Sổ Nợ Nhà MìnhC.15 / 35
Chương 15

Tiền nhà không phải phần còn lại

Ánh đèn vàng vọt trong căn buồng ngập mùi dầu xoa bóp chiếu sáng bọc vải nhung điều sờn chỉ, nơi bà Hạnh ngồi lặng lẽ bên chiếc giường gỗ lim trống trải của người chồng đang từng ngày chống chọi với cơn bạo bệnh trên bệnh viện tỉnh.

Căn phòng ở góc hồi phía đông căn nhà cũ luôn ẩm hơi muối và trĩu nặng sự im ắng ngột ngạt. Khung cửa sổ con chấn song sắt nhìn ra mé mương thoát nước sau nhà đã khép hờ, nhưng hơi ẩm từ mẻ chượp cũ rỉ qua nền đất và gió biển thốc qua kẽ ngói âm dương vẫn khiến bầu không khí lúc nào cũng quánh đặc, lạnh buốt một cách lén lút. Trên chiếc giường gỗ lim lên nước đen bóng vì mồ hôi và thời gian, chiếc mùng tuyn gác gọn gàng lên khung mắc, tấm chăn dạ mỏng xếp ngay ngắn bên chiếc gối quen thuộc của ông Võ Văn Thành còn phảng phất mùi dầu gió. Cơn đột quỵ xuất huyết não hơn mười ngày trước đã rút cạn sinh lực của người đàn ông từng một tay kéo neo, ghì lái giữa những con sóng lừng ngoài khơi Hòn Rơm, người từng vác những bao muối hạt tám chục ký nhẹ như không. Giờ đây, ông vẫn phải nằm lại khoa hồi sức của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Thuận, nửa thân mình bên phải buông thõng bất động, để lại gian buồng cũ quạnh quẽ trong sự thảng thốt khôn nguôi của gia đình.

Lan đứng tựa lưng vào cánh cửa buồng vừa khép chặt. Cô đứng im hồi lâu, hai bả vai rã rời tựa sát vào giát gỗ nhám ráp để tìm một điểm tựa. Mùi dầu tràm nồng gắt pha lẫn mùi cồn y tế xộc thẳng vào sống mũi, xua bớt mùi cá ươn, mùi muối chát của xưởng chượp bên ngoài và cả mùi kim loại tanh nồng của mỡ bò, dầu máy vừa bám chặt vào từng kẽ móng tay cô sau cả buổi chiều lăn lộn với thợ cơ khí ở xưởng đóng chai Phong Nẫm. Toàn thân cô nhức mỏi, hai thái dương giật từng cơn theo nhịp mạch đập sau khi dốc mười tám triệu đồng tiền mặt cuối cùng cho Lê Quốc An để đại tu dàn máy, đẩy quỹ tiền mặt của Hải Thành xuống mức báo động đỏ: ba triệu một trăm năm mươi ngàn đồng.

Đó là một con số lạnh lùng đến tàn nhẫn. Ba triệu một trăm năm mươi ngàn cho một cơ sở có hai mươi miệng thùng gỗ mít, gánh trên vai mười mấy miệng ăn của thợ bạn, tiền điện ba pha treo lơ lửng trên đầu, tiền viện phí của ba chưa thanh toán đợt hai, và hàng ngàn thứ vụn vặt không tên có thể bóp nghẹt sự sống của Hải Thành bất cứ lúc nào.

Bà Hạnh không nhìn lên ngay khi Lan bước vào. Đôi bàn tay xương xẩu, nổi đầy những đốm đồi mồi thâm sạm của bà vẫn đặt yên trên mép chiếc gối cũ của chồng. Từng ngón tay khô ráp của bà nhẹ nhàng miết dọc theo giát giường gỗ lim đã nhẵn bóng, như một thói quen cơ học vô thức tìm kiếm hơi ấm sau những ngày đêm ròng rã túc trực bên giường bệnh của ông Thành. Phải mất một lúc lâu, nghe tiếng then cài bằng sắt sau lưng Lan khẽ chạm vào móc kêu lên một tiếng cạch khô khốc, bà mới giật mình rút tay lại. Bà thở hắt ra một hơi dài, chậm rãi xoay người về phía chiếc bàn tròn nhỏ bằng gỗ tạp kê sát đầu giường.

Chiếc hộp sắt tây đựng bánh quy cũ kỹ mà bà vừa lôi từ chỗ khuất dưới gầm giường đang đặt chỏng chơ trên mặt bàn gỗ trầy xước. Nắp hộp in hình những vũ nữ nước ngoài đã tróc sơn, gỉ sét ăn loang lổ quanh viền mép, một góc nắp đã được cạy hở sẵn, để lộ bọc vải nhung đỏ điều đã ngả sang màu xỉn tối tăm của bồ hóng, khói hương và bụi bặm lưu cữu.

— Ngồi xuống đây đi con, — bà Hạnh hạ giọng, tiếng nói nhỏ và khàn đặc như sợ sự ồn ào phá tan bầu không khí tĩnh mịch của căn nhà vắng. — Khóa chốt ngoài cẩn thận rồi phải không? Đêm nay thằng Phúc nó nhận ca trực trên bệnh viện tỉnh trông ba mày thay mẹ, ở nhà chỉ có hai mẹ con mình. Mẹ có chuyện này, giấu kín trong bụng ba mươi mấy năm trời, nay nếu không lôi ra nói cho rành rọt thì xưởng sập, mà cái nhà này rốt cuộc cũng chẳng còn mảnh nóc che đầu cho ba mày về nằm.

Lan kéo chiếc ghế đẩu gỗ thấp ngồi xuống sát cạnh mẹ. Đôi chân cô mỏi rừ sau hàng giờ đứng chôn chân bên băng chuyền, đầu gối khẽ run lên khi chạm vào mép phản.

Bà Hạnh cẩn thận đặt bọc vải nhung lên đùi, gỡ từng lớp chỉ buộc. Sợi dây bấc màu đỏ luồn quanh bọc vải đã mục nát qua năm tháng, vừa bị đầu ngón tay ráp nối của bà tì nhẹ một cái đã đứt phựt ra thành từng đoạn ngắn. Lớp vải nhung điều sờn rách ở bốn góc mở dần ra, tỏa vào không gian một mùi ẩm mốc đặc quánh của giấy bản cũ, mùi long não lẫn với hơi dầu tràm ngưng đọng qua nhiều thập kỷ. Bên trong không có vàng thỏi lấp lánh hay những cọc tiền mặt tích trữ như Lan từng thoáng nghĩ trong một khoảnh khắc ngây thơ; bên trong chỉ là một xấp giấy tờ dày cộp, mép giấy nham nhở, được phân định rõ ràng thành hai phần riêng biệt bằng một sợi dây thun đã biến chất dính chặt vào bìa ngoài.

Một phần là những mảnh giấy pơ-lu mỏng manh ố vàng, mép giấy quăn queo, rách rưới vì mối gặm đã được dán mạng lại cẩn thận bằng những dải băng keo vàng đục đã ngả màu cánh gián. Phần còn lại là một thếp giấy biên nhận nhỏ chỉ bằng bàn tay, viết bằng mực bút bi tím đã phai màu, phía dưới đóng dấu mộc vuông đỏ thắm của các tiệm vàng tư nhân lâu đời ở nội ô thị xã Phan Thiết thuở trước.

— Hồi ba mày mở rộng dãy nhà thùng đợt đầu tiên, cái năm chín mươi mốt đó con… — bà Hạnh vuốt phẳng một mảnh giấy mỏng trên đùi, giọng bà khàn đi, nghẹn ứ nơi cổ họng. — Năm đó trời làm bão lớn bất thường vào tận tháng mười, luồng cá cơm than dạt hết ra ngoài khơi xa tít tắp, tàu bạn chạy rỗng bụng vào lộng, không gom nổi một giỏ cá tươi. Muối Cà Ná ba mày vay nóng mua về chất đầy ngoài mé bến chưa kịp chuyển vào kho thì gặp một trận lũ quét trên nguồn đổ về cuốn trôi sạch trơn. Mắm ủ trong mấy thùng thử nghiệm thì hỏng men vì thiếu độ mặn, nước bổi trào bọt chua lòm bốc mùi ủng. Ba mày ngồi ở bậc thềm kia kìa, bứt tóc thâu đêm đến rớm máu da đầu, đập trán vào cột nhà đòi đi vay nóng giang hồ dưới chợ lớn để trả tiền công bạn chài, tiền gỗ thợ xẻ. Mẹ sợ người ta kéo tới xiết nợ, dỡ nhà dỡ cửa, nửa đêm mẹ lén tháo đôi bông tai cẩm thạch với hai cái kiềng vàng ba má cho hồi mẹ đi lấy chồng, đem ra tiệm Kim Hòa bán tháo lấy tiền mặt đưa cho ổng.

Bà đưa ngón tay trỏ run rẩy chỉ vào xấp giấy biên nhận tiệm vàng. Mặt giấy mỏng tang rung rinh theo nhịp thở gấp gáp của bà.

Lan đón lấy tập giấy nhỏ từ tay mẹ. Dưới ánh sáng lờ nhờ của ngọn đèn tròn bốn mươi oát treo lơ lửng, từng nét chữ viết tay nghiêng nghiêng hiện lên rõ mồn một qua thời gian. Biên nhận bán vàng ngày 14 tháng 10 năm 1991: hai chỉ vàng 24K, giá sáu trăm ngàn đồng, dòng ghi chú nguệch ngoạc: “Bù tiền ghe bạn Hòn Rơm”. Biên nhận ngày 3 tháng 8 năm 1996: một cây vàng lá Bảo Tín, bán lấy bốn triệu tám trăm ngàn đồng, ghi chú bằng thứ mực tím lem luốc: “Bù tiền mua muối hột vụ nam”. Lại một tờ biên nhận khác năm 2002: bán một lắc tay vàng tây và ba chiếc nhẫn trơn một chỉ, thu về hơn sáu triệu đồng, góc dưới ghi rõ ràng: “Trả nợ tiền cây gỗ mít làm thùng số 5 và số 6”.

Tổng cộng có mười một tờ giấy biên nhận bán vàng tư trang trải dài dằng dặc qua gần hai thập kỷ. Từng chỉ vàng tích cóp, từng chiếc kiềng kỷ vật ngày cưới của mẹ, từng chút của nả phòng thân của người đàn bà lấy chồng xứ biển đã lặng lẽ hóa thành muối Cà Ná, thành cá cơm than, thành những thớ gỗ mít rừng dày cùi đóng thành thùng chượp cao lút đầu người, chỉ để giữ cho cái tên Hải Thành không bị người ta bôi xóa sau những mùa biển động thất bát triền miên.

— Ba mày không biết hết mấy tờ giấy này đâu, — bà Hạnh chùi khóe mắt bằng chéo vạt áo bà ba đã sờn chỉ ở cổ tay áo. — Ổng chỉ biết lúc cùng đường thì mẹ đưa tiền mặt ra. Ổng cầm tiền, ổng vỗ vai mẹ bảo: “Bà cứ cho tôi mượn tạm, xong vụ mắm nhĩ tết này tôi chuộc vàng lại trả bà gấp đôi, gấp ba”. Nhưng có bao giờ mắm tết có lãi ròng mà chuộc lại được cái gì hả con? Vừa thu được đồng tiền mắm vào két chưa kịp ấm chỗ thì tiền mua cá vụ sau lại đè lên cổ, tiền ghe, tiền bạn, tiền thuế môn bài, tiền sửa chòi muối… Rồi ổng coi như mớ tiền đó đương nhiên là tiền chung của cái xưởng này. Ổng nói: “Tiền nhà mình cả, phân chia rạch ròi làm chi cho cạn tình cạn nghĩa, của chồng công vợ chứ ai lấy đi đâu mà sợ”. Mẹ cắn răng nín nhịn, vì nghĩ mình phận đàn bà con gái, lo cho chồng con thì tiếc gì mấy chỉ vàng lận lưng. Nhưng con nhìn coi, giờ ổng ngã xuống nằm một chỗ thế kia, người ta kéo tới tận xưởng đòi chia phần, đòi cấn đất, đòi xiết từng cái máy đóng chai…

Lan siết chặt xấp biên nhận bán vàng trong lòng bàn tay. Giấy pơ-lu ráp và giòn lạo xạo dưới những đầu ngón tay đang run rẩy của cô. Từng con số, từng dòng ngày tháng viết tay không chỉ đơn thuần là những chứng từ tài chính cũ rích; chúng là những vết sẹo vô hình hằn sâu vào cuộc đời của một người đàn bà đứng sau một cơ sở thủ công suốt nửa đời người. Người đàn bà ấy đã âm thầm chứng kiến toàn bộ tài sản riêng hợp pháp của mình bị nghiền nát, bị hòa tan và bốc hơi vào một guồng quay kinh doanh gia đình mông lung, một bộ máy sản xuất thủ công chưa từng biết đến khái niệm hạch toán chi phí hay khấu hao tài sản cố định.

— Mẹ đưa cho con hết mớ này, — Lan ngước lên nhìn mẹ, ánh mắt nghiêm nghị, sắc sảo của một người làm kiểm toán trỗi dậy, lấn át nỗi xót xa con trẻ đang cào xé trong ngực. — Không chỉ có mấy tờ giấy bán vàng này, đúng không mẹ? Tập giấy lớn dán băng keo phía dưới là gì?

Bà Hạnh run run đẩy nốt phần tài liệu thứ hai sang phía Lan:

— Văn tự mua bán đất. Từ hồi ông bà ngoại mày còn sống chia cho mẹ, với giấy tờ ba mày mua thêm phía sau để cơi nới xưởng ủ. Con học hành chữ nghĩa đàng hoàng, con lên tận Sài Gòn làm sổ sách cho công ty lớn, con xem giùm mẹ xem người ta có quyền đuổi mẹ con mình ra khỏi mảnh đất này không… Mấy hôm nay cô Dung mày dọa dữ quá, mẹ nằm đêm nào cũng giật mình thon thót, cứ mơ thấy người ta đem xe ủi tới cào nát bàn thờ ông bà ngoại…

Lan hít một hơi sâu, kéo chiếc đèn bàn lại gần hơn để ánh sáng rọi thẳng vào xấp hồ sơ địa chính cũ. Cô trải phẳng từng tờ tài liệu lên mặt bàn gỗ trầy xước. Bằng phản xạ nghề nghiệp của một kiểm toán viên từng lật giở hàng ngàn bộ hồ sơ pháp lý doanh nghiệp phức tạp, Lan bắt đầu bóc tách từng mốc thời gian, từng con dấu của chính quyền địa phương qua các thời kỳ, phân loại chúng theo tọa độ địa lý và nguồn gốc hình thành tài sản.

Và ngay ở trang thứ ba của tập hồ sơ, một sự thật pháp lý then chốt hiện ra rõ ràng dưới mắt Lan, khiến lồng ngực cô thắt lại trong một cơn chấn động âm thầm.

Tờ giấy viết tay ố vàng có tiêu đề “Tờ Phân Chia Di Sản Hương Hỏa”, lập ngày 12 tháng 5 năm 1988, có chữ ký của ông bà ngoại Lan và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Phong Nẫm cũ (nay thuộc địa giới thành phố Phan Thiết). Nội dung văn bản ghi rất rõ ràng bằng thứ văn phong hành chính mộc mạc thời kỳ đổi mới: Thửa đất số 42, tờ bản đồ số 03, diện tích 320 mét vuông, giáp mặt đường hẻm ven sông Cà Ty, là đất hương hỏa của dòng họ Nguyễn giao riêng cho bà Nguyễn Thị Hạnh toàn quyền sử dụng để dựng nhà ở và thờ cúng tổ tiên. Dưới chân văn bản là con dấu đỏ tươi của chính quyền thời điểm đó, kèm dòng xác nhận tài sản thừa kế riêng biệt, xác lập trước thời điểm bà Hạnh đăng ký kết hôn với ông Võ Văn Thành gần một năm trời.

Lan lật tiếp tập trích lục địa chính đo đạc biến động đất đai năm 1998 và bản đồ đo vẽ hiện trạng năm 2005.

Sự tách biệt về mặt địa chính hiện lên rành rọt, sắc nét như hai cột nợ - có trên một bảng cân đối kế toán mẫu mực. Căn nhà ngói ba gian nơi gia đình Lan đang sinh hoạt, cùng khoảng sân gạch phía trước và gian buồng của ba mẹ, hoàn toàn tọa lạc trọn vẹn trên thửa đất số 42 của bên ngoại để lại riêng cho mẹ.

Trong khi đó, toàn bộ khu xưởng ủ mắm Hải Thành với hai mươi thùng gỗ mít, kho chứa muối Cà Ná, sân phơi chượp và lối xe tải ra vào lại nằm hoàn toàn trên một thửa đất khác: Thửa số 43, diện tích 480 mét vuông, liền kề phía sau. Các văn tự mua bán viết tay đính kèm cho thấy thửa 43 này do chính ông Võ Văn Thành đứng tên mua lại từ hai hộ dân lân cận vào các năm 1994 và 1999 bằng giấy tờ viết tay sơ sài, sau đó mới hợp thức hóa thành đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp đứng tên cá nhân ông Thành khi đăng ký hộ kinh doanh cá thể.

Hơn ba mươi năm qua, gia đình sống chung trên một mảnh đất không hề có hàng rào hay một bờ gạch nào ngăn cách. Bếp ăn nối liền với kho muối, cửa sau buồng ngủ mở thẳng ra dãy thùng ủ khổng lồ, nước rửa mắm sau mỗi mẻ chắt chảy tràn qua mép sân gạch của gian nhà chính. Mùi mắm chín và mùi thức ăn gia đình quyện vào nhau làm một. Sự nhập nhằng về không gian vật lý ấy đã tạo ra một ảo tưởng chết người cho cả gia đình lẫn người ngoài: tất cả họ hàng nội ngoại, bạn hàng dưới bến và các chủ nợ đều đinh ninh rằng từ cổng rào bước vào đến tận bờ sông, toàn bộ mảnh đất này đều là “xưởng mắm của ông Thành”.

— Mẹ… thửa đất căn nhà này là của ngoại để riêng cho mẹ, — Lan cất giọng, cố kìm nén sự rung rẩy đang chực vỡ òa trong thanh quản. — Về mặt pháp lý, đây là tài sản riêng của mẹ hình thành trước thời kỳ hôn nhân. Ba hoàn toàn không có tên trên giấy tờ gốc của thửa 42. Khu xưởng ủ với dãy thùng mắm bên cạnh mới là thửa 43 do ba mua gom sau này. Hai mảnh đất này tuy nằm sát vách nhau, không có tường rào, nhưng là hai số thửa hoàn toàn độc lập trong hồ sơ địa chính của thành phố!

Bà Hạnh chớp mắt ngơ ngác, hai bàn tay thô ráp đan chặt vào nhau trên đầu gối:

— Nghĩa là sao con? Mẹ nghe chữ nghĩa pháp lý mẹ lùng bùng lỗ tai quá… Nghĩa là người ta không có quyền đuổi mẹ con mình, không có quyền xiết cái nhà này để trừ nợ cho xưởng mắm sao con?

— Đúng vậy, mẹ! — Lan gật đầu dứt khoát, ngón tay cô miết mạnh lên con dấu tròn của bản di sản năm 1988. — Dù xưởng mắm có phá sản, dù cô Dung hay bất kỳ bạn hàng nào có nộp đơn kiện ra tòa đòi nợ hộ kinh doanh của ba, thì theo luật định, họ chỉ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên và xử lý tài sản thuộc quyền sở hữu của ba. Nghĩa là họ chỉ có thể đụng vào phần đất xưởng thửa 43, đụng vào dãy thùng mắm và máy móc thiết bị phục vụ sản xuất. Căn nhà này, cái sân gạch này, gian buồng này là tài sản thừa kế riêng biệt của mẹ. Không một chủ nợ nào, không một ai bên họ nội có quyền đụng vào mảnh đất này nếu mẹ không ký tên bảo lãnh hay đem thế chấp vào ngân hàng!

Một tiếng thở dài run rẩy, khô khốc thoát ra từ lồng ngực gầy guộc của bà Hạnh. Bà đưa cả hai bàn tay lên bưng lấy mặt, hai bả vai nhô cao rung lên bần bật dưới ánh đèn leo lét. Bao nhiêu năm trời nơm nớp lo sợ, bao nhiêu đêm thức trắng nhìn ra dãy thùng mắm đen trùi trũi sợ người ta kéo công an, kéo đầu gấu đến niêm phong cửa nhà đuổi cả gia đình ra đường… Tất cả những nỗi kinh hoàng ấy bấy lâu nay chỉ bắt nguồn từ sự mù mờ chữ nghĩa pháp luật, từ sự cam chịu cố hữu của người phụ nữ nông thôn luôn mang nặng định kiến phong kiến rằng “lấy chồng thì gánh giang sơn nhà chồng, của chồng công vợ thì nợ của chồng cũng là nợ của mình”.

Nhưng niềm nhẹ nhõm vừa chớm hé nở trong gian buồng chưa đầy một phút thì ngón tay Lan chợt khựng lại khi cô lật tiếp tờ giấy gấp tư kẹp khuất giữa hai bản trích lục bản đồ địa chính.

Đó là một tờ giấy than mỏng màu xanh nhạt đã sờn rách ở mép gấp, loại giấy than hóa đơn bán lẻ thường dùng trong các cửa hàng bách hóa thập niên trước. Bên trên là những dòng chữ viết tay bằng mực bút bi tím, nét chữ nắn nót, run rẩy nhưng quen thuộc đến thắt lòng.

Lan mở tung tờ giấy gấp tư ra mặt bàn. Dòng chữ đập vào mắt cô khiến hơi thở cô tắc nghẹn lại nơi thanh quản:

*“Tôi là Võ Văn Thành, chủ cơ sở nước mắm Hải Thành, có nhận của em gái là Võ Thị Dung số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) và 03 (ba) cây vàng 24K để mở rộng xưởng mắm, làm thêm bốn thùng chượp và mua máy chiết chai bán tự động. Hẹn ngày xưởng làm ăn ổn định sẽ tính toán phân chia quyền lợi lâu dài. Phan Thiết, ngày 12 tháng 4 năm 2014.”*

Dưới dòng chữ in sẵn “Người nhận tiền” không phải là chữ ký phóng khoáng, gãy góc và đầy vẻ bộc trực của ông Võ Văn Thành.

Nằm chình ình, trơ trọi dưới dòng cam kết chết người ấy là nét chữ mềm mại, hơi nghiêng về bên phải, nét mực tím đã ngấm sâu vào thớ giấy than mỏng manh: *Nguyễn Thị Hạnh ký thay.*

Lan chết sững. Mắt cô mở to, nhìn trân trân vào nét ký thân thuộc của chính mẹ mình. Máu trong người cô dường như đông cứng lại.

— Mẹ… cái này… tờ biên nhận này là sao hả mẹ? — Lan ngước nhìn bà Hạnh, giọng cô run rẩy, thất thanh. — Dưới dòng chữ “nhận tiền mở xưởng, phân chia quyền lợi lâu dài” này… tại sao lại là chữ ký của mẹ?

Bà Hạnh giật thót mình, mặt bà lập tức cắt không còn một giọt máu dưới ánh đèn vàng vọt. Bà nhìn chằm chằm vào tờ giấy than màu xanh nhạt như thể vừa nhìn thấy một con rết độc bò ra từ đáy hộp sắt. Hai bàn tay bà bấu chặt lấy mép chiếc bàn gỗ tròn, móng tay cắm sâu vào lớp sơn bong tróc.

— Mẹ… mẹ ký đó Lan… — bà Hạnh nghẹn ngào, giọng đứt quãng như người đang hụt hơi dưới nước. — Hồi mười năm trước… đúng cái đợt ba mày lặn lội ra tận đảo Phú Quý rồi dạt sang Phan Rang để săn luồng cá cơm xọc tiêu. Ba mày đi biển biền biệt cả tháng trời không về nhà, điện thoại ngoài đảo ngày đó chập chờn sóng gió có gọi được đâu. Ở nhà thì thợ xẻ gỗ mít họ đòi tiền công ráo riết, thợ hồ xây móng thùng chượp dọa dỡ giàn giáo bỏ ngang nếu không có tiền tươi trả trước rằm. Đúng lúc dầu sôi lửa bỏng đó thì cô Dung mày xách một bọc tiền với ba cây vàng sang…

Bà Hạnh nấc lên một tiếng nghẹn ngào, vội đưa mu bàn tay quệt giọt nước mắt vừa trào ra lăn dài trên gò má hốc hác:

— Cô mày ngồi ngay cái bàn này, cô mày khóc lóc bảo: “Anh Hai dặn em mang tiền sang cho chị lo việc xưởng. Nhưng tiền này là tiền mồ hôi nước mắt em buôn bán ngoài chợ gom góp để dưỡng già, chị phải viết cho em một tờ giấy biên nhận để làm tin, có ghi chữ góp mở xưởng làm ăn lâu dài thì em mới dám buông tiền ra cho chị trả thợ”. Lúc đó mẹ đang luống cuống, ngoài sân thợ thuyền đứng vây kín chửi bới, đập bàn đập ghế đòi tiền công. Mẹ nghĩ cô ruột trong nhà, tiền đưa vào xưởng cũng là để mua gỗ, mua máy phục vụ cho nồi cơm của cả gia đình, ba mày về rồi tính sau… Mẹ đâu có ngờ… mẹ đâu có ngờ một chữ ký thay đó lại biến thành cái thòng lọng siết cổ mẹ con mình suốt mười năm trời!

Lan ngồi bất động như một pho tượng đá. Từng chi tiết pháp lý, từng điều khoản trong Luật Dân sự và Luật Hôn nhân gia đình mà luật sư Lê Hoàng Sơn từng phân tích cặn kẽ tại văn phòng luật lập tức chạy dọc qua tâm trí cô như những tia chớp chói lòa.

Khi cô Dung mang bản sao tờ biên nhận này đến xưởng làm ầm ĩ nhằm đòi cổ phần hóa xưởng mắm ở chương 6, luật sư Sơn đã vạch rõ hai điểm cốt tử: thứ nhất, ông Thành vẫn còn sống nên quan hệ thừa kế chưa mở; thứ hai, chữ “góp mở xưởng” trong một tờ giấy biên nhận viết tay không đủ điều kiện pháp lý để xác lập quyền đồng sở hữu hay tư cách thành viên góp vốn nếu không có hợp đồng hợp tác có công chứng và không đăng ký biến động tài sản theo quy định. Nhưng vào thời điểm đó, cả Sơn và Lan đều đinh ninh rằng người ký biên nhận là ông Võ Văn Thành—người đứng tên trên giấy chứng nhận hộ kinh doanh. Họ đã mặc định phân tích nó dưới góc độ một cam kết cá nhân của người đại diện theo pháp luật của xưởng.

Nhưng sự thật phơi bày trước mắt còn trớ trêu và phức tạp hơn gấp bội phần: người đặt bút ký lại chính là bà Hạnh—người không hề có tên trong giấy phép kinh doanh của Hải Thành, nhưng lại là vợ hợp pháp của ông Thành và là chủ sở hữu duy nhất của mảnh đất thổ cư số 42 nơi căn nhà đang tọa lạc!

Về mặt dân sự, việc ký thay mà không có văn bản ủy quyền hợp pháp từ ông Thành tại thời điểm năm 2014 khiến tính chất pháp lý của giao dịch này trở nên vô cùng nhập nhằng và nguy hiểm. Cô Dung hoàn toàn có thể lập luận rằng bà Hạnh đã nhân danh gia đình, nhân danh người vợ để xác lập một nghĩa vụ tài sản chung phục vụ đời sống gia đình, hoặc tệ hại hơn, cô Dung có thể nhắm thẳng vào tư cách cá nhân của bà Hạnh để yêu cầu bà phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với khoản nợ gốc và vàng đó, rồi đòi cấn trừ vào chính mảnh đất thửa 42 của bà! Nhưng ở chiều ngược lại, xét về mặt bản chất doanh nghiệp, chính vì bà Hạnh ký thay mà không có tư cách chủ hộ kinh doanh, tờ giấy này tuyệt đối không thể coi là một văn bản góp vốn thành lập tài sản chung của cơ sở kinh doanh Hải Thành theo luật định. Nó chỉ là một giao dịch vay mượn dân sự cá nhân có yếu tố ký thay chưa hoàn thiện thủ tục đại diện!

— Lan à… mẹ có tội với cái nhà này đúng không con? — Bà Hạnh chồm tới, nắm chặt lấy cẳng tay Lan, những ngón tay gầy guộc run rẩy bấu chặt vào da thịt con gái, nước mắt tràn ra ướt đẫm hai bên gò má nhăn nheo. — Mẹ ký bậy rồi phải không? Cô Dung mày… cô mày sẽ dùng tờ giấy này để cướp mất căn nhà của ông bà ngoại để lại cho mẹ, đúng không con? Mẹ hại cả nhà mình rồi…

— Không, mẹ! Mẹ bình tĩnh nghe con nói, — Lan vội vàng nắm lấy hai bàn tay lạnh ngắt của mẹ, truyền cho bà hơi ấm và sự vững vàng dứt khoát của mình. — Tờ giấy này tuyệt đối không thể giúp cô Dung cướp được căn nhà của mẹ. Mẹ hãy nghe con giải thích cho rõ: đây là chữ ký thay ba để nhận tiền phục vụ việc xưởng, chứ mẹ không hề ký bất kỳ một văn bản thế chấp hay bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất nào đối với căn nhà của mẹ cả! Đất thửa 42 là tài sản riêng, có nguồn gốc thừa kế hương hỏa rõ ràng từ năm 1988, không một tòa án nào, không một ai có thể tự tiện mang tài sản riêng của mẹ đi cấn trừ nghĩa vụ kinh doanh của xưởng nếu mẹ không tự nguyện ra phòng công chứng ký hợp đồng bảo lãnh!

Lan dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào đôi mắt ướt đẫm và hoảng loạn của mẹ, giọng cô đanh lại, từng từ rành rọt như đóng đinh vào không gian:

— Nhưng tờ giấy này cho thấy một sự thật khủng khiếp hơn rất nhiều, mẹ à. Đó là suốt ba mươi năm qua, gia đình mình chưa bao giờ có một ranh giới rõ ràng giữa tiền nhà và tiền xưởng. Mẹ bán vàng tư trang hồi môn để bù lỗ cho xưởng, mẹ ký giấy vay nợ thay ba để xưởng có tiền trả thợ, rồi khi ba bán được mắm thu tiền về, ba lại tùy tiện lấy tiền đó chi tiêu trong nhà mà không hề có bảng lương, không tính chi phí quản lý, không trích lập quỹ dự phòng rủi ro. Mọi thứ cứ bị trộn lẫn, vo tròn lại thành một mớ bòng bong của sự nể nang, tình nghĩa và sự chịu đựng mù quáng!

Bà Hạnh run rẩy gật đầu, tiếng nấc nghẹn ngào vỡ òa ra thành những lời uất ức dồn nén suốt mấy mươi năm thanh xuân chôn vùi trong mùi mắm mặn:

— Đúng… đúng là như vậy đó Lan! Cứ mỗi lần xưởng gặp sóng gió, mỗi lần biển động thất bát là mọi tai ương lại trút hết lên đầu mẹ, trút hết lên cái nhà này! Hồi ba mày chưa ngã xuống, tiền bán mắm được đồng nào là khách dưới chợ nợ, bạn hàng ngoài bến nợ. Đến khi trong nhà cần tiền mua mớ rau, con cá, cần tiền mua hộp sữa, viên thuốc cho ổng thì lại phải thò tay vào két sắt của xưởng rút ra dăm ba trăm ngàn, một hai triệu bạc. Rồi thợ thuyền, người làm công trong xưởng nhìn vào, họ xì xào sau lưng, họ nghĩ mẹ con mình bòn rút tiền của xưởng, họ nghĩ gia đình mình sống sung sướng, ăn trên ngồi trốc trên mồ hôi của họ!

Bà Hạnh quẹt mạnh tay áo lên mặt, ánh mắt của người đàn bà vốn luôn nhẫn nhục, im lặng trước người chồng gia trưởng bỗng bùng lên một tia sáng kiên quyết lạ thường. Bà nắm chặt lấy cổ tay Lan, kéo sát con gái về phía mình, giọng bà run lên nhưng dứt khoát đến lạnh lùng:

— Lan! Mẹ van con, mẹ cấm con không được để cái xưởng này cuốn phăng nốt căn nhà này nữa! Từ ngày mai, con phải lập một cái quỹ riêng biệt cho ba mày. Tiền thuốc men, tiền viện phí, tiền ăn uống, tiền thuê người phụ mẹ đỡ ổng dậy tập vật lý trị liệu… phải rạch ròi ra từng đồng một! Một tháng cần bao nhiêu tiền sinh hoạt cho cái nhà này, con phải trích riêng ra, cất vào một chỗ cho mẹ. Hết tiền xưởng thì xưởng dừng hoạt động, cho thợ nghỉ việc, chứ tuyệt đối không được tiện tay thò vào két sắt bòn rút như hồi xưa, và càng không bao giờ được phép đem căn nhà của ông bà ngoại đi cầm cố hay vay mượn cho bất kỳ đơn hàng nào nữa! Nếu cái xưởng mắm này không thể tự nuôi nổi bản thân nó mà cứ mở miệng đòi nuốt luôn chốn dung thân cuối cùng của mẹ con mình… thì dẹp nó đi, con nghe không? Dẹp nó đi!

Tiếng bà Hạnh vang lên như một lời tuyên ngôn đau đớn, vừa cay đắng vừa quyết liệt, xé toạc lớp vỏ bọc “hy sinh vì cơ nghiệp gia đình” mà người phụ nữ này đã phải cắn răng khoác lên mình suốt hơn ba mươi năm qua.

Lan nhìn sâu vào đôi mắt trũng sâu, đỏ hoe vì kiệt sức của mẹ. Cô cảm nhận được sức nặng ngàn cân đang đè trĩu lên từng đốt xương, từng sợi gân của người đàn bà gầy guộc ấy. Lời đòi hỏi của mẹ không hề xuất phát từ sự ích kỷ hay toan tính thiệt hơn; đó là bản năng sinh tồn trần trụi và thiêng liêng nhất của một người mẹ muốn bảo vệ lấy một mái nhà, một mảnh đất cắm dùi cuối cùng cho những đứa con và người chồng đã tàn phế.

Sống mũi Lan cay xè. Một cảm giác nghẹn ứ, buốt nhói dâng lên từ lồng ngực, bóp nghẹt khí quản của cô.

Cô nhìn xấp giấy biên nhận bán vàng đã ngả màu úa tàn, nhìn tờ giấy nợ cô Dung có nét chữ ký thay run rẩy của mẹ, rồi nhìn xuống đôi bàn tay mình—đôi bàn tay của một cô gái ba mươi tư tuổi từng tràn đầy kiêu hãnh bước ra từ những tòa cao ốc văn phòng máy lạnh ở Sài Gòn, từng tự tin rằng những bảng tính Excel tinh vi, những chuẩn mực kế toán quốc tế và các mô hình quản trị dòng tiền hiện đại có thể dễ dàng giải cứu một cơ sở thủ công truyền thống. Cô đã trở về đây, gồng mình lên đóng vai một người chèo lái kiên cường, một mình đứng ra đối mặt với những cuộc thanh tra ngặt nghèo của kiểm định viên Nam Lộ, đối chất sắc bén với Phan Quốc Lợi, dàn xếp từng đồng công nợ bủa vây với Huỳnh Văn Tư, nuốt nước mắt thuyết phục thợ dời lịch trả lương… Cô luôn cố tỏ ra cứng rắn, bản lĩnh trước mặt mẹ và em trai, tạo cho họ một cảm giác an tâm giả tạo rằng cô có một nguồn lực tài chính vô tận để bao bọc cả gia đình.

Nhưng sự thật trần trụi thì sao?

Lan vòng hai tay qua, ôm chặt lấy bờ vai gầy guộc đang run rẩy của bà Hạnh. Tựa cằm lên mái tóc hoa râm ngập mùi khói bếp, mùi dầu tràm và hơi muối của mẹ, Lan thấy những giọt nước mắt nóng hổi mà cô đã cắn răng kìm nén suốt hai tuần lễ vừa qua cuối cùng cũng vỡ òa, lăn dài trên má.

— Mẹ… con xin lỗi mẹ, — Lan thì thầm, giọng cô vỡ vụn trong bóng tối lờ nhờ của gian buồng. — Con cũng có một chuyện giấu mẹ với em Phúc từ ngày con bước chân về nhà tới giờ…

Bà Hạnh khựng lại, ngước khuôn mặt ướt đèm lem luốc lên nhìn con gái:

— Chuyện gì vậy con? Con giấu cái gì với mẹ?

Lan hít một hơi thật sâu, nuốt sự tủi thân và cả lòng tự ái nghề nghiệp vào tận đáy lòng, lần đầu tiên thú nhận tình trạng tài chính thực sự mà cô đã giấu kín:

— Khoản tiền tiết kiệm cá nhân của con… cái sổ tiết kiệm bốn mươi tám triệu hai trăm ngàn mà con tích cóp ròng rã suốt mấy năm trời đi làm kiểm toán trên Sài Gòn… nó đã vơi đi quá nửa rồi mẹ. Đêm đầu tiên ba ngã xuống nhập viện cấp cứu, tài khoản xưởng bị ngân hàng phong tỏa vì nợ quá hạn, con đã phải bí mật rút mười lăm triệu tiền túi ra để đóng tạm ứng viện phí cho ba. Rồi tuần trước, để bà Quyên chịu chở năm ngàn vỏ chai thủy tinh về xưởng cho kịp tiến độ hợp đồng với Nam Lộ, con lại phải trích thêm năm triệu từ tài khoản riêng bù vào khoản tiền thu nợ thiếu hụt dưới chợ…

Giọng Lan run lên từng chặp, nhưng từng con số thốt ra vẫn chuẩn xác và rành rọt đến nhói lòng:

— Hiện tại, trong tài khoản riêng của con chỉ còn đúng hai mươi tám triệu hai trăm ngàn đồng. Quỹ tiền mặt của xưởng Hải Thành sau khi con xuất mười tám triệu trả dứt điểm cho anh An sửa máy chiều nay… chỉ còn lại vỏn vẹn đúng ba triệu một trăm năm mươi ngàn đồng. Mẹ ơi, con không có nhiều tiền như mẹ và Phúc vẫn nghĩ đâu. Con không phải là một bà đỡ vạn năng có thể một mình gánh vác cả cái xưởng rệu rã này nếu nó cứ tiếp tục chảy máu tiền bạc vô tội vạ!

Bà Hạnh sững sờ. Đôi bàn tay thô ráp của bà đưa lên, run rẩy áp vào hai bên gò má ướt đẫm nước mắt của Lan:

— Trời đất ơi Lan… sao con không nói sớm cho mẹ biết? Sao con cứ ôm hết mọi gánh nặng vào thân một mình như vậy hả con? Con gái con lứa…

— Vì con sợ… — Lan nghẹn ngào, những lời gan ruột dồn nén bấy lâu tuôn ra không gì ngăn nổi. — Con sợ nếu con nói ra rằng con sắp cạn tiền, mẹ và Phúc sẽ nghĩ con về nhà mà vẫn so đo, tính toán thiệt hơn với gia đình. Con sợ người ta dị nghị bảo con học hành đỗ đạt, bỏ đi xa mười năm trời nay về nhà lại tiếc tiền không chịu hy sinh cứu ba… Nhưng hôm nay nghe mẹ nói, con mới thực sự tỉnh ngộ, mẹ à. Nếu chúng ta cứ tiếp tục hy sinh theo kiểu mù quáng của ba ngày xưa, cứ lấy tiền túi bù tiền xưởng, lấy tiền ăn của gia đình đắp vào tiền mua muối, tiền bao bì… thì chẳng mấy chốc, cả con, cả mẹ và Phúc đều sẽ kiệt quệ hoàn toàn. Đến lúc đó, ba cần một viên thuốc trợ tim chúng ta cũng không còn một đồng xu dính túi mà mua!

Lan đưa tay gạt khô nước mắt trên mặt mình, rồi cẩn thận lấy vạt khăn tay lau sạch những vệt nước mắt còn đọng trên gò má mẹ. Ánh mắt cô lấy lại vẻ sắc lạnh, kiên định vốn có của một chuyên gia tài chính:

— Mẹ nói hoàn toàn đúng. Chúng ta phải thiết lập kỷ luật tiền bạc rạch ròi ngay từ đêm nay. Tiền nhà là tiền nhà, tiền xưởng là tiền xưởng! Tiền sinh hoạt gia đình không phải là phần vụn vặt còn sót lại sau khi xưởng đã vung tay chi trả cho thiên hạ!

Lan kéo chiếc túi xách lại gần, rút cuốn sổ tay bọc da nhỏ và cây bút bi ra, lật sang một trang giấy trắng tinh. Dưới ánh đèn vàng vọt, cô vạch ra từng dòng, từng con số rõ ràng trước mặt bà Hạnh:

— Bắt đầu từ ngày mai, con lập riêng một Quỹ Sinh Hoạt Gia Đình. Mỗi tháng, bất kể xưởng lời hay lỗ, cơ sở Hải Thành bắt buộc phải có nghĩa vụ trích cố định sáu triệu đồng nộp vào quỹ này trước mọi khoản chi khác. Ba triệu dùng riêng cho tiền thuốc men, bỉm tã và chi phí thuê người hỗ trợ trị liệu phục hồi chức năng cho ba; ba triệu giao trọn cho mẹ để đi chợ, lo cơm nước sinh hoạt cho cả nhà. Phúc làm việc vận chuyển, bốc vác ở xưởng, con sẽ tính lương cứng đàng hoàng cho nó mười triệu mỗi tháng, có hợp đồng lao động hẳn hoi, chấm dứt hoàn toàn cái thói quen làm không lương rồi thích lấy bao nhiêu thì thò tay vào két sắt. Bản thân con điều hành xưởng, con cũng chỉ nhận một khoản phụ cấp sinh hoạt tối thiểu để sống, không ai được phép đụng vào một đồng tiền mặt nào của quỹ chung nếu không có phiếu chi và chữ ký hợp lệ!

Lan chỉ tay vào xấp văn tự đất đai năm 1988 và tờ biên nhận mười năm trước:

— Toàn bộ tập hồ sơ này, sáng mai con sẽ đích thân mang đến văn phòng luật sư Lê Hoàng Sơn để lập vi bằng lưu trữ an toàn. Mảnh đất căn nhà thửa 42 này là lằn ranh đỏ của mẹ con mình. Bất kỳ ai—dù là cô Dung, ngân hàng hay bất kỳ đối tác nào—nếu có ý đồ đụng vào mảnh đất này, con sẽ dùng toàn bộ cơ sở pháp lý vững chắc này để chặn đứng họ lại. Xưởng Hải Thành từ nay trở đi phải tự bơi bằng dòng tiền thương mại của chính bản thân nó. Nếu lô hàng Bếp Bờ Biển này giao thành công, dòng tiền về xưởng sẽ sống tiếp bằng nội lực sòng phẳng. Còn nếu nó thất bại… thì chỉ có khu xưởng ủ thửa 43 và máy móc chịu trách nhiệm xử lý nợ, gia đình mình vẫn giữ trọn vẹn được căn nhà này để ba có chốn an dưỡng tuổi già!

Bà Hạnh nhìn con gái ghi chép rành rọt từng con số, từng điều khoản dứt khoát trên trang giấy trắng. Đôi mắt người mẹ ánh lên một sự an tâm sâu thẳm mà suốt hơn ba mươi năm làm dâu, làm vợ bà chưa từng có được bên người chồng chỉ biết sống bằng chữ tín mơ hồ và những lời hứa miệng suông. Bà gật đầu thật mạnh, hai bàn tay siết chặt lấy tay con:

— Được. Cứ làm đúng như vậy đi con. Mẹ tin con.

Bên chiếc giường gỗ lim quạnh quẽ, chiếc gối cũ của ông Võ Văn Thành vẫn nằm đó, như một lời nhắc nhở câm lặng về người cha đang từng giờ giành giật sự sống trên giường bệnh ngoài thị xã. Lan khẽ đưa tay vuốt lại mép chăn dạ còn vương mùi dầu tràm quen thuộc. Trong ký ức về ánh mắt mờ đục, ngập tràn bất lực của người cha từng một thời ngang dọc sóng gió khi nhìn con gái qua song sắt giường bệnh, Lan nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của chính mình—một người con không còn gánh vác cơ nghiệp bằng sự nhẫn nhịn cam chịu của quá khứ, mà bằng sự tỉnh táo, sòng phẳng và kiên định của hiện tại.

***

Bốn mươi tám giờ tiếp theo tại Phan Thiết trôi qua như một guồng quay cơ khí khổng lồ, nghẹt thở và không có một giây phút dừng lại.

Ngay sáng hôm sau, đúng bảy giờ ba mươi, chiếc xe lôi chở Lê Quốc An cùng hai người thợ cơ khí lành nghề đã đỗ xịch trước cổng điểm đóng chai Phong Nẫm. Toàn bộ các kiện hàng chứa linh kiện inox 316 chuẩn thực phẩm, bộ gioăng cao su chịu mặn cao cấp và cụm piston khí nén chuyên dụng gửi từ chợ Kim Biên trong đêm đã được tập kết đầy đủ trên sàn xưởng. Tiếng búa gõ kim loại chan chát, tiếng máy mài cầm tay rè rè tóe lửa và mùi mỡ bò công nghiệp đặc quánh bao trùm toàn bộ không gian nhà xưởng vốn chỉ quen với mùi mắm nồng.

Lê Quốc An cởi trần, lưng áo ướt đẫm mồ hôi, trực tiếp cầm cờ-lê căn chỉnh từng góc nghiêng của cụm vòi chiết. Anh tháo tung toàn bộ bốn đầu vòi chiết cũ kỹ đã bị muối ăn mòn ren ốc, thay thế bằng cụm van tiết lưu inox 316 sáng bóng. Bộ gioăng cao su chịu kiềm mặn mới được lắp khít khao vào từng khớp nối, loại bỏ hoàn toàn hiện tượng rỉ giọt áp suất thấp. Lan túc trực bên cạnh với chiếc đồng hồ bấm giờ và bảng tiêu chuẩn kỹ thuật trên tay, ghi chép lại từng thông số áp lực nén của bình tích khí. Đúng bốn mươi tám giờ sau tối hậu thư đầy căng thẳng của kiểm định viên Phạm Đức Tín, dàn máy chiết rót bốn vòi và máy dập nắp bán tự động đã được khởi động lại. Tiếng pít-tông dập xuống nghe đanh gọn, dứt khoát, áp lực khí nén duy trì ổn định ở mức 6 bar. Từng dòng nước mắm vàng óng chảy đều tăm tắp vào lòng chai thủy tinh mà không làm bắn tung tóe hay rò rỉ dù chỉ một giọt nhỏ làm lem nhãn bao bì.

Cùng lúc đó, ở góc sân sau, tổ thợ nề do chị Liên giám sát cũng đã hoàn thành việc cải tạo rãnh thoát nước thải. Lớp xi măng chống thấm mác cao được láng phẳng lì, tạo độ dốc chính xác hai phần trăm xuôi thẳng về hố thu gom nước thải tập trung, chấm dứt hoàn toàn cảnh nước rửa sàn ứ đọng tạo thành những vũng nước đen ngòm vi phạm tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.

Đêm thứ ba, toàn bộ mười bốn thợ xưởng ủ dày dạn kinh nghiệm và bốn nữ công nhân đóng chai được chia làm hai ca tăng cường, bước vào trận đánh quyết định thấu đêm dưới sự giám sát trực tiếp của Lan và chị Liên.

Từ hai thùng chượp đạt chuẩn TH-02 và TH-03, dòng nước mắm nhĩ cốt đạm 35°N màu nâu cánh gián đậm đà, trong vắt như hổ phách, dậy lên mùi thơm nồng nàn đặc trưng của cá cơm than ủ đủ mười tám tháng ròng rã, được dẫn qua hệ thống ống dẫn thực phẩm khép kín vào bồn trung chuyển. Máy chiết rót chạy liên tục không ngừng nghỉ. Những bàn tay thoăn thoắt của công nhân đưa từng vỏ chai thủy tinh 500ml vào vòi, dập nắp nhôm định hình, luồn màng co nhiệt qua máy thổi hơi nóng, rồi cẩn thận dán nhãn Bếp Bờ Biển sắc nét. Từng lốc sáu chai được xếp ngay ngắn vào thùng carton năm lớp cứng cáp. Trên mỗi góc thùng, Lan và Thảo đích thân kiểm tra và dán tem truy xuất nguồn gốc có mã QR khớp hoàn toàn với nhật ký sản xuất, chứng nhận kiểm nghiệm vi sinh và xuất xứ mẻ chượp mà hai người đã thức trắng đêm để hoàn thiện hồ sơ.

Không khí trong xưởng đóng chai hầm hập hơi nóng của màng co nhiệt và nồng nặc mùi mắm chín. Không một ai kêu ca, không một ai phàn nàn. Mười bốn người thợ bạn, những người từng hoang mang lo sợ mất việc, giờ đây tập trung cao độ vào từng thao tác chuyền tay, như thể họ đang cùng nhau hợp lực giữ lấy phao cứu sinh cuối cùng của chính mình.

Năm giờ sáng ngày giao hàng, một lớp sương muối dày đặc từ biển Phan Thiết vẫn còn giăng mờ mịt trên các rặng dừa và những mái tôn ven đường hẻm sông Cà Ty. Tiếng còi xe trầm đục xé tan bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm mai.

Chiếc xe tải thùng kín năm tấn từ từ lùi đuôi xe vào khoảng sân gạch trước cửa xưởng Phong Nẫm. Cửa thùng xe bật mở toang.

Từng kiện hàng trong tổng số năm ngàn chai nước mắm nhãn riêng Bếp Bờ Biển được công nhân chuyền tay nhau bốc xếp nhịp nhàng, ngay ngắn vào thùng xe tải. Chị Liên cầm bảng kê đối soát từng lốc hàng, trong khi Lan đứng bên cạnh tài xế, cẩn thận kiểm tra từng mối niêm phong kẹp chì bằng kim loại theo đúng quy định nghiêm ngặt của biên bản bàn giao kỹ thuật số 01.

Hạn giao lô thử 5.000 chai cho Nam Lộ đã đến; xe tải chở hàng bắt đầu lăn bánh vào kho trung chuyển của Nam Lộ tại Sài Gòn.

Lan đứng bên mép đường đất đỏ, lặng nhìn đuôi chiếc xe tải màu xanh chìm dần vào làn sương sớm đang tan biến dưới ánh bình minh ửng hồng trên mặt biển. Tiếng động cơ xe tải gầm vang xa dần, để lại phía sau mùi khói dầu ngai ngái quyện với hương mắm cá nồng nàn. Lô hàng đầu tiên đã ra khơi trên mặt đường bộ, mang theo toàn bộ hy vọng, danh dự và cả sự rạch ròi sòng phẳng mới được thiết lập của xưởng mắm Hải Thành. Cơn thử thách khắc nghiệt nhất của hợp đồng gia công đã vượt qua được một chặng đường sinh tử, nhưng Lan biết rất rõ, ở điểm đến Sài Gòn xa xôi kia, quy trình kiểm định nhập kho của tập đoàn Nam Lộ mới là cánh cửa sắt thực sự quyết định sự tồn vong của gia đình cô.

Gió biển sớm mai thổi tạt vào mặt Lan những giọt sương mặn chát. Cô hít một hơi thật sâu lồng ngực, quay lưng bước trở lại vào căn nhà cũ, nơi ánh đèn vàng trong gian buồng của ba và mẹ vẫn đang kiên nhẫn thắp sáng một góc trời. Con đường phía trước còn dài dằng dặc, nhưng những ranh giới vô hình đã được vạch ra rõ ràng, và cô sẽ không bao giờ cho phép bất kỳ ai—kể cả chính những người thân ruột thịt—được quyền dẫm đạp lên lằn ranh ấy một lần nữa.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn