Thảo lại khẽ co rúm lại, như thể sợ hãi sức nặng của trần nhà, hay đúng hơn là sợ hãi ánh mắt điềm tĩnh đến lạnh lùng của người phụ nữ ngồi trước mặt.

Lan miết đầu ngón tay trỏ dọc theo trang giấy ố vàng rơm rác. Mặt giấy ráp nhám, viền mép đã xơ tưa vì lật giở nhiều lần trong suốt mấy mùa làm cá. Mực bút bi xanh từ những năm trước đã phai sang màu xám tro nhờ nhợ, có chỗ bị một giọt nước mắm nhỏ xuống từ bao giờ, thấm sâu qua thớ giấy, loang ra thành một vệt dầu hình tròn trong suốt làm nhòe hẳn nửa con số phía sau. Cả cuốn sổ dầy cộp hơn trăm trang này không hề có số thứ tự, không có dòng tổng kết cuối trang, không có cột ghi chú nợ hay có. Nó giống một cuốn nhật ký sinh hoạt vụn vặt của một lão ngư hơn là sổ sách kế toán của một cơ sở sản xuất nước mắm có tiếng tại Phan Thiết.

“Mục này,” Lan gõ nhẹ đầu ngòi bút bi kim loại xuống dòng chữ ghi cộc lốc bằng mực tím: *Hải Đăng 18tr*. “Là công nợ tiền hàng hay tiền ba chị cho người ta mượn?”

Thảo giật thót người, bờ vai rụt hẳn lại dưới lớp áo sơ mi hoa nhạt màu đã sờn rách đường chỉ ở nẹp cổ. Cô nuốt khan một ngụm nước bọt, cổ họng phát ra tiếng khẽ nghẹn lại, ánh mắt đảo nhanh từ cuốn sổ sang gáy tập hồ sơ kẹp chứng từ đang nằm ngổn ngang bên mép bàn gỗ.

“Dạ… cái này là hồi trước Tết năm ngoái,” giọng Thảo lí nhí, chìm nghỉm trong tiếng máy bơm nước từ khu bể lọc ngoài sân vọng vào. “Bữa đó trời trở gió chướng dữ lắm, chú Đăng bên vựa khô ghé xưởng nói kẹt tiền đóng ghe ngoài bến, ghe bị bể lườn mà thợ ngoài bãi đòi tiền tươi mới chịu kéo lên ụ. Chú Đăng ngồi uống trà với chú Thành ngoài hiên đâu chừng nửa tiếng, rồi chú Thành kêu em ra két sắt lấy mười tám triệu đưa. Chú Thành nói cứ ghi tên vô sổ rồi chú tự nhớ, hổng cần làm giấy tờ chi cho mất công người quen… Chú bảo người cùng bến sông, nhìn mặt nhau mấy chục năm, ai lại đi đòi tờ giấy ký nợ cho nó rách việc.”

Lan dừng bút, ngón tay giữ chặt thân bút bi bằng inox lạnh ngắt. Cô ngước nhìn cô gái kém mình tám tuổi đang ngồi co ro như một phạm nhân chờ tuyên án. Thảo làm việc ở đây từ khi vừa tốt nghiệp trường trung cấp kế toán ở Phan Thiết, tính tình hiền lành, siêng năng, chịu thương chịu khó đến mức cam chịu. Việc gì trong xưởng cô cũng nhận làm, từ dán nhãn chai, đóng thùng các-tông, khuân vác những giỏ chai rỗng đến việc quét dọn sân phơi muối hay ngồi canh điện thoại bàn đặt hàng suốt trưa hè. Nhưng chính sự ngoan ngoãn tuyệt đối, sự phục tùng mù quáng trước uy quyền gia trưởng của ông Thành lại là một lớp vỏ bọc hoàn hảo cho cả một mớ bòng bong hỗn độn kéo dài suốt hai năm ròng rã.

“Còn những khoản bên dưới?” Lan lật tiếp sang trang sau, tiếng giấy sột soạt khô khốc vang lên giữa căn phòng ngột ngạt. “Trại nấm Út Nhỏ sáu triệu, Bảy Hòa mười triệu, thợ hồ Ba Tấn hai triệu rưỡi… Tất cả đều không có phiếu chi? Không có biên nhận tạm ứng?”

Thảo bối rối cùng cực, hai má ửng đỏ lên vì ngượng và vì nỗi sợ hãi mơ hồ trước sự lạnh lùng của Lan. Cô cúi gục đầu xuống, hai ngón tay vò chặt mép vạt áo sơ mi đến nhăn nhúm: “Chị Lan… suốt hai năm qua em chỉ làm theo lời dặn miệng của chú Thành thôi. Chú dặn sao em nghe vậy. Chú Thành nói xưởng mình buôn bán với lối xóm, chòm xóm chung bến từ đời ông nội để lại, ai cần kíp thì mình đỡ tay một chút, chừng nào người ta trúng mùa cá hay bán được lứa nấm thì người ta đem trả lại. Chú dặn ghi vô sổ tay để biết tiền trong két chạy ra đằng nào, chứ chú Thành dứt khoát không cho em lập phiếu chi, cũng không cho bắt người ta ký biên nhận. Chú bảo… đòi ký giấy nợ là coi khinh người ta, mai mốt người ta tự ái người ta không thèm lấy mắm của Hải Thành nữa, rồi chòm xóm người ta dị nghị xưởng mình giàu lên rồi bày đặt trịch thượng…”

Lan thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực thắt nghẹn lại sau làn áo lụa công sở mỏng manh. Một cơn nhức buốt âm ỉ, buốt nhói lan dần từ hai bên thái dương vòng ra sau gáy, quen thuộc như những đêm cô phải thức trắng xử lý các bảng cân đối kế toán méo mó ở các doanh nghiệp tư nhân trên thành phố. Đây chính là bi kịch kinh điển của các mô hình kinh doanh gia đình truyền thống mà cô đã chứng kiến hàng chục lần suốt bảy năm làm kiểm toán: một người chủ độc tài nhân từ, nắm giữ toàn bộ quyền lực sinh sát trong tay, gom dòng tiền của cả cơ sở vào túi áo bà ba, xem uy tín cá nhân và tình nghĩa làng xóm là thước đo quản trị rủi ro duy nhất.

Người chủ đó có thể là một bậc thầy về kỹ thuật ủ chượp, biết ngửi mùi cá cơm để đoán độ đạm, biết gõ vào tang thùng gỗ bời lời để nghe mắm đã chín hay chưa. Nhưng về mặt tài chính, họ vận hành như một thủ lĩnh bộ lạc thời cổ. Và khi người chủ ấy đột ngột gục ngã trên sàn xưởng bởi một cơn tai biến mạch máu não, toàn bộ cấu trúc tưởng chừng vững chãi ấy lập tức đổ sụp. Toàn bộ hệ thống tê liệt trong tích tắc vì không một ai—kể cả vợ con ruột thịt—biết được thực tế cơ sở đang sở hữu bao nhiêu tài sản có thanh khoản, ai đang nợ mình, nợ vì lý do gì, và quan trọng hơn cả, những khoản nợ ấy có thể thu hồi được bằng giấy trắng mực đen hay chỉ là những lời hứa gió bay.

“Chị không trách em chuyện đã qua,” Lan nói, giọng cô bình thản, gãy gọn nhưng ẩn chứa một sự dứt khoát không thể lay chuyển, cố ghìm chặt ngọn lửa sốt ruột đang chực bùng lên trong ruột gan. “Em làm công ăn lương, ba chị bảo sao thì em nghe vậy, chị hiểu. Nhưng từ sáng nay, chúng ta không thể để cuốn sổ này như một mớ chỉ rối mục nát này nữa. Thảo, em nhìn vào thực tế đi: Hải Thành chỉ còn đúng bốn mươi hai triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng tiền mặt trong hòm sắt nhỏ. Tài khoản ngân hàng đứng tên ba chị thì đang bị phong tỏa vì ba đang nằm hôn mê, muốn ủy quyền hay rút tiền phải làm cả mớ thủ tục công chứng tư pháp mất hàng tuần lễ. Trong khi đó, chiều thứ Sáu này chị phải có tối thiểu mười lăm triệu để trả tiền cọc vỏ chai cho bà Quyên, sang đầu tuần tới phải lo sáu mươi triệu tiền lương cứng cho mười bốn người thợ xưởng, rồi hơn mười hai triệu tiền điện ba pha và tiền muối chở từ Phan Thiết về. Nếu chúng ta không bóc tách được ai nợ tiền hàng, ai nợ tình nghĩa, ai có khả năng trả ngay trong bốn mươi tám giờ tới, Hải Thành sẽ chết chìm trên đống giấy vụn này trước khi ba chị tỉnh lại trên giường bệnh.”

Thảo run rẩy ngước lên nhìn Lan. Đôi mắt mở to của cô gái trẻ ánh lên vẻ hoảng hốt trước những con số lạnh lùng mà Lan vừa tuôn ra một mạch không hề vấp váp.

Lan vươn tay với lấy xấp giấy A4 trắng tinh đặt ngay ngắn bên mép bàn, cầm cây thước kẻ kim loại dài năm mươi phân đặt xuống mặt giấy. Bằng những động tác chuẩn xác, dứt khoát như một cỗ máy, cô vạch ra ba đường mực đen thẳng tắp chia mặt giấy làm ba cột lớn với tiêu đề in hoa rõ ràng.

“Bây giờ, chúng ta rà soát lại từ trang đầu tiên của cuốn sổ này,” Lan đẩy tờ giấy A4 sang trước mặt Thảo, rồi đặt cây bút chì bấm xuống cạnh bàn tay đang run rẩy của cô nhân viên. “Em cùng chị chia toàn bộ những dòng chữ viết tay của ba thành ba nhóm nghĩa vụ hoàn toàn riêng biệt. Cột thứ nhất: công nợ bán nước mắm thành phẩm—nghĩa là những đại lý, quán xá, tiệm tạp hóa đã nhận mắm của xưởng mang đi bán mà chưa thanh toán tiền hàng. Cột thứ hai: tiền tạm ứng mua nguyên liệu cá ngoài cảng—khoản tiền ba đã đưa trước cho các chủ ghe, chủ vựa để giữ mối cá cơm than vụ nam. Cột thứ ba: các khoản cho vay mượn cá nhân, tương trợ chòm xóm, tiền tạm ứng việc riêng của thợ thuyền.”

Thảo chớp chớp mắt, dường như tìm thấy một điểm tựa vững chãi giữa cơn hoang mang vô định nhờ vào trật tự rành mạch mà Lan vừa vạch ra. Cô nuốt khan một lần nữa, kéo xấp giấy lại gần, ngón tay bớt run rẩy khi cầm lấy thân bút chì.

“Dạ… em hiểu rồi chị Lan. Em bắt đầu từ trang đầu nghen chị.”

Suốt gần hai tiếng đồng hồ sau đó, không gian trong căn phòng nhỏ đặc quánh mùi mắm chín chỉ còn lại tiếng ngòi bút sột soạt trên giấy ráp, tiếng giòn tan của những trang giấy ố vàng lật qua lật lại, và tiếng lách cách gõ phím dồn dập, đều đặn của chiếc máy tính cầm tay Casio dưới ngón tay thon dài của Lan. Mồ hôi rịn ra ướt đẫm chân tóc hai người, bết dính những sợi tóc mai lòa xòa vào hai bên thái dương. Chiếc quạt trần vẫn quay những vòng uể oải, phả xuống từng luồng không khí hầm hập như lò nung, nhưng không ai buồn đưa tay lên lau mặt.

Từng trang sổ dần dần phơi bày toàn bộ cấu trúc tài chính dị dạng, què quặt của cơ sở Hải Thành suốt những năm tháng hoàng kim dưới bàn tay điều hành cảm tính của ông Thành.

Ở cột thứ nhất—công nợ thương mại thuần túy, những con số nhảy múa với hàng loạt cái tên quen thuộc trong vùng: tiệm tạp hóa Chín Bảy, sạp Mười Lý ở chợ lớn, quán cơm niêu Năm Thu, quán hải sản Cây Bàng… Có những quán nợ dầm dề từ sáu tháng trước với số tiền lên đến vài chục triệu đồng, nhưng cũng có những món hàng chỉ lẻ tẻ vài ba thùng mắm nhĩ với số nợ vài trăm ngàn chưa buồn thu.

Ở cột thứ hai—tạm ứng nguyên liệu, nổi bật lên cái tên Huỳnh Văn Tư ngoài cảng Phan Thiết với hai mươi lăm triệu đồng đưa trước cho mùa cá nam, cùng dăm ba chủ ghe nang nhỏ khác rải rác mỗi nơi năm triệu, ba triệu mà tuyệt nhiên không hề có lịch giao cá cụ thể hay cam kết về sản lượng.

Và tệ hại nhất là ở cột thứ ba—cột tình nghĩa làng xóm. Đó là một bản danh sách dài dằng dặc, nhức nhối những cái tên quen thuộc trong xóm vạn chài: tiền giúp người này sửa lại mái tôn sau cơn bão số 4 năm ngoái, tiền cho người kia mượn lo đám tang mẹ già, tiền tạm ứng tiền công cho thợ xưởng khi con cái họ bước vào đầu năm học mới… Tất cả những khoản tiền đó cứ thế tuôn ra từ chiếc két sắt của ông Thành, hòa lẫn vào nhau như nước mắm hòa vào nước biển, bào mòn từng đồng vốn lưu động, cào rách ruột gan dòng tiền của Hải Thành bằng thứ tình cảm xóm giềng dây dưa không lối thoát.

“Chị Lan… chị coi cái này nè,” Thảo đột nhiên dừng tay ở một trang giấy gần cuối cuốn sổ, nơi có một mảnh giấy than màu hồng đã nhàu nát, gấp làm tư kẹp lén lút giữa hai trang giấy dính liền. Thảo cẩn thận dùng đầu móng tay tách mép giấy ra, vuốt phẳng phiu trên mặt bàn gỗ tràm. “Khoản này… hình như có giấy tờ ký tá đàng hoàng nè chị.”

Lan lập tức nghiêng người tới, ánh mắt soi kỹ vào mảnh giấy mỏng dính. Đó là một liên ba của phiếu giao hàng kiêm biên nhận nội bộ, in bằng mực tím mờ trên nền giấy than màu hồng nhạt. Góc trên bên trái có đóng dấu vuông màu đỏ au, nét mực đã khô giòn của *Cơ sở nước mắm truyền thống Hải Thành – Phan Thiết*.

Nội dung viết tay trên phiếu hiện lên rõ ràng: *“Ngày 12 tháng trước: Giao đại lý tạp hóa Chín Bảy – Chợ Phan Thiết. 20 thùng nước mắm thượng hạng loại chai thủy tinh 500ml (12 chai/thùng). Thành tiền: 10.000.000đ. Người nhận hàng ký tên: Huỳnh Thị Bảy.”*

Bên dưới mục người nhận hàng là một chữ ký nắn nót bằng mực bi đen, kèm theo một dòng chữ ghi chú bằng tay nguệch ngoạc nhưng không thể chối cãi: *“Hẹn thanh toán đủ sau 30 ngày.”*

Lan nheo mắt nhìn chăm chú vào con số ngày giao hàng ghi ở đầu phiếu. Đúng ba mươi ngày trước. Hôm nay là ngày thứ ba mươi mốt. Hạn nợ đã trôi qua tròn hai mươi tư tiếng đồng hồ.

“Khoản mười triệu này,” Lan ngẩng phắt lên nhìn Thảo, đôi mắt ánh lên một tia hy vọng sắc lạnh và tỉnh táo. “Đại lý Chín Bảy đã trả đồng nào cho xưởng chưa?”

“Dạ chưa, chưa một đồng cắc nào hết chị,” Thảo lắc đầu lia lịa, rồi khẽ liếm bờ môi khô nẻ, giọng ngập ngừng như một đứa trẻ vừa trót làm điều gì phạm pháp. “Thực ra… hồi tháng trước lúc chú Chín ghé xưởng lấy hai mươi thùng hàng này, chú Thành đi vắng, chú Phúc cũng bận lái xe tải nhỏ đi giao mối ngoài Mũi Né. Ở xưởng chỉ có mình em, em đứng ra xuất kho rồi lấy cuốn phiếu giao hàng này bắt cô Bảy ký nhận vô liên hồng theo đúng bài bản em học trong trường. Chú Thành về biết được có rầy em một trận tơi bời trước mặt mấy chú thợ. Chú Thành bảo khách quen lấy hàng chục năm nay, người ta buôn bán lớn ở chợ lớn tự khắc tới ngày người ta đem tiền lại trả, mắc mớ chi bắt người ta ký giấy như sợ người ta giật nợ, làm vậy mất mặt mối lái. Em sợ quá nên nhét luôn cái phiếu này vô kẹp sổ nợ của chú, hổng dám đưa vô tập chứng từ bán lẻ nữa…”

Thảo ngập ngừng giây lát, liếc ra phía cửa sổ như sợ có ai nghe lén, rồi luống cuống thò tay mở ngăn kéo bàn làm việc của mình. Cô lấy ra chiếc điện thoại thông minh cũ kỹ có lớp vỏ nhựa trầy xước, màn hình dán kính cường lực đã nứt một vệt dài từ góc trên xuống đáy. Thảo mở thư viện ảnh, lướt nhanh qua vài bức hình rồi rụt rè chìa màn hình cho Lan xem.

Trong khung hình mờ ảo là ảnh chụp cận cảnh rất rõ nét của chính tờ phiếu giao hàng màu hồng đó, cùng với ba bốn bức ảnh chụp các biên nhận viết tay cũ kỹ khác của các mối hàng ngoài thị xã.

“Em… em sợ chứng từ thất lạc rồi chú Thành già cả chú quên, nên mấy lần giao hàng có giá trị lớn mà chú Thành không có ở xưởng, em đều lén lấy điện thoại chụp lại để dành đối chiếu,” Thảo lí nhí thanh minh, hai vành tai đỏ rực lên vì ngượng. “Em không có ý giấu chú hay tự tung tự tác đâu chị Lan… Em chỉ sợ lỡ mất giấy tờ rồi hổng biết đường nào mà ăn nói…”

“Em làm rất đúng,” Lan ngắt lời cô bé, giọng cô rắn rỏi, đanh thép và đầy sức nâng đỡ. “Người làm sai là ba chị, không phải em. Trong kinh doanh, bất kể là tình nghĩa chòm xóm hay họ hàng ruột thịt, hàng đã bốc ra khỏi kho mà không có chữ ký nhận là cầm chắc phần mất trắng. Mảnh giấy than này chính là cái phao cứu sinh duy nhất của chúng ta sáng hôm nay.”

Lan dứt khoát đứng dậy, bước lại chiếc kệ sắt đựng tài liệu văn phòng, rút ra một tập hóa đơn bán hàng kiêm bảng kê đối soát công nợ mẫu chuẩn mà cô đã chuẩn bị sẵn từ tối hôm trước. Đặt tờ giấy lên bàn, cô chỉ tay:

“Thảo, em lập ngay một bản đối soát công nợ gửi Đại lý Chín Bảy. Trích lục đầy đủ số phiếu giao hàng, ngày xuất kho mười hai tháng trước, số lượng chính xác hai mươi thùng mắm thủy tinh thượng hạng và số tiền mười triệu đồng tròn. Kèm theo bản sao phiếu giao hàng có chữ ký của bà Bảy. Làm ngay trong buổi sáng nay, đóng dấu treo của cơ sở lên góc trái. Chị sẽ đích thân chạy ra chợ thu khoản này.”

“Chị đi thu cái gì? Định vác cái mặt xách mé về đây làm nhục cái nhà này thêm nữa hả?”

Một giọng đàn ông the thé, đùng đục vì khói thuốc và đầy vẻ bực dọc bất thình lình nổ ra từ phía ngạch cửa.

Cả Lan và Thảo cùng giật mình quay đầu lại.

Võ Minh Phúc đang đứng sừng sững tựa lưng vào khung cửa gỗ lim, hai cánh tay trần sạm đen vì nắng gió biển khoanh chặt trước lồng ngực vạm vỡ. Chiếc áo thun ba lỗ bạc màu lấm lem những vệt muối biển khô trắng xóa và loang lổ vết nước mắm rỉ ra từ đòn gánh khiêng thùng. Mái tóc bù xù của anh ướt đẫm mồ hôi, bết chặt vào vầng trán dồ bướng bỉnh, đôi mắt vằn lên những tia máu đỏ quạch vì ba đêm liền thức trắng trông cha trong phòng cấp cứu lẫn nỗi tức giận dồn ứ bấy lâu.

Phúc bước nặng nề vào phòng, đôi dép nhựa tổ ong dính đầy bùn muối kêu lẹp xẹp trên nền gạch tàu ẩm ướt. Anh liếc nhìn đống sổ sách ngổn ngang trên bàn, liếc nhìn tờ giấy A4 chia ba cột ngăn nắp của Lan, rồi trừng mắt nhìn Thảo—người vừa run rẩy rụt tay lại khỏi bàn phím máy tính như bị điện giật.

“Mày hay quá ha Thảo?” Phúc gằn giọng, ngón tay thô ráp đầy vết chai chỉ thẳng vào mặt cô nhân viên chứng từ. “Ba tao mới nằm xuống trạm xá rồi chuyển viện tỉnh có ba ngày, hơi thở ổng còn chưa đều, ống thở còn cắm trong mũi, mà mày đã theo đuôi chị Lan lục lọi từng trang sổ của ổng ra rồi? Mày làm ở đây mấy năm trời, hạt gạo xưởng này nuôi mày, hay là người ta hứa hẹn đưa mày lên Sài Gòn làm kế toán công ty lớn rồi mày quay lại đào bới từng đồng tiền lẻ của ba tao hả?”

“Em… em hổng có, anh Phúc…” Thảo run bắn cả người, hai giọt nước mắt tủi thân ứa ra nơi khóe mi, vội vã đứng bật dậy lùi sâu vào góc tường phía sau chiếc tủ sắt đựng hồ sơ. “Chị Lan kêu em rà lại công nợ để gom tiền trả vỏ chai… chứ em đâu có dám…”

“Mày câm miệng lại!” Phúc đập mạnh bàn tay hộ pháp xuống mặt bàn gỗ tràm khiến chiếc quạt con cóc nhảy dựng lên, phát ra tiếng cạch chói tai, tập tài liệu bên mép bàn bay lả tả xuống sàn. Anh quay ngoắt sang Lan, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp áo mỏng: “Chị vừa vác mặt về được mấy bữa mà chị tưởng chị là chủ cái xưởng này rồi hả Lan? Chị đem cái thói hạch sách, cặn kẽ từng đồng từng cắc từ mấy cái công ty kiểm toán nước ngoài trên Sài Gòn về đây áp đặt lên đầu người ta à? Ba làm ăn ở cái xứ biển này ba mươi năm nay, từ hồi xưởng chỉ có ba cái thùng chượp mục nát, ổng dựa vô cái mặt, cái tên Võ Thành, dựa vô chữ tín với chòm xóm láng giềng mà nuôi chị ăn học đại học! Giờ ổng đột quỵ nằm đó chưa biết sống chết ra sao, nửa người liệt cứng ngắc, chị ở nhà đè đầu nhân viên ra tra khảo, đòi xách giấy tờ đi đòi nợ từng người quen, chị tính bêu riếu danh dự của ba cho cả cái chợ Phan Thiết này cười vô mũi ổng hay sao?”

Lan không đứng dậy. Cô vẫn ngồi thẳng lưng trên chiếc ghế xoay, hai bàn tay đặt phẳng phiu lên mép bàn làm việc, ánh mắt nhìn thẳng vào đôi mắt đang rực lửa của em trai. Ánh mắt cô lạnh và tĩnh như mặt nước giếng đóng băng giữa mùa đông, nhưng tận sâu trong lồng ngực, một nỗi xót xa buốt nhói dâng lên làm nghẹn đắng cuống họng. Phúc—đứa em trai từng lẽo đẽo theo sau cô suốt thời thơ ấu, người đã chọn ở lại xưởng mắm để cô được thảnh thơi bay nhảy nơi giảng đường đại học—nay đang đứng trước mặt cô với toàn bộ sự tự ái, mặc cảm và định kiến thù hằn của một kẻ bị bỏ lại phía sau.

“Em nói xong chưa?” Lan hỏi, giọng thấp và phẳng lặng, nhưng từng âm tiết buông ra đều nặng trịch như đá tảng thả xuống đáy đầm.

Phúc cười khẩy một tiếng đầy cay độc, hai tay chống mạnh lên mặt bàn, chồm hẳn nửa thân người về phía chị gái: “Chưa! Chị giỏi giang, chị học cao hiểu rộng thì chị tự đi kiếm tiền mà lo cho ba đi! Tự đi kiếm tiền mà trả cho thợ đi! Đừng có ngồi đây làm màu làm mè, vạch lá tìm sâu, làm nhục người làm của xưởng!”

“Chị đang làm việc đó đây,” Lan không hề né tránh, cô cầm tờ giấy kê dự toán dòng tiền mà cô đã thức trắng đêm qua để lập ra, đẩy thẳng về phía trước ngực Phúc. “Mở mắt to ra mà nhìn vào những con số này. Đừng dùng cái miệng gào thét nữa, dùng mắt mà đọc! Hòm sắt của ba chỉ còn đúng bốn mươi hai triệu. Chiều thứ Sáu này bà Quyên bên cơ sở bao bì sẽ cắt đứt nguồn cung năm ngàn vỏ chai nếu không nhận được mười lăm triệu tiền cọc. Sang tuần tới, mười bốn người thợ xưởng ngoài kia sẽ bãi công nếu không có sáu mươi triệu tiền lương cứng để họ nuôi con. Tiền điện ba pha tám triệu bảy đã quá hạn ba ngày, trễ thêm hai ngày nữa điện lực tỉnh sẽ xuống cúp cầu dao niêm phong đồng hồ. Em có biết nếu cúp điện thì chuyện gì xảy ra không? Hai mươi thùng chượp ngoài kia không có máy bơm tuần hoàn để đảo mắm thì toàn bộ khối cá cơm than đang ủ sẽ thối đạm và hỏng hoàn toàn! Hai mươi thùng chượp đó là toàn bộ cơ nghiệp ba mươi năm của ba em đó, Phúc!”

Lan ngừng lại một nhịp, giọng cô hạ xuống nhưng từng lời như dao cứa vào sự ngột ngạt của căn phòng: “Bây giờ em trả lời chị đi: Em lấy chữ tín của ba ra để trả tiền điện được không? Em lấy cái mặt của ba ra để quỳ lạy người ta cho nợ năm ngàn cái vỏ chai được không? Hay là em định để cho hai mươi thùng chượp thối rữa thành nước cống rồi hai chị em mình dắt nhau đi ăn mày?”

Phúc khựng lại. Ánh mắt anh vô thức rơi xuống những dòng chữ viết bằng mực đỏ gạch dưới đáy trang giấy A4. Từng con số chi phí hiện lên rành rọt, trần trụi và tàn nhẫn, đập tan những ảo tưởng mơ hồ về sự “dồi dào” của một cơ sở nước mắm lâu đời. Cơ mặt Phúc giật giật liên hồi, đôi môi thâm sì vì khói thuốc mím chặt lại. Sự tự ái của một người đàn ông quanh năm lăn lộn với sóng gió, bùn muối bị dồn vào chân tường, nhưng nỗi mặc cảm bị một người phụ nữ học thức lấn lướt không cho phép anh cúi đầu thừa nhận mình bất lực.

“Đó là… đó là do chị làm quá lên!” Phúc gắt gỏng, giọng bắt đầu lạc đi, đôi bàn tay thô ráp bối rối siết chặt lại thành nắm đấm. “Tiền hàng người ta thiếu thì từ từ người ta gom trả. Chú Chín Bảy buôn bán cả đời ở chợ, sạp bự chảng ngay ngã ba, người ta thiếu gì mười triệu bạc của mình mà chị phải vác giấy tới tận sạp đòi như đòi nợ mướn? Chị làm vậy người ta tự ái, mai mốt người ta cạch mặt Hải Thành, người ta qua lấy mắm của cơ sở Tư Nhị bên kia cầu, lúc đó chị gánh nổi cái mối hàng hai mươi thùng mỗi tháng đó không?”

“Nếu họ là một đối tác đàng hoàng, họ sẽ tôn trọng một tờ phiếu giao hàng có chữ ký sòng phẳng,” Lan đứng thẳng dậy, thu gọn tờ phiếu than màu hồng và bản đối soát công nợ mà Thảo vừa run rẩy in ra từ chiếc máy in laser cũ kỹ vào trong chiếc kẹp tài liệu bằng da đen. “Một người buôn bán có lòng tự trọng sẽ thấy xấu hổ vì trễ hạn thanh toán, chứ không ai tự ái vì đối tác đến thu tiền đúng ngày. Còn nếu một mối hàng chỉ chịu lấy mắm của Hải Thành với điều kiện được giật nợ vô thời hạn để đẩy cơ sở của mình vào chỗ chết đứng, thì Hải Thành không cần thứ khách hàng ăn bám đó. Phúc, em ở lại xưởng, ra phụ chú Bảy Hòa kiểm tra lại cái van rút mắm ở đáy thùng số 4 đi, van đó sáng nay rỉ nước mắm ra sàn rồi đấy. Chuyện tiền bạc và sổ sách, để chị lo.”

Nói đoạn, Lan cầm lấy chùm chìa khóa chiếc xe máy Wave Alpha cũ mèm của xưởng dựng ngoài hiên, quay lưng bước dứt khoát ra cửa, không buồn liếc nhìn lại vẻ mặt tím tái vì tức tối xen lẫn bẽ bàng của Phúc.

Trước khi bước qua bậc cửa ngập nắng, cô khẽ nghiêng đầu nhìn Thảo đang nép mình sau tủ sắt: “Thảo ngồi lại, tiếp tục phân loại hết các trang còn lại cho chị. Không được bỏ sót bất kỳ một dòng nào của ba.”

***

Cái nắng mười một giờ trưa ở thành phố biển Phan Thiết dội thẳng xuống mặt đường nhựa như muốn nung chảy lớp cao su dưới bánh xe máy. Không khí bốc lên ngùn ngụt, nhạt nhòa trong ảo ảnh thị giác của hơi nóng. Gió biển từ phía bến Thương Bạc thổi thốc vào mang theo vị mặn chát của muối và mùi tanh ngai ngái của rong rêu chết khô bám vào bờ kè đá, táp rát bỏng vào hai cánh tay trần của Lan khi cô rẽ qua cầu Trần Hưng Đạo.

Dòng sông Cà Ty dưới chân cầu cạn nước, để lộ ra những bãi bùn đen thẫm cắm cọc neo đậu của hàng trăm chiếc ghe nang, ghe cá nằm chen chúc. Cuộc sống nơi đây dường như bị chia cắt làm hai nửa: một nửa hiện đại với những cây cầu bê tông cốt thép và khách sạn cao tầng ven biển, và một nửa kia vẫn chìm sâu trong nếp sống cổ truyền của một làng chài lớn—nơi chữ nghĩa, hợp đồng và pháp lý luôn phải đứng sau những cái bắt tay sặc mùi rượu đế và những lời hứa vu vơ trên bến nước.

Lan cho xe chạy chậm lại khi tiến vào khu vực Chợ Lớn Phan Thiết. Khu chợ trưa hè ồn ã, ngột ngạt và đặc quánh những tầng tầng lớp lớp mùi vị đặc trưng. Mùi tanh nồng nặc của cá nục chuối, cá trích tươi vừa bốc từ bến cảng lên còn nằm quẫy đuôi trên những sọt tre đẫm đá vụn; mùi mực một nắng phơi trên vỉ lưới ven đường bốc lên vị ngòn ngọt ngai ngái; mùi nước thải hữu cơ tù đọng dưới những rãnh thoát nước hẹp ven chợ xen lẫn tiếng còi xe máy inh ỏi, tiếng chân người kéo lê trên nền xi măng ướt nhẹp, tiếng la hét chửi thề của cánh phu bốc vác và tiếng kì kèo ngã giá chát chúa của những người đàn bà quấn khăn rằn.

Lan dựng chân chống chiếc xe Wave cà tàng vào một góc khuất dưới bóng râm của mái hiên đình chợ, dùng khóa dây khóa cẩn thận bánh trước, rồi kẹp chiếc bìa hồ sơ bằng da đen dưới nách, bước nhanh vào dãy nhà lồng chuyên bán đồ khô và gia vị.

Sạp tạp hóa Chín Bảy nằm ngay vị trí ngã ba đắc địa của nhà lồng số 2, nơi hai luồng người mua sắm giao nhau. Đó là một gian hàng bề thế, thùng các-tông chất cao quá đầu người tạo thành những bức tường thành kiên cố. Hàng trăm chai nước mắm mang đủ mọi nhãn hiệu—từ các cơ sở truyền thống trăm năm như Hải Thành, Tư Nhị, Hồng Đức cho đến những chai mắm công nghiệp vỏ nhựa màu mè của các tập đoàn thực phẩm đa quốc gia—được xếp san sát, thẳng tắp trên những kệ sắt nhiều tầng.

Bà Chín Bảy, một phụ nữ trạc năm mươi lăm tuổi, thân hình đẫy đà tròn trịa, đang ngồi ngả ngớn trên chiếc ghế nhựa màu đỏ, mặc bộ đồ bộ thun lạnh in hoa văn da báo sặc sỡ. Một tay bà phe phẩy chiếc quạt nan tre xơ xác, tay kia đang thoăn thoắt đếm một xấp tiền lẻ mệnh giá mười ngàn, hai mươi ngàn vừa thối lại cho khách mua cá khô.

Nhìn thấy bóng dáng Lan bước tới trước sạp, ánh mắt sắc sảo của người đàn bà buôn bán lâu năm ở chợ lập tức quét một lượt từ đầu đến chân cô gái trẻ. Ánh mắt bà dừng lại thật lâu trên gương mặt thanh tú nhưng lộ rõ vẻ mệt mỏi, chiếc áo sơ mi công sở màu xanh nhạt đóng thùng phẳng phiu, và chiếc kẹp tài liệu bằng da đen bóng kẹp bên sườn.

“Ủa… con Lan hả con?” Bà Bảy hạ chiếc quạt nan xuống, giọng nói đổi từ vẻ the thé của người bán hàng sang tông giọng ngạc nhiên, rồi nhanh chóng chùng xuống thành một vẻ ái ngại có phần gượng gạo. “Nghe đâu chú Thành ngoài xưởng bị tai biến nằm bệnh viện tỉnh mấy bữa nay rồi phải hôn con? Bệnh tình ổng sao rồi? Bữa giờ chợ búa lu bu quá chừng, bạn hàng hối thúc tối tăm mặt mũi nên tao chưa kịp chạy vô trạm xá rồi chạy lên viện thăm ổng một tiếng.”

“Dạ, con chào cô Bảy,” Lan bước lại gần sạp hàng, dừng lại ở khoảng cách vừa đủ lịch sự, giữ trên môi một nụ cười chừng mực, không vồn vã nhưng cũng không hề có vẻ xa cách. “Cảm ơn cô đã hỏi thăm. Ba con đã qua cơn nguy kịch rồi ạ, nhưng hiện tại bị liệt nửa người bên phải, đang phải nằm tập phục hồi chức năng ở khoa ngoại thần kinh. Mẹ con đang túc trực trong đó chăm sóc cho ba ăn uống, thuốc men.”

“Tội nghiệp ổng quá chừng quá đỗi… ổng tốt bụng, xốc vác, buôn bán hiền như cục đất vậy mà trời hổng thương…” Bà Bảy thở dài một hơi sườn sượt, mắt nhìn dáo dác sang mấy thùng mì gói chất bên cạnh sạp như để tìm một cớ né tránh ánh nhìn trực diện của Lan. “Rồi trưa trờ trưa trật vầy con chạy ra chợ có mua đồ bồi dưỡng gửi vô viện cho ba không? Hay ghé coi giá mắm ngoài này?”

Lan không để cho người đàn bà buôn bán lão luyện dẫn dắt cuộc đối thoại sang những câu chuyện xã giao không đầu không cuối. Cô nhẹ nhàng mở chiếc kẹp da, rút ra tờ phiếu giao hàng màu hồng mỏng dính có chữ ký bằng mực bi đen của bà Bảy, cùng với bản đối soát công nợ có đóng dấu mộc treo của xưởng Hải Thành vừa in sáng nay. Cô đặt hai tờ giấy phẳng phiu lên trên mặt bàn kính kê trên nóc thùng đựng đường cát trước mặt bà.

“Dạ thưa cô Bảy, con ghé thăm cô, đồng thời gửi cô bản đối soát lô mắm hai mươi thùng loại một giao cho sạp mình hôm mười hai tháng trước,” Lan nói rành rọt, từng âm sắc tròn vành rõ chữ, âm lượng vừa đủ nghe nhưng vang lên dứt khoát giữa tiếng ồn ào của chợ lồng. “Hôm nay đúng tròn ba mươi ngày theo hạn thanh toán ghi trên phiếu giao hàng. Con về phụ xưởng mấy bữa nay để gom tiền thanh toán tiền vỏ chai nhập từ Sài Gòn và thuốc men viện phí cho ba, nên ghé nhờ cô giải quyết dứt điểm khoản nợ này giúp xưởng con luôn trong trưa nay ạ.”

Nụ cười niềm nở giả tạo trên gương mặt tròn trĩnh của bà Bảy bỗng chốc sượng ngắt. Chiếc quạt nan trên tay bà khựng lại giữa không trung. Ánh mắt sắc lạnh của người đàn bà buôn bán dán chặt vào chữ ký nắn nót của chính mình ở góc dưới tờ giấy than màu hồng. Cặp lông mày được xăm tỉa cẩn thận nhíu chặt lại vào nhau, tạo thành những nếp gấp hằn sâu trên trán.

“Ủa… gì mà mau dữ vậy con gái?” Giọng bà Bảy lập tức đổi tông, pha lẫn chút the thé của sự phật ý và vẻ trịch thượng của một bạn hàng lớn lâu năm bị đòi tiền bất ngờ. “Hồi nào tới giờ ba mày chở mắm qua đây bỏ mối có khi nào hối thúc sỗ sàng vậy đâu! Mắm dạo này ế ẩm dữ lắm Lan ơi, vật giá leo thang, khách quen chê mắm truyền thống mặn mòi quá lại đắt tiền, người ta đổ xô qua ăn mắm công nghiệp cho nó ngọt giọng mà rẻ rề. Mấy chục thùng mắm của xưởng mày tao để đằng kia kìa, mới bán được có một nửa chứ mấy! Tiền nong tao còn phải gối đầu cho mấy mối quán ăn dưới xóm chài nữa, người ta chưa trả thì tao lấy đâu ra tiền tươi mà đưa cho mày? Tao tính để cuối tháng này gom một lượt rồi tiện đường chạy qua xưởng ghé thăm ba mày rồi gửi luôn thể, chứ tự nhiên con gái con lứa ở đâu chạy lại tận sạp đòi nợ ngang xương giữa ban trưa vậy… coi sao đặng?”

Bà Bảy vừa nói vừa liếc mắt sang sạp đồ khô đối diện, giọng cố tình nâng cao như muốn lôi kéo sự đồng tình của những người buôn bán xung quanh, biến Lan thành một kẻ vô lễ, thiếu hiểu biết nề nếp buôn bán ở chợ.

Lan vẫn đứng đó, lưng thẳng tắp, không hề có một nét nao núng hay bối rối. Cô lắng nghe trọn vẹn từng lời phân trần, từng câu móc mỉa của bà Bảy mà không hề ngắt lời. Đôi mắt trong veo của cô nhìn thẳng vào đôi mắt đang gườm gườm của người đàn bà lớn tuổi, rồi ngón tay trỏ của cô khẽ chạm nhẹ vào dòng chữ viết tay trên tờ giấy hồng.

“Cô Bảy, con hiểu buôn bán ở chợ thời buổi này rất khó khăn, bạn hàng ai cũng phải gối đầu vốn liếng cho nhau để giữ mối,” Lan mở lời, giọng cô dịu dàng, mềm mỏng nhưng từng từ thốt ra đều mang sức nặng không thể bẻ gãy của lý lẽ và sự thật. “Nhưng cô nhìn kỹ lại giúp con, trên tờ phiếu giao hàng này chính cô đã ký tên nhận hàng và chính tay cô đã viết dòng chữ: ‘Hẹn thanh toán đủ sau 30 ngày’. Ba mươi ngày qua, xưởng Hải Thành đã ứng toàn bộ tiền cá cơm tươi, tiền muối trắng, tiền mua vỏ chai thủy tinh và tiền công thợ ròng rã suốt một năm trời để làm ra hai mươi thùng mắm hảo hạng đó giao tận sạp cho cô.”

Lan dừng lại một nhịp, ánh mắt cô hơi chùng xuống, mang theo một nỗi xót xa chân thật khiến không khí xung quanh chùng hẳn lại: “Hôm nay ba con nằm xuống trên giường bệnh, toàn bộ tài khoản ngân hàng của xưởng đang bị niêm phong chờ thủ tục pháp lý. Trong két sắt của xưởng không còn nổi một đồng để đặt cọc vỏ chai cho mẻ mắm mới. Mỗi ngày trôi qua ở bệnh viện tỉnh, tiền máy thở, tiền thuốc chống đông máu và tiền chụp chiếu của ba con tốn hàng triệu đồng tiền mặt. Nếu là ngày thường ba con còn khỏe mạnh đứng ở đây, ba con sẵn sàng cười xòa cho cô nợ thêm một hai tháng để trọn vẹn tình nghĩa lối xóm. Nhưng lúc này xưởng đang đứng bên bờ vực phá sản, ba con đang giành giật từng hơi thở trong phòng bệnh.”

Lan nhìn thẳng vào xấp tiền lẻ mà bà Bảy vẫn đang nắm chặt trong tay, giọng nói trầm xuống nhưng đanh chắc: “Mười triệu đồng này đối với quy mô buôn bán của sạp Chín Bảy có thể chỉ là một vòng quay hàng hóa nhỏ trong vài ngày. Nhưng đối với Hải Thành lúc này, nó là tiền thuốc men cứu mạng ba con, là chén cơm của mười bốn người thợ đang chờ lương. Con tin cô Bảy buôn bán với ba con suốt mười mấy năm qua, cô hiểu rõ phẩm giá và chữ tín của ba con, và con cũng tin một người trọng nghĩa khí như cô chắc chắn không nỡ nhìn ba con phải chịu cảnh thiếu thuốc trong bệnh viện chỉ vì món tiền hàng đã đến hạn thanh toán này.”

Không gian quanh sạp tạp hóa bỗng chìm vào một sự im lặng kỳ lạ. Tiếng ồn ào của chợ lồng dường như dạt ra xa. Người phụ nữ bán mắm tôm ở sạp bên cạnh tò mò ngó đầu sang nghe ngóng, nhưng bắt gặp ánh mắt cương nghị, không chút sợ sệt của Lan liền ngượng ngùng rụt đầu lại, giả vờ cúi xuống dọn dẹp mấy hũ kiệu ngâm.

Bà Bảy ngồi chết trân trên chiếc ghế nhựa, chiếc quạt nan buông thõng trên đùi. Bà nhìn trân trân vào tờ giấy than màu hồng mỏng manh đang nằm phẳng phiu trên mặt kính. Tờ giấy ấy, nhờ vào sự cẩn trọng đến nhút nhát của Thảo và sự kiên quyết, sắc bén của Lan, đã biến một món nợ miệng mơ hồ—thứ vốn dĩ có thể bị cù nhầy, trì hoãn từ tháng này qua năm khác—thành một nghĩa vụ pháp lý và đạo lý không thể nào chối bỏ. Người đàn bà buôn bán lọc lõi nhận ra rằng bà không thể dùng những bài ca quen thuộc về tình nghĩa xóm giềng hay sự khó khăn của chợ búa để lấp liếm trước một người vừa nắm chắc bằng chứng trong tay, vừa nói những lời thấu tình đạt lý đến mức nếu từ chối, chính bà sẽ trở thành kẻ bất nhân, bội nghĩa trước mắt cả khu chợ này.

Một tiếng thở dài sườn sượt, nặng trĩu thoát ra từ lồng ngực đẫy đà của bà Bảy. Bà buông chiếc quạt xuống mặt bàn, nét mặt từ phòng thủ hằn học chuyển dần sang vẻ bẽ bàng pha lẫn ngượng ngùng của kẻ bị bắt bí một cách tâm phục khẩu phục.

“Thiệt tình… con nhỏ này nói năng đâu ra đó, sắc sảo y như luật sư trên tòa vậy,” bà Bảy lẩm bẩm, nụ cười gượng gạo nở ra trên khóe môi dầy. “Thôi được rồi, tao với ba mày chỗ quen biết chí tình bao nhiêu năm nay, ổng gặp cơn hoạn nạn ngặt nghèo như vầy tao cũng đâu phải thứ người cạn tàu ráo máng mà đi làm khó làm dễ con cái ổng.”

Bà Bảy với tay lấy chiếc túi xách giả da cá sấu treo trên vách gỗ của sạp, kéo khóa rút ra chiếc điện thoại thông minh màn hình lớn. Bà ngước lên nhìn Lan: “Mười triệu tiền mặt tao không để sẵn ở sạp nhiều vậy đâu, chợ búa trộm cắp như rươi. Để tao chuyển khoản qua ngân hàng cho mày cho nó mau lẹ. Số tài khoản nào? Đọc đi tao bấm.”

“Dạ, cô quét mã QR này giúp con ạ,” Lan nhanh nhẹn mở ứng dụng ngân hàng trên chiếc điện thoại của mình, đưa màn hình hiển thị mã thanh toán cá nhân mang tên *Võ Ngọc Lan* về phía bà Bảy. “Tài khoản của xưởng đang bị phong tỏa tạm thời nên con dùng tài khoản riêng này để thanh toán trực tiếp tiền cọc cho nhà máy sản xuất vỏ chai luôn.”

Bà Bảy đeo cặp kính lão gọng nhựa lên mắt, bấm ngón tay thoăn thoắt trên màn hình cảm ứng.

Chỉ vài giây sau, một tiếng chuông báo *ting* giòn giã, vang dội như một nốt nhạc giải thoát vang lên từ chiếc túi xách của Lan.

Màn hình điện thoại của Lan sáng bừng lên giữa ánh nắng trưa rực rỡ với dòng thông báo biến động số dư: *“Tài khoản ...8962: +10.000.000 VND. Nội dung: Dai ly Chin Bay thanh toan tien mam Hai Thanh.”*

Lan thở phào một hơi thật dài, một luồng khí lạnh như vừa quét qua lồng ngực, nhấc bổng tảng đá vô hình ngàn cân đang đè nặng tâm trí cô suốt từ sáng sớm. Mười triệu đồng. Đối với những thương vụ kiểm toán hàng trăm tỷ đồng mà cô từng tham gia trên thành phố, con số này chỉ là một hạt cát vô nghĩa. Nhưng ngay tại mảnh đất Phan Thiết bỏng rát này, trong khoảnh khắc sinh tử này của cơ sở Hải Thành, mười triệu đồng này là một chiến thắng đầu tiên mang tính sống còn. Nó được thu hồi không phải bằng sự van nài, không phải bằng sự bố thí tình thương, mà hoàn toàn bằng sức mạnh của chứng từ hợp lệ, bằng sự đàng hoàng và sòng phẳng của một nền quản trị minh bạch.

“Con cảm ơn cô Bảy rất nhiều,” Lan rút cây bút bi, ký một chữ ký sắc gọn xác nhận đã thu đủ số tiền mười triệu đồng vào bản đối soát công nợ rồi xé liên hai đưa tận tay cho bà Bảy. “Chiều nay con vô bệnh viện chăm ba, con sẽ chuyển lời thăm hỏi của cô tới ba con. Chúc cô buổi chiều buôn bán đắt hàng.”

Bà Bảy cầm lấy tờ giấy biên nhận, nhìn theo bóng dáng mảnh khảnh nhưng vững chãi của Lan đang thoăn thoắt bước ra khỏi dãy nhà lồng chợ với ánh mắt vừa có phần e dè, nể sợ, vừa thấp thoáng một sự kính nể không thể giấu giếm.

***

Lan trở về lại xưởng nước mắm Hải Thành khi đồng hồ điểm một giờ ba mươi phút chiều. Cái nắng miền Trung vẫn như dội lửa xuống những mái tôn fibro-xi măng của dãy nhà kho, nhưng cảm giác ngột ngạt, đè nén của buổi sáng dường như đã vơi đi quá nửa.

Vừa dựng chân chống chiếc xe Wave dưới bóng râm của cây bàng trước sân xưởng, Lan lập tức mở điện thoại, thao tác nhanh chóng trên ứng dụng ngân hàng trực tuyến. Cô chuyển thẳng mười triệu đồng vừa nhận được từ sạp Chín Bảy, cộng thêm đúng năm triệu đồng trích từ tài khoản tiết kiệm cá nhân còn lại ba mươi ba triệu hai trăm ngàn của mình, sang số tài khoản của bà Nguyễn Thị Quyên—chủ doanh nghiệp bao bì tại Bình Dương.

Kèm theo lệnh chuyển khoản mười lăm triệu đồng tròn trĩnh, Lan soạn một tin nhắn ngắn gọn, mạch lạc: *“Cháu Lan gửi cô Quyên mười lăm triệu tiền cọc đơn hàng năm ngàn vỏ chai thủy tinh theo đúng thỏa thuận. Thứ Hai tới cô cho xe giao hàng về xưởng Hải Thành theo lịch giúp xưởng cháu.”*

Chỉ chưa đầy ba phút sau, chuông điện thoại rung nhẹ. Tin nhắn phản hồi của bà Quyên hiện lên trên màn hình: *“Đã nhận đủ 15tr. Thứ Hai xe giao hàng tới xưởng đúng hẹn. Chúc anh Thành mau bình phục.”*

Lan tựa lưng vào thân cây bàng xù xì, nhắm mắt lại hít một hơi thật sâu. Mùi mắm chín từ các thùng chượp ngoài sân phả vào cánh mũi nồng đượm. Một nút thắt chí mạng nhất trong tuần đã được tháo gỡ thành công. Năm ngàn vỏ chai sẽ về đúng hẹn vào sáng thứ Hai, nghĩa là dây chuyền chiết rót và dán nhãn thủ công sẽ không phải ngừng trệ một giờ nào, mười bốn người thợ xưởng sẽ tiếp tục có việc làm để bảo đảm sản lượng cho mùa hàng rằm tháng Bảy, và nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng cục bộ của Hải Thành đã được chặn đứng ngay trước miệng vực thẳm.

Lan cất điện thoại vào túi xách, bước qua bậc thềm bước vào gian phòng làm việc.

Tiếng quạt trần cũ kỹ vẫn quay những vòng lờ đờ, nhịp nhàng rít lên từng tiếng ken két quen thuộc. Bên trong phòng, Đặng Thị Thảo đang ngồi một mình bên chiếc bàn gỗ tràm, bóng lưng cô gái trẻ hơi gập xuống, cặm cụi gõ những dòng số liệu cuối cùng vào máy tính.

Nghe tiếng bước chân nhẹ nhàng của Lan chạm lên nền gạch tàu, Thảo bất thần giật thót người. Toàn bộ cơ thể cô khẽ nảy lên như vừa bị bắt quả tang đang làm một điều gì vô cùng mờ ám.

Bàn tay phải của Thảo nhanh như một tia chớp ấn mạnh vào nút sườn khóa màn hình chiếc điện thoại đang đặt ngửa bên cạnh cuốn sổ nợ, rồi bằng một động tác luống cuống đến vụng về, cô kéo mép cuốn sổ da màu nâu gập vội lại làm đôi.

Lan đứng sững lại ngay giữa bậu cửa.

Bằng phản xạ quan sát cực kỳ nhạy bén của một người đã trải qua nhiều năm làm công tác kiểm toán và điều tra gian lận tài chính, Lan đã bắt trọn từng tích tắc của hành động giật thót ấy. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi nửa giây trước khi màn hình chiếc điện thoại của Thảo kịp tắt ngấm, Lan đã nhìn thấy rõ ràng giao diện máy ảnh vừa thực hiện một cú chụp màn hình hoặc chụp ảnh tài liệu—bức ảnh chụp trọn vẹn một trang sổ nợ nằm ở phần giữa cuốn sổ tay của ông Thành.

Và trên mép trang giấy da mà Thảo vừa vội vàng gập lại, một dòng chữ viết tay bằng mực đỏ tươi của ông Thành vẫn còn lộ ra một góc, đập thẳng vào mắt Lan: *“Đại lý Phan Quốc Lợi – 200 thùng loại 1… 56.000.000đ…”*

Căn phòng bỗng chốc rơi vào một bầu không khí im lặng đến ngột ngạt. Tiếng ve kêu râm ran ngoài rặng phi lao ven xưởng như dội ngược vào bốn bức tường vôi ố vàng. Thảo ngồi ngay đơ trên chiếc ghế đẩu rách góc, hai bàn tay luống cuống lùa chiếc điện thoại giấu ra phía sau tập hồ sơ chứng từ dầy cộp, gương mặt cô gái trẻ tái mét đi, không còn một giọt máu. Đôi mắt Thảo mở to, hoảng loạn nhìn trân trân vào Lan như một đứa trẻ vừa phạm phải một lỗi lầm tày trời.

“Chị… chị Lan mới về…” Thảo ấp úng, giọng cô run rẩy, ngắt quãng. “Cô Bảy… cô Bảy chịu trả tiền cho mình chưa chị?”

Lan không vội vàng chất vấn. Cô không nhìn vào chiếc điện thoại đang giấu sau tập hồ sơ, cũng không nhìn vào góc trang giấy ghi dòng chữ mực đỏ của đại lý Phan Quốc Lợi. Bước từng bước chậm rãi lại gần bàn làm việc, Lan kéo chiếc ghế xoay ngồi xuống đối diện với Thảo, gương mặt cô trở lại vẻ điềm tĩnh, lạnh lùng và hoàn toàn không thể đoán định.

“Cô Bảy đã chuyển đủ mười triệu vào tài khoản rồi,” Lan nói, giọng cô nhẹ nhàng như không có chuyện gì xảy ra. “Chị cũng vừa chuyển xong mười lăm triệu tiền cọc cho bà Quyên. Thứ Hai tới vỏ chai sẽ về xưởng đầy đủ, đúng hẹn.”

Thảo thở phào ra một hơi thật dài, hai vai chùng xuống như vừa trút được một gánh nặng ngàn cân khỏi lồng ngực: “May quá… đội ơn trời phật… Vậy là xưởng mình không bị dừng đóng chai rồi…”

“Ừ,” Lan đáp khẽ, một tiếng buông lơi ngắn ngủi.

Cô đưa tay ra, nhẹ nhàng kéo cuốn sổ nợ bìa da màu nâu về phía mình. Ánh mắt Lan không bỏ sót bất kỳ một biến đổi nhỏ nhất nào trên cơ mặt của Thảo. Cô biết cô gái này đang giấu giếm một điều gì đó rất lớn—một bí mật liên quan trực tiếp đến cái tên Phan Quốc Lợi và món nợ khổng lồ năm mươi sáu triệu đồng, món nợ thương mại lớn nhất đang bị treo lơ lửng trong cuốn sổ này. Tại sao Thảo phải lén lút chụp ảnh trang sổ đó? Tại sao lại hoảng sợ khi cô bước vào? Nhưng một kiểm toán viên lão luyện luôn biết rằng: không bao giờ được bóp nghẹt một đầu mối khi sự thật chưa lộ diện đầy đủ, và càng không được phá vỡ sợi dây tin tưởng mong manh vừa mới nhen nhóm giữa hai người.

Lan mở cuốn sổ ra, lật đến tờ giấy A4 phân loại ba cột mà Thảo đã hoàn thành trong lúc cô chạy ra chợ Phan Thiết.

Ba cột đã được điền kín bằng những dòng chữ bút chì ngay ngắn, sạch sẽ, thể hiện rõ sự cẩn thận và năng lực chuyên môn tiềm ẩn của Thảo khi được đặt vào một quy trình làm việc chuẩn mực. Từng mục nợ thương mại, nợ tạm ứng nguyên liệu và nợ dân sự đã được bóc tách rành rẽ kèm theo số tiền cụ thể bên cạnh.

Thế nhưng, khi ánh mắt của Lan trượt dần xuống đáy trang giấy, dừng lại ở những dòng cuối cùng của cột thứ ba—cột nợ tình nghĩa làng xóm và chi phí dân sự cá nhân, hơi thở của cô bỗng khựng lại giữa lồng ngực.

Trái tim Lan như hẫng đi một nhịp.

Nằm ở dòng dưới cùng của danh sách, một dòng chữ ghi nợ bằng mực tím lem nhem của ông Thành hiện lên rõ mồn một qua nét chữ sao chép nắn nót của Thảo:

*“Quán ăn Đỗ Thị Sương: 35.000.000đ.”*

Và ngay bên cạnh con số ba mươi lăm triệu đồng chẵn—một số tiền tương đương với gần một nửa quỹ lương của cả xưởng mắm trong một tháng—tuyệt nhiên không hề có số phiếu giao hàng, không có bất kỳ hóa đơn xuất kho nào, không có ngày hẹn hoàn trả, mà chỉ có một dòng ghi chú mập mờ, run rẩy viết bằng nét bút chì gãy góc của chính ba cô:

*“Cho Sương lo việc nhà, tính sau.”*

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn