Sổ Nợ Nhà MìnhC.11 / 35
Chương 11

Một mẻ không nên rút

Gió đêm luồn qua những khe vách gỗ dựng bằng ván bìa của xưởng ủ, mang theo hơi muối mặn chát và cái ẩm lạnh rười rượi bốc lên từ mặt sóng cửa sông Cà Ty. Thứ gió biển đặc trưng của Phan Thiết khi về khuya không làm dịu đi không khí oi nồng bên trong gian nhà vòm, mà chỉ khiến mùi bổi, mùi cá cơm phân rã và mùi gỗ mít ngậm mắm qua hàng chục năm thêm phần đậm đặc, quánh lại như một khối vô hình treo lơ lửng giữa trần xưởng.

Ngọn đèn dây tóc bốn mươi oát mắc tạm bợ trên sợi dây điện bọc vải cũ kỹ đung đưa nhè nhẹ theo từng đợt gió thốc qua mái tôn. Quầng sáng vàng vọt, tù mù rọi xuống mặt bàn đá mài loang lổ những vệt nước bổi khô két lại tự bao giờ. Dưới quầng sáng chập chờn ấy, cuốn sổ tay bìa bọc nylon rách mép nằm im lìm, phẳng lặng nhưng nặng trĩu tựa một phiến đá tảng vừa được lôi ra từ đáy sâu.

Lan không vội vã đưa tay mở sổ. Cô ngồi bất động, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên mặt bàn lạnh ngắt, mắt nhìn chăm chú vào đôi bàn tay của người thợ cả đang gác trên hai đầu gối.

Đó là đôi bàn tay của một đời người gắn chặt với muối và cá: những ngón tay ngắn, bè bè, da mu bàn tay sần sùi nứt nẻ hệt như vỏ cây đước ngâm nước mặn lâu ngày; nơi các kẽ móng tay cáu lại những vệt bổi thẫm màu nâu đen mà dù có dùng bàn chải sợi đồng cọ rửa cỡ nào cũng không tài nào sạch nổi. Đôi bàn tay ấy, chỉ chừng năm phút trước thôi, đã run rẩy móc cuốn sổ từ sâu trong túi chiếc áo bà ba vải ú bạc phếch, đặt xuống bàn bằng một cử chỉ vừa sợ sệt, vừa như muốn buông xuôi tất cả. Nó run rẩy như thể vừa trút bỏ một khối chì nặng cả tấn đè nghẹn trong lồng ngực suốt hơn một năm ròng.

Lan kéo cuốn sổ về phía mình. Lớp nylon dẻo bọc ngoài bìa đã ố vàng, ngả sang màu mỡ gà đục ngầu như da trâu luộc dở, bốn góc bìa tưa rách xơ xác, được gia cố vụng về bằng mấy mẩu băng keo vàng đục bám đầy bụi đen và vảy muối khô.

Ngay khi ngón tay cô lật trang giấy đầu tiên, một luồng mùi quen thuộc xộc thẳng vào khứu giác: mùi mồ hôi chua nồng ngấm vào giấy xốp, quyện lẫn mùi mắm chín ngấu và mùi ẩm mốc của những đêm canh thùng kéo dài đằng đẵng.

Từng trang giấy kẻ ô ly học trò hiện ra với những dòng chữ nguệch ngoạc, xiêu vẹo viết bằng ngòi bút bi xanh gai góc. Đó là thứ nét chữ trầy trật của một người đàn ông cả đời quen cầm xẻng gỗ đảo chượp, quen ghì tay kéo những tao dây mây siết đai thùng hơn là cầm chiếc bút viết thanh mảnh. Chú Bảy Hòa ghi chép không theo bất kỳ một quy chuẩn sổ sách hay nguyên tắc kế toán nào. Không có cột mục thu chi, không có ngày tháng theo lịch hành chính rõ ràng; tất cả được neo lại theo con trăng, con nước rong nước kém, và những biến cố bất thường của trời đất duyên hải.

Lan lật chậm rãi từng tờ một. Tiếng giấy sột soạt khô khốc vang lên giữa không gian tĩnh mịch của xưởng ủ. Ánh mắt cô dừng lại ở phần ghi chép nằm lọt thỏm giữa cuốn sổ, nơi góc trên cùng có dòng chữ viết hoa run rẩy: *“THÙNG SỐ 4 – TH-04”*.

*“Rằm tháng chín âm. Đợt cá cơm than mười tấn của ghe thằng Tư cập bến lúc chập tối. Trời đổ dông dập dồn. Chuyển cá vô thùng số 4 tới quá nửa đêm thì giông giật rách toạc bạt che góc đông bắc. Nước mưa từ mái máng tôn xối xả tràn vô miệng thùng trước khi kịp dằn vỉ. Đã hớt lớp muối mặt, rải thêm hai tạ muối hạt khô đè lên lớp bổi. Nhưng mắm ngấm nước ngọt non. Rút thử lù thấy nước đục, mùi tanh khét nhẹ, không lên được hương bùi.”*

Dưới những dòng chữ ấy là những khoảng ngắt quãng dài dằng dặc. Ba tháng sau, mực bút bi chuyển sang màu tím nhạt: *“Tháng ba: Màu sẫm đen, không cánh gián. Đạm lửng lơ. Hơi khét.”*

Bảy tháng sau, nét bút ấn sâu xuống mặt giấy đến mức đường gân hằn rách cả mặt sau: *“Tháng bảy: Nắng gắt nhưng không khử được mùi tanh ngái. Nguy.”*

Và dòng ghi chép gần nhất, mực lem nhem vì dính nước: *“Tháng mười: Mực nước chỉ dám rút kéo cầm chừng. Thiếu hơn ngàn lít mắm nhĩ chuẩn.”*

Lan thở hắt ra một hơi dài, buốt lạnh cả lồng ngực. Từng dòng chữ như những chiếc gai nhọn đâm vào mắt cô. Cô từ từ ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào người thợ cả đối diện.

Chú Bảy Hòa ngồi co ro trên chiếc ghế đẩu gỗ mun thấp lè tè. Người thợ cả năm mươi tám tuổi, người từng một tay dựng nên từng hàng thùng gỗ mít cho xưởng Hải Thành từ những ngày đầu lập nghiệp, giờ đây như teo tóp lại. Hai vai chú so lên sát tai, đầu gục thấp đến mức cằm gần như chạm vào ngực áo. Dưới ánh đèn vàng vọt, đôi mắt trũng sâu của chú đỏ hoe, chằng chịt những tia máu vỡ vì bao đêm mất ngủ triền miên và nỗi sợ hãi gặm nhấm. Tiếng thở của chú nặng nhọc, khò khè phát ra từ lồng ngực lép kẹp, nghe như tiếng bễ rèn rỉ sét đang rên xiết trong bóng tối.

— Chú tính giấu ba cháu đến bao giờ?

Lan cất tiếng. Giọng cô trầm và bình thản đến mức chính cô cũng cảm thấy ngạc nhiên. Trong thanh âm ấy không có sự giận dữ lôi đình, không có sự gay gắt của một người quản lý bắt quả tang cấp dưới phạm sai lầm. Nó chỉ mang theo sự mệt mỏi trĩu nặng của một người vừa nhìn thấy vết nứt chí mạng trên thân đê chắn sóng ngay trước mùa bão lũ.

Chú Bảy Hòa giật nảy mình. Hai bàn tay chú bấu chặt lấy gấu quần bà ba, siết mạnh đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra, run rẩy không kìm lại được:

— Chú… chú tính rút kéo rồi chia nhỏ ra, con Lan ơi… — Giọng chú nghẹn lại, khàn đặc như có muối hột cọ xát vào thanh quản. — Đợt đó giông lớn quá, gió thổi bạt cả người, giật lật cả tấm bạt nhựa ba màu dày cui. Mười tấn cá cơm than tươi rói ngoài sân đã trộn muối theo tỷ lệ ba phần một rồi, nếu không hối hả đổ tiếp vô thùng thì hỏng sạch mười tấn cá tươi. Chú nghĩ… chú nghĩ rải muối dày dằn lên mặt bổi rồi sau này kéo đảo liên tục thì nước mưa nó bốc hơi hết. Ai dè… ai dè nước mưa đầu mùa nó độc địa quá con ơi. Nó ngấm sâu xuống tận đáy vỉ tre, ngấm vô tận cái lù. Mẻ mắm nó không hư thối hẳn, nhưng mùi nó khét lẹt, ngai ngái cái mùi đạm sống bị ôi…

Người thợ cả ngước mắt lên nhìn Lan. Trong ánh nhìn đục ngầu ấy là sự van lơn hèn mọn xen lẫn nỗi nhục nhã ê chề của một người thợ lành nghề mấy mươi năm bỗng chốc nhận ra mình đã làm hỏng một kiệt tác:

— Chú tính… chú tính đợi mắm chín tròn mười tám tháng, rút kéo thùng số 4 ra được chừng hai ngàn lít mắm cốt đầu, rồi chia nhỏ ra… Mỗi thùng chuẩn như thùng 2, thùng 3, thùng 5, thùng 6, thùng 7, thùng 8… mỗi thùng chú châm vô vài trăm lít thôi. Mắm mấy thùng kia đạm cao ngất ngưởng, hương thơm lừng lẫy, sắc mắm đỏ au như hổ phách, mình phối vô từ từ từng can một thì mùi khét nó lặn mất tăm, không ai ngửi ra được đâu con. Người ăn bình thường ở chợ làm sao biết được… Người ta chỉ thấy mắm đậm đà là mua thôi mà…

— Chú định phi tang khuyết điểm? — Lan ngắt lời, từng chữ thốt ra dứt khoát như một nhát dao chém xuống mặt bàn.

— Chú sợ! — Chú Hòa bỗng run bắn lên, hai giọt nước mắt đục ngầu ứa ra từ khóe mắt chằng chịt nếp nhăn, lăn chầm chậm trên gò má xạm đen vì nắng gió biển mặn. — Chú sợ ba mày lắm, Lan ơi. Tính anh Hai Thành nóng như lửa tánh, nguyên tắc sắt đá cả đời ai mà không biết. Mẻ cá đó tiền mua cá tươi ngoài bến, tiền muối hạt Cà Ná, tiền công anh em thợ bốc vác thâu đêm ngót nghét gần một trăm triệu đồng bạc của xưởng. Nếu ba mày biết chú sơ ý làm rách bạt để nước mưa xối vô thùng làm hư mẻ cá, ổng không chỉ chửi chú tắt bếp mà ổng còn đuổi việc chú ngay tắp lự. Chú làm ở đây hai mươi lăm năm rồi con… Từ hồi cái sân xưởng này còn là bãi cát trắng phau, lau sậy mọc lút đầu gối, chú với anh Hai khiêng từng tấm gỗ mít về dựng trại… Giờ già cả rồi, mang tiếng làm hỏng mẻ mắm, chú còn mặt mũi nào nhìn thợ thuyền, nhìn xóm giềng bên sông… Rồi vợ con chú sống bằng cái gì nếu bị đuổi…

Sự im lặng bao trùm lấy góc xưởng ủ. Tiếng sóng biển từ ngoài cửa sông dội vào bờ kè nghe ì oạp, xa xăm và cô độc. Gió đêm thốc mạnh hơn vào vách tôn, phát ra những tiếng lộp độp khô khốc. Phía sau lưng họ, hai mươi thùng chượp khổng lồ đứng sừng sững trong bóng tối như những pháo đài im lìm. Mùi mắm chín từ các thùng ủ lâu năm vẫn tỏa ra đều đặn—ấm nồng, mặn mòi, ngọt hậu—thứ mùi hương đã nuôi sống cả gia đình Lan, nuôi sống mười bốn gia đình thợ thuyền qua bao nhiêu mùa dâu bể.

Lan nhìn cuốn sổ bọc nylon bạc phếch đặt trước mặt. Những con số, những phép tính nghiệt ngã lập tức xoay vần trong tâm trí cô.

Thùng số 4 chứa khoảng hai ngàn lít nước mắm cốt nhĩ loại một dự kiến rút đợt đầu. Trong phương án dòng tiền mà Lan vừa thức trắng mấy đêm liền để vạch ra nhằm cứu xưởng thoát khỏi bờ vực phá sản, hai ngàn lít mắm cốt này chính là nguồn hàng xương sống. Cô cần nó để phối trộn, chiết rót cho lô hàng thử nghiệm năm ngàn chai nhãn riêng mang tên “Bếp Bờ Biển” của chuỗi siêu thị Nam Lộ. Đồng thời, một phần sẽ được xuất bán ngay cho các mối bán buôn quen thuộc để thu hồi lượng tiền mặt khẩn cấp, kịp trả nốt nửa tháng lương còn lại cho anh em thợ vào ngày rằm tới đây.

Nếu gạch tên thùng số 4, xưởng Hải Thành sẽ hụt ngay lập tức hai ngàn lít cốt nhĩ có độ đạm cao. Lô hàng cung ứng cho Nam Lộ sẽ rơi vào tình trạng thiếu hụt nguyên liệu trầm trọng, hoặc cô sẽ buộc phải rút non nước bổi từ các thùng mới chỉ ủ được mười hai tháng—đồng nghĩa với việc tự tay bóp chết chất lượng, tự tay vi phạm cam kết kỹ thuật.

Nhưng nếu nhắm mắt làm theo cách của chú Hòa?

Lan hít một hơi sâu, luồng không khí mặn chát tràn vào phổi làm cô tỉnh táo đến rợn ngườị Cô nhìn thẳng vào đôi mắt đang ngập tràn van lơn của người thợ già, giọng cô đanh lại, từng lời từng chữ rành rẽ như tiếng búa nện niêm phong:

— Chú Hòa, chú nghĩ hợp đồng nhãn riêng của một hệ thống bán lẻ như Nam Lộ được kiểm soát bằng cái gì? Bằng cái mũi ngửi của ba cháu? Hay bằng cái đầu lưỡi nếm thử của mấy bà nội trợ ngoài chợ Phan Thiết? Họ kiểm soát bằng máy móc của Trung tâm Đo lường Chất lượng Ba—Quatest 3!

Chú Hòa chớp chớp mắt, ngơ ngác nhìn cô. Dường như cái tên “Quatest 3” hoàn toàn nằm ngoài vũ trụ tri thức và kinh nghiệm nửa đời người tích lũy bên bờ sóng của chú.

— Chuyên viên Tín bên Nam Lộ không phải là người để chú qua mặt bằng vài ba mẹo vặt dân gian, — Lan tiếp tục, ngón tay trỏ của cô gõ nhịp dứt khoát lên mặt bàn đá mài. — Khi nghiệm thu lô hàng, anh ta sẽ trực tiếp xuống tận xưởng, tự tay niêm phong mẫu lấy từ van đáy trước sự chứng kiến của cả hai bên. Mẫu mắm đó sẽ được gửi thẳng vào phòng thí nghiệm, đưa vào máy ly tâm, máy đo quang phổ và hệ thống sắc ký khí. Nước mưa rơi vào lớp bổi không đơn giản chỉ là làm loãng muối. Nước mưa mang theo tạp khuẩn từ không khí, bẻ gãy hoàn toàn chu trình lên men yếm khí tự nhiên của cá cơm than. Đạm axit amin không thể phân giải trọn vẹn mà bị phân hủy dở dang, sinh ra đạm ammoniac—thứ mà dân làm nghề mình gọi là đạm thối!

Lan ngừng lại một nhịp, nhìn xoáy vào gương mặt đang dần tái mét đi của chú Hòa:

— Nếu chú đem hai ngàn lít mắm của thùng số 4 chia nhỏ, đấu trộn vào sáu thùng mắm chuẩn khác, chuyện gì sẽ xảy ra? Mùi khét có thể bị mùi thơm của mắm già át đi trước lỗ mũi người thường, nhưng chỉ số nitơ ammoniac trên tổng nitơ của toàn bộ sáu thùng đó sẽ vọt qua ngưỡng cho phép ngay lập tức. Hàm lượng Histamine sẽ tăng vọt! Chỉ cần một mẫu thử của Quatest 3 phát hiện đạm thối vượt ngưỡng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, Nam Lộ sẽ lập tức đình chỉ hợp đồng. Họ sẽ hủy toàn bộ năm ngàn chai, thu hồi lại hai mươi tư triệu tiền tạm ứng, và phạt vi phạm tám phần trăm tổng giá trị hợp đồng. Tệ hơn tất cả những thứ đó, thông tin xưởng Hải Thành gian lận, đem mắm ôi khét đi trộn để giao hàng sẽ bị họ phát thông báo nội bộ trên toàn bộ hệ thống thu mua thực phẩm miền Nam. Khi đó, không phải chúng ta mất một trăm triệu của thùng số 4, mà xưởng Hải Thành sẽ mất trắng toàn bộ đường sống! Mất sạch cái tên tuổi mà ba cháu đã đánh đổi ba mươi năm mồ hôi nước mắt để gây dựng!

Mỗi lời Lan thốt ra như một tảng đá ném thẳng vào khoảng không gian chật hẹp. Chú Bảy Hòa run bần bật, hai bờ môi khô khốc mím chặt lại, mồ hôi túa ra bóng nhẫy hai bên thái dương bạc trắng. Chú có thể không hiểu sắc ký khí hay máy ly tâm, nhưng chú hiểu tường tận ý nghĩa của những con số phạt tiền, và trên hết, chú hiểu nỗi nhục nhã của một kẻ làm nghề truyền thống bị bêu tên là phường gian dối.

— Chú… chú hồ đồ quá… Chú chỉ nghĩ đơn giản như ngoài chợ… — Chú nghẹn ngào, hai bờ vai sụp hẳn xuống, lưng còng rạp như thể không còn chút sức lực nào để nâng đỡ thân hình gầy guộc. — Vậy giờ… giờ tính sao hả Lan? Đổ bỏ hết mười tấn chượp đó hả con? Trời đất ơi… đổ bỏ thì uổng tội chết, mang tội với biển, mang tội với trời…

— Không đổ bỏ, — Lan đứng bật dậy, cầm lấy cuốn sổ tay bìa nylon, ép chặt vào trước ngực mình. — Nhưng tuyệt đối không được rút kéo đem đóng chai cho lô hàng Bếp Bờ Biển. Sáng sớm mai, cháu với chú và thằng Phúc sẽ niêm phong nắp thùng số 4 lại. Khóa chặt van xả đáy. Chúng ta sẽ lấy riêng một mẫu mắm từ thùng số 4 gửi đi kiểm định độc lập ở một phòng lab ngoài tỉnh. Chúng ta cần biết chính xác các chỉ số vi sinh, độ chua, tỷ lệ đạm amin và tỷ lệ ammoniac thực tế là bao nhiêu. Nếu đạm thối chưa vượt ngưỡng quá xa, sau này xưởng có thể dùng mẻ này đem nấu mắm hạ thổ, làm nước mắm cá nấu loại hai bán cho các bếp ăn công nghiệp hoặc làm mắm chấm dưa cà bình dân. Còn nếu đã nhiễm khuẩn nặng, chúng ta sẽ bán thanh lý cho các vườn thanh long làm phân bón hữu cơ. Dứt khoát phải rạch ròi, mẻ nào ra mẻ đó!

Lan dừng lại, nhìn người thợ cả già nua bằng ánh mắt vừa nghiêm khắc vừa xót xa:

— Cháu chấp nhận xưởng bị hụt hai ngàn lít cốt nhĩ dự kiến. Thiếu nguyên liệu cho lô năm ngàn chai, cháu sẽ trực tiếp thương thảo với chị Mai Chi bên Nam Lộ để xin chia nhỏ các đợt giao hàng, hoặc chấp nhận rút thêm nước bổi đầu của thùng số 2 và số 3 để bù đắp, dù tỷ suất lợi nhuận sẽ mỏng dính. Nhưng danh dự của xưởng thì không thể đem ra đánh cược. Ba cháu đang nằm liệt nửa người ở bệnh viện, xưởng này không thể gánh thêm một vết nhơ nào nữa. Chuyện này từ nay về sau chỉ có ba người chúng ta biết: cháu, chú và thằng Phúc. Chú phải giữ kín miệng, và cháu hứa sẽ không hé răng nửa lời để ba cháu phải bận lòng trong lúc đang bạo bệnh.

Chú Bảy Hòa ngước phắt đầu lên. Đôi mắt mờ đục nhìn trân trân vào gương mặt cương nghị của người con gái trẻ tuổi. Sự kinh hoàng, sợ hãi trong mắt chú dần dần tan biến, nhường chỗ cho một sự hàm ơn sâu sắc đến nghẹn ngào. Người thợ cả run rẩy gật đầu lia lịa, hai bàn tay thô ráp chắp lại trước ngực như tạ ơn một người vừa kéo mình ra khỏi bờ vực thẳm:

— Đa tạ… đa tạ con Lan… Chú đội ơn con… Cả đời chú đội ơn con… Chú thề có trời có đất, chú không bao giờ dám làm bậy nữa đâu…

***

Nắng sớm miền biển Phan Thiết vừa le lói sau những rặng dừa nghiêng bóng bên sông Cà Ty thì không gian xưởng ủ Hải Thành đã bắt đầu rộn rã những âm thanh quen thuộc của một ngày lao động mới. Tiếng nước xối rửa sàn xi măng rào rào hòa cùng tiếng bánh sắt xe ba gác chở muối hột cọt kẹt ngoài cổng lớn. Dưới sức nóng bắt đầu hanh hao bốc lên từ mái tôn, mùi chượp mắm quen thuộc lại bốc lên ngùn ngụt, nồng đượm và gay gắt.

Lan mặc chiếc áo sơ mi dài tay bằng vải thô đã sờn rách ở cổ tay, đầu đội chiếc nón lá cũ buộc quai vải tím, nách cắp tập biên bản kỹ thuật cùng một cuộn băng keo niêm phong màu đỏ có đóng dấu giáp lai đỏ chót của hộ kinh doanh Hải Thành. Đi sát bên cạnh cô là Phúc. Cậu thanh niên mang theo chiếc xô nhựa màu xanh, bên trong lót lớp vải mút êm ái đựng bốn chai thủy tinh miệng rộng vô trùng dùng để lấy mẫu kiểm nghiệm.

— Chị Hai, thùng số 4 này thật sự có vấn đề nghiêm trọng dữ vậy hả? — Phúc hạ giọng hỏi khẽ khi hai chị em bước sâu vào gian giữa của dãy thùng chượp, nơi bóng tối lờ mờ và hơi lạnh của ván gỗ mít phả ra mát rượi. — Bữa trước em cầm cây thước đồng đo mực nước bổi, thấy nó hụt nhiều quá chừng. Em hỏi chú Hòa thì chú cứ gạt phắt đi, chú bảo do đáy thùng lót lớp bổi dày quá nên nước nó rút chậm…

— Chị nói chuyện rõ ràng với chú Hòa tối qua rồi, — Lan đáp gọn lỏn, ánh mắt cô quét nhanh qua mấy dãy thùng xung quanh để chắc chắn rằng cánh thợ đang mải cào muối phía sân trước không để ý tới hai chị em. — Thùng này bị ngấm nước mưa từ trận bão năm ngoái. Giờ chúng ta phải niêm phong van đáy và mặt nắp lại ngay, lấy mẫu gửi Quatest 3 phân tích độc lập trước. Tuyệt đối không được cho ai đấu trộn mắm thùng này với bất kỳ thùng nào khác trong xưởng.

Phúc nghiến răng trèo trẹo, quai hàm bạnh ra đầy căng thẳng:

— Chết tiệt thật chứ… Hụt mất hai ngàn lít cốt nhĩ thì đơn hàng Nam Lộ lấy cái giống gì mà đóng chai? Chị Quyên bên xưởng bao bì hẹn sáng thứ Hai tuần tới là xe tải chở năm ngàn vỏ chai thủy tinh dập nổi đổ xuống sân rồi đó!

— Chuyện đơn hàng chị sẽ có cách thu xếp. Bây giờ việc quan trọng nhất là lấy mẫu cho chuẩn xác và khóa chặt cái thùng này lại đã.

Ở góc thùng TH-04, chú Bảy Hòa đã đứng đợi sẵn từ lúc nào. Trông người thợ cả sáng nay tàn tạ và tiều tụy hẳn đi so với đêm qua. Đôi mắt chú thâm quầng sâu hoắm, lưng chú còng rạp xuống như đang gánh một tảng đá vô hình đè nặng trên đôi vai gầy guộc. Chú mặc bộ quần áo lao động màu chàm bạc phếch, ống quần bên phải được xắn cao lên quá gối, để lộ ra cái khớp gối sưng to tướng, bóng nhẫy và tròn vo như một quả bưởi nhỏ. Lớp da bên ngoài khớp căng mọng, đỏ tía lên vì những ổ viêm cấp tính đang tấy sốt bên trong.

— Chú Hòa, cái chân chú sao sưng to dữ dằn vậy? — Lan khựng lại, ánh mắt cô dừng ngay nơi khớp gối biến dạng của người thợ già. — Chú ngồi xuống chiếc ghế đẩu đằng kia nghỉ đi, để thằng Phúc nó bắc thang trèo lên lấy mẫu cho.

— Thôi… thôi để chú, — Chú Hòa xua tay lia lịa, nét mặt gượng gạo cố nặn ra một nụ cười méo mó. — Thùng số 4 này cái van lù dưới đáy nó bị kẹt cái gá gỗ mít từ hồi năm ngoái lận. Thằng Phúc nó chưa quen tay, tính nó lại nóng vội, lỡ tay vặn mạnh quá nó gãy cụt cái chốt tre bên trong là mắm nó xả tràn trề ra nền xi măng thì nguy to. Để chú leo lên nới van xả rồi hứng mẫu vô chai cho mấy đứa. Chú làm cái nghề này mấy chục năm rồi, quen tay quen chân, hổng có sao đâu con…

Nói dứt lời, không đợi Lan kịp can ngăn, chú Bảy Hòa đã chống một tay vào thành chiếc thang gỗ ba chân kê sát vách thùng chượp.

Thùng số 4 là loại thùng mít cổ thụ mười tấn, một trong những chiếc thùng lớn nhất xưởng, có đường kính miệng rộng gần ba mét và cao hơn đầu người lớn. Thân thùng được ghép từ những thanh gỗ mít dày ba phân, niềng chặt lại bằng tám sợi đai song mây to bản bện chặt như bắp tay lực lưỡng. Chiếc thang gỗ ba chân đã cũ kỹ, các mấu nối kêu lên những tiếng cót két khô khốc dưới sức nặng của người thợ cả.

Chú Hòa nghiến chặt răng, từng bước, từng bước nhấc chân lên các bậc thang gỗ. Mỗi lần co cái chân phải sưng phù lên để bước lên bậc kế tiếp, khóe miệng chú lại giật thót một cái, mồ hôi trán vã ra ròng ròng vì những cơn đau nhói buốt chạy dọc từ khớp gối lên tận thắt lưng.

Lan đứng bên dưới giữ chân thang, lòng dạ cồn cào bất an:

— Chú Hòa! Cẩn thận đó chú! Hai tay vịn chặt vô sợi đai mây đi!

— Được… được mà… Chú tới nơi rồi… — Chú Hòa thở dốc từng cơn, với một tay ra định nới chiếc nẹp gỗ bịt lỗ lù nằm ở khoảng lưng chừng thân thùng.

Ngón tay thô ráp của chú vừa chạm vào chiếc then cài bằng gỗ, thì bỗng nhiên, một tiếng “khục” khô khốc, rợn người vang lên từ sâu bên trong khớp xương của chú. Toàn bộ trọng lượng cơ thể dồn hết lên chiếc chân phải bị thoái hóa nặng nề đã vượt quá sức chịu đựng của các sợi dây chằng rệu rã. Cơn đau co rút ập đến dữ dội làm mắt chú Hòa tối sầm lại. Chân phải chú quỵ xuống đột ngột, toàn thân mất thăng bằng hoàn toàn.

— Ái chà chà! Ối trời đất ơi! — Chú Hòa thét lên một tiếng thất thanh, xé toạc không gian tĩnh mịch của xưởng ủ.

Chiếc thang gỗ ba chân trượt mạnh trên nền xi măng trơn nhẫy đầy nước muối và rong rêu. Thân hình gầy guộc của người thợ cả ngã nhào từ độ cao gần một mét rưỡi, lộn nhào xuống đất.

— Chú Bảy! — Phúc hét lên lạc cả giọng, quẳng phao xô nhựa đựng chai mẫu xuống đất, lao bổ tới.

Lan cũng kinh hoàng lao tới định đỡ lấy chú. Nhưng mọi chuyện diễn ra quá nhanh. Một tiếng “huỵch” nặng nề đập mạnh xuống nền xi măng cứng ngắc. Chú Hòa ngã đập toàn bộ phần mông và mạn sườn phải xuống sàn, trong khi bàn chân và cổ chân phải bị vặn ngược một góc bất thường, kẹt cứng dưới thanh gỗ ngang nặng trịch của chiếc thang ngã đè lên.

Tiếng va đập chát chúa vang dội giữa những vòm thùng chượp, nối tiếp ngay sau đó là tiếng rên rỉ xé ruột xé gan của chú Bảy Hòa. Người thợ cả nằm co quắp trên sàn xi măng ướt lạnh, hai tay ôm ghì lấy đầu gối và cổ chân phải. Gương mặt chú biến dạng hoàn toàn vì cơn đau thể xác khủng khiếp, da mặt xám ngoét không còn một giọt máu, mồ hôi vã ra như tắm ướt đẫm manh áo bà ba, hai hàm răng cắn chặt vào môi dưới đến mức ứa máu tươi.

— Chú Bảy! Chú Bảy ơi! Chú làm sao thế này?! — Phúc quỳ sụp xuống, run rẩy nâng đầu người thợ già lên, giọng cậu run bần bật vì hoảng loạn tột độ.

Mấy người thợ đang làm việc ở dãy thùng phía trước, trong đó có anh Tám Thao, nghe tiếng la hét thất thanh liền quẳng xẻng quẳng cào, hớt hải chạy ùa vào. Không gian xưởng ủ bỗng chốc vỡ vụn trong sự hỗn loạn, nhốn nháo.

Lan quỳ rạp xuống bên cạnh chú Hòa, nhanh chóng gạt phăng chiếc thang gỗ đang đè trên chân chú sang một bên. Đôi mắt cô dán chặt vào chân phải của người thợ cả: khớp gối đã lệch hẳn trục sang một bên, còn phần mắt cá chân ngoài đang phồng to lên với tốc độ đáng sợ, tím bầm lại dưới lớp da mỏng manh ngấm muối lâu ngày.

— Đừng ai chạm vào người chú! Để chú nằm yên! — Lan quát lớn, giọng cô đanh thép át đi tiếng ồn ào hỗn loạn của đám thợ xung quanh. — Anh Tám Thao, dạt mọi người ra cho thoáng khí! Thằng Phúc, chạy ngay ra cổng dắt chiếc xe máy lại đây! Lấy thêm cái gối mềm với mảnh vải sạch trên chiếc võng của ba! Nhanh lên, đừng chần chừ!

Phúc cắm đầu cắm cổ lao vụt ra ngoài. Lan vội vã nhặt chiếc nón lá rơi dưới đất, quạt liên tục vào mặt chú Hòa, giọng cô run run nhưng cố hết sức giữ sự bình tĩnh cần thiết:

— Chú Hòa, chú nghe cháu nói không? Chú hít thở sâu vào, thở bằng mũi, thở chậm thôi chú. Chú đừng cử động cái chân. Cháu đưa chú đi trạm xá ngay bây giờ đây!

Chú Hòa thở hắt ra từng hơi đứt quãng, lồng ngực phập phồng dữ dội. Bàn tay thô ráp đầy vảy cá của chú bấu chặt lấy cổ tay Lan, những móng tay cáu bẩn cắm sâu vào da thịt cô đau nhói. Giữa cơn đau đớn tột cùng đang hành hạ thể xác, người thợ cả vẫn thều thào qua kẽ răng run rẩy:

— Cái… cái van lù… thùng số 4… chưa… chưa lấy mẫu được… con Lan ơi…

Nước mắt Lan chực trào ra nơi khóe mi. Cổ họng cô nghẹn đắng lại. Đến tận giây phút này, khi xương khớp đã vỡ vụn dưới sức nặng của công việc, ông già khốn khổ này vẫn chỉ đau đáu nghĩ về cái van thùng mắm của xưởng.

— Chú đừng bận tâm thùng mắm nữa! Tính mạng của chú mới là quan trọng nhất! Chú nín thở, cắn răng chịu đau một chút, xe tới ngay đây rồi! — Cô nghẹn ngào gắt lên, nước mắt lăn dài trên má.

Chỉ chưa đầy ba phút sau, tiếng động cơ xe máy của Phúc đã gầm rú inh ỏi ngay trước cửa ngách xưởng ủ. Tám Thao cùng một người thợ vạm vỡ cẩn thận luồn tay dưới lưng và đùi chú Hòa, nhẹ nhàng nâng bổng người thợ già lên. Họ đặt chú ngồi lên yên sau xe máy, kẹp chặt chú ở giữa Phúc và Tám Thao để giữ cố định cái chân bị thương. Lan vội vã khóa chốt cửa phòng làm việc, vơ vội bọc tiền mặt dự phòng khẩn cấp cùng túi giấy tờ tùy thân, leo lên chiếc xe số của mình rồ ga phóng bạt mạng phía sau, hướng thẳng về Trạm Y tế phường Thanh Hải.

***

Mùi dung dịch sát trùng i-ốt mằn mặn, mùi cồn đỏ và mùi thuốc kháng sinh nồng nặc trong căn phòng cấp cứu chật hẹp của Trạm Y tế phường Thanh Hải lập tức xua tan đi thứ mùi mắm cá quen thuộc bám trên da thịt họ. Chiếc quạt trần ba cánh bằng sắt cũ kỹ đảo những vòng quay lờ đờ trên trần nhà bong tróc, phả xuống từng luồng gió hanh hao, không đủ sức xua đi cái oi bức của buổi trưa đứng bóng.

Chú Bảy Hòa nằm bất động trên chiếc giường sắt trải tấm ga vải thô đã ố vàng, chân phải được kê cao trên một chiếc nẹp gỗ bọc băng gạc trắng toát. Sau mũi tiêm giảm đau liều cao của y sĩ trực, cơn đau dữ dội dường như đã tạm lắng xuống, người thợ cả thiếp đi trong một cơn mê mệt vì kiệt sức, hai hàng lông mày bạc phếch vẫn nhíu chặt lại trên vầng trán nhăn nheo.

Bác sĩ trực trạm xá—một người đàn ông trạc ngoài năm mươi tuổi, trán hói sâu, cặp kính lão trễ xuống tận sống mũi—cầm tấm phim X-quang vừa được rửa nhanh bằng chiếc máy cơ cũ kỹ bước ra bàn làm việc kê sát hành lang. Ông đẩy gọng kính lên, đưa mắt nhìn Lan và Phúc đang đứng bồn chồn, ướt đẫm mồ hôi bên cạnh cửa sổ.

— Ai là người nhà của bệnh nhân Nguyễn Văn Hòa?

— Dạ, cháu là người quản lý cơ sở nơi chú Hòa làm việc, còn đây là em trai cháu, — Lan vội vã bước tới, giọng đầy lo lắng. — Bác sĩ cho cháu hỏi, chân của chú Hòa có bị gãy xương nặng lắm không ạ?

Vị bác sĩ lắc đầu chậm rãi, nhưng nét mặt ông không hề giãn ra mà ngược lại càng lúc càng đanh lại, nghiêm nghị và gay gắt:

— Xương cẳng chân không gãy rời, chỉ bị rạn nứt một đường ở mắt cá ngoài do cú ngã vặn xoắn khớp. Nhưng cái đáng sợ, cái nguy hiểm chết người không nằm ở vết rạn mắt cá đó đâu cô.

Ông giơ tấm phim X-quang lên trước ô kính cửa sổ đầy nắng, ngón tay trỏ có vết ố vàng của khói thuốc chỉ thẳng vào khoảng sáng mờ đục, biến dạng nơi khớp gối:

— Nhìn kỹ vào đây đi. Toàn bộ sụn chêm khớp gối bên phải của ông ấy đã bị mòn vẹt hoàn toàn, không còn lấy một milimet đệm lót nào cả. Xương bánh chè đã cọ sát trực tiếp vào đầu xương đùi từ rất lâu rồi. Gai xương mọc tua tủa như gai bồ kết chung quanh ổ khớp. Dịch khớp tràn ra đặc quánh, bao khớp viêm dày cộp và biến dạng nặng nề. Đây là bệnh thoái hóa khớp gối độ bốn—mức độ nghiêm trọng nhất, tàn phế nhất của bệnh lý xương khớp mạn tính.

Bác sĩ đặt mạnh tấm phim xuống mặt bàn kính, gõ những ngón tay cồm cộm lên mặt bàn:

— Cái khớp gối này của ông ấy đã hỏng nát từ mấy năm nay rồi chứ đâu phải đến hôm nay ngã mới hỏng! Một người bình thường bị thoái hóa ở mức độ này thì chỉ cần bước đi vài bước trên đường bằng phẳng thôi là đã đau thấu trời thấu đất, vậy mà các người làm chủ xưởng kiểu gì mà để ông ấy leo trèo thang cao, vác bao muối nửa tạ, đẩy những thùng chượp nặng hàng trăm ký suốt ngần ấy năm trời? Mấy người làm ăn bóc lột sức lao động người ta đến nông nỗi này mà coi được à?

Từng lời trách móc gay gắt của vị bác sĩ như những cái tát giáng thẳng vào mặt Lan. Phúc đứng bên cạnh nắm chặt nắm đấm, mặt đỏ bừng lên vì tự ái, toan mở miệng cãi lại phân bua nhưng Lan đã kịp thời đưa tay giữ chặt lấy cánh tay em trai. Cô cúi đầu thật thấp, nhận trọn vẹn sự phẫn nộ chính đáng của người thầy thuốc mà không hé răng biện minh lấy một lời.

— Bác sĩ cho cháu hỏi… hướng điều trị tiếp theo cho chú Hòa sẽ phải làm những gì ạ? — Lan nhỏ nhẹ hỏi, cố nuốt ngược sự chua xót đang dâng nghẹn lên tận cổ họng.

— Trước mắt, chúng tôi phải dùng nẹp cố định toàn bộ chân phải ít nhất ba tuần lễ để vết rạn mắt cá có thời gian tự liền lại và tiêu bớt dịch viêm cấp tính, — Bác sĩ rút cây bút mực, dứt khoát viết vào sổ bệnh án. — Sau đó, bắt buộc phải chuyển viện lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh hoặc đưa thẳng vào Bệnh viện Chợ Rẫy trong Sài Gòn để tiến hành chọc hút dịch màng bao khớp, tiêm chất nhờn nhân tạo, và hội chẩn xem xét khả năng phẫu thuật thay toàn bộ khớp gối nhân tạo. Nhưng tôi cảnh báo trước cho cô cậu biết: từ nay về sau, cấm tuyệt đối ông Hòa không được trèo thang, không được bốc vác bất cứ vật gì nặng quá năm ký, và không được phép đứng liên tục quá ba mươi phút trên nền nhà ẩm ướt. Nếu gia đình và cơ sở vẫn cố tình để ông ấy làm việc nặng nhọc ở xưởng mắm, cái khớp gối này sẽ dính cứng hoàn toàn, dẫn tới hoại tử vô khuẩn và ông ấy sẽ phải ngồi xe lăn suốt phần đời còn lại!

Lan đứng chết lặng giữa hành lang trạm xá. Lời cảnh báo của bác sĩ văng vẳng bên tai như một bản án nghiệt ngã vừa được tuyên.

Cấm trèo thang. Cấm mang vác nặng. Cấm đứng lâu trên nền ẩm ướt.

Điều đó đồng nghĩa với việc chú Bảy Hòa—người thợ cả trụ cột, linh hồn kỹ thuật của toàn bộ khu ủ xưởng Hải Thành, người duy nhất nắm giữ trọn vẹn bí quyết náo đảo, rút kéo, chăm sóc hai mươi thùng chượp gỗ mít suốt hai mươi lăm năm qua—đã chính thức mất hoàn toàn khả năng lao động trong nghề làm mắm. Chú vĩnh viễn không thể tiếp tục đứng ở vị trí người thợ cả được nữa.

— Cho tôi xin thẻ bảo hiểm y tế và chứng minh nhân dân của bệnh nhân để làm thủ tục chuyển viện lên tuyến trên, — Tiếng cô y tá ngồi ở quầy tiếp đón bệnh nhân phía đối diện cất lên, kéo Lan giật mình quay trở lại thực tại.

Lan hít một hơi sâu, bước chầm chậm lại gần quầy tiếp đón:

— Dạ… chú Hòa không có thẻ bảo hiểm y tế ở đây. Chị cho em thanh toán toàn bộ chi phí cấp cứu và thuốc men theo diện dịch vụ tự túc ạ.

Cô y tá ngước mắt lên nhìn Lan bằng ánh mắt đầy ngạc nhiên xen lẫn ngao ngán. Chị khẽ thở dài, lắc đầu rồi kéo cuốn sổ biên lai thu viện phí bằng giấy than ra xé toạc một tờ:

— Đi làm việc nặng nhọc, độc hại ngâm nước muối quanh năm suốt tháng mà đến cái thẻ bảo hiểm y tế hộ gia đình mấy trăm ngàn một năm cũng không mua… Bây giờ chuyển viện lên tuyến trên mổ xẻ, thay cái khớp gối nhân tạo là tốn cả trăm triệu bạc tiền túi chứ chẳng chơi đâu. Chuẩn bị tiền đi là vừa.

Lan mở chiếc túi xách, rút xấp tiền mặt mang theo, đếm từng tờ polyme phẳng phiu trao qua ô cửa kính cho cô y tá. Những đầu ngón tay của cô lạnh ngắt như vừa ngâm vào nước đá.

Cô quay người lại, bước tới bên ô cửa kính nhìn vào phòng bệnh. Chú Bảy Hòa đang nằm thiếp đi trên giường, tấm thân gầy gò teo tóp chìm nghỉm dưới tấm ga trải giường thô ráp. Gương mặt xám ngoét in hằn những rãnh nhăn sâu hoắm—chứng tích của một đời làm thuê nhọc nhằn, bán sức lao động nơi góc xưởng tối tăm.

Một người thợ đã cống hiến trọn vẹn hai mươi lăm năm tuổi thanh xuân, rút cạn từng giọt mồ hôi và cả chất tủy trong xương khớp của mình để tạo ra những mẻ nước mắm cánh gián hảo hạng cho xưởng Hải Thành. Nhưng suốt hai mươi lăm năm đằng đẵng ấy, dưới sự điều hành dựa trên thứ tình cảm gia đình gọi là “tình nghĩa” của cha cô—ông Võ Văn Thành—chú Hòa chưa từng có lấy một bản hợp đồng lao động đúng nghĩa, chưa từng được trích nộp một đồng tiền bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm y tế nào.

Mỗi dịp Tết Nguyên đán cận kề, ông Thành lại hào sảng mua tặng chú một thùng bia ngoại, dúi vào tay chú một phong bao lì xì thưởng thêm nửa tháng lương kèm theo mấy cặp mắm nhĩ ngon nhất xưởng. Cha cô sẽ vỗ bôm bốp vào vai người thợ cả mà bảo: *“Chú mày với anh xem nhau như anh em ruột thịt trong nhà. Xưởng còn thì chú còn, có chén cơm cùng ăn, có manh áo cùng mặc, việc gì phải câu nệ giấy tờ hợp đồng cho nó xa cách tình nghĩa.”*

Thế nhưng giờ đây, chén cơm tình nghĩa ấy không thể nào đắp lành lại phần sụn khớp đã mòn vẹt trơ xương. Manh áo gia đình ấy không thể nào chi trả nổi cho một ca đại phẫu thay khớp gối hàng trăm triệu đồng đang treo lơ lửng trước mắt.

Sự tồn tại bền bỉ, cái danh tiếng lẫy lừng của một thương hiệu “nước mắm truyền thống ba đời giữ trọn tinh hoa” mà bấy lâu nay cha cô vẫn luôn tự hào rêu rao với thiên hạ, hóa ra lại được xây dựng trên một sự thật tàn nhẫn: nó được đánh đổi bằng sự bóc lột thầm lặng, đè nặng lên tấm thân tàn phế của những người thợ già không có lấy một chiếc phao cứu sinh an sinh xã hội nào lận lưng.

Khi họ còn sức khỏe, họ là báu vật kỹ thuật, là rường cột của xưởng. Nhưng khi họ ngã quỵ xuống sàn xi măng, mô hình kinh doanh gia đình ấy lập tức lộ rõ sự bất lực và nghiệt ngã của nó: không quỹ dự phòng tai nạn lao động, không bảo hiểm y tế chi trả, biến họ thành một gánh nặng tài chính khổng lồ không lối thoát.

Lan tựa lưng vào bức tường vôi bong tróc của hành lang trạm xá, hai hốc mắt cay xè buốt nhói. Cô thấm thía đến tận xương tủy sự tàn độc ẩn sau vỏ bọc ấm áp của cái gọi là “kinh doanh theo kiểu tình nghĩa”. Nó có thể rất đượm tình khi trời yên biển lặng, nhưng khi dông bão ập tới, nó sẽ nghiền nát những con người yếu thế nhất một cách lạnh lùng và tàn nhẫn nhất.

— Chị Hai… — Phúc bước lại gần, khẽ lay nhẹ tay cô. Giọng cậu thanh niên lạc đi, run rẩy và đầy hoang mang. — Giờ… giờ tính sao đây chị? Chân chú Hòa coi như hỏng hẳn rồi, ai sẽ coi sóc hai mươi thùng ủ ngoài kia? Rồi… rồi tiền đâu ra mà đưa chú đi bệnh viện mổ chân bây giờ chị? Tiền quỹ xưởng mình đâu còn bao nhiêu…

Lan cắn chặt môi, toan cất tiếng trấn an em trai thì từ ngoài cổng trạm xá, một chuỗi âm thanh dồn dập vang lên cắt ngang dòng suy nghĩ của cô.

Tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch trên nền đường rải đá dăm mỗi lúc một gấp gáp.

Đặng Thị Thảo xộc thẳng vào sân trạm y tế. Mặt mày cô kế toán trẻ tái mét, không còn một giọt máu, chiếc áo sơ mi công sở ướt đẫm mồ hôi dính bết chặt vào lưng. Cô thở không ra hơi, hai tay ôm ghì lấy chiếc cặp da sờn góc đựng toàn bộ sổ sách kế toán của xưởng, ánh mắt kinh hoàng dáo dác tìm kiếm xung quanh.

Vừa nhìn thấy bóng dáng Lan đang đứng tựa vào góc hành lang, Thảo như người chết đuối vớ được cọc, hớt hải lao bổ tới, giọng run bắn lên từng chặp, ngắt quãng vì hụt hơi:

— Chị Lan ơi! Chị Lan! Có chuyện lớn rồi chị ơi!

Lan giật mình, vội bước nhanh tới đỡ lấy hai bả vai Thảo, giữ chặt cô bé lại để trấn tĩnh:

— Thảo! Có chuyện gì? Bình tĩnh lại, thở sâu rồi nói chị nghe! Xưởng có chuyện gì nữa?

Thảo nuốt nước bọt đánh ực một cái, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp áo sơ mi ướt sũng. Bàn tay run rẩy của cô vội vã kéo khóa chiếc cặp da, rút ra cuốn sổ quỹ tiền mặt viết tay bìa da đen của ông Thành. Cô lật tung các trang giấy ra ngay trước mặt Lan, ngón tay run lẩy bẩy chỉ thẳng vào dòng số liệu vừa được đối soát mực đỏ:

— Chị Lan… sổ tiền mặt… sổ quỹ tiền mặt em vừa đối soát lại với công nợ đại lý… Một khoản thu ba mươi triệu đồng từ đại lý ngoài chợ… bị mất trắng toàn bộ dấu vết của phiếu thu gốc rồi chị ơi! Tiền đã vào sổ viết tay của bác Hai, nhưng lục tung cả văn phòng không thấy phiếu thu đâu, mà kiểm tra lại toàn bộ tiền mặt trong két sắt cũng không thấy số tiền ba mươi triệu đó đâu hết trơn!

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn